Xây dựng đường cong lãi suất chuẩn của Việt Nam

Xây dựng đường cong lãi suất chuẩn của Việt Nam

(Nguồn: http://duyviet90.blogspot.com)

I – Các mô hình xây dựng đường cong lãi suất chuẩn

1.1. Các đường cong lãi suất hoàn vốn

Đường cong lãi suất hoàn vốn (yield curve): được hình thành bằng cách minh họa các mức lãi suất hoàn vốn của các trái phiếu chỉ khác nhau về kỳ hạn đáo hạn trên cùng một đồ thị.

Đường cong lãi suất hoàn vốn đến kỳ đáo hạn (yield-to-maturity yield curve):được hình thành bằng cách minh họa các mức lãi suất hoàn vốn đến kỳ đáo hạn của các trái phiếu chỉ khác nhau về kỳ hạn đáo hạn trên cùng một đồ thị.

 

Đường cong lãi suất hoàn vốn đến kỳ đáo hạn của các trái phiếu có cùng mức coupon (coupon yield curve): minh họa lãi suất hoàn vốn đến kỳ đáo hạn của các trái phiếu có cùng mức coupon và chỉ khác nhau về kỳ hạn đáo hạn lên cùng một đồ thị.

Đường cong lãi suất hoàn vốn của trái phiếu được giao dịch với giá bằng mệnh giá (par yield curve): minh họa các mức lãi suất hoàn vốn đến kỳ đáo hạn của các trái phiếu hiện hành chỉ khác nhau về kỳ hạn và đều được giao dịch ở mức gần bằng mệnh giá.

Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất (the term structure of interest rates): chính là đường cong lãi suất hoàn vốn của trái phiếu chiết khấu (zero-coupon yield curve) hay đường cong lãi suất hoàn vốn giao ngay (spot yield curve).

1.2. Các mô hình xây dựng đường cong lãi suất chuẩn

1.2.1. Mô hình một nhân tố

Mô hình một nhân tố là loại mô hình cho phép xây dựng được một cấu trúc kỳ hạn hoàn chỉnh từ một loại lãi suất ngắn hạn. Gồm có: (1) Mô hình Vasicek; (2) Mô hình Merton; (3) Mô hình Cox-Ingersoll-Ross (CIR).

1.2.2. Các mô hình tự do chênh lệch giá

Mô hình tự do chênh lệch giá có mục đích là xây dựng nên một cấu trúc kỳ hạn lý thuyết tương thích với cấu trúc thực tế quan sát được để khiến cho lãi suất hoàn vốn quan sát trên thị trường thì có giá trị bằng với lãi suất hoàn vốn được tính toán trên cơ sở mô hình. Bao gồm các mô hình: (1) Mô hình Ho-Lee; (2) Mô hình Hull-White; (3) Mô hình Black-Derman-Toy (BDT).

1.2.3. Mô hình đa nhân tố

Mô hình đa nhân tố cho phép giải thích được dạng thức thay đổi phi song song hoặc những thay đổi về độ dốc của đường cong. Trong nhóm này có: (1) Mô hình hai nhân tố; (2)Mô hình đa nhân tố Heath-Jarrow-Morton (HJM).

1.2.4. Các kỹ thuật sử dụng phương pháp tham số

– Mô hình Nelson-Siegel: Bản chất của kỹ thuật này là mô hình hóa lãi suất kỳ hạn bằng cách sử dụng hàm số hóa.

– Mô hình hàm nối trục bậc ba (cubic spline model): Mô hình hàm nối trục ra đời với mục đích là để phát huy ưu điểm của mô hình tham số trong việc mô phỏng tốt các mức lãi suất hoàn vốn của các kỳ hạn đáo hạn dài đồng thời khắc phục nhược điểm của mô hình tham số ở các kỳ hạn đáo hạn ngắn.

– Mô hình hàm nối trục cơ bản (B-spline)Bên cạnh công thức tổng quát của hàm nối trục bậc ba như trên, người ta cũng thường tạo ra các đường nối trục bằng cách kết hợp tuyến tính các đường nối trục cơ bản lại với nhau.

1.3. Điều kiện áp dụng các mô hình xây dựng đường cong lãi suất chuẩn

1.3.1. Yêu cầu của mô hình xây dựng đường cong lãi suất chuẩn

– Mô hình có thể đưa ra được một đường cong lý thuyết khớp với số liệu hiện hành trên thị trường.

– Mô hình có thể phản ánh được diễn biến của lãi suất theo thời gian và diễn biến này phải theo dõi được thông qua việc tính toán cụ thể trên cơ sở các hàm toán học trực quan.

– Mô hình phải đảm bảo tính hiệu quả và kịp thời trên cơ sở các nguồn lực có sẵn như mức độ có sẵn và đáng tin cậy của số liệu, năng lực xử lý số liệu của máy tính,…

Từ những yêu cầu nói trên, ta có thể thấy rằng mô hình được sử dụng sẽ đưa ra kết quả chính xác khi: (i) Lãi suất đầu vào phản ánh tính khách quan của thị trường, (ii) Các thông tin về thị trường là minh bạch, và (iii) Phải có thị trường trái phiếu phát triển với các kỳ hạn đa dạng và khối lượng phát hành đủ lớn.

1.3.2. Điều kiện áp dụng của các mô hình xây dựng đường cong lãi suất chuẩn

Việc nghiên cứu các mô hình xây dựng đường cong lãi suất chuẩn cho thấy mỗi mô hình sẽ phát huy hiệu quả riêng biệt trong việc xây dựng đường cong lãi suất chuẩn của từng quốc gia.

1.4. Bài học từ việc xây dựng đường cong lãi suất chuẩn của các nước

1.4.1. Kinh nghiệm của các nước:

Nghiên cứu thực tế xây dựng đường cong lãi suất chuẩn của các nước Mỹ, Malaysia,Singapore cho thấy, mỗi mô hình được xây dựng trên một giả định riêng và các nước khi lựa chọn mô hình đều xem xét sự phù hợp của các giả định đối với trường hợp của riêng mình. Việc lựa chọn mô hình để xây dựng đường cong lãi suất chuẩn của các nước này phụ thuộc vào mức độ phát triển của thị trường trái phiếu, mức độ đa dạng về các kỳ hạn của trái phiếu chính phủ, khối lượng các đợt phát hành, tính hiệu quả của thị trường cũng như sự sẵn có của số liệu …

1.4.2. Lựa chọn mô hình cho Việt Nam

Từ quá trình nghiên cứu trên, tiếp cận từ giác độ NHTW thì chúng ta có thể xây dựng cấu trúc kỳ hạn của lãi suất hay đường cong lãi suất hoàn vốn giao ngay hoặc đường cong lãi suất của trái phiếu chiết khấu.


II – Đặc điểm thị trường các công cụ nợ của Việt Nam

2.1. Thị trường trái phiếu Chính phủ

2.1.1. Thực trạng thị trường trái phiếu Chính phủ

            – Hiện thời, trái phiếu Chính phủ bao gồm: Tín phiếu Kho bạc; Trái phiếu Kho bạc; Trái phiếu công trình trung ương; Trái phiếu đầu tư; Công trái xây dựng Tổ quốc; Trái phiếu ngoại tệ. Từ năm 2007, KBNN đã triển khai đề án phát hành TPCP lô lớn. Bộ Tài chính đã xây dựng kế hoạch phát hành hàng năm và  lịch trình phát hành TPCP từng quí. TPCP được phát hành qua các kênh: Bán lẻ qua hệ thống Kho bạc Nhà nước; Phát hành tín phiếu kho bạc qua đấu thầu tại NHNN; Phát hành TPCP qua đấu thầu tại Sở giao dịch chứng khoán; Bảo lãnh phát hành TPCP; Phát hành qua kênh Bảo hiểm Xã hội mua.

– Trên thị trường mở, đến năm 2009 có 58 tổ chức tín dụng được cấp giấy chứng nhận là thành viên nghiệp vụ thị trường mở; trong đó có 5 NHTM Nhà nước và ngân hàng cổ phần Nhà nước nắm cổ phần chủ yếu, 34 NHTM cổ phần, 3 ngân hàng liên doanh, 14 chi nhánh NH nước ngoài, 1 Công ty tài chính và QTD Trung ương. Doanh số trúng thầu từ năm 2000 đến 2005 hàng năm bình quân tăng gấp khoảng 3 lần so với năm trước.

2.1.2. Đặc điểm thị trường trái phiếu Chính phủ

2.1.2.1. Tính thanh khoản của thị trường

– Tính thanh khoản tại sở giao dịch chứng khoán Hà Nội thấp.

– Tính thanh khoản trong giao dịch thị trường mở tương đối cao, thể hiện ở tần suất và số lượng các phiên giao dịch thị trường mở liên tục tăng.

2.1.2.2. Lãi suất TPCP

a/ Tính thị trường của lãi suất TPCP:

–  Tính thị trường của lãi suất TPCP mới phát hành thấp:

 b/ Mức độ nhạy cảm của lãi suất đối với sự tác động của Ngân hàng Trung ương:

– Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở chịu sự chi phối bởi cặp lãi suất chỉ đạo của NHNN. Tuy nhiên, tại những thời điểm nhất định lãi suất TTM đã biến động ra khỏi cặp lãi suất chỉ đạo, thể hiện ở các phiên thực hiện theo phương thức đấu thầu lãi suất.

– Lãi suất phát hành TPCP hầu như không chịu sự chi phối bởi mức lãi suất chỉ đạo của NHNN mà theo mục đích huy động vốn cho NSNN trong từng thời kỳ.

– Lãi suất TPCP đôi khi tăng cao, hơn cả lãi suất tín dụng ngân hàng.

2.2. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp

2.2.1. Thực trạng thị trường trái phiếu doanh nghiệp

– Giá trị vốn huy động của các doanh nghiệp qua TTCK rất thấp, chỉ đạt 15-20% lượng vốn doanh nghiệp huy động

–  Trong số chứng khoán doanh nghiệp phát hành, trái phiếu là công cụ được các doanh nghiệp lựa chọn trong vài năm trở lại đây.

– Tỷ trọng giá trị trái phiếu doanh nghiệp phát hành so với tổng vốn huy động qua TTCK nhỏ, đặc biệt năm 2008 tỷ lệ này chỉ đạt 4,07%.

– Tỷ trọng giá trị trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong tổng giá trị trái phiếu phát hànhrất thấp, khoảng 23-37%, thậm chí chỉ chiếm 5,28% trong năm 2008.

2.2.2. Đặc điểm thị trường trái phiếu doanh nghiệp

– Thị trường trái phiếu doanh nghiệp có tính thanh khoản thấp

– Lãi suất trái phiếu doanh nghiệp: lãi suất TPDN phần nào chịu sự chi phối bởi lãi suất chỉ đạo của NHNN, song qui mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp quá nhỏ bé, lãi suất trái phiếu doanh nghiệp không phải là mức lãi suất tiêu biểu của thị trường.

2.3. Thị trường tín dụng ngân hàng

2.3.1. Thị trường giữa tổ chức tín dụng và doanh nghiệp, cá nhân (thị trường 1)

2.3.1.1. Thực trạng thị trường

– Tín dụng ngân hàng là hoạt động truyền thống, là kênh huy động và cung ứng vốn chủ yếu ở Việt Nam.

– Với vai trò là trung gian tín dụng trên thị trường tài chính, các tổ chức tín dụng, đặc biệt là các Ngân hàng thương mại đã thực hiện việc huy động vốn và đáp ứng phần lớn nhu cầu vốn của các doanh nghiệp và cá nhân trong nền kinh tế. Khối lượng vốn huy động và cho vay tăng liên tục qua các năm.

2.3.1.2. Đặc điểm thị trường

– Thị trường tín dụng ngân hàng có tính thanh khoản rất cao.

– Mức độ tự do hoá lãi suất ngày càng cao. Từ đầu năm 2009, các cơ chế kiểm soát hành chính dần dần được dỡ bỏ. Tuy nhiên, trong những thời điểm nhất  định, tính thị trường của lãi suất bị hạn chế  do được khống chế bởi trần lãi suất và sự can thiệp của Hiệp hội ngân hàng.

– Lãi suất tín dụng ngân hàng đã phản ánh sự tác động CSTT của NHNN. Hiện nayNHNN Việt Nam ấn định các loại lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm, lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc để điều hành lãi suất thị trường. Bên cạnh đó còn sử dụng các công cụ CSTT để tác động đến lãi suất liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở, từ đó ảnh hưởng đến lãi suất của các NHTM, nhằm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ và mục tiêu kinh tế vĩ mô trong từng thời kỳ.

2.3.2. Thị trường tiền tệ liên ngân hàng (thị trường 2)

2.3.2.1. Thực trạng hoạt động thị trường

– Năm 1992, NHNN ban hành Chỉ thị số 07/CT-NH1 ngày 7/10/1992, là văn bản pháp lý đầu tiên quy định về hoạt động về quan hệ tín dụng giữa các TCTD. Từ năm 2001 đến nay, NHNN tiếp tục ban hành đồng bộ các văn bản thể chế đối với hoạt động của thị trường, từng bước tiến gần hơn tới thông lệ quốc tế.

2.3.2.1. Đặc điểm của thị trường

– Doanh số giao dịch trên thị trường nhìn chung có sự tăng trưởng mạnh theo từng năm, đặc biệt là trong khoảng 10 năm trở lại đây.

– Tính thanh khoản của thị trường liên ngân hàng rất cao, các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng diễn ra hàng ngày với doanh số giao dịch lớn, đặc biệt trong những thời điểm các ngân hàng căng thẳng về vốn khả dụng.

– Lãi suất liên ngân hàng có tính thị trường cao, ngày càng phản ánh sát thực hơn cung cầu vốn khả dụng của các ngân hàng.

– Lãi suất liên ngân hàng có quan hệ chặt chẽ với lãi suất huy động, cho vay trên thị trường 1 song có mức biến động mạnh.

– Lãi suất liên ngân hàng cũng bị khống chế bởi trần lãi suất.

– Lãi suất liên ngân hàng phản ánh rõ tác động của NHNN đến dự trữ của các ngân hàng.

– Lãi suất liên ngân hàng đôi khi ít chịu tác động bởi lãi suất chỉ đạo của NHNN.

III- Xây dựng đường cong lãi suất chuẩn của Việt Nam

download bài viết đầy đủ: http://www.cantholib.org.vn/Database/Content/2521.pdf

———————&&&———————

Mô hình Cox (Cox proportional hazards model)

Mô hình Cox (Cox proportional hazards model)

(Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn – Nguồn: http://tuanvannguyen.blogspot.com)

Có thể nói công trình làm nên tên tuổi của Gs David Cox là bài báo “Regression models and life-tables” công bố trên tập san Journal of the Royal Statistical Society năm 1972. Trong bài báo đó, ông mô tả một phương pháp phân tích các dữ liệu sống còn theo mô thức hồi qui. Mô hình này sau này được biết đến dưới thuật ngữ “Cox’s proportional hazards model” (nhớ rằng hazards có “s” nhé).

Chúng ta đã biết rằng có 2 mô hình hồi qui phổ biến dựa vào biến outcome. Để tìm hiểu mối liên quan giữa một biến outcome liên tục và những yếu tố khác, chúng ta dùng mô hình hồi qui tuyến tính (linear regression). Ví dụ như mô hình mối liên quan sự ảnh hưởng của gen đến biến insulin, vì insulin là biến outcome thuộc loại liên tục, nên chúng ta dùng mô hình hồi qui tuyến tính. Nếu biến outcome là biến nhị phân (chỉ có hai giá trị 0/1, yes/no, sống/chết …) thì chúng ta dùng mô hình hồi qui logistic.

Nhưng nếu biến outcome là biến nhị phân, mà nó lại phụ thuộc vào thời gian theo dõi. Ví dụ như bệnh nhân được điều trị, có người sống suốt thời gian theo dõi, có người chết sau điều trị vài tháng, có người sống đến 2 năm, lại có người chúng ta không biết còn sống hay chết vì không theo dõi được. Trong những trường hợp này, chúng ta dùng mô hình hồi quy Cox (còn gọi là mô hình hazards), như ông mô tả trong bài báo công bố vào năm 1972. Gọi L(t) là rủi ro (hazard) của một cá nhân tại thời điểm t, mô hình hồi qui Cox phát biểu rằng L(t) được xác định bởi tích số của rủi ro trung bình (L0) và ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ (X1, X2, …, Xk):

L(t) = L0*exp(b1X1 + b2X2 + … + bkXk)

Trong đó, b1, b2, …, bk là hệ số cần phải ước tính từ dữ liệu thực tế. Ví dụ như tôi muốn biết rủi ro bị ung thư trong vòng 5 năm, L(5), của một cá nhân bằng rủi ro trung bình trong quần thể, L0, và ảnh hưởng của các yếu tố như độ tuổi, giới tính, lối sống, gen, v.v.

Mô hình này phổ biến trong hầu hết các ngành khoa học, từ y khoa đến kĩ thuật và xã hội học. Nhiều nhà khoa học xã hội còn áp dụng mô hình để nghiên cứu thời gian từ lúc hôn nhân đến li dị! Bài báo của Gs Cox cho đến nay (sau 45 năm) đã có hơn 45,000 trích dẫn! Bài báo này được đánh giá là một trong 100 công trình nổi tiếng toàn cầu từ trước đến nay (Con số trích dẫn của toàn bộ nền toán học Việt Nam trong 10 năm cũng không bằng phân nửa con số trích dẫn này của 1 bài báo).

Bây giờ, khi chúng ta đã biết và hiểu mô hình này, thì thấy nó không có gì quá phức tạp, nhưng phát kiến đó tốn Gs Cox rất nhiều thời gian. Ông cho biết rằng trước đó ông đã quan tâm đến vấn đề reliability trong kĩ thuật trong thời gian làm việc cho hãng máy bay và hiệp hội vải len, nhưng chưa nghĩ ra cách phân tích. Ông cho biết ông dành đến 4 năm cho công trình này. Có đêm ông thức giấc và nghĩ đến nó, nhưng rồi lại … ngủ.

Được hỏi tại sao bài báo trở nên phổ biến, ông cho rằng một phần là phương pháp elegant và dễ hiểu, nhưng phần quan trọng khác là có nhiều người viết chương trình máy tính để triển khai mô hình trong thực tế. Thế là nhiều người có thể ứng dụng và trích dẫn bài báo. Đây cũng là một bài học cho nhà khoa học, vì muốn phương pháp của mình được nhiều người sử dụng (và gây ảnh hưởng) thì ngoài lí thuyết còn phải viết chương trình máy tính.

Trong một bài nói chuyện về tiến bộ trong y học trong thế kỉ 20, một giáo sư Mĩ lừng danh là Ioanndidis nói rằng “mô hình Cox” là một trong những tiến bộ quan trọng nhất. Mà, đúng như thế. Làm sao chúng ta có thể xác định hiệu quả của thuốc điều trị, của thuật can thiệp; làm sao chúng ta có cách chọn phương pháp điều trị tối ưu và cứu sống bệnh nhân. Ứng dụng mô hình Cox đã giúp y khoa trả lời những câu hỏi đó. Qua mô hình Cox, ông đã gián tiếp cứu vô số bệnh nhân trên toàn thế giới. Qua mô hình đó, ông cũng đã làm thay đổi cách phân tích của các nhà khoa học, kinh tế học, xã hội học, công nghệ, v.v. và giúp họ có những khám phá có ích cho đời. Nhìn như thế, chúng thấy mức độ ảnh hưởng của David Cox quả là to lớn, và khó có thể đo lường bằng chỉ tần số trích dẫn.  Do đó, không ngạc nhiên khi 3 năm trước, Tạp chí Nature xếp công trình “Cox’s model” là một trong 100 công trình có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử khoa học (“top 100 most-cited papers of all time for all fields”) (1).

======

(1) http://www.nature.com/news/the-top-100-papers-1.16224

Trong số 100 bài báo có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử khoa học, có đến 12 bài thuộc khoa học thống kê. Một số công trình này tuy có ảnh hưởng lớn đến khoa học, nhưng chưa hẳn là những công trình hàng đầu trong thống kê học. Danh sách 12 bài đó là như sau:

1. Kaplan, E. L. & Meier, P. Nonparametric estimation from incomplete observations. Journal of the American Statistical Association. 53, 457–481 (1958).

2. Cox, D. R. Regression models and life-tables. J. R. Stat. Soc., B 34, 187–220 (1972).

3. Bland, J. M. & Altman, D. G. Statistical methods for assessing agreement between two methods of clinical measurement. Lancet 327, 307–310 (1986).

4. Dempster, A. P., Laird, N. M. & Rubin, D. B. Maximum likelihood from incomplete data via EM algorithm. J. R. Stat. Soc., B 39, 1–38 (1977).

5. Benjamini, Y. & Hochberg, Y. Controlling the false discovery rate: a practical and powerful approach to multiple testing. J. R. Stat. Soc. B 57, 289–300 (1995).

6. Duncan, D. B. Multiple range and multiple F tests. Biometrics 11, 1–42 (1955).

7. Landis, J. R. & Koch, G. G. The measurement of observer agreement for categorical data. Biometrics 33, 159–174 (1977).

8. Akaike, H. A new look at statistical-model identification. IEEE Trans. Automat. Contr. 19, 716–723 (1974).

9. Marquardt, D. W. An algorithm for least-squares estimation of nonlinear parameters. J. Soc. Ind. Appl. Math. 11, 431–441 (1963).

10. Felsenstein, J. Confidence limits on phylogenies: an approach using the bootstrap. Evolution 39, 783–791 (1985).

11. Baron, R. M. & Kenny, D. A. The moderator–mediator variable distinction in social psychological-research — conceptual, strategic, and statistical considerations. J. Pers. Soc. Psychol. 51, 1173–1182 (1986).

12. Ronquist, F. & Huelsenbeck, J. P. MrBayes 3: Bayesian phylogenetic inference under mixed models. Bioinformatics 19, 1572–1574 (2003).


Xem thêm:

—————-&&&—————-

Kinh tế học vĩ mô mới (New Macroeconomics)

Kinh tế học vĩ mô mới (New Macroeconomics)

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

® Giải Nobel: FRIEDMAN, 1976 – HAYEK, 1974 – LUCAS, 1995

Có lẽ ngày nay việc giảng dạy kinh tế vĩ mô là khó hơn cách đây ba mươi hay bốn mươi năm trước khi mà phân tích dựa trên một mô hình keynesian đơn giản hoá: biểu đồ 450, rồi mô hình IS-LM (hay mô hình Hicks-Hansen) được bổ sung trước tiên bằng một đường Phillips rồi sau đó tính đến những quan hệ với nước ngoài, thường là trong khuôn khổ của mô hình Mundell-Fleming, vốn chỉ là một biến thể của mô hình IS-LM.

Mô hình của sự tổng hợp và việc xét lại mô hình này

Trong nhiều thập niên, trình bày trên là cơ sở của kinh tế học vĩ mô. Cho đến tận những năm 1960, người ta chủ yếu quan tâm đến việc cải tiến và tinh vi hoá những hàm kinh tế vĩ mô chính (hàm tiêu dùng, hàm đầu tư, v.v.). Người ta chứng minh, với giả thiết tính cứng nhắc của lương danh nghĩa, rằng những kết quả “keynesian” chính hoàn toàn tương hợp với một mô hình tân cổ điển truyền thống. Do điều thường được chấp nhận là lương còn xa mới linh hoạt trong ngắn hạn, nên hình như là một điều tự nhiên khi xem rằng lí thuyết keynesian là xác đáng cho việc nghiên cứu những biến động và mất cân bằng ngắn hạn, còn mô hình cân bằng chung vẫn còn xác đáng để phân tích dài hạn; như thế người ta có thể là một nhà keynesian trong ngắn hạn và là một nhà tân cổ điển trong dài hạn; đó là điều được gọi là trường phái của sự tổng hợp.

Alvin Hansen (1887-1975)
Robert Clower (1926-2011)

Trong những năm 1960, nổi lên nhiều nghi ngờ nghiêm trọng về cơ sở của sự phân biệt trên. Clower nhấn mạnh tính không tương thích của hàm tiêu dùng keynesian, điểm mấu chốt của hệ thống, với một mô hình cân bằng chung: thật vậy, người ta giả định rằng hộ gia đình xem thu nhập của hộ như là cho trước trong lúc trong một mô hình cân bằng chung hộ gia đình được giả định là chọn lượng nhân tố lao động mà hộ muốn cung cấp. Làm thế nào hoà giải một hàm tiêu dùng như thế với lí thuyết kinh tế vi mô“chuẩn”?

Đề xuất của Clower là hình dung những cầu “thực tế” các tác nhân khi hệ thống không ở thếcân bằng. Nếu những giá của cân bằng chung không được xác định, nếu những giao dịch được tiến hành ở “ngoài” thế cân bằng thì, với những dư cung và dư cầu này, các tác nhân không thể triển khai những kế hoạch được họ dự tính từ các ràng buộc ngân sách của họ. Thật vậy các tác nhân bị “ràng buộc”, bị “hạn mức”: những dự án mua sắm (hay bán buôn) những nhân tố hay sản phẩm không thể tiến hành được. Tóm lại, do những hạn mức trên số lượng này các tác nhân sẽ vấp phải những ràng buộc mới. Người lao động bị thất nghiệp sẽ phát ra những cầu (sản phẩm tiêu dùng) không phải trên cơ sở lương lao động người này muốn bán, nhưng trên cơ sở của lương lao động thật sự bán được.

Những gợi ý của Clower được Barro và Grossman (1971), và tại châu Âu được Bénassy, Drèze và Malinvaud lấy lại đã có tiếng vang lớn. Những gợi ý này đã cho phép trang bị những cơ sởkinh tế vi mô cho kinh tế học vĩ mô kiểu keynesian, đồng thời không giải quyết vấn đề dài hạn. Tuy nhiên, lí thuyết mất cân bằng và chương trình nghiên cứu “tân keyensian” này đã bị sự phát triển của “kinh tế học cổ điển mới” che khuất trên bình diện quốc tế.

Ở cội nguồn của kinh tế học cổ điển mới

William Phillips (1914-1975)
Robert Barro (1944-)

“Kinh tế học cổ điển mới” thường bị lẫn lộn với – hay được nhận diện như – giả thiết“dự kiến duy lí”, xuất hiện trong những năm 1970 tại Hoa Kì; trào lưu này đã làm thay đổi sâu sắc bộ máy phân tích và có một ảnh hưởng chính trị đáng kể, như được minh chứng qua nhiều cuộc tranh luận về chính sách kinh tế đương đại.

Công trình nghiên của A. W. Phillips năm 1958 đặt một mối quan hệ giữa thất nghiệp và tỉ suất lương danh nghĩa ở Anh từ 1861 đến 1957 và dẫn đến kết luận là “tỉ suất biến thiên của lương danh nghĩa có thể được giải thích bằng mức thất nghiệp và tỉ suất biến thiên của mức này”.

Tất nhiên ý tưởng cho rằng có một sự đánh đổi giữa gia tăng của lương danh nghĩa và thất nghiệp không phải là một ý hoàn toàn mới. Nếu bài viết trên có được tiếng vang lớn như thế trước hết là vì, theo một cách nào đó, nó khép lại “học thuyết Keynes của sự tổng hợp” hay“tổng hợp tân cổ điển”; trong lúc trong học thuyết Keynes đơn giản hoá lương là bất định thì quan hệ Phillips cho phép trang bị phương trình còn thiếu; hơn nữa quan hệ này cho phép trả lời một loạt câu hỏi quan trọng: trong chừng mực nào có một liên hệ giữa gia tăng của lương và sự căng thẳng trên thị trường việc làm? Một mức thất nghiệp có là cần thiết cho sự ổn định của giá cả không? Phải chăng ta có thể lựa chọn giữa việc có ít người thất nghiệp hơn và một lạm phát cao hơn?

Edmund Phelps (1933-)
Milton Friedman (1912-2006)

Nhưng bài viết của Phillips, theo một nghĩa nào đó, là sự đăng quang của học thuyết Keynes của sự tổng hợp cũng là nguyên nhân thất bại của học thuyết này. Chính những phân tích được một số chức trách rút ra từ học thuyết này là đối tượng của nhiều phê phán và “kinh tế học cổ điển mới” sẽ tập trung tấn công vào đó, từ sự kết hợp của những đóng góp khác nhau của M. Friedman, E. Phelps và J. Muth: vai trò của chính sách tiền tệ, “ngụ ngôn các đảo”, “lí thuyết những dự kiến duy lí”.

Bài diễn văn của M. Friedman, được công bố năm 1968, có một tiếng vang rất lớn: một số tác giả tìm thấy trong đó lời giải thích (tiên tri) của hiện tượng “đình đốn và lạm phát”, của sự trượt dài của các đường Phillips đặc trưng cho thập niên 1970. Tác giả lấy lại khái niệm về “lãi suất tự nhiên” được Wicksell đề xuất và chỉ ra là phân tích của ông có một khái niệm tương đương chính xác cho thị trường lao động. Từ đó có định nghĩa nổi tiếng về “tỉ suất thất nghiệp tự nhiên”: “mức do một hệ thống cân bằng chung walrasian tạo ra miễn là hệ thống này bao gồm những đặc điểm cấu trúc của thị trường sản phẩm và của thị trường lao động, kể cả những khiếm khuyết, những thay đổi ngẫu nhiên của cầu và cung, chi phí tìm kiếm thông tin về những việc làm còn trống chỗ và nhân công sẵn sàng làm việc, những chi phí cơ động, v.v.”. Từ đó có phê phán vào niềm tin về tính ổn định của quan hệ Phillips: “Bao giờ cũng có một đánh đổi tạm thời giữa lạm phát và thất nghiệp, song đánh đổi này là không thường xuyên. Việc đánh đổi tạm thời không bắt nguồn từ bản thân lạm phát, nhưng từ lạm phát không được dự kiến“. Có lẽ đây là mệnh đề then chốt và điểm chốt của dòng tư duy sẽ dẫn đến “kinh tế học cổ điển mới” mà ta thấy rằng Friedman là người tạo cảm hứng nhưng không vì thế mà là nhà sáng lập trường phái này.

Axel Leijonhufvud (1933-)
Knut Wicksell (1851-1926)

Tiếng vang của phê phán của Friedman không thể làm cho ta quên được là có một phê phán song song của E. Phelps (tác giả này có những quan điểm khá xa với những quan điểm trọng tiền) đối với tính ổn định của đường Phillips vừa tìm cách trang bị cho kinh tế học vĩ mô một cơ sở kinh tế vi mô. Phản ứng lại kinh tế học vĩ mô của một học thuyết Keynes đơn giản hoá, ông minh hoạ giá trị của phương pháp tân cổ điển được ông dùng lại bằng cách bỏ đi tiên đề walrasian về thông tin hoàn hảo. Cũng vào thời kì đó, Clower và Leijonhufvud và trường phái mất cân bằng cũng chứng minh là nên từ bỏ giả thiết người rao giá chi phối toàn bộ các thị trường bằng cách cung cấp một thông tin tức thì và hoàn hảo. Nhưng trong lúc Clower và Leijonhufvud suy ra từ đó rằng tính không hoàn hảo của thông tin dẫn đến những thị trường mất cân bằng thì Phelps lại tìm cách trình bày sự sụt giảm của việc làm và của hoạt động kinh tế trong khuôn khổ tân cổ điển, nghĩa là bằng cách tôn trọng giả thiết cho rằng các tác nhân là duy lí và các thị trường tự cân bằng thông qua giá cả.

Đối với Phelps, thông tin là không hoàn hảo và do đó là tốn kém; có những khoảng cách, xã hội cũng như địa lí, tách biệt các thị trường với nhau. Để dùng lại hình ảnh của chính tác giả, đó là “ngụ ngôn về các đảo”: để biết lương trả trên một hòn đảo bên cạnh, một người lao động phải mất một ngày để đến đảo ấy. Như vậy xuất hiện một “thất nghiệp tìm kiếm”: đối mặt với một sụt giảm của lương thực tế, người lao động sẽ không ra đi vì họ không biết rằng sụt giảm của hoạt động có tính bộ phận hay là tổng quát; nếu họ đi tìm một thù lao tốt hơn chỗ khác, bằng cách chèo sang một đảo khác, thì cung lao động giảm và thất nghiệp tìm kiếm sẽ tăng.

Đóng góp thứ ba có thể được xem như đóng góp trung tâm cho sự nổi lên của kinh tế học cổ điển mới là xưa hơn và tầm quan trọng của nó chỉ hiện ra một cách hồi cố: thật vậy ngay từ 1961, J. F. Muth đã trình bày giả thiết dự kiến duy lí, giả thiết này sẽ cho phép đi xa hơn phê phán của Friedman-Phelps, vốn dựa trên những “dự kiến thích nghi”. Đối với các tác giả này, chính vì lạm phát không được dự kiến nên mới có khả năng tạm thời đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp; chính vì những dự kiến thay đổi dần theo diễn tiến của quá trình lạm phát mà, trong dài hạn, đường Phillips trở thành thẳng đứng. Muth, khi nghiên cứu những dữ liệu liên quan đến các dự kiến kết luận: “[…], trong một ngành, các dự kiến trung bình tốt hơn những dự kiến của những mô hình ngây thơ“. Do đó, xuất phát từ một phê phán những cách hình thức hoá “chuẩn” – của thời bấy giờ – những dự kiến, tác giả gợi ý rằng “những dự kiến là những tiên đoán có cơ sở về những biến cố tương lai và chủ yếu giống với những tiên đoán của lí thuyết kinh tế xác đáng” và ông đề nghị gọi những dự kiến này là những “dự kiến duy lí”.

Lev Pontryagin (1908-1988)

Do đó có công thức: t-1Xt* = E(Xt\It-1). Giá trị dự kiến của Xt tại thời điểm (t-1), được kí hiệu là t-1Xt*, như vậy là kì vọng toán học của Xt, được tính từ thông tin sẵn có tại thời điểm (t-1), thông tin này được kí hiệu là It-1; do X* là giá trị cân bằng và et là một biến ngẫu nhiên với kì vọng toán học bằng không nên giá trị dự kiến này còn được viết như:

t-1Xt* = X* + et*

Bởi thế trường phái cổ điển mới là sự kết hợp của học thuyết trọng tiền, với giả thiết thông tin không hoàn hảo và tốn kém và cuối cùng với giả thiết những dự kiến duy lí. Có lẽ để đầy đủ hơn phải kể thêm vai trò của những công cụ mới (nguyên lí gọi là “cực đại” phát triển từ những công trình của nhà toán học Nga L. Pontryagin) được phát triển trong những năm 1960 và cho phép xử lí một cách đầy đủ và dễ dàng hơn việc tối ưu hoá liên thời gian. Khái niệm cân bằng yên ngựa, một khái niệm làm đổi mới hoàn toàn khái niệm cân bằng, dường như chỉ tìm được sự biện minh đầy đủ khi được liên kết với giả thiết dự kiến duy lí.

Thông điệp kép của kinh tế học cổ điển mới

Friedrich Hayek (1899-1992)
Robert Lucas (1937-)

Trào lưu này được phát triển từ giữa những năm 1970 từ Hoa Kì; những nhà lãnh đạo chính của trào lưu là R. Lucas (giải Nobel 1995), Th. Sargent, N. Wallace và R. Barro. Các nhà kinh tế này tự nhận họ là những nhà “cổ điển” vì muốn chỉ rõ sự thừa kế về mặt tri thức với những nhà tiền keynesian, đặc biệt là với Hayek, và đóng lại dấu ngoặc mà Keynes đã, một cách bất chính, mở ra. Điều được nhấn mạnh là những hành vi cá thể, do các thị trường luôn ở thế cân bằng nên giá cả tự điều chỉnh rất nhanh. Những hiệu ứng bất ngờ và thay thế liên thời gian sẽ có một vai trò vô cùng quan trọng. Ở đây chúng tôi đặt ưu tiên cho một thông điệp kép: một mặt, chính sách điều tiết tình thế, theo các nhà cổ điển mới, hoàn toàn không có hiệu quả (nguyên lí “bất biến”); mặt khác, phải từ bỏ cách mô hình hoá kinh trắc vĩ mô truyền thống.

Neil Wallace (1939-)
Thomas Sargent (1943-)

Về điểm thứ nhất, ở đây cần phải trích dẫn Sargent và Wallace (1976): “Trong hệ thống này, không có chỗ cho một chính sách ngược chu kì. Để tận dụng đường Phillips, bằng cách này hay cách khác, phải đánh lừa công chúng. Nhưng, do có giả thiết những dự kiến duy lí, các giới chức trách không thể sử dụng bất kì quy tắc nào có tác động ngược với hi vọng đánh lừa được công chúng một cách có hệ thống. Điều này có nghĩa là giới chức trách không thể khai thác đường Phillips, cho dù chỉ trong một thời kì. Như thế, việc kết hợp giả thiết tỉ suất tự nhiên và giả thiết dự kiến duy lí làm cho giả thiết đầu, từ một điều lạ lùng … biến thành một giả thiết có những hệ quả tức thì và triệt để đối với tính khả thi của một chính sách ngược chu kì”.

Trước hết đoạn trích dẫn trên là lí thú vì chỉ ra cơ sở của điều đôi lúc được gọi là “nguyên lí bất biến, hay tính không hiệu quả của những chính sách ngược chu kì”; kinh tế cổ điển mới đi xa hơn những đề xuất của Friedman về tính không ổn định của đường Phillips; đối với Friedman, còn có một đánh đổi tạm thời giữa lạm phát và thất nghiệp; đường Phillips dài hạn tất nhiên là thẳng đứng nhưng vẫn có một họ những đường Phillips ngắn hạn có những đặc tính tốt. Ngược lại, đối với Lucas và kinh tế học cổ điển mới thì đường Phillips là thẳng đứng, trong dài hạn cũng như trong ngắn hạn.

Đoạn trích dẫn trên còn có một ích lợi khác, đó là lời nhắc nhở của ngay chính những tác giả tạo lập trường phái này là không thể đồng hoá “kinh tế học cổ điển mới” với “giả thiết những dự kiến duy lí” hay qui “kinh tế học cổ điển mới” về “giả thiết những dự kiến duy lí”. Tính không hiệu quả của chính sách ngược chu kì quả thật là kết quả của việc vận dụng đồng thời hai giả thiết, giả thiết tỉ suất tự nhiên và giả thiết những dự kiến duy lí. Do đó ta sẽ bớt ngạc nhiên hơn trước việc những mô hình hoá khá xa với những mô hình hoá của kinh tế học cổ điển mới thường xuyên sử dụng giả thiết những dự kiến duy lí.

Thông điệp trung tâm thứ hai là phê phán việc sử dụng truyền thống các mô hình kinh trắc. Quan điểm của Lucas (1972) là không nhập nhằng: “Do cấu trúc của một mô hình kinh trắc gồm những qui tắc ra quyết định tối ưu của các tác nhân kinh tế và những qui tắc tối ưu thay đổi một cách có hệ thống với những thay đổi của cấu trúc của những chuỗi xác đáng đối với người ra quyết định, nên mọi thay đổi của chính sách sẽ làm thay đổi một cách triệt để cấu trúc của các mô hình kinh trắc […] [kết luận này] kéo theo là những so sánh, với sự hỗ trợ của những mô hình kinh trắc hiện nay, những hiệu ứng của những qui tắc chính sách là không có giá trị mặc dù hiệu năng của những mô hình này trên thời kì quan sát hay của việc dự báo ngắn hạn ex ante”.

Tóm lại, những mô phỏng, từ những mô hình hiện có, về mặt nguyên tắc, không thể cho được bất kì thông tin có ích nào về những hệ quả thực tế của những chính sách đối chọn khác nhau.

Kết luận trên được suy ra từ việc xem xét chính những phương trình được sử dụng trong các mô hình kinh trắc tiêu biểu. Lucas nói rằng cách làm thông thường là ước lượng một hàm (ví dụ hàm tiêu dùng) và tiếp đó sử dụng quan hệ đã được làm rõ bằng cách này để tiến hành những dự báo tiêu dùng với những giả thiết hay kịch bản khác nhau.

Kiểu sử dụng như thế dựa trên một giả thiết ngầm: quan hệ kinh trắc được giả định là ổn định trong những giả thiết khác nhau hình dung được. Lucas bảo vệ ý là những giáo huấn của lí thuyết động cho thấy rằng không thể giữ lại giả thiết này – và do đó ta có thể chờ đợi là những phương trình hành vi thay đổi khi những giả thiết được chọn thay đổi. Những thay đổi trong các quan hệ hành vi xuất phát từ những thay đổi trong các quan hệ và phản ứng của các tác nhân đối mặt với một chân trời kinh tế đã thay đổi.

Bên kia kinh tế học cổ điển mới (NCE) là kinh tế học keynesian mới (NKE)

David Romer (1958-)
Gregory Mankiw (1958-)

Tuy nhiên nếu kinh tế học cổ điển mới tỏ ra thống trị trong thế giới anglo-saxon trong những năm 1980 thì mười năm sau đó ảnh hưởng của trường phái này bị những trào lưu tự nhận là kế thừa tư tưởng Keynes đồng thời kế thừa một vài yếu tố của “kinh tế học cổ điển mới” công kích kịch liệt. Tên gọi “kinh tế học keynesian mới” chỉ mới xuất hiện gần đây, dù cho thuật ngữ đã được dùng vào đầu những năm 1980 và một trong những lần xuất hiện đầu tiên của thuật ngữ này là trong tựa đề một bài viết của L. Ball, M. G. Mankiw và D. Romer.

Sự đoạn tuyệt với “học thuyết keynesian của sự tổng hợp” hoàn toàn to lớn: thật vậy, điểm xuất phát nằm ở lăng kính kinh tế vi mô, cá nhân luận (phương pháp luận cá thể), đối lập với truyền thống keynesian trước đó vốn dựa trên phương pháp luận tổng thể, lập luận nhiều hơn trên toàn bộ hệ thống kinh tế và xã hội.

Sự đối lập chủ yếu với các nhà cổ điển mới không liên quan đến sự hình thành những dự kiến lẫn việc viện đến phương pháp luận cá thể. Trung tâm của sự đối lập nằm ở chỗ khác: vai trò của các thị trường. Thật vậy, đối với kinh tế học cổ điển mới, giả thiết cơ bản là các thị trường phải được “dọn sạch” (cleared) [ND] hay nếu muốn – nhưng thành ngữ là ít hàn lâm hơn –được “tẩy thoát sạch” bằng sự điều chỉnh của giá cả. Đối với kinh tế học keynesian mới, trái lại, hoạt động của các thị trường không cho phép đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả của hệ thống. Trên điểm này, còn phải phân biệt trong nhóm tác giả này, những ai quan tâm đến tính không ổn định của các đường cung với những ai nhấn mạnh đến những vấn đề phối hợp, và cuối cùng với những ai nhấn mạnh đến những thời gian điều chỉnh của giá cả, tức là những hiện tượng nhờn. Nhưng vượt lên trên những khác biệt này là một quan điểm chung: thị trường không đảm bảo cho hệ thống hoạt động có hiệu quả.

Cũng phải làm rõ sự đối lập với các nhà “tân keynesian”. Trong lúc trào lưu “tân keynesian” coi tính “cứng nhắc” (trong ngắn hạn) của giá cả như một dữ kiện cho trước và muốn rút ra từ đó những hệ quả thì các nhà keyesian mới đi tìm những cơ sở kinh tế vi mô của sự điều chỉnh chậm chạp và từng bước này. Đối với nhiều tác giả tự nhận mình thuộc trào lưu kinh tế học keynesian mới thì giá cả có tính “nhờn” (sticky); việc điều chỉnh giá cả với những biến thiên của số lượng, còn xa mới là tức thì, đòi hỏi thời gian và chính tính “nhờn” này của những biến giá cả và thù lao cần phải được giải thích. Do đó có sự đồng ý (ít nhất là một phần) với một phần những quan tâm của kinh tế học cổ điển mới, tức là những cơ sở kinh tế vi mô của kinh tế học vĩ mô.

Có thể cũng nên nói thêm là những tính nhờn nói đến ở đây liên quan đến thị trường sản phẩm (giả thiết menu cost) lẫn thị trường tín dụng (hạn mức tín dụng) cũng như đến thị trường lao động (mô hình “người trong cuộc-người ngoài cuộc”, những vấn đề thương thảo, lí thuyết lương hiệu quả). Nằm ở trung tâm của những mối quan tâm của kinh tế học keynesian mới không chỉ có vấn đề những đặc thù của hợp đồng lao động. Hoạt động của những kiểu thị trường khác nhau cũng được phân tích kĩ (học thuyết keynesian “thông tin”), cho dù các tác giả ít nhiều tự coi mình thuộc trào lưu kinh tế học keynesian mới không gắn một tầm quan trọng bằng nhau, tuỳ trường hợp, cho những hiện tượng nhờn, tính cứng nhắc danh nghĩa hay thực tế. Trong số này, một số tác giả thăm dò một hướng khác, vả lại hướng này đã được chính Keynes gợi ý: họ nhấn mạnh là không thể loại trừ rằng việc gia tăng của tính linh hoạt của giá cả có thể làm tăng, chứ không giảm bớt, tính không ổn định. Đặc biệt điều này hiện lên trong việc phân tích những vấn đề mà nợ nần và thị trường tín dụng đặt ra. Cuối cùng, rõ ràng là những vấn đề phối hợp nằm ở trung tâm của nhiều mối quan tâm.

Mặt khác, điều được thừa nhận là những dự kiến duy lí là một ứng dụng của nguyên lí hành vi duy lí vào việc thu thập và xử lí thông tin và sự hình thành của những dự kiến. Điều cũng được công nhận là nguyên lí không hiệu quả, tính bất lực của chính sách điều tiết kinh tế bằng cầu không trực tiếp gắn với giả thiết những dự kiến duy lí và do đó không thể nào lẫn lộn hay đồng nhất kinh tế học cổ điển mới với những dự kiến duy lí: nếu kết hợp những dự kiến duy lí với biểu trưng “cổ điển” của nền kinh tế chủ yếu dựa trên giả thiết tỉ suất tự nhiên thì không phải là một điều ngạc nhiên khi đi đến kết luận kiểu Lucas-Sargent-Wallace về tính bất lực, không hiệu quả của chính sách kinh tế. Nhưng thử giả định rằng các tác nhân có một biểu trưng“keynesian” (chứ không còn là một biểu trưng cổ điển nữa) về hoạt động của nền kinh tế thì, trong trường hợp này, những dự kiến duy lí, thay vì làm cho chính sách kinh tế bất lực, ngược lại, lại làm cho chính sách này hiệu quả hơn. Đối với nhiều tác giả tự nhận mình thuộc trào lưu“kinh tế học keynesian mới”, khái niệm dự kiến hiện nay là một điểm xuất phát có ích cho việc mô hình hoá.

Đi đến một trường phái tổng hợp mới?

Trong hai mươi năm nữa, trong số tất cả những phát triển tinh vi này, phát triển nào sẽ được các nhà kinh tế hợp nhất vào biểu trưng về hoạt động của thế giới? “Tổng hợp cổ điển keynesian”, một trào lưu tư tưởng thống trị rộng rãi cách đây vài thập niên đã thấy ảnh hưởng của nó bị đánh bạt bởi sự phê phán và lớn mạnh của trường phái trọng tiền (M. Friedman) rồi của kinh tế học cổ điển mới. Đến lượt kinh tế học cổ điển mới bị phản bác, ta có thể tự hỏi phải chăng vào đầu thế kỉ XXI đang xuất hiện điều có thể gọi là một “trường phái tổng hợp mới”? Phải chăng sự hợp nhất của kinh tế học vĩ mô đã ló dạng? Hiện nay có nhiều câu hỏi được đặt ra. Có khả năng là những kiểu mô hình hoá sắp tới sẽ dành một chỗ xứng đáng cho những dự kiến, những quan tâm liên quan đến tính thay thế liên thời gian và tính tiền hậu bất nhất động, những vấn đề tính tin cậy và danh tiếng;cũng phải hình dung đến việc tính đến những hiện tượng có tính dai dẳng và những hiện tượng trễ, việc đưa vào những động thái phi tuyến tính. Do đó phải làm thất vọng những ai hi vọng thấy xuất hiện trở lại một biểu trưng đơn giản kiểu IS-LM; tuy nhiên mô hình thế hệ đan chéo, không được đề cập ở đây, có thể cấu thành một khuôn khổ phân tích sử dụng được ở nhiều cấp độ.

▶ ABRAHAM-FROIS G., chủ biên, La macroéconomie après Lucas, Paris, Economica, 1998. – ARTUS P.,Macroéconomie, Paris, Économica, 1995. –BLANCHARD O. J. & FISHER S., Lectures on Macroeconomics, Cambridge, MIT Press, 1989. – MANKIW N. G. & ROMER D., New Keynesian Economics, Cambridge, MIT Press, 1991. – ROMER D., Macroéconomie approfondie, McGraw-Hill/Ediscience, 1997.

Gilbert ABRAHAM-FROIS

Giáo sư đại học Nanterre (Paris 10)

Nguyễn Đôn Phước dịch

® Chu kì kinh tế; Duy lí hạn chế (tính); Duy lí tân cổ điển (tính); Dự kiến duy lí; Hệ động trong kinh tế; Keynes (học thuyết); Kinh tế học vi mô.

Nguồn: Dictionnaire des sciences économiques, sous la direction de Claude Jessua, Christian Labrousse, Daniel Vitry, PUF, Paris, 2001

—————-&&&—————–

Niết bàn của các nhà kinh tế học (3): Các hiệu ứng

Niết bàn của các nhà kinh tế học (3): Các hiệu ứng

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Xin được nói rõ: các nhà kinh tế đã sáng tạo hoặc tưởng tượng cả khối hiệu ứng (hiệu ứng tích tụ, tập huấn, bất ngờ, lấn thế, thu nhập, giá cả…). Chúng tôi chỉ đề cập dưới đây những hiệu ứng mang tên của những tác giả đã xây dựng chúng.

Hiệu ứng Balassa (hay hiệu ứng Balassa-Samuelson)

Ở những nước nghèo, giá cả đi xe taxi, giá cả ăn uống ở nhà hàng và giá cả các dịch vụ khác của địa phương đặc biệt rẻ so với giá cả ở những nước như Pháp hay Hoa KỳTại sao? Đối với Bela Balassa (1928-1991), một nhà kinh tế học người Hungary từng làm việc tại Hoa Kỳ cùng với Paul A. Samuelson (được “giải thưởng Nobel kinh tế” năm 1970), điều đó không sai, nhưng chưa đủ. Một phần khác của câu trả lời xuất phát từ tỷ giá hối đoái có hiệu lực tại quốc gia đó. Tỷ giá hối đoái được xác định bởi nhu cầu cân đối các hoạt động xuất nhập khẩu. Nhưng những người lao động sản xuất ra các hàng hoá xuất khẩu, nói chung, có năng suất lao động thấp hơn đáng kể so với những người lao động ở Pháp, dẫn đến tỷ giá hối đoái thấp hơn giữa nước có liên quan và Pháp, nếu không thì giá bán các sản phẩm được Pháp nhập khẩu sẽ đắt quá và sẽ không bán được hoặc bán không nhiều.

Bela Balassa (1928-1991)
Paul Samuelson (1915-2009)

Ngược lại, trong các dịch vụ của địa phương, năng suất lao động không khác biệt nhiều giữa hai nước: người lái xe taxi người Miến Điện (ví dụ) lái xe với vận tốc cũng nhanh gần bằng so với người lái xe taxi người Pháp, và không cần nhiều hơn thời gian (thậm chí thường mất ít thời gian hơn) để chuẩn bị và phục vụ một bữa ăn tại một nhà hàng Ấn Độ so với tại một nhà hàng Pháp. Nhưng khách du lịch đến Ấn Độ, nhờ tỷ giá hối đoái thấp, đổi được nhiều đồng nội tệ hơn với đồng euro. Khi mua dịch vụ [ở Ấn Độ], giá cả sẽ đặc biệt rẻ hơn rất nhiều so với những dịch vụ tương tự ở Pháp. Đây là hiệu ứng Balassa, giải thích rằng, về “tiêu chuẩn sức mua”, một người phương Tây có thể sống như một vương công ở Ấn Độ… nhưng với điều kiện là mua các sản phẩm của địa phương, chứ không phải các sản phẩm nhập khẩu. Tuy nhiên, ngược lại, khi mà khoảng cách phát triển giữa các nước thu hẹp càng nhiều, thì hiệu ứng Balassa càng ít hiệu quả, bởi vì khi đó tỷ giá hối đoái giữa đồng nội tệ và đồng euro có xu hướng tăng lên.

Hiệu ứng Pigou (và hiệu ứng Keynes)

Alfred Marshall (1842-1924)
Arthur C. Pigou (1877-1959)

Là một người bạn và đối thủ của Keynes, Arthur Cecil Pigou (1877-1959), giáo sư tại Đại học Cambridge (nơi ông đã kế thừa Alfred Marshall ở vị trí nổi tiếng là giáo sư chuyên ngành kinh tế của Đại học Cambridge, một vị trí mà Keynescũng quan tâm) đã cố bảo vệ một cách tuyệt vọng tư tưởng tân cổ điển chính thống vào những năm 40, thậm chí trong khi cuộc cách mạng keynesian đã cuốn đi tất cả trên đường đi của nó. Hiệu ứng mang tên ông là một trong những nỗ lực của ông. Hiệu ứng đó bắt đầu từ một giả thuyết: giả định rằng tất cả giá cả đều giảm, điều mà chúng ta gọi là “giảm phát”. Đây là một tin tốt lành đối với mỗi cá nhân, nhưng, theo lời giải thích của Keynes vào thời đó, đó không phải là một tin tốt lành đối với nền kinh tế nói chung (hay nền kinh tế vĩ mô). Người mua, khi thấy giá cả giảm, có xu hướng trì hoãn một phần khả năng mua hàng của họ, với hy vọng hưởng lợi sau này khi giá cả giảm thêm nữa. Ngoài ra, một số khoản chi tiêu khác lại đắt hơn, bởi vì trái với việc thu nhập có xu hướng giảm, các khoản chi tiêu đó không giảm giá khi mà các hợp đồng đã ký không được đàm phán lại: trả nợ vay, tiền thuê nhà, thuế thu nhập, tiền bảo hiểm, v.v. bao nhiêu hậu quả dẫn đến việc hạ thấp hơn mức sống của các hộ gia đình và giảm mức hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, làm cho toàn bộ nền kinh tế rơi vào vòng xoáy suy thoái.

John M. Keynes (1883-1946)
Don Patinkin (1922-1995)

Đối với Pigou, sự lo sợ này không có cơ sở. Khi giá giảm, thì sức mua của tiền mặt (tiền giấy và tiết kiệm có tính thanh khoản) của cá nhân (doanh nghiệp và hộ gia đình) tăng. Mỗi cá nhân sẽ không thấy cần thiết phải giữ một lượng tiền mặt quan trọng để đối phó với các khoản chi tiêu đã được tính trước và họ sẽ chuyển một phần tiền mặt dư thừa này cho các khoản chi tiêu nhu cầu bổ sung. Đây là hiệu ứng Pigou, một hiệu ứng có thể phá sạch vòng tròn luẩn quẩn giảm phát được Keynes mô tả. Ngoại trừ một điều cho thấy có lẽ Pigou hơi quá lạc quan. Và nếu mọi người đều nghĩ rằng giá cả sẽ tiếp tục giảm nữa và chờ đợi để chi tiêu lượng tiền mặt dư thừa của mình, hoặc tranh thủ để trả nợ? Còn gì nữa đâu sự bật dậy của khả năng tiêu thụ: bị đóng khung trong cái vòng giảm phát, người tiêu dùng sẽ tiếp tục chìm sâu [vào cái vòng đó]. Và trên thực tế, tình trạng giảm phát thực tế (ở Nhật Bản, ví dụ) xác thực cách tiếp cận của Keynes hơn là hiệu ứng Pigou.

Tuy nhiên, hiệu ứng Pigou đã có một cuộc sống thứ hai, nhưng bằng một cách nào đó theo chiều ngược lại. Khi giá của một số tài sản nào đó tăng – bất động sản, ví dụ –, thì chủ sở hữu của các tài sản này làm giàu. Điều mà Don Patinkin, một nhà kinh tế học người Mỹ, đặt tên (vào những năm 1960) là “hiệu ứng tiền mặt thực tế”, có thể thúc đẩy một số chủ sở hữu, những người nắm giữ những tài sản bảo đảm vững chắc hơn trong con mắt của các ngân hàng, vay tiền để làm giàu hơn nữa. Sự tăng giá tài sản này, và được duy trì như vậy (sự tăng giá duy trì sự tăng giá), có thể dẫn đến hiện tượng bong bóng đầu cơ mà sớm muộn gì cũng bùng nổ, như cuộc khủng hoảng các khoản cho vay dưới chuẩn đã chứng minh. Trớ trêu thay, hiệu ứng Pigou đảo ngược này (bởi vì nó có hiệu lực khi giá các tài sản tăng) từ nay được gọi là hiệu ứng Keynes. Sự báo thù là một món ăn lạnh.

Hiệu ứng Veblen

Thorstein Veblen (1857-1929)

Thorstein Veblen (1857-1929) là một nhà kinh tế học người Mỹ, có lẽ do nhìn xã hội mà ông sống bằng con mắt phê phán (ông xuất thân từ một gia đình gốc Na Uy sống rất giản dị), ông đã xuất bản vào năm 1899 một cuốn sách đã làm cho ông nổi tiếng: The Theory of The Leisure Class [Lý thuyết về tầng lớp nhàn rỗi]. Trong cuốn sách đó, ông bóc vỏ một ngàn lẻ một cách mà một người đã từng thành công về mặt vật chất trong cuộc sống bộc lộ sự thành công đó: các quần áo, các bữa ăn, sử dụng từ vựng, giọng nói, nhà ở, v.v.. Nhưng ông cũng chỉ ra rằng các tầng lớp xã hội ngay dưới tầng lớp nói trên cũng bắt chước lối sống ấy để cố tiếp cận sự thừa nhận tương tự về mặt xã hội: đó là hiệu ứng Veblen, dựa trên cơ sở của sự bắt chước, mỗi người rập khuôn theo lối sống của tầng lớp xã hội cao hơn mình một bậc.

Hiệu ứng Q của Tobin

James Tobin (1918-2002)

Việc truyền tải sang nghĩa đen của tiếng Pháp đối với các thuật ngữ Mỹ không phải là điều thanh lịch nhất, và người ta cũng không chắc là nó có biểu dương hay không sự vinh quang củaJames Tobin, nhà kinh tế học người Mỹ (1918-2002, được “giải thưởng Nobel kinh tế” vào năm 1981), ít nhất là tại các nước nói tiếng Pháp (mẫu tự Q trong tiếng Pháp phát âm tương tự như từ “cul”, có nghĩa là moont – ND). Chữ “Q” (không có ý nghĩa đặc biệt nào) đo lường mối quan hệ giữa giá trị trên thị trường chứng khoán của một doanh nghiệp với giá trị kinh tế được gọi là giá trị “thay thế” (cần phải tốn bao nhiêu tiền để khôi phục lại một doanh nghiệp tương tự nếu chẳng may nó phá sản?). Nếu giá trị trên thị trường chứng khoán (điều thường được gọi là “thị giá vốn cổ phần”) vượt quá giá trị thay thế, thì các nhà lãnh đạo doanh nghiệp có lợi khi đầu tư, bởi vì thị trường (chứng khoán) sẽ làm tăng giá trị các tài sản nhiều hơn so với giá trị hiện có của chúng. Và nếu là điều ngược lại (giá trị trên thị trường chứng khoán thấp hơn giá trị thay thế), thì các cổ đông có lợi khi bán chúng, bởi vì doanh nghiệp sẽ thu về ít hơn so với giá trị hiện có của nó. Hiệu ứng “Q” này trái với định lý Modigliani-Miller (xem Định lý Modigliani-Miller), nhưng hiệu lực của nó dựa trên một giả thuyết đặc biệt bấp bênh: thị trường chứng khoán đánh giá khá chính xác giá trị của một doanh nghiệp. Đó là điều mà chúng ta có thể nghi ngờ…

Trên thực tế, Tobin nổi tiếng hơn vì đề xuất của ông về việc đánh thuế các giao dịch ngoại hối, nhằm “gây rắc rối một chút cho hoạt động của các thị trường tiền tệ quốc tế” được ông đánh giá, trong đường lối của Keynes, là gây bất ổn định do tạo ra quá nhiều hoạt động đầu cơ.

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: Les lois, les théorèmes, les courbes…, Les Dossiers d’Alternatives Economiques, Hors-série no 4, septembre 2016.

——————–&&&—————–

Tăng trưởng kinh tế và ngưỡng lạm phát tối ưu

Tăng trưởng kinh tế và ngưỡng lạm phát tối ưu

(Tác giả: Nguyễn Anh Phong – Nguồn: http://tapchitaichinh.vn)

Bài viết nghiên cứu quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại Việt Nam giai đoạn từ năm 1992 đến 2016. Bằng kỹ thuật Bootstrap, nghiên cứu tìm ra ngưỡng lạm phát tối ưu tại Việt Nam là ở mức 3,22%/năm, nghĩa là muốn có tăng trưởng kinh tế tốt, cần duy trì lạm phát ở mức vừa phải (3,22%/năm). Nếu lạm phát cao hơn mức này, khả năng suy giảm tăng trưởng sẽ xuất hiện. Để giữ cho tăng trưởng đạt mục tiêu, Chính phủ buộc phải nới lỏng các chính sách tài khóa và tiền tệ, việc làm này khiến lạm phát lại tăng lên.

Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu

Nghiên cứu của Keynes cho rằng, trong ngắn hạn, sẽ có sự đánh đổi giữa lạm phát và tăng trưởng, theo đó muốn có tăng trưởng cao thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát nhất định. Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng và lạm phát di chuyển cùng chiều.

Về dài hạn, nếu tiếp tục chấp nhận tăng lạm phát để thúc đẩy tăng trưởng thì GDP cũng không tăng thêm, ngược lại còn có xu hướng giảm đi.

Dựa trên quan điểm của Keynes, một số nghiên cứu cho rằng, lạm phát ở mức vừa phải sẽ thúc đẩy tăng trưởng (Mubarik, 2005). Ngược lại, một số nghiên cứu khác cho thấy, lạm phát lại có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế khi nó vượt qua một ngưỡng nhất định (Ocran 2007, Khan và Senhadji, 2001).

ảnh 2

Các nghiên cứu của Sarel (1996), Shan và Senhadji (2001) và một số nhà nghiên cứu khác, đã lượng hóa mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế thông qua tìm ra ngưỡng lạm phát tối ưu. Sarel tìm ra ngưỡng lạm phát là 8%, còn nghiên cứu của Shan và Senhadji tìm ra ngưỡng lạm phát cho các nước đang phát triển là 11 – 12%, các nước công nghiệp khoảng 1 – 3%.

Nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF, 2006) về mức độ lạm phát ở Việt Nam với các nước Đông Nam Á đã chỉ ra rằng, mức lạm phát tối ưu cho tăng trưởng kinh tế ở các nước vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam khoảng 3,6%.

Trương Minh Tuấn (2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế bằng nghiên cứu thực nghiệm Việt Nam với dữ liệu từ quý I/2001 đến quý IV/2011 cho thấy, tồn tại quan hệ dài hạn giữa lạm phát và tăng trưởng.

Nguyễn Đức Độ (2014) cũng đã nghiên cứu về quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát và tiết kiệm, đầu tư tại Việt Nam với dữ liệu từ 2004 đến 2013. Trong mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng của Việt Nam, đầu tư là biến số quyết định tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát CPI, mức nhập siêu cũng như quy mô thu ngân sách nhà nước.

Mô hình định lượng về mối quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát, tiết kiệm và đầu tư (GISI) tại Việt Nam được đề xuất trong bài viết này cho thấy, để đạt được sự tăng trưởng kinh tế bền vững, tốc độ tăng đầu tư cần tương đương với tốc độ tăng trưởng GDP. Hơn nữa, với mức lạm phát mục tiêu đề ra càng thấp, thì tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế sẽ càng cao.

Mô hình, dữ liệu và kết quả nghiên cứu

Dựa vào tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, để đánh giá mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, tác giả áp dụng mô hình như sau:

Trong đó: Inf là tỷ lệ thay đổi của chỉ số CPI năm t so với năm t-1, Inf=(CPIt-CPIt-1)/CPIt-1; g đo lường cú sốc cầu, là tỷ lệ thay đổi của GDP, g= (GDPt-GDPt-1)/GDPt-1; m2gdp đo lường độ sâu tài chính, đại diện cho tác động của chính sách tiền tệ đến tăng trưởng, m2gdp= M2t/GDPt; gegdp đo lường tác động chính sách tài khóa mà đại diện là chi tiêu chính phủ so với GDP, gegdp= GEt/GDPt; αo là tung độ gốc, các giá trị α là hệ số dốc và u là sai số ngẫu nhiên.

Theo Keynes và các nghiên cứu đã phân tích cho thấy, giữa tăng trưởng với lạm pháp có mối quan hệ phi tuyến (đường cong).

Do đó, tác giả sử dụng hồi quy ngưỡng theo phương pháp của Hansen để xác định ngưỡng lạm phát tối ưu cho Việt Nam, với dữ liệu được thu thập từ năm 1992 cho đến năm 2016 (sử dụng phương pháp bootstrap 1000 lần, nhằm tăng số mẫu và độ tin cậy cho bộ dữ liệu nghiên cứu). Kết quả cho thấy, tồn tại quan hệ ngưỡng giữa tăng trưởng và lạm phát, với ngưỡng lạm phát tối ưu là 3,22%/năm.

Như vậy, nếu mức lạm phát được giữ ở mức dưới ngưỡng này sẽ kích thích cho tăng trưởng kinh tế (lạm phát tăng thêm 1% thì kinh tế tăng trưởng thêm 0,45%).

Ngoài ra, trong ngưỡng này thì tăng độ sâu tài chính cũng giúp tăng trưởng (độ sâu tài chính tăng thêm 1% giúp tăng trưởng kinh tế thêm 0,37%), ngược lại tăng chi tiêu chính phủ nếu không đẩy mạnh tăng thu nhập thì tạo hiệu ứng ngược (tỷ lệ chi tiêu chính phủ so GDP tăng 1% làm tăng trưởng giảm 1,33%).

Với mức lạm phát trên 3,22%/năm sẽ tạo hiệu ứng kiềm chế tăng trưởng, tuy nhiên cũng ở mức thấp (lạm phát tăng 1%, tăng trưởng kinh tế giảm 0,005%).

Ngoài ra, nếu mức lạm phát trên 3,22%, các chỉ số về độ sâu tài chính, hay chi tiêu chính phủ so với GDP đều có quan hệ thuận chiều và kích thích tăng trưởng, đặc biệt ảnh hưởng của chi tiêu chính phủ/GDP lên tăng trưởng rất cao (tỷ lệ này tăng 1%, tăng trưởng kinh tế thêm 0,84%).

Kết quả nghiên cứu này khá tương đồng với nghiên cứu của Khan (2005) tìm ra ngưỡng lạm phát tối ưu ở các nước Trung Đông và Trung Á là khoảng 3,2%/năm, hay nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (2006) về mức độ lạm phát ở Việt Nam với các nước Đông Nam Á.

Một số hàm ý về chính sách

Năm 2017, Chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức 4%. Tuy nhiên, đây vẫn là mức cao hơn mức ngưỡng tối ưu (3,22%) đề cập trong nghiên cứu này.

Bên cạnh đó, tỷ lệ nhập siêu cũng ở mức cao so với dự trữ, mức thâm hụt ngân sách vẫn duy trì mức cao (thâm hụt chủ yếu từ kênh tiêu dùng), chính sách tiền tệ vẫn chưa thật sự linh hoạt, tăng trưởng tín dụng vẫn duy trì ở mức cao nhằm kích tăng trưởng.

Như đã phân tích, khi chỉ số lạm phát vượt ngưỡng tối ưu sẽ tạo hiệu ứng ngược lên tăng trưởng, Chính phủ muốn duy trì tăng trưởng cao buộc phải nới lỏng chính sách tài khóa hay tiền tệ, nhưng khi nới lỏng chính sách lại tạo cú hích cho lạm phát tăng trở lại.

Như vậy, trong năm 2017 và các năm tiếp theo, Chính phủ cần chú trọng các giải pháp tổng hợp, tiếp tục kiềm chế lạm phát đạt dưới 4% và tiến tới tiệm cận ngưỡng lạm phát tối ưu, có như vậy mới thật sự phát triển kinh tế đi kèm với ổn định giá cả và thu nhập cho người dân.

Tài liệu tham khảo:
 1.Friedman, Milton (1970) “A theoretical framework for Monetery Analysis”, Journal of Political Economy 78(2), 193-238;
2.Barnett, Vincent. John Maynard Keynes. London: Routledge, 2013. ISBN 978-0415567695;
3.Phan Lê Trung và Phạm Lê Thông (2014), Các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến lạm phát Việt Nam, Tạp chí Công nghệ ngân hàng, số 102 tháng 9/2014;
4.Nguyễn Đức Độ (2014), Quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát, tiết kiệm và đầu tư tại Việt Nam, Tạp chí Tài chính, số 2/2014.
———————-&&&———————

R/Finance 2017: Applied Finance with R – May 19-20, 2017

R/Finance 2017: Applied Finance with R – May 19-20, 2017

Friday, May 19th, 2017
08:00 – 09:00 Optional Pre-Conference Tutorials
Ross Bennett: PortfolioAnalytics Tutorial
Dirk Eddelbuettel: Rcpp: From Simple Examples to Machine learning (pdf)
R. Douglas Martin: Fundamental Factor Models in FactorAnalytics
M. Weylandt + T. Harte: Advanced Bayesian Time Series Analysis using Stan
09:00 – 09:30 Registration (2nd floor Inner Circle) & Continental Breakfast (3rd floor by Sponsor Tables)
Transition between seminars
09:30 – 09:35 Kickoff (video)
09:35 – 09:40 Sponsor Introduction
09:40 – 10:10 Marcelo Perlin: GetHFData: An R package for downloading and aggregating high frequency trading data from Bovespa (pdf) (video)
Jeffrey Mazar: The obmodeling Package (html)
Yuting Tan: Return Volatility, Market Microstructure Noise, and Institutional Investors: Evidence from High Frequency Market (pdf)
Stephen Rush: Adverse Selection and Broker Execution (pdf)
Jerzy Pawlowski: How Can Machines Learn to Trade? (html)
10:10 – 10:30 Michael Hirsch: Revealing High-Frequency Trading Provisions of Liquidity with Visualization in R (html) (video)
10:30 – 10:50 Eric Glass: Equity Factor Portfolio Case Study (html) (video)
10:50 – 11:10 Break
11:10 – 11:30 Seoyoung Kim: Zero-Revelation RegTech: Detecting Risk through Linguistic Analysis of Corporate Emails and News (pdf) (video)
11:30 – 12:10 Szilard Pafka: No-Bullshit Data Science (pdf) (video)
12:10 – 13:30 Lunch
13:30 – 14:00 Francesco Bianchi: Measuring Risk with Continuous Time Generalized Autoregressive Conditional Heteroscedasticity Models (pdf) (video)
Eina Ooka: Bunched Random Forest in Monte Carlo Risk Simulation (pdf)
Matteo Crimella: Operational Risk Stress Testing: An Empirical Comparison of Machine Learning Algorithms and Time Series Forecasting Methods (pdf)
Thomas Zakrzewski: Using R for Regulatory Stress Testing Modeling (pdf)
Andy Tang: How much structure is best? (pptx)
14:00 – 14:20 Robert McDonald: Ratings and Asset Allocation: An Experimental Analysis (pdf)
14:20 – 14:50 Break
14:50 – 15:10 Dries Cornilly: Nearest Comoment Estimation with Unobserved Factors and Linear Shrinkage (pdf) (video)
15:10 – 15:30 Bernhard Pfaff: R package: mcrp: Multiple criteria risk contribution optimization (pdf) (video)
15:30 – 16:00 Oliver Haynold: Practical Options Modeling with the sn Package, Fat Tails, and How to Avoid the Ultraviolet Catastrophe (pdf) (video)
Shuang Zhou: A Nonparametric Estimate of the Risk-Neutral Density and Its Applications (pdf)
Luis Damiano: A Quick Intro to Hidden Markov Models Applied to Stock Volatility
Oleg Bondarenko: Rearrangement Algorithm and Maximum Entropy (pdf)
Xin Chen: Risk and Performance Estimator Standard Errors for Serially Correlated Returns (pdf)
16:00 – 16:20 Qiang Kou: Text analysis using Apache MxNet (pdf) (video)
16:20 – 16:40 Robert Krzyzanowski: Syberia: A development framework for R (pdf) (video)
16:40 – 16:52 Matt Dancho: New Tools for Performing Financial Analysis Within the ‘Tidy’ Ecosystem (pptx) (video)
Leonardo Silvestri: ztsdb, a time-series DBMS for R users (pdf)
16:52 – 17:00 Information about reception and dinner
17:00 – 18:30 Conference Reception
18:30 – 19:00 (Optional) Transfer to Conference Dinner
19:00 – (Optional) Conference Dinner (Rooftop, Wyndham Hotel)
Saturday, May 20th, 2017
08:00 – 09:00 Coffee/ Breakfast
09:00 – 09:05 Kickoff
09:05 – 09:35 Stephen Bronder: Integrating Forecasting and Machine Learning in the mlr Framework (pdf) (video)
Leopoldo Catania: Generalized Autoregressive Score Models in R: The GAS Package (pdf)
Guanhao Feng: Regularizing Bayesian Predictive Regressions (pdf)
Jonas Rende: partialCI: An R package for the analysis of partially cointegrated time series (pdf)
Carson Sievert: Interactive visualization for multiple time series (pdf)
09:35 – 09:55 Emanuele Guidotti: yuimaGUI: A graphical user interface for the yuima package (pptx) (video)
09:55 – 10:15 Daniel Kowal: A Bayesian Multivariate Functional Dynamic Linear Model (pdf) (video)
10:15 – 10:45 Break
10:45 – 11:05 Jason Foster: Scenario Analysis of Risk Parity using RcppParallel (pdf) (video)
11:05 – 11:35 Michael Weylandt: Convex Optimization for High-Dimensional Portfolio Construction (pdf) (video)
Lukas Elmiger: Risk Parity Under Parameter Uncertainty (pdf)
Ilya Kipnis: Global Adaptive Asset Allocation, and the Possible End of Momentum (pptx)
Vyacheslav Arbuzov: Dividend strategy: towards the efficient market (pdf)
Nabil Bouamara: The Alpha and Beta of Equity Hedge UCITS Funds – Implications for Momentum Investing (pdf)
11:35 – 12:15 Dave DeMers: Risk Fast and Slow (pdf) (video)
12:15 – 13:35 Lunch
13:35 – 13:55 Matthew Dixon: MLEMVD: A R Package for Maximum Likelihood Estimation of Multivariate Diffusion Models (pdf) (video)
13:55 – 14:15 Jonathan Regenstein: Reproducible Finance with R: A Global ETF Map (html) (video)
14:15 – 14:35 David Ardia: Markov-Switching GARCH Models in R: The MSGARCH Package (pdf) (video)
14:35 – 14:55 Keven Bluteau: Forecasting Performance of Markov-Switching GARCH Models: A Large-Scale Empirical Study (pdf) (video)
14:55 – 15:07 Riccardo Porreca: Efficient, Consistent and Flexible Credit Default Simulation (pdf) (video)
Maisa Aniceto: Machine Learning and the Analysis of Consumer Lending (pdf)
15:07 – 15:27 David Smith: Detecting Fraud at 1 Million Transactions per Second (pdf) (video)
15:27 – 15:50 Break
15:50 – 16:10 Thomas Harte: The PE package: Modeling private equity in the 21st century (pdf) (video)
16:10 – 16:30 Guanhao Feng: The Market for English Premier League (EPL) Odds (pdf) (video)
16:30 – 16:50 Bryan Lewis: Project and conquer (html) (video)
16:50 – 17:00 Prizes and Feedback
17:00 – 17:05 Conclusion
17:05 – 17:15 Transition to Jak’s
17:15 – 21:15 Post-conference Drinks at Jak’s Tap

—————-&&&—————-

Giáo dục và tự do

Giáo dục và tự do

(Tác giả: Lê Ngọc Trà – Nguồn: tiasang.com.vn)

(Nhân đọc L.Tolstoi và F.Nietzsche bàn về giáo dục)

Tự do là một trong những thứ quí giá nhất của con người. Hạnh phúc không chỉ là có cơm ăn áo mặc. Hạnh phúc là có Tự do. Độc lập tức thoát khỏi mọi phụ thuộc cũng là để được Tự do. Dân chủ cũng là một hình thức của Tự do, nhằm đạt đến Tự do. Tự do hiểu đơn giản là sự thoải mái, được hành động, làm theo ý mình, sức mình, không bị áp đặt và trói buộc, kể cả tự trói buộc mình, giống như cảm giác của một người vừa chủ trì cuộc họp, phát biểu chỉ dạy trước đám đông được trở về nhà, cởi cà-vạt, tháo giày, ngồi thoải mái một mình trong căn phòng yên tĩnh, cảm thấy mình là chính mình, thoát khỏi mọi lo âu vì trách nhiệm phải hoàn thành, vì sự trừng phạt có thể xảy ra, thoát khỏi cái vai mà mình phải sắm, phải diễn. Ở mức cao hơn Tự do là quyền sống, quyền làm ăn, thoát khỏi xích xiềng, là tự do ngôn luận, tự do tinh thần. Không có Tự do, con người như mất không khí thở. Người ta có thể chết vì mất Tự do, và cũng có thể sẵn sàng chết cho Tự do, hy sinh vì Tự do. Khi có Tự do, con người có thể làm được rất nhiều thứ theo ý mình. Đó là thời điểm khởi đầu cho vui chơi và sáng tạo. Nhà thơ Đức F. Schiller từng nói: “Con người chỉ chơi khi nó là người trong ý nghĩa đầy đủ của từ này và con người chỉ thực sự đúng là người khi chơi”. Với F. Schiller, khi chơi là lúc con người tự do, mà chỉ khi tự do thì con người mới thực sự là người. Sáng tạo cũng vậy. Người ta vẫn có thể sáng tạo theo mệnh lệnh, nhưng chủ yếu và quan trọng nhất là sáng tạo theo ý mình, tức sáng tạo như một hành động tự do. Chỉ khi có tự do thực sự mới có sáng tạo thực sự, dù là trong công việc hằng ngày, trong khoa học hay trong sáng tác nghệ thuật.

Tự do có quan hệ hữu cơ với Giáo dục. “Những nhà giáo dục của anh – F.Nietzsche viết – sẽ chẳng là gì hết nếu họ không phải là những người giải phóng anh”(1). “Giải phóng anh” ở đây là mang lại cho anh tri thức, giúp anh hiểu biết, giúp anh thoát khỏi màn đêm u tối bao quanh, giải phóng anh thoát khỏi các tín điều, giúp anh tìm lại chính mình và nhờ đó anh có Tự do. Cùng với cuộc đấu tranh để thay đổi các thiết chế xã hội và cải cách kinh tế, giải phóng cá nhân thông qua giáo dục là con đường đi đến tự do xã hội. Một xã hội tự do là xã hội của những con người tự do, do những người có hiểu biết và có ý thức về tự do tạo dựng nên.

Giáo dục không chỉ giải phóng mà còn vun bồi và nuôi dưỡng Tự do. Giáo dục tự bản thân mình là văn hóa nhưng đồng thời cũng là con đường để hình thành văn hóa, giúp con người biết ăn ở, biết lao động, biết thờ cúng, biết vui chơi, biết làm khoa học hay sáng tác thơ ca, nghệ thuât. Giáo dục và Văn hóa mở ra chân trời cho Tự do, mở cửa đi đến Tự do, tạo điều kiện để con người sử dụng và thực hiện tự do của mình, phát huy khả năng và ý muốn của mình và cũng chính nhờ đó việc có Tự do không biến người ta thành những kẻ vô công rồi nghề, bản thân Tự do cũng không trở nên xa xỉ hay vô nghĩa. Đặc biệt nhờ có Giáo dục và Văn hóa, Tự do được nuôi dưỡng và truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác để nó được lưu giữ, không bị tiêu tan hay hao mòn dưới áp lực của mọi thứ chủ nghĩa danh lợi, khủng bố hay độc tài, toàn trị. Tự do là tinh thần tự do, ý thức về Tự do. Nhà trường và thơ ca hoặc ngấm ngầm hoặc công khai bao giờ cũng ấp ủ hay thổi bùng ngọn lửa tình yêu Tự do, tinh thần Tự do trong trái tim và khối óc của thế hệ trẻ cũng như trong toàn xã hội. Đồng thời, mặt khác, nhờ Giáo dục và Văn hóa, Tự do không chỉ trút bỏ tính hoang dã của mình mà còn khắc phục được những biểu hiện của thói tự tung tự tác và vô chính phủ (anarchy) thường bắt gặp trong các cuộc cách mạng hay trên con đường đi tìm sự bình đẳng và bản ngã cá nhân vốn đầy trắc trở và bi kịch. Không có Tự do thì không có con người, nhưng con đường Tự do là con đường đau khổ. Nhà trường và Thơ ca không chỉ khơi dậy khát vọng về Tự do mà còn làm quen những người trẻ tuổi với đau khổ của Tự do. Đó cũng là một cách chuẩn bị để thế hệ trẻ trưởng thành, vững vàng bước lên con đường đến với Tự do mà không dễ dàng chùn bước hay nản chí mỗi lần bị vấp ngã.
***
Nhưng Giáo dục không chỉ là khai trí, là con đường dẫn đến Tự do. “Giáo dục – L.Tolstoi viết – là biểu hiện cái mặt tồi tệ trong bản chất con người, nó là một hiện tượng chứng minh trình độ phát triển thấp của tư duy con người”. Tại sao vậy? Vì “Giáo dục là ý nguyện của một người muốn biến người khác thành một kẻ giống anh ta”. Ý nguyện ấy, theo L.Tolstoi, đi ngược lại quyền tự do của con người và không thể tồn tại: “Sự giáo dục với nghĩa là một quá trình cố ý hình thành người khác theo những khuôn mẫu nhất định, không hiệu quả, không hợp pháp và cũng không thể làm được”(2) Ở đây ý nghĩ của L.Tolstoi trùng với tư tưởng của F.Nietzsche khi triết gia này cho rằng “ý nghĩa nguyên thủy và bản thể chủ yếu” của con người là “những cái chống lại mọi hình thái giáo dục, mọi sự tác thành”(3).

Nói giáo dục như “cái mặt tồi tệ trong bản chất con người” và đi ngược lại “ý nghĩa nguyên thủy và bản thể chủ yếu của con người” nghe có vẻ lạ lùng, nhưng thực tế cho thấy điều đó không phải là sai. Cái gì cũng có hai mặt của nó. Vũ khí hạt nhân là sáng tạo của con người, nó cũng là văn hóa, nhưng vũ khí hạt nhân có thể sử dụng vào mục đích hòa bình mà cũng có thể dùng để gây chiến tranh hủy diệt. Đến như nghệ thuật là một trong những sáng tạo kỳ diệu nhất của con người nhưng dưới con mắt L.Tolstoi nó cũng có thể là điều ác: “Toàn bộ cái gọi là nghệ thuật – đó là một điều ác khổng lồ, một điều ác được đưa thành hệ thống. Cho dù những gì tôi nhận được ở cái gọi là nghệ thuật ấy quan trọng đến chừng nào thì dẫu sao bây giờ nếu có phải chọn lại một lần nữa giữa nghệ thuật như người ta vẫn hiểu và không có nghệ thuật thì chắc tôi sẽ chọn cái sau, cho chính mình cũng như cho những ai tôi mong sao họ được tốt lành”(4).

Quan hệ của Giáo dục với Tự do cũng tương tự. Giáo dục có thể là hình thức khai mở con đường đi đến Tự do, nuôi dưỡng và kích thích khát vọng tự do, nhưng Giáo dục cũng có thể là công cụ chế ngự Tự do, sự phát triển tự do, nhất là tự do tư tưởng, tự do tinh thần. “Giáo dục tư tưởng” có thể hướng tới những mục tiêu tốt đẹp, nhưng nó cũng có thể biến thành sự kìm kẹp về tư tưởng, triệt tiêu tư tưởng, nhất là khi những tư tưởng ấy mới mẻ, độc lập, khác với tư tưởng của người truyền đạt, của nhà trường, nhà nước. L.Tolstoi và F.Nietzsche phản đối bất cứ hình thái giáo dục nào mà ở đó những điều truyền dạy bao giờ cũng được coi là chân lí bất di bất dịch, là duy nhất đúng, ở đó học sinh chỉ được phép ghi nhớ và học thuộc chứ không có quyền thảo luận và nói lại. Lối giáo dục ấy, nếu về phương diện xã hội có gốc rễ trong tính chất chuyên chế của nhà nước, thì về phương diện cá nhân, theo L.Tolstoi, nó là “biểu hiện cái mặt tồi tệ trong bản chất con người” – đó là sự coi thường con người, coi mình tốt hơn người khác, có những đức hạnh mà người khác không có và từ đó tự cho mình có quyền “giáo dục” người khác.

Giáo dục – nếu có cái gọi là “giáo dục”, thì đối với L.Tolstoi, đó phải là một nền giáo dục tự do. “Chuẩn mực của giáo dục – ông viết – chỉ có một mà thôi – đó là Tự do”(5). Thế nào là một nền giáo dục tự do? L.Tolstoi giải thích: “Tự do là điều kiện thiết yếu của mọi qui trình đào tạo chân chính đối với người học cũng như người dạy… Chỉ riêng sự tự do hoàn toàn này, tức không có cưỡng bách và lợi lộc cũng đã giải thoát mọi người khỏi phần lớn những tệ nạn mà qui trình đào tạo cưỡng bách và lợi lộc hiện thời đang phát sinh”(6). Sự thoát khỏi mọi “cưỡng bách và lợi lộc” thể hiện trong tất cả “các qui trình đào tạo”, cả ở “người học và người dạy” đến lượt mình sẽ mang đến những hình thức dạy học mới, không lấy sự thuyết giảng theo lối áp đặt của thầy giáo làm chính, không dùng thi cử như một cách trừng phạt hay cưỡng bách ngấm ngầm và lúc ấy bản thân khái niệm “nhà trường” cũng không còn như cũ. “Nhà trường có thể không phải là cái nhà trường như chúng ta thường quan niệm, nghĩa là có bảng đen, có bàn học sinh, có bục giảng giáo viên hay giáo sư – nó có thể là một gánh xiếc, một nhà hát, thư viện, bảo tàng hay một cuộc đàm thoại-tổ hợp môn học…”. Trong cái nhà trường kiểu ấy thầy giáo có thể “bắt đầu dạy đại số và hình học giải tích cho những học sinh chưa biết số học…, dạy lịch sử Trung đại cho những học sinh chưa học thuộc lòng Lịch sử Cổ đại” (7). Những lời trên đây của L.Tolstoi thật là kinh ngạc. Nghe cứ như của các nhà giáo dục đổi mới hôm nay chứ không phải của đại văn hào Nga hơn 100 năm trước!
***
Chúng ta đang muốn thay đổi căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam và như vậy phải bắt đầu từ Triết lí. Nhưng Triết lí giáo dục ấy sẽ là gì? Có nhiều ý kiến khác nhau, trong đó đáng chú ý nhất là quan niệm nêu lên mục tiêu giáo dục hướng tới việc hình thành những con người tự do, có óc sáng tạo, chứ không phải con người chỉ biết phục tùng và làm theo những khuôn mẫu có sẵn. Nhưng làm thế nào để có được những con người như vậy? L.Tolstoi đã từng trả lời câu hỏi ấy khi ông ước mơ về giáo dục trong thế kỷ XXI – đó là xây dựng nền giáo dục “hình thành trên cơ sở quyền tự do của thế hệ học trò mới”. Đó là một kiểu văn hóa giáo dục mới đặt nền tảng trên sự thương yêu và tôn trọng con người, tôn trọng sự phát triển tự nhiên của trẻ, khuyến khích sở trường và tài năng, khơi dậy tìm tòi, khám phá và sáng kiến cá nhân, không áp đặt và trừng phạt. Đó là một kiểu nhà trường mới không phải như nơi ban phát chân lí và yêu cầu học thuộc, thấm nhuần mà là môi trường mở về tri thức, tự do tư tưởng, là nơi mọi người cả thầy và trò cũng như trò và trò cùng học lẫn nhau, cùng trao đổi, phản biện, tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng sự khác biệt. Đó cũng là nơi cùng với sự phát triển tự do về tri thức, năng lực và tư duy sẽ hình thành những con người biết sống, biết yêu thương, trung thực và chuộng công lí, chuộng lẽ phải. Tóm lại đó là kiểu nhà trường “hoàn toàn tự do”, thoát khỏi mọi “cưỡng bách và lợi lộc”. L.Tolstoi tin rằng xây dựng kiểu nhà trường như vậy chính là con đường đưa con người đến hạnh phúc.

“Để công cuộc đào tạo mang lại kết quả ngày càng tốt đẹp hơn, tức là thúc đẩy sự vận động của nhân loại đến hạnh phúc ngày càng lớn thì cần phải làm sao để sự nghiệp đào tạo được tự do”.

L.Tolstoi viết những lời này một năm trước khi qua đời, khẳng định lại những điều ông đã nói nhiều lần hơn bốn mươi năm trước đó trong những trích dẫn ở trên. Niềm tin và hy vọng của L.Tolstoi cũng là niềm tin và hy vọng của chúng ta. Tin vào tầm quan trọng của Giáo dục và hy vọng sẽ có một nền giáo dục tự do trong tương lai.
—-
* GS.TSKH
(1)(3) F. Nietzsche: Schopenhauer – nhà giáo dục. (Bản dịch của Mạnh Tường-Tố Liên), Nxb. Văn học, HN, 2006, tr.12
(2)(5)(6)(7)(8) L.Tolstoi: Các bài báo: Về Giáo dục quốc dân, Về Giáo dục và Đào tạo, Bàn về Giáo dục, in trong “Đường sống – Văn thư Nghị luận chọn lọc” (Bản dịch của Phạm Vĩnh Cư và các cộng sự), Nxb. Tri thức, HN, tr. 30,22,821,59,822
(4) L.Tolstoi: Toàn tập (tiếng Nga), tập 30, tr. 211-212

———————–&&&———————-