Những tấm lòng cao cả [Review]

Những tấm lòng cao cả

Cuốn sách Những tấm lòng cao cả (1886) của nhà văn Edmondo De Amicis – người đã đấu tranh cho độc lập đất nước vào năm 20 tuổi, đấu tranh cho công bằng xã hội vào năm 40 tuổi – là thiên tiểu thuyết viết dưới dạng nhật ký của cậu bé mười tuổi người Ý tên là Enricô. Một tác phẩm mà khi đã đọc đến trang cuối cùng, đọng lại trong lòng người lại là những bài học giản dị nhất nhưng lại sâu sắc nhất – không chỉ dành riêng cho con trẻ mà còn cho tất cả chúng ta.

Đọc Những tấm lòng cao cả, chúng ta sẽ hiểu thêm về tâm sức của “những người chở đò” – những thầy cô giáo đã dành cả đời cống hiến, mặc dù bản thân sống thiếu thốn, nhưng trong lòng luôn ấp ủ một ước mơ duy nhất: dạy dỗ thế nào cho học trò của mình thành đạt. Hơn nữa, ta còn hiểu được sự cần thiết và quan trọng của mối liên hệ giữa gia đình + nhà trường + xã hội để giáo dục con em mình trở thành một công dân tốt.

“Đừng để con rắn ghen tị luồn vào trái tim, đó là một con rắn độc, nó gặm mòn khối óc và làm đồi bại trái tim.”

Vấn đề tiếp theo là, làm thế nào để điều chỉnh hành vi/đạo đức của người lớn trong: công việc (chẳng hạn giảng dạy, NCKH), quan hệ, …?! Cần có hai bước:

Bước 1. Mỗi cá nhân cần (liên tục) xây dựng “bộ luật” của chính mình: hành vi nào là được; hành vi nào là KHÔNG được.

Bước 2. Tuân thủ nghiêm ngặt “bộ luật” do mình đề ra.

Ghi chú:

  • Bước 1 không quá khó, điểm nào không biết thì phải tìm hiểu (ví dụ dùng google). Cần phải có niềm tin vào ý kiến riêng của bản thân, phải lắng nghe tất cả mọi người nhưng cũng cần phải sàng lọc những gì nghe được qua một tấm lưới chân lý để chỉ đón nhận những gì tốt đẹp.
  • Bước 2 khó hơn, phải biết vượt qua cám dỗ của bản thân và những tác động từ bên ngoài. Cần phải có được sự bền chí để là người dũng cảm.
  • Khi “bộ luật” có điểm không hợp lý, phải chỉnh sửa ngay.

(Tham khảo: Internet)

———————–&&&———————-

Thời loạn.

Hỗn loạn tại công viên nước: Phụ huynh liều với mạng sống của trẻ

(Nguồn: vietnamnet.vn)

Công viên nước Hồ Tây, mở cửa miễn phí, quá tải, vượt cổng, trèo rào, liều mạng

  • Isaac Newton: “Tôi có thể đo đạc được lực chuyển động của các thiên thần nhưng chẳng thể nào đo đạc được sự điên rồ của con người”.
  • Albert Einstein: “Chỉ có hai điều là vô hạn: vũ trụ và sự ngu xuẩn của con người, và tôi không chắc lắm về điều đầu tiên”.

—————-&&—————-

Hiểu và đi trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Hiểu và đi trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư

(Tác giả: Hồ Tú Bảo – Nguồn: http://tiasang.com.vn)

Thời gian qua câu chuyện “công nghiệp 4.0” hay “cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, viết tắt là CMCN4, được nói nhiều ở nước ta, thậm chí nghe thấy ở ta còn nhiều hơn ở các nước phát triển. Nhưng dường như mới có các bài viết từcác phóng viênbáo đài và chỉ đạo về công nghiệp 4.0 từ các nhà lãnh đạo, những người quản lý… và còn ít tiếng nói từ những người làm khoa học và công nghệ (KH&CN), những người ít nhiều hiểu về nền tảng của cuộc cách mạng công nghiệp này.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là gì?

Cách mạng công nghiệp bắt đầu ở nước Anh từ nửa cuối của thế kỷ 18. Đến nay đã có sự nhìn nhận thống nhất về ba cuộc cách mạng công nghiệp đã xảy ra, mỗi cuộc cách mạng đều đặc trưng bằng sự thay đổi về bản chất của sản xuấtvà sự thay đổi này được tạo ra bởi cácđột phá của khoa học và công nghệ. Về đại thể cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra vào nửa cuối thế kỷ 18 và gần nửa đầu thế kỷ 19, với thay đổi từsản xuất chân tay đến sản xuất cơ khí do phát minh ra động cơ hơi nước. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra vào nửa cuối thế kỷ 19 cho đến khi đại chiến thế giới lần thứ nhất xảy ra, với thay đổi từ sản xuất đơn lẻ sangsản xuất hàng loạt bằngmáy móc chạy vớinăng lượng điện. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba diễn ra từ những năm 1970s với sự ra đời của sản xuấttự động dựa vào máy tính và thiết bị điện tử (thập niên 1960), máy tính cá nhân (thập niên 1970, 1980), và internet (thập niên 1990).

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư được cho là đã bắt đầu từ vài năm gần đây, đại thể là cuộc cách mạng về sản xuất thông minh dựa trên các thành tựu đột phá trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano… với nền tảng là các đột phá của công nghệ số (digital technology) [1], [2].

Khái niệm “công nghiệp 4.0” được đưa ra vào năm 2011 tại Hội chợ Hannover, giới thiệu các dự kiến của chương trình công nghiệp 4.0 của nước Đức, nhằm thay đổi và nâng cao giá trị của nền công nghiệp cơ khí truyền thống của Đức. Có thể xem cuốn sách “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” (The Fourth Industrial Revolution), của giáo sư Klaus Schwab, người sáng lập và điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới WEF, là tuyên ngôn về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.


Không chỉ nước Đức với chương trình Công nghiệp 4.0, các nước phát triển trong vài năm qua đều có các chương trình chiến lược về sản xuất trong tương lai khi những tiến bộ của khoa học và công nghệ đang diễn ra rất nhanh. Nước Mỹ có “Chiến lược quốc gia về sản xuất tiên tiến” (National strategy for advanced manufactoring in the United States) cho ba thập kỷ tới3, nước Pháp có “Bộ mặt mới của công nghiệp nước Pháp” (The new face of industry in France) 4, Hàn Quốc có “Chương trình tăng trưởng của Hàn Quốc trong tương lai” (Korea’s Future Growth Program) 5, Trung Quốc có “Làm tại Trung Quốc năm 2025” (Made in China 2025) 6… Ngay cả khi ta chỉ xem cái tên “cách mạng công nghiệp lần thứ tư” mới có tính chất dự báo và chưa xảy ra, vẫn không thể bỏ qua sự thật là các cường quốc đang chuẩn bị chiến lược phát triển sản xuất cho một tương lai gần.

Và tới đây việc sản xuất ngày càng thông minh, càng hiệu quả của các cường quốc này tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến các nước khác. Mỗi quốc gia, dù đang ở vị thế nào trên bản đồ phát triển của thế giới, cũng phải tìm ra cách phát triển trong sự thay đổi do cuộc cách mạng công nghiệp này đem lại để quyết định đi như thế nào, trước hết cần hiểu rõ hơn về CMCN4.

Báo chí thường mô tả CMCN4 với các thành tựu của Trí tuệ Nhân tạo (TTNT), vớimáy móc tự động và thông minh như ô-tô tự lái, in ấn 3 chiều (3D printing), kết nối vạn vật (IoT), công nghệ sinh học và công nghệ nano… Nhưng cốt lõi của những đột phá này là gì?Có hay không điểm chung của các đột phá đó?

Có thể nói rằng đó chính là đột phá của công nghệ sốtrong những năm vừa qua, tiếp nối thành quả của cuộc cách mạng số hoá (digital revolution) diễn ra trong mấy chục năm từ khi có máy tính, tức từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba. Vậy cách mạng số hoá và công nghệ số là gì? Công nghệ số giống công nghệ thông tin không? Những đột phá của công nghệ số là gì lại có thể tạo ra một cuộc cách mạng công nghiệp?

Các thực thể trong thế giới quanh ta ở dạng vật chất vốn có của chúng. Chiếc ô-tô là một khối sắt thép có thể chuyển động khi được đổ xăng và được điều khiển. Cây lúa, con tôm là những sinh vật được sinh ra và lớn lên. Con người là sinh vật phức tạp nhất mà chỉ riêng bệnh tật và sức khoẻ đã là động lực của một khoa học luôn được quan tâm hàng đầu: khoa học sự sống (life science). Sự ra đời của máy tính đã dẫn đến cuộc cách mạng số hoá, nhất là khi máy tính cá nhân và internet xuất hiện, ngày càng gắn bó với các hoạt động của con người. Sở dĩ vậy vì máy tính chỉlàm việc với hai con số ‘0’ và ‘1’. Để tính toán trên máy tính cho các thực thể ta cần biểu diễn được chúngbằngnhững con số ‘0’ và ‘1’ trên máy tính theonhững mô hình và cách thức thích hợp nào đó. Ta gọi các biểu diễn này là‘phiên bản số’ của các thực thể.Có thể hình dung một cách đơn giản những ‘phiên bản số’ của một chiếc ô-tôlà số liệu kỹ thuật của các bộ phận và liên kết của chúng trong quá trình sản xuất, hoặc có thể là số liệu vềchuyển động của xe và các ảnh số thu được từ camera của xe khi xe chạy trên đường. Những ‘phiên bản số’ của cây lúa, con tôm có thể là hệ gien của chúng, hoặc dữ liệu về sự biến đổi của chúng theo những thay đổi của môi trường. Những ‘phiên bản số’ của mộtngười có thể là những ý kiến của người này trên facebook, những số liệu đo được từ các thiết bị đeo trên người (wearable) hay bệnh án điện tử của người này trong cơ sở dữ liệu ở bệnh viện.

Tạo ra ‘phiên bản số’ của các thực thể chính là việc số hoá (digitalization), và công việc được làm khắp nơi này đã được ẩn dụ gọi là cuộc cách mạng số hoá. Các ‘phiên bản số’ chính là dữ liệu (data) của các thực thể, có được do quan sát, thu thập, đo đạc… và việc xử lý các dữ liệu này để tìm ra ý nghĩa của chúng, chính là tìm ra thông tin,là mục tiêu chính yếucủa ngành công nghệ thông tin (CNTT).

‘Phiên bản số’ của các thực thể cho phép ta nối chúng với nhau trên các hệ thống máy tính hoặc nối chúng vào internet, và tạo ra các không gian số (cyberspace) tương ứng với thế giớithực thể của chúng ta (physical world). Những hệ thống kết nối các thực thể và ‘phiên bản số’ của chúng được gọilà các hệ kết nối không gian số-thực thể, tạm dịch theo nghĩa của từ cyber-physical systems. Đây là một khái niệm cơ bản của CMCN4, phản ánh mối liên hệcủa sản xuất tiến hành trong thế giới các thực thể nhưng quá trình tính toán được làm trên không gian số và kết quả tính toán này được trả lại dùng chosản xuất trong thế giới các thực thể. Đây là thay đổi cơ bản về phương thức sản xuất của con người, sản xuất được điều khiển và hỗ trợ quyết định từ không gian số.Trong những năm vừa qua, các tiến bộ đột phá của công nghệ số đã và đang cho phép thực hiện các tính toán phức tạp liên quan đến trí thông minh con người, làm cho sản xuất thông minh và hiệu quả hơn.

Công nghệ số là công nghệ về các tài nguyên số, khởi đầu từ giữa thế kỷ trước, đã và đang thay đổi nhiều lĩnh vực. Có hai khía cạnh của công nghệ số, một là việc số hóa và hai là việc quản trị và xử lý các dữ liệu được số hóa. Thí dụ của số hoá trong các ngành nghề khác nhau như chụp ảnh đã chuyển từ ảnh phim qua ảnh số, từ máy ảnh cơ qua máy ảnh số; việc inấn dựa vào ảnh số và chế bản điện tử cho chúng ta có sách báo như ngày nay; kỹ thuật truyền hình đã chuyển sang truyền hình số đẹp hơn rất nhiều; công nghệ truyền tin đã thay thế các tín hiệu tương tự bằng các tín hiệu số, truyền và nhận tín hiệu số trên những đường truyền hiệu năng cao…

Công nghệ số có phần chung rất lớn với công nghệ thông tin, đó là phần quản trị và xử lý dữ liệu được số hoá. Trải qua các làn sóng của công nghệ số 6, những đột phá trong thời gian gần đâynhư điện toán đám mây, thiết bị di động thông minh, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, IoT… đang tạo điều kiện cho sản xuất thông minh được thực hiện rộng rãi, mở đầu cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Hình 2).


Hình 2.Các làn sóng của công nghệ số.

Trí tuệ nhân tạolà lĩnh vực nhằm làm cho máy tính không những biết tính toán mà còn có các khả năng của trí thông minh con người, tiêu biểu là các khả năng lập luận, hiểu ngôn ngữ và biết học tập. Trong lịch sử 60 năm phát triển của TTNT, ngành học máy (machine learning), nhằm làm cho máy có thể tự học để nâng cao năng lực hành động, là lĩnh vực sôi động nhất của TTNT trong hai thập kỷ qua. Có thể định nghĩa học máy là việc phân tích các tập dữ liệu ngày càng lớn và phức tạp để đưa ra các quyết định hành động. Thí dụ đó là các quyết định khi chương trình AlphaGo của Google đánh thắng nhà vô địch cờ Vây, là quyết định trong các phần mềm dịch từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ khác hay các phần mềm nhận biết tiếng nói con người, là các quyết định chẩn đoán bệnh của hệ Watson của hãng IBM… Gần đây, với sự bùng nổ của dữ liệu, kết quả của việc số hoá và kết nối internet khắp nơi,khoa học dữ liệu (data science)-với trung tâmlà phân tích dữ liệu (data analytics) dựa vàohọc máy vàthống kê-đang trở thành nền tảng của CMCN4.Có thể nói hầu hết các ứng dụng được nói dưới tên TTNT trong CMCN4 đều chủ yếu dựa vào các phương pháp của học máy cùng tiến bộ của kết nối thực thể và các hệ thống tính toán.

Rất nhiều đột phá trong công nghệ sinh học và công nghệ nanonhững năm qua, và các công nghệ này cũng liên quan rất nhiều đến công nghệ số. Gần đây việc số hoá trong sinh học phân tử đã trở nên dễ dàng với giá rẻ hơn rất nhiều (một hệ gien có thể được số hoá trong vài giờ đồng hồ với chi phí ít hơn một nghìn đô-la). Lĩnh vực tin-sinh học (bioinformatics)-dựa vào các phương pháp của học máy để phân tích nguồn dữ liệu sinh học khổng lồ nhằm khám phá các hiểu biết về sự sống- đang góp phần vào những tiến bộ của công nghệ sinh học, mở ra nhiều triển vọng cho y học và nông nghiệp.Công nghệ nano cũng có những bước tiếnhứa hẹn dựa vào công nghệ số. Gần đây nước Mỹ khởi đầu chương trình nghiên cứu lớn về vật liệu tính toán (materials genome initiative) [7], nhằm dùng các kỹ thuật của học máy để rút ngắn giai đoạn thử nghiệm trong phòng thí nghiệm khichế tạo các vật liệu mới.Một chương trình tương tự ở Nhật cũng đã bắt đầu từ hai năm qua.

Những tiến bộ thường được nói đến trong CMCN4 cho các thực thể vật lý như ô-tô tự lái, in 3D hay robot thông minh đều liên quan rất nhiều vào công nghệ số.Đại thể khi một chiếc ô-tô tự lái chạy trên đường, rất nhiều phương pháp học máy được sử dụng để xác định đường đi của ô-tô, các thực thể chuyển động quanhvà tương tác với ô-tô,và phân tích để đưa ra quyết định chuyển động của ô-tô.

Những điều cốt yếu tóm tắt về CMCN4 là cơ sở để ta xem xét cầnđi như thế nào trong cuộc cách mạng này. Phần tiếp theo trao đổi nhanh một vài ý kiến chủ quan của người viết khi những nghiên cứu, thảo luận và quyết định cần được tiến hành một cách hệ thống và nghiêm túc, tránh những tuyên bố vội vã đi trước nhận thức.

Trước hết, để đi trong CMCN4 cần biết ta đang ở đâu trong các cuộc cách mạng công nghiệp đã xảy ra? CMCN2? CMCN3? Ta đã có những yếu tố nào của CMCN4? Rồi ta muốn đến đâu, muốn có vị trí nào trên bản đồ phát triển của thế giới khi rất nhiều quốc gia khác cũng sẽ CMNC4? Sau nữa, cần nhìn CMCN4 là cuộc cách mạng của sản xuất thông minh nhưng không nhất thiết chỉ là các lĩnh vực của sản xuất công nghiệp. Cốt lõi là ta có thể thực hiện đến đâu sự thay đổi phương thức sản xuất mới này trong những việc ta muốn và cần làm.

Có những thứ ta phải lựa chọn làm đòn bẩy để phát triển, như ta đã chọn nông nghiệp và du lịch, và có những thứ ta không thể chọn mà nhất thiết phải làm như giáo dục, môi trường và y tế. Phải chăng đi trong CMCN4 của ta trước hết chính là làm nông nghiệp và du lịch thông minh, là làm giáo dục, môi trường và y tế thông minh khi biết lựa chọn và có thể làm chủ những công nghệ số và các công nghệ cao cần cho mình?

Chẳng hạn thử nghĩ về nông nghiệp trong CMCN4. Nếu ta muốn nuôi trồng một số ‘cây và con’để tham gia thị trường quốc tế, thì rất cần biết ở những nơi khác ai cũng nuôi trồng những cây và con này, sản lượng các nơi đó có thể là bao nhiêu, nhu cầu thị trường ra sao. Cần thu thập dữ liệu về những điều này và từ đó tính toán để có những dự báo và quyết định xác đáng. Nông nghiệp thông minh cũng nằm ở việc chuyển dịch một phần diện tích lúa sang các cây trồng, vật nuôi khác có giá trị cao hơn lúa.Việc dịch chuyển ở đâu, chuyển bao nhiêu, giá trị cao hơn bao nhiêu… đều cần và có thể tính toán được nhờ khoa học dữ liệu. Chẳng hạn trong việc nuôi tôm, tạo ra các giống tôm không thoái hoá cũng như thức ănthích hợp cho chúng cần được nghiên cứu với việcsử dụng công nghệ số. Từ đây từng bước ta có thể tiến đến nông nghiệp chính xác (precision agriculture) cho nhiều ‘cây và con’.

Du lịch của ta trong CMCN4 cũng cần được phát triển một cách thông minh với hỗ trợ của công nghệ số. Sự thông minh thể hiện ở chỗ phải tính toán được lợi hại của các dịch vụ, tuyên truyền sâu rộng cho người dân thấy lợi ích của dịch vụ chất lượng cao cũng như thiệt hại của ‘ăn xổi’ để khách ‘một đi không trở lại’ hoặc khách lan truyền các điểm yếu kém của du lịch Việt Nam trên không gian mạng. Việc giới thiệu du lịch cũng cần dựa trên các công nghệ số hiện đại. Cách làm của Uber dùng công nghệ số để cung cấp tiện ích cho khách hàng rất đáng học tập cho các hoạt động du lịch ở Việt Nam.Dùng được công nghệ số có thể tạo ra và cung cấp các dịch vụ tốt nhất cho khách du lịch, làm cho du khách thậthài lòng khi đến Việt Nam.

Chúng ta cần tìm cách số hoá được sông ngòi, tính toán và mô phỏng được các tình huống lũ lụt có thể xảy ra để có phương án thích hợp, tránh tình trạng phải xả lũ nhưng không biết thiệt hại sẽ xảy ra thế nào.

Trong Y tế, CNTT của ta lâu nay góp phần vào quản lý bệnh viện, nhưng còn íttrong việc khám chữa bệnh. Tiến bộ của công nghệ số ngày nay cho phép số hoá tình trạng bệnh tật và chăm sóc y tế của mỗi người dân trong bệnh án điện tử, là nền tảng của Y tế Điện tử (e-health). Có thể khai thác bệnh án điện tử để tìm ra các tri thức y học, hỗ trợ chẩn đoán, cảnh báo sai sót, gợi ý điều trị, dự đoán tác dụng phụ của thuốc…

Ta cần xem xét tác động của CMCN4 lên hầu hết mọi lĩnh vực của xã hội, cần sử dụng công nghệ số, dùng khoa học dữ liệu trong các ngành tài chính, ngân hàng, năng lượng, giao thông vận tải… Chẳng hạn, ùn tắc giao thông có thể được cải thiện nếu ta tự động phân tích được tình hình giao thông từ dữ liệu số thu bằng các cảm biến gắn trên một số xe và máy quay ở những điểm chọn lựa (thay vì các tình nguyện viên gọi điện thoại báo về tổng đài).

Ta cần tìm cách thay đổi giáo dục, để lớp công dân mới có tri thức và kỹ năng thích ứng được với thay đổi do cuộc cách mạng công nghiệp mới, để nâng cao những phẩm chất và tính nhân văn của con người mà máy không bao giờ có được.

CMCN4 mở ra một cơ hội phát triển cho Việt Nam. Sở dĩ vậy vì cuộc cách mạng công nghiệp này không như những cuộc cách mạng công nghiệp trước nhằmvào… công nghiệp, là lĩnh vực ta có khoảng cách rất lớn so với các nước phát triển, mà nhằm vào công nghệ số, đem tiến bộ của công nghệ số tới mọi lĩnh vực khác. Nếu xét về công nghiệp ô-tô, công nghiệp robot… ta có thể cách các nước phát triển nhiều chục năm, thậm chí cả trăm năm, nhưng ta có thể cách không xa các nước này ở một số công nghệ số, nếu có cách làm.

CMCN4 sẽ tác động lên mọi người và có sự tham gia rộng rãi của nhân dân, nhưng trước hết được tạo ra và thúc đẩy bằng chiến lược và chính sách quốc gia, bởi thay đổi mạnh mẽ của các doanh nghiệp, và bởi lực lượng tinh hoa của khoa học và công nghệ đất nước. CMCN4 không thể làm chỉ bởi ý chí mà phải bằng tri thức, bằng những công nghệ tiên tiến của TTNT, của khoa học dữ liệu, của kết nối thế giới thực và không gian số, của công nghệ sinh học và khoa học vật liệu…

May mắn thay CMCN4 diễn ra trên các tiến bộ của công nghệ số, của học máy và khoa học dữ liệu, là những lĩnh vực cần có nền tảng của toán học sâu sắc. Chúng ta đào tạo tương đối tốt về toánhọc và công nghệ thông tin và có khả năng đào tạo tốthơn. Xây dựng được lực lượng, phát triển khoa học dữ liệu và sử dụng được khoa học dữ liệu rộng rãi sẽ cho phép ta ‘thu hẹp khoảng cách số’ trong nhiều lĩnh vực, có thể tạo ra sự đột phá cho nhu cầu phát triển của đất nước. Việc làm chủ được công nghệ số đòi hỏi đầu tư hiệu quả cho các nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng chọn lọc, cần rất nhiều thay đổi ở các viện-trường và doanh nghiệp, và đương nhiên cả ở cách làm của nhà nước.

Có một lực lượng chuyên gia người Việt về học máy và khoa học dữ liệu cũng như rất nhiều người Việt trẻ có kiến thức và kỹ năng trong các lĩnh này đang làm việc ở ngoài Việt Nam. Kết nối được lực lượng này với trong nước là một điều rất cần làm.

——————

Tài liệu tham khảo chính
1.    Klaus Schwab, The Fourth Industrial Revolution.
2.    Enabling the Next Production Revolution: Implications for Policy, Alistair Nolan, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD, Hội nghị Việt Nam học, 12.2016.
3.    National strategy for advanced manufactoring in the United States https://www.uschamberfoundation.org/bhq/us-manufacturing-strategy.
4.    The new face of industry in Francehttp://www.gouvernement.fr/en/the-new-face-of-industry-in-france-building-the-industry-of-the-future.
5.    Korea’s future growth program http://www.eastwestcenter.org/sites/default/files/private/api111.pdf
6.    Made in China 2025http://english.gov.cn/2016special/madeinchina2025/https://www.jst.go.jp/crds/pdf/2015/FU/CN20150725.pdf.
7.    Super smart society,http://www8.cao.go.jp/cstp/kihonkeikaku/5basicplan_en.pdf
8.    How digital technology will transform the world, Fujitsu Journal, 1.2016, http://journal.jp.fujitsu.com/en/2016/01/12/01
9.    Materials Genome Initiative, https://www.mgi.gov

*Tác giả làm việc trong lĩnh vực Trí tuệ nhân tạo và Học máy từ 1980, và hiện là Giáo sư phụ trách phòng thí nghiệm về Khoa học Dữ liệu tại Viện KH&CN Tiên tiến Nhật Bản (Japan Advanced Institute of Science and Technology); là thành viên Ban chỉ đạo (steering committee) các hội nghị của vùng Châu Á-Thái Bình dương về Trí tuệ nhân tạo (PRICAI), Khai phá Dữ liệu (PAKDD) và Học máy (ACML); hiện đang phụ trách đề tài của dự án FIRST của Bộ KH&CN, gồm sáu chuyên gia người Việt ngành Học máy từ Mỹ, Úc, Ba Lan và Nhật, đang tham gia vào các hoạt động của lĩnh vực này ở Việt Nam.


Xem thêm:

——————–&&&—————–

Viện CFA sẽ đưa tiền số và blockchain vào đề thi năm 2019

Viện CFA sẽ đưa tiền số và blockchain vào đề thi năm 2019

(Nguồn: http://cafef.vn)

Viện CFA cho biết họ quyết định bổ sung hai chủ đề mới (nằm trong phần mới có tên gọi là Fintech trong quản lý đầu tư) sau khi kết quả khảo sát cho thấy mối quan tâm đến với các chủ đề này tăng lên.

Vừa có thêm 1 dấu hiệu rõ ràng cho thấy tiền số đã “đặt chân” đến phố Wall.

Viện CFA, tổ chức đứng sau chương trình đào tạo với 3 cấp độ khó nhằn đã giúp đào tạo hơn 150.000 chuyên gia tài chính trên toàn thế giới, vừa thông báo sẽ bổ sung các chủ đề tiền số và blockchain vào chương trình đào tạo Level I và Level II trong năm tới. Tài liệu cho các kỳ thi của năm 2019 sẽ được công bố vào tháng 8 tới và đây là lần đầu tiên tiền số và blockchain được đề cập đến.

Viện CFA cho biết họ quyết định bổ sung hai chủ đề mới (nằm trong phần mới có tên gọi là Fintech trong quản lý đầu tư) sau khi kết quả khảo sát cho thấy mối quan tâm đến với các chủ đề này tăng lên. Thế giới tài chính và thế giới tiền số đang ngày càng gắn kết với nhau nhiều hơn sau nhiều sự kiện trọng đại trong năm ngoái: giá bitcoin bùng nổ, các hợp đồng tương lai bitcoin được công nhận hợp pháp và giao dịch trên sàn Chicago, những tập đoàn nổi tiếng như Goldman Sachs cũng chú ý đến các tài sản số và ngày càng có nhiều nhân vật trên phố Wall tham gia vào các startup liên quan đến tiền số.

Mặc dù kể từ đầu năm đến nay thị trường tiền số chìm trong sắc đỏ và những ảnh hưởng của công nghệ blockchain đến thế giới thực còn hạn chế, một số nhà quan sát cho rằng cuối cùng thì công nghệ blockchain vẫn sẽ thay đổi hoàn toàn hệ thống tài chính toàn cầu.

“Chúng tôi cho rằng lĩnh vực này sẽ tiến nhanh hơn bất kỳ lĩnh vực nào khác, không những thế còn vững bền hơn”, Stephen Horan – 1 lãnh đạo của Viện CFA – nói. “Đó không phải là mốt nhất thời sẽ nhanh chóng bị lãng quên”.

Tiền số và blockchain sẽ xuất hiện cùng nhóm với các chủ đề khác thuộc mục fintech bao gồm AI (trí tuệ nhân tạo), công nghệ máy học machine learning, dữ liệu lớn big data và giao dịch tự động. Theo ông Horan, giáo trình có thể bao gồm cả những topic sâu hơn như sự giao thoa giữa các đồng tiền kỹ thuật số và nền kinh tế.

Kayden Lee (27 tuổi), 1 sinh viên ngành tài chính kinh tế tại ĐH Columbia đã thi CFA Level I hồi tháng 6 và đang thực tập tại vị trí chuyên viên phân tích quỹ ở Singapore, nói: “Điều này có lợi cho các thí sinh, bởi vì tiền số đang xâm lấn và được áp dụng ngày càng rộng rãi trong thế giới đầu tư. Tuy nhiên quan trọng hơn là tập trung vào fintech và blockchain, hai công nghệ này sẽ cải tiến hay thậm chí là gây xáo trộn một số lĩnh vực nhất định như thế nào”.

Ngoài ra tiền số và blockchain cũng sẽ xuất hiện trong phần thi về đạo đức nghề nghiệp, vấn đề mà một số người cho là thế giới tiền số đang bị thiếu. Nhiều dự án tiền số hoạt động trong phạm vi pháp luật cho phép nhưng cũng có nhiều sàn giao dịch tài sản số và các vụ ICO bị lợi dụng để lừa đảo, thao túng thị trường, rửa tiền và trở thành nạn nhân của các vụ trộm. Thiếu khung pháp lý rõ ràng và một loạt vụ hack chính là một trong những nguyên nhân chính khiến bitcoin mất hơn một nửa giá trị kể từ đầu năm đến nay.

Đã có 227.031 người từ 91 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký dự thi các kỳ thi CFA trong tháng 6 vừa qua, một con số cao kỷ lục. Phần lớn thí sinh đến từ châu Á – cũng là nơi tiền số bùng nổ mạnh nhất trên thế giới. Theo CryptoCompare.com, 45% các giao dịch bitcoin được thực hiện bằng đồng yên NHật, trong khi nhiều sàn tiền số lớn nhất thế giới được đặt ở Hàn Quốc.

Theo Darius Sit, cựu trader FX tại BNP Paribas và hiện đang làm việc tại quỹ QCP Capital tập trung vào tiền số, việc các tổ chức như Viện CFA quan tâm đến tiền số và blockchain là 1 tín hiệu rất tích cực. “Đào tạo nhiều hơn bao giờ cũng tốt hơn”, Darius Sit nói. Trung bình các thí sinh thi đỗ phải bỏ ra khoảng 300 giờ học cho mỗi level để bồi đắp các kiến thức về thế giới tài chính.

Thu Hương

Theo Trí thức trẻ/Bloomberg

———————&&&———————

Kinh tế học đã sống sót qua cuộc khủng hoảng kinh tế như thế nào

Kinh tế học đã sống sót qua cuộc khủng hoảng kinh tế như thế nào

(Tác giả: Robert Skidelsky – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Cuộc Đại Khủng hoảng vào những năm 1930 đã tạo ra Kinh tế học keynesian, hiện tượng lạm phát đình đốn vào những năm 1970 đánh dấu sự lên ngôi của học thuyết trọng tiền của Friedman, thế nhưng cuộc Đại Suy thoái [năm 2008 – ND] lại không nhận được phản ứng nào giống như thế từ các nhà kinh tế học. Tại sao?

Luân Đôn – Nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Paul Krugman nhận thấy rằng hầu như không có sự thay đổi nào trong cuộc tranh luận về nguyên nhân và hệ quả của cuộc khủng hoảng suốt thập kỷ qua, ông đã có một bài tiểu luận thú vị nhân dịp kỷ niệm 10 năm kể từ ngày diễn ra cuộc Đại Suy thoái. Trong khi cuộc Đại Khủng hoảng vào những năm 1930 tạo ra Kinh tế học keynesian, hiện tượng lạm phát đình đốn vào những năm 1970 đánh dấu sự lên ngôi của học thuyết trọng tiền Friedman, thì cuộc Đại Suy thoái [năm 2008 – ND] lại không đem đến một sự thay đổi nào tương tự như thế trong học thuật.

Điều này khiến những sinh viên trẻ ngành kinh tế học vô cùng chán nản, họ đã kỳ vọng vào những phản ứng thích hợp của các nhà kinh tế học. Nhưng tại sao điều này lại không xảy ra?

Câu trả lời của Krugman vô cùng khéo léo, đó là: châm ngôn có câu, kinh tế học vĩ mô cũ “đủ tốt cho công việc của chính phủ”. Nó đã ngăn chặn được những cuộc Đại Khủng hoảng khác xảy ra. Vì thế các sinh viên nên ngừng mơ mộng và tiếp tục nghe giảng.

Milton Friedman (1912-2006)
Robert Lucas (1937-)

Một thập kỷ trước, có hai trường phái kinh tế học vĩ mô cạnh tranh nhau: Trường phái Tân Cổ điển – hay còn gọi là trường phái “nước ngọt” (“freshwater”), bắt nguồn từ Milton Friedman và Robert Lucas, có trụ sở chính tại Đại học Chicago, và Trường phái keynesian mới – hay còn gọi là trường phái “nước mặn” (“saltwater”), bắt nguồn từ John Maynard Keynes, có trụ sở tại Đại học MIT và Harvard.

Trường phái freshwater tin rằng thâm hụt ngân sách luôn là tình trạng tồi tệ, trong khi đó phe saltwater tin rằng thâm hụt có lợi khi nền kinh tế trì trệ. Krugman là người theo trường phái keynesian mới, và bài tiểu luận của ông chỉ ra rằng cuộc Đại Suy thoái là minh chứng cho tính đúng đắn của các mô hình keynesian mới.

Tuy nhiên, có một vài vấn đề nghiêm trọng với câu chuyện của Krugman. Thứ nhất, với câu hỏi nổi tiếng của Nữ hoàng Elizabeth II: “Tại sao không ai nhận thấy rằng nó [cuộc khủng hoảng – ND] đang đến?”, Krugman đã vui vẻ trả lời rằng các nhà keynesian mới đang hướng đến một phương pháp khác. Phương pháp của họ không sai về lý thuyết, nhưng sai về cách “thu thập dữ liệu”. Họ đã “bỏ qua” những thay đổi quan trọng về mặt thể chế trong hệ thống tài chính. Tuy điều này thật đáng tiếc, song nó không đặt ra “vấn đề sâu sắc nào về mặt khái niệm”, tức là nó không buộc họ xem xét lại lý thuyết của mình.

John M. Keynes (1883-1946)

Đối mặt với chính cuộc khủng hoảng, các nhà keynesian mới đã vượt qua được những thách thức. Họ sử dụng lại những mô hình về giá cả cứng nhắc từ những năm 1950 và 1960, những mô hình này chỉ ra 3 điều. Thứ nhất, thâm hụt ngân sách nghiêm trọng sẽ không làm tăng mức lãi suất đang xấp xỉ bằng không. Thứ hai, thậm chí tăng đáng kể cơ số tiền tệ sẽ không dẫn đến lạm phát tăng cao, hay làm tăng tương ứng các đại lượng tổng gộp tiền tệ khác. Và thứ ba, từ những thay đổi trong chi tiêu và thuế khoá của chính phủ, số nhân của thu nhập quốc gia sẽ dương, và gần như chắc chắn lớn hơn một.

Những mệnh đề này biện minh cho thâm hụt ngân sách sau sự sụp đổ vào năm 2008. Các chính sách dựa trên đó đã được thực thi và hoạt động “tốt một cách bất ngờ”. Sự thành công của chính sách keynesian mới tạo ra một hiệu ứng trớ trêu là cho phép “những thành viên giáo điều nhất trong ngành của chúng ta [trường phái Cổ điển mới từ Chicago] phớt lờ những sự kiện quan trọng theo cách mà trong những thời kỳ trước họ sẽ không làm vậy”. Vì vậy không có trường phái – đúng hơn là giáo phái – nào phải đối mặt với thử thách tư duy lại những nguyên lý đầu tiên.

Lịch sử thần tình trước và sau cuộc khủng hoảng kinh tế để lại nhiều câu hỏi then chốt chưa có lời giải đáp. Thứ nhất, nếu kinh tế học keynesian mới là “đủ tốt”, tại sao những nhà kinh tế học keynesian mới đã không cảnh báo về sự sụp đổ năm 2007-2008? Quan trọng hơn cả, trên lí thuyết họ đã không loại trừ khả năng về một trận sụp đổ như thế mà.

Paul Krugman (1953-)

Krugman thừa nhận một lỗ hổng trong việc “thu thập những dấu hiệu”. Nhưng sự lựa chọn các dấu hiệu do lý thuyết dẫn dắt. Theo quan điểm của tôi, các nhà kinh tế học keynesian mới đã phớt lờ sự không ổn định đang hình thành trong hệ thống ngân hàng, bởi vì những mô hình của họ nói rằng các thể chế tài chính có thể định giá rủi ro một cách đúng đắn. Vì vậy có một “vấn đề sâu sắc về nhận thức” liên quan đến phân tích của trường phái keynesian mới: sự thất bại của nó trong việc giải thích vì sao các ngân hàng có thể “định giá quá thấp các rủi ro trên toàn thế giới”, như Alan Greenspan đã diễn tả.

Thứ hai, Krugman không thể giải thích tại sao các chính sách keynesian đã được chứng minh là đúng trong giai đoạn 2008-2009 lại nhanh chóng bị đảo ngược và thay thế bằng sự thắt chặt tài khóa. Tại sao các nhà lập chính sách không trung thành với những mô hình tẻ nhạt với giá cố định của họ cho đến khi chúng hoàn thành công việc? Tại sao lại ruồng bỏ chúng vào năm 2009, khi nền kinh tế phương Tây vẫn đang ở dưới mức trước khủng hoảng 4-5%?

Câu trả lời mà tôi có thể đưa ra là khi tư tưởng Keynes được sử dụng lại một cách chớp nhoáng trong 6 tháng năm 2008 – 2009, đó là vì lý do chính trị, chứ không phải lý do học thuật. Bởi vì các mô hình keynesian mới không đưa ra được một cơ sở đầy đủ để duy trì những chính sách keynesian một khi nền kinh tế vượt qua tình trạng nguy kịch, do vậy chúng lại nhanh chóng bị từ bỏ.

Krugman dần thừa nhận điều này, ông viết, những nhà keynes mới “bắt đầu bằng việc lấy hành vi lý tính và cân bằng thị trường làm điểm xuất phát và quy chiếu, và cố gắng tái tạo những hoạt động bất thường của nền kinh tế bằng cách điều chỉnh điểm trên ở các góc cạnh”. Sự điều chỉnh này giúp các mô hình keynesian mới sản sinh ra những hiệu ứng thực tế tạm thời từ những cú sốc danh nghĩa, và từ đó biện minh cho sự can thiệp khá triệt để trong những trường hợp khẩn cấp. Nhưng không điều chỉnh nào có thể tạo ra một tình huống đủ mạnh để biện minh cho việc duy trì chính sách can thiệp.

Joseph Schumpeter (1883-1950)
Robert Skidelsky (1939-)

Vấn đề đối với các nhà kinh tế học vĩ mô keynesian mới là họ không chấp nhận tính bất trắc triệt để trong các mô hình của mình, rời bỏ chúng mà không có bất kỳ một lý thuyết nào cho biết phải làm gì khi tình thế không nguy kịch để tránh những tình huống xấu. Việc họ tập trung vào lương danh nghĩa và tính cứng nhắc của giá cả hàm ý rằng có thể đạt được cân bằng ổn định nếu không có những yếu tố này. Họ coi yếu tố tài chính là trung lập, không phải là cơ bản (hay “viên giám sát” của chủ nghĩa tư bản, theo lời của Joseph Schumpeter).

Với việc không công nhận tính bất trắc này, kinh tế học “nước mặn” chắc chắn sụp đổ trước phe “nước ngọt” đối lập. “Sự điều chỉnh” của kinh tế học keynesian mới sẽ tạo ra không gian chính trị giới hạn cho sự can thiệp, nhưng gần như không đủ để làm tốt công việc. Vì vậy lập luận của Krugman, mặc dù có tính khiêu khích nhưng chắc chắn không thuyết phục. Kinh tế học vĩ mô vẫn cần có một ý tưởng vĩ đại mới.

Nguyễn Mai Hạ dịch

Nguồn: “How Economics Survived the Economic Crisis”, Project Syndicate, Jan 18, 2018

———————&&&———————

 

e-Estonia – mô hình mẫu của chính phủ điện tử

e-Estonia – mô hình mẫu của chính phủ điện tử

(Nguồn: http://tiasang.com.vn)

Khi đề cập đến những chính sách phát triển của Estonia, tờ Atlantic đã nhận định Estonia – đất nước nhỏ bé ở phía bắc châu Âu với 1,3 triệu dân, đã trở thành một chính phủ điện tử (e-government) kiểu mẫu.

Mart Laar- Thủ tướng Estonia giai đoạn 1992-1994, 1999 – 2002, là người áp dụng thuế căn hộ đầu tiên ở châu Âu. Nguồn: Oslo Freedom Forum

Có lẽ, thế giới biết nhiều về Estonia chính là từ The Daily Show, chương trình truyền hình Mỹ trong vòng nửa tiếng phát vào đêm muộn thứ ba hằng tuần, khi ông Taavi Rõivas , cựu Thủ tướng nước này xuất hiện vào tháng 3/2016 để đối thoại về mô hình Estonia điện tử (e-Estonia). Mô hình này nhằm mục tiêu tạo ra một quy trình hiệu quả bằng việc đưa nhiều quy trình về thủ tục truyền thống lên hệ thống trực tuyến, ví dụ như bỏ bầu cử phiếu. Việc xây dựng mô hình e-Estonia gắn liền với sự phát triển của đất nước Estonia hiện đại.

Bắt đầu từ những năm 1980, Estonia, một quốc gia thành viên của Liên bang Xô viết, đã trở thành tâm điểm của sự phát triển công nghệ và phát triển phần mềm cũng như đi đầu trong chính sách giáo dục. Sau sự tan rã của Xô viết vào đầu những năm 1990, Estonia đã nhanh chóng chuyển đổi để tận dụng khả năng công nghệ đã được tích lũy của mình, và những nhà chính trị trẻ như Mart Laar – người tạo ra thuế căn hộ đầu tiên của châu Âu, cũng như các nhà lãnh đạo giàu tinh thần đổi mới sáng tạo như Toomas Hendrik Ilves và Taavi Rõivas, đã trở thành những “nhà lãnh đạo tri thức” (intellectual leader) ở khu vực Trung và Nam Âu. Họ chính là những người tạo ra bước đột phá trong đổi mới cho đất nước này kể từ khi tách ra độc lập.

Dưới sự lãnh đạo của họ, Estonia trở thành một quốc gia luôn luôn thử nghiệm những điều mới mẻ, thử nghiệm những ý tưởng chính sách mới. Với việc thực hiện những điều đó, Estonia đã tạo ra một nền văn hóa chính trị tập trung vào đổi mới sáng tạo, trong đó điểm nhấn là mô hình “e-Estonia”. Trong khoa học chính trị, người ta vẫn gọi đó là một phiên bản của chính sách khởi nghiệp và với việc này, Estonia đã xây dựng thương hiệu của mình là một trung tâm đổi mới sáng tạo.

Những đổi mới trong chính sách quản lý

Một trong những đổi mới sáng tạo trong chính sách nổi bật là việc Estonia áp dụng thuế đồng đều (flat tax) – loại thuế áp dụng theo cùng tỷ lệ nộp tiền cho mọi đối tượng, vào năm 1994 và trở thành quốc gia châu Âu đầu tiên bãi bỏ phương pháp thu thuế truyền thống. Điều này cho thấy, Estonia đã sẵn sàng tiếp cận những thách thức kinh tế và chính trị bằng việc mạnh dạn thử nghiệm chính sách. Trong những năm tiếp theo, Estonia trở thành quốc gia đầu tiên áp dụng hình thức bỏ phiếu từ xa bằng các thiết bị điện tử, trong đó bỏ phiếu tại nhà qua máy tính cá nhân nối mạng được áp dụng vào năm 2005 và bỏ phiếu qua tin nhắn dạng SMS trên điện thoại di động năm 2011.

Estonia còn là quốc gia cựu thành viên Xô viết đầu tiên tham gia Khu vực đồng tiền chung euro (Eurozone) vào năm 2011 và đi tiên phong trong việc dạy mã HTML ở cấp tiểu học vào năm 2012.

Joseph M. Ellis, PGS ngành khoa học chính trị tại trường Đại học Wingate, Bắc Carolina (Mỹ) đánh giá, Estonia chính là một mô hình kiểu mẫu về chính quyền điện tử. E-Estonia được xây dựng để hỗ trợ công việc vận hành kinh tế của chính phủ thêm hiệu quả, bền vững, dân chủ và minh bạch hơn. Nền tảng của mô hình này là một cơ sở dữ liệu quốc gia cho phép mọi người dân có thể giải quyết mọi việc từ nộp thuế đến bỏ phiếu. Mỗi người sẽ được chính quyền cấp một thẻ căn cước điện tử kèm một mã định danh kỹ thuật số (digital ID pin). Nhờ vậy, họ có thể thực hiện được bất kỳ giao dịch điện tử nào từ trả thuế đến trả vé xe buýt ở mọi nơi, mọi lúc trên đất nước.

Đổi mới sáng tạo ở Estonia không giới hạn ở khu vực công mà còn lan sang cả lĩnh vực tư bằng sự khuyến khích đổi mới sáng tạo về công nghệ thông tin và truyền thông. Đất nước này là một trong số những quốc gia tiên phong trong việc lắp đặt mạng Wi-Fi chất lượng cao với sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân. Skype – sản phẩm ứng dụng phần mềm có thể kết nối hội thoại và hình ảnh miễn phí giữa những người sử dụng máy tính bảng, máy tính và thiết bị di động khác…, là một trong những câu chuyện thành công đáng chú ý nhất của Estonia. Nhiều doanh nghiệp tư nhân Estonia đã tập trung phát triển phần mềm để đem lại nhiều tiện ích của Skype, kết quả là không chỉ người ở Estonia hưởng lợi trực tiếp từ sự thuận tiện khi sử dụng Skype mà Skype còn chọn Estonia để đặt nhiều văn phòng đại điện.

Sự tương tác giữa lĩnh vực công và tư đã góp phần tạo ra không khí đổi mới sáng tạo tại Estonia. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2017 trên The Guardian, Tổng thống Ilves đã nhấn mạnh đến di sản giáo dục và thực tế quy mô đất nước nhỏ của Estonia, vì vậy chính phủ nước này đã tập trung nguồn lực vào công nghệ. Như Nền tảng chính sách đổi mới sáng tạo (Innovation Policy Platform), một trang web theo dấu các xu hướng đổi mới sáng tạo, đã viết về Estonia: “Trong giai đoạn 2014-2020, chính phủ đã phân bổ 155 triệu USD vào Chương trình phát triển doanh nghiệp và Chương trình Chứng nhận đổi mới sáng tạo, 87 triệu USD cho những chương trình khởi nghiệp khác và 12,7 triệu USD cho riêng các startup đổi mới sáng tạo”.

Năm nguyên nhân nền tảng của thành công

Vậy nền tảng cho văn hóa đổi mới sáng tạo ở Estonia là gì? Theo đánh giá của Phó giáo sư Joseph M. Ellis, có năm nguyên nhân chính:

Thứ nhất, sau khi Xô viết sụp đổ, không giữ thái độ “địa phương chủ nghĩa” hoặc “mặc cảm” dân tộc – những yếu tố khiến một quốc gia trở thành kẻ bên lề đời sống quốc tế, Estonia đã nhanh chóng mở cửa với thế giới để sẵn sàng chào đón các trí thức phương Tây, doanh nghiệp và chuyên gia chính sách đến với mình. Nhờ vậy Estonia đã nhanh chóng thu hút được các ý tưởng từ khắp nơi trên thế giới. Các ý tưởng xuyên quốc gia như vậy vẫn có ảnh hưởng trong những cuộc đối thoại chính trị và kinh tế của Estonia.

Thứ hai, Estonia học hỏi từ Phần Lan. Quốc gia láng giềng này đã thu hút sự quan tâm của Estonia từ ngày họ còn là thành viên của Liên bang Xô viết và họ nhanh chóng nhận định, đây chính là bài học đổi mới cho chính mình.

Thứ ba, Estonia có một quá trình xây dựng chính quyền mới khá suôn sẻ và thuận lợi hơn so với nhiều quốc gia thành viên Xô viết khác như Moldova, Belarus và Ukraine. Thuận lợi này đã tạo điều kiện cho các nhà cải cách trong cả lĩnh vực công và tư có thể cùng thực hiện được các dự án lớn mà không gặp phải cản trở nào.

Thứ tư, môi trường hoạt động mới mẻ trong lĩnh vực công của Estonia cũng cho phép các nhà hoạch định chính sách tiên tiến và bảo thủ đón nhận những ý tưởng mới. Việc tái sinh của một quốc gia Estonia mới khiến cho nó có thể “bỏ qua” về các loại lợi ích và tư tưởng cũ ở những quốc gia đã được xây dựng từ hàng thập kỷ trước như phương Tây hay Mỹ. Sự trẻ trung của môi trường chính trị Estonia tạo điều kiện cho những ý tưởng mới được thực hiện, do đó Mart Laar trở thành Thủ tướng ở tuổi 31 hay Rõivas ở tuổi 34.

Cuối cùng, tại Estonia, đổi mới sáng tạo có tác động thúc đẩy đổi mới sáng tạo tiếp theo, đem đến một văn hóa quốc gia về đổi mới sáng tạo. Các công chức chính phủ và công dân cũng tự hào với ghi nhận của thế giới về thương hiệu quốc gia “người tiên phong” hoặc đổi mới sáng tạo. Ngược lại, các nhà hoạch định chính sách Estonia cũng không sợ bị cử tri phàn nàn vì dám thử nghiệm những điều mới mẻ và giữ quan điểm chấp nhận rủi ro.

Đám mây điện toán chính quyền (government Cloud) – cơ sở hạ tầng của chính quyền điện tử đã được Estonia tạo dựng như một nền tảng công nghệ có thể cung cấp dịch vụ và quản lý dịch vụ về công nghệ thông tin cho khu vực công một cách đơn giản nhưng an toàn. Estonia đã thực hiện một giải pháp thu hút sự tham gia của các thành phần công – tư, trong đó có Quỹ Truyền thông thông tin quốc gia (RIKS) – một quỹ phi lợi nhuận được thành lập năm 2000 và do chính Bộ trưởng Bộ Kinh tế và Truyền thông quản lý cùng một số doanh nghiệp tư như Cybernetica, DELL EMC , Ericsson, OpenNode và Telia – mỗi doanh nghiệp đều có một vai trò cụ thể. Họ đã cùng thảo luận về cách triển khai nền tảng dữ liệu bằng tiếng Estonia, cách đám mây điện toán chính quyền có thể chia sẻ tài nguyên dữ liệu và nhận ra rằng cơ sở hạ tầng vẫn còn chưa sẵn sàng. Một trong những giải pháp là họ tập trung giảm bớt số lượng các khu lưu trữ dữ liệu từ 100 xuống còn 4 vào năm 2012. Do đó, các trung tâm dữ liệu trở nên an toàn hơn, sẵn sàng cho truy cập hơn, linh hoạt hơn trong việc cung cấp các dịch vụ lưu trữ và tư vấn. Điểm mạnh của nền tảng công nghệ này được kết nối với những trung tâm dữ liệu khác và những bên hưởng thụ chính là các Bộ Giáo dục, Bộ Tư pháp và Bộ Cơ sở hạ tầng, Bộ Nội vụ. Để có một hệ thống đám mây điện toán hoàn hảo, cần có sự hợp tác giữa các nhà cung cấp dịch vụ, khách hàng và đối tác. Đến nay, Đám mây điện toán chính quyền Estonia có 12 khách hàng ký kết hợp đồng, nó còn được sử dụng trong các cuộc bầu cử quốc gia.

Tô Vân tổng hợp

Nguồn: Báo KH&PT

—————–&&&—————

Estonia có là Phần Lan mới?

Estonia có là Phần Lan mới?

(Nguồn: http://tiasang.com.vn)

Với việc tập trung vào đảm bảo sự công bằng trong giáo dục, quốc gia nằm phía Bắc châu Âu này từng bước gia nhập hàng ngũ các nền giáo dục xuất sắc của toàn cầu.


Ở Estonia, giáo dục được xây dựng trên yếu tố công bằng. Nguồn: Estonian World.

Hầu hết các nhà giáo dục và hoạch định chính sách có thể đưa ra danh sách các cường quốc giáo dục quốc tế như Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản và Phần Lan. Nhưng Estonia lại không mấy được chú ý, dù năm 2012, các học sinh tuổi 15 của Estonia xếp hạng 11 về toán và kỹ năng đọc hiểu, hạng 6 về khoa học trong số trong số 65 quốc gia tại cuộc thi quốc tế so sánh các hệ thống giáo dục trên khắp thế giới PISA. Estonia đã vượt qua nhiều quốc gia phương Tây như Pháp, Đức và ngay cả Phần Lan… về toán và khoa học, đặc biệt số lượng học sinh yếu về toán, kỹ năng đọc hiểu (10%), khoa học (5%) của họ cũng thấp nhất châu Âu.

Quốc gia vùng Baltic này có sự phức tạp về văn hóa, những ảnh hưởng kinh tế, xã hội từ thời Xô viết… ví dụ phải đến 1/5 học sinh trong các trường phổ thông đến từ nhiều gia đình nói tiếng Nga1. Khi Estonia tách ra khỏi Liên bang Xô viết và trở thành quốc gia độc lập 25 năm trước, tiếng Estonia là ngôn ngữ chính thức và được dùng trong trường học.

Công bằng trong môi trường giáo dục

Marc Tucker, chủ tịch Trung tâm Giáo dục quốc gia ở Washington đã tới Estonia năm 2015 để tìm hiểu họ đã làm những gì để có được kết quả này. Ông cho rằng sau khi Liên Xô tan rã, nhiều quốc gia vệ tinh của Xô viết khác như Hungary và Czech đã chuyển tiếp giáo dục sang một hệ thống phù hợp với yêu cầu của giới tinh hoa còn Estonia lại cố gắng giữ những cơ hội bình đẳng cho mọi học trò từ mọi thành phần xã hội. Tucker nói: “Những gì chúng tôi thấy ở Estonia không phải là một hệ thống giáo dục mới, nó vẫn là cái cũ. Bởi sau khi Liên Xô tan rã, họ không thay đổi hệ thống này… Thật ngạc nhiên là họ vẫn tiếp tục nhận được thành công”.

Điều mà Marc Tucker cho là “cái cũ” ấy chính là sự công bằng. Ý tưởng công bằng trong giáo dục là điều còn sót lại từ truyền thống giáo dục Estonia dưới thời Xô viết và là một trong những điều Estonia vẫn cố giữ vững ngay cả khi họ vẫn phải vật lộn với việc hiện đại hóa trường học và rút ngắn hơn nữa khoảng cách điểm số giữa các học trò. Thời kỳ những năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai, việc áp dụng phổ cập chương trình học phổ thông 7 năm (1949) và 8 năm (1958-1963) đã tạo điều kiện cho các thế hệ sinh sau chiến tranh đều được đến trường, không giới hạn hoàn cảnh xuất thân, không có trường hợp biệt lệ nào. Trong estonica.org – trang web bách khoa toàn thư về Estonia do Viện nghiên cứu Estonia ở thủ đô Tallinn khởi xướng, đã nhận định giáo dục phổ thông đều miễn phí và ai cũng có thể dễ dàng đăng ký học. Bất chấp tình trạng nghèo đói, số lượng học sinh đến lớp không ngừng tăng lên. Sau đạo luật giáo dục được ban hành  vào năm 1970 thì tới những năm 1980, 90% thanh niên dưới 18 tuổi trên toàn đất nước đều học trung học phổ thông.

Sự công bằng tiếp tục trở thành một trong những yếu tố cốt lõi của giáo dục thời “hậu Xô viết” khi các nhà giáo dục cố gắng đem lại những trải nghiệm tương đồng cho học sinh trong mọi ngôi trường, dẫu các em từ nhiều nền tảng văn hóa và từ nhiều gia đình có thu nhập khác nhau. Nhờ vậy, Estonia đã tạo dựng được một hệ thống giáo dục trên cơ sở sự công bằng.

Estonia vẫn có được kết quả tốt ở PISA, mặc dù lượng học trò nghèo chiếm một phần đáng kể trong số học sinh nước này. “Chúng tôi luôn luôn giữ cho giáo dục trở nên công bằng”, Jürgen Ligi – Bộ trưởng Bộ Giáo dục Estonia, cho biết. Tại cuộc kiểm tra môn toán PISA 2012, hơn 1/3 học trò từ các gia đình thu nhập thấp của Estonia có kết quả tốt nhất đất nước mình. Trong các quốc gia Khối OECD, khoảng cách về điểm số giữa học sinh “nhà giàu” và học sinh “nhà nghèo” của Estonia ở mức thấp nhất. Học sinh “nhà nghèo” Estonia có điểm số tương đương học trò thuộc nhóm gia đình có thu nhập cao thứ nhì ở Mỹ.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thành công của Estonia ở PISA, không chỉ từ việc tập trung vào sự bình đẳng. Ở trường phổ thông giáo viên được trao quyền tự chủ rất cao và họ có thể theo học trò từ một đến ba lớp – thi thoảng tới 6 lớp, điều đó khiến giáo viên có thể tạo ra mối quan hệ sâu sắc và bền chặt với học trò. Nhiều viên chức và nhà giáo dục cho biết, các giáo viên rất giỏi trong việc hỗ trợ học sinh học tập và sẵn sàng “can thiệp” nếu học sinh chệch khỏi quỹ đạo chung. Tuy nhiên, nhiều nhà giáo dục cho rằng, việc trao cho mọi học trò một trải nghiệm giáo dục tương đồng mới đóng vai trò trung tâm. “Chúng tôi cố gắng thực hiện đúng điều này để cho các em đều bình đẳng trong học tập. Dù xuất thân từ gia đình nào thì các em vẫn có thể thành công”, Karin Lukk, giáo viên trường Tartu Kivilinna Kool – một ngôi trường có các lớp từ 1 đến 9 tại Tartu, thành phố lớn thứ nhì Estonia, cho biết.

Cách tiếp cận này đã được áp dụng ngay từ thời điểm bọn trẻ bắt đầu đi học. Mỗi đứa trẻ đủ 18 tháng đến nhà trẻ đều không phải đóng học phí (tính từ khi kết thúc kỳ nghỉ thai sản của mẹ hoặc thời gian nghỉ của cha) và bữa trưa cũng miễn phí  (thầy cô cũng tham dự bữa trưa này để có cái nhìn công bằng, không phân biệt học sinh “nhà giàu”, “nhà nghèo”). Bọn trẻ được hưởng chế độ miễn học phí này đến hết bậc trung học phổ thông, học sinh “nhà nghèo” và “nhà giàu” vẫn thường học chung lớp. Mặc dù trường tư bắt đầu xuất hiện ở Estonia nhưng đây chỉ là một lát cắt nhỏ trong toàn bộ hệ thống giáo dục.

Tìm triết lý giáo dục mới

Năm 1984, Liên bang Xô viết tái cấu trúc chương trình phổ thông và việc áp dụng nó vào Estonia khiến quốc gia này phải tăng thêm một lớp ở cấp tiểu học nhưng lại bớt đi một lớp ở cấp trung học phổ thông, do đó phải cắt giảm chương trình văn học, lịch sử và địa lý, vốn đã phải chịu sự áp đặt của tư tưởng Xô viết về nội dung. Làn sóng phản đối trong cộng đồng giáo viên và khoa học Estonia cuối cùng làm chương trình phổ thông tăng thêm một năm học nữa.

Về tổng thể, điều này dường như không ổn với Estonia. Vào năm 1987, Hội nghị giáo viên Estonia trở thành một sự kiện đột phá cho giáo dục nước này. Các giáo viên chỉ trích những vấn đề tồn tại trong cấu trúc giáo dục phổ thông và đòi hỏi sự độc lập của giáo dục Estonia. Trung tâm thảo luận là sự cần thiết của một chương trình học chuẩn cho cấp trung học phổ thông (kết thúc bậc học này, học sinh sẽ quyết định học phổ thông trung học ba năm để chuẩn bị vào đại học hay đến các trường dạy nghề để có được một nghề cụ thể cho tương lai). Cuối cùng dự án tìm giáo trình chuẩn thông qua một cuộc thi mở đã được thông báo. Tháng 6/1987, mọi thành viên trong xã hội – tất cả những ai quan tâm đến giáo dục như nhà khoa học, nhà triết học, nhà văn, giảng viên đại học, giáo viên phổ thổng, thậm chí cả học sinh, đều tham gia dự án và bỏ phiếu chọn chương trình phù hợp. Trong hai năm 1987 và 1988, các thành viên hội đồng thẩm định xem xét các chương trình mới và kết quả là năm 1989, trường học Estonia áp dụng chương trình mới.

Sau khi Estonia tách ra khỏi Liên bang Xô viết và tuyên bố độc lập, các nhà giáo dục trên khắp đất nước Estonia không ngừng vật lộn với những triết lý và ý tưởng giáo dục mới, cố gắng để nó tương thích với hệ thống giáo dục quá cứng nhắc mà họ mới trải qua. Hệ thống giáo dục truyền thống trên nền tảng giáo dục Xô viết của Estonia vẫn nghiêng về mô hình lấy giáo viên làm trung tâm và nhấn mạnh đến việc học hỏi kiến thức hơn là phát triển các kỹ năng mềm. Về tổng thể, nó chỉ “làm đẹp” hình ảnh đất nước qua các cuộc thi, vì vậy nó không tương thích với việc thay đổi toàn bộ hệ thống giáo dục. Katrin Libe, cô giáo dạy tiếng Anh ở Konguta Kool – trường tiểu học ở một ngôi làng nhỏ cách thành phố Tartu một giờ ô tô, nêu băn khoăn: “Vấn đề là liệu chúng tôi có thể giữ được các kết quả thi thử nghiệm trước sức ép sáng tạo hay không? Nó sẽ dẫn đến một số xung đột về quan điểm giáo dục chăng?”

Trên khắp đất nước, những nhà hoạch định chính sách và các nhà giáo dục đối thoại về nhu cầu đào tạo ra những học sinh có khả năng làm được nhiều điều hơn việc chỉ làm tốt một kỳ kiểm tra, có lẽ hướng tới trở thành thương gia hay những nhà lãnh đạo có xu hướng đổi mới sáng tạo. Cần thay đổi triết lý giáo dục Estonia và thực tế là nó đang thay đổi nhằm phát triển tư chất cá nhân của học sinh và để giáo viên hướng dẫn các em nhiều hơn chứ không dừng ở việc giảng dạy trên lớp, nhiều nhà giáo dục cho biết.

Dĩ nhiên thật khó để giáo viên có thể từ bỏ phương pháp giáo dạy truyền thống, vì thế giáo dục Estonia đặt mục tiêu thu hút người mới có trình độ cao, dù nước này vẫn thuộc nhóm các quốc gia có mức lương thấp nhất châu Âu. Trước khi bước vào giảng dạy, họ đều trải qua những khóa bồi dưỡng tại trường đại học Tartu để có thể dẫn dắt các em chú trọng vào lối tư duy phản biện và nâng cao khả năng giao tiếp hơn là lượng kiến thức, tuy vậy các nhà quản lý giáo dục cho biết cũng phải mất một thời gian thì phương thức giảng dạy này mới phát huy được hiệu quả.

Dù các trường phổ thông Estonia vẫn được hưởng lợi từ việc tận dụng ưu điểm của hệ thống giáo dục cũ thì những thay đổi mới cũng từ từ được áp dụng. Họ tổ chức nhiều cuộc hội thảo giới thiệu những phương pháp giáo dục mới cho giáo viên để họ có thể lựa chọn áp dụng ở trường của mình, ví dụ hội nghị với diễn giả là một nhà tâm lý nêu việc giáo dục sớm nên tập trung nhiều hơn đến các kỹ năng xã hội và cảm xúc hơn là vội thiết lập nền tảng kiến thức học thuật.

Để phát huy sự cởi mở trong tư duy và sự hào hứng trong tiếp thu kiến thức, ở những trường học lớn, học sinh đều có thể tự chọn lấy một lĩnh vực để theo học, ví dụ như khoa học và toán hoặc xã hội nhân văn, theo ý thích chứ không phải trên cơ sở điểm số. Bên cạnh đó, học sinh vẫn tham gia các khóa học chung để đảm bảo là có đủ kỹ năng cơ bản trong mọi lĩnh vực. Mỗi trường đều có cách để học sinh có được kỹ năng chung. Konguta Kool đã đạt được một số kết quả nhất định bằng nỗ lực của mình, dù thiếu giáo viên. Các học sinh lớp 5 của trường có thể sử dụng máy tính xách tay trong phòng máy tính của trường để học toán. Quan sát một tiết học như vậy, nhà báo Sarah Butrymowicz của The Atlantic đã ngạc nhiên thấy “màn hình của một học sinh nữ bắt đầu với bài toán cơ bản 1+1. Chỉ trong vòng 2 phút, em đã nâng độ khó với phép tính 2589 + 1233”. Nhà trường đã áp dụng cách này để học sinh rèn kỹ năng tính nhẩm. Bên cạnh đó, giáo viên cũng cố gắng soạn các bài giảng có sự kết nối toán học với các vấn đề của cuộc sống thực, ví dụ cầu thang dẫn đến các lớp học được đánh dấu bằng các con số âm theo cấp độ giảm dần – trong suốt mùa đông chúng được dùng để ghi nhiệt độ, hay trường dành hẳn một bức tường để dán những thứ bọn trẻ thích: kết quả cuộc “bỏ phiếu” loại bánh mì yêu thích hay đếm được bao nhiêu loài chim khác nhau quan sát thấy trong vườn trường.

Cô giáo Katrin Libe cho biết, học sinh của trường đều làm tốt bài kiểm tra trong kỳ thi quốc gia vào cuối lớp 6. Dẫu vậy thì điểm số cũng không cần công khai; thường cứ ba năm một lần, học sinh Estonia đều có một kỳ kiểm tra và thứ bậc học sinh chỉ công khai một lần duy nhất vào cuối năm lớp 12.
***
Theo kết quả các cuộc điều tra của PISA, thật bất ngờ Estonia là một trong số các quốc gia có tỷ lệ học sinh hạnh phúc thấp nhất khối OECD (2/3), trong khi đó gần 80% học sinh Mỹ cảm thấy hạnh phúc. Gunda Tire, điều phối viên PISA ở Estonia, cho biết, bản tính tự nhiên của người Estonia là không dễ bằng lòng nên họ phản ứng khác nhau trước câu hỏi về hạnh phúc. Chính quan điểm văn hóa truyền thống đó đã tạo động lực cho người Estonia không ngừng cải thiện chất lượng trường học. “Không bao giờ là đủ tốt cả. Không ai có thể cho là hệ thống trường học đã được vận hành tốt”, Tire nhận xét.

 

Trong cuộc trả lời phỏng vấn của GovInsider, cựu Tổng thống Estonia Toomas Hendrik Ilves cho biết ông gặp phải nhiều khó khăn khi phổ biến tin học vào các trường phổ thông Estonia – chương trình “Tiigrihüpe” (Cú nhảy của hổ) do ông đề xuất vào năm 1996, “giáo viên và nhiều người khác trong xã hội đều cho rằng đây là ý tưởng ngớ ngẩn” (năm đó ông là Bộ trưởng Bộ Nội vụ). Thời điểm đó, công nghệ chưa được quan tâm bởi sau sự tan rã của Liên Xô, đất nước trong cảnh bần cùng và mọi người còn quan tâm đến mức thu nhập cơ bản, lương công chức hơn. “Tiigrihüpe” được hi vọng sẽ tạo ra bước phát triển nhảy vọt của đất nước từ nền tảng công nghệ theo phong cách Xô viết cũ kỹ sang nền tảng công nghệ mới bậc nhất thế giới.
Các trường phổ thông Estonia đều được nối mạng internet vào năm 1999. Chương trình khiến người dân Estonia tiếp cận công nghệ dễ hơn. Thậm chí để đạt điều này, chính phủ còn yêu cầu các trường học phải giữ cho phòng máy tính được mở cửa để mọi người có thể cùng sử dụng. Cùng thời điểm đó, chính phủ lập các điểm nối mạng internet ở các không gian công cộng như thư viện, tòa thị chính các thành phố để tạo điều kiện cho mọi người có thể truy cập internet một cách dễ dàng. Hiện Estonia là một trong số các quốc gia có tỷ lệ người sử dụng internet cao nhất thế giới (97,7% dân số).
Để chương trình hiệu quả, Ilves nêu 2 bí quyết: chính phủ yêu cầu các trường học phải đóng một nửa chi phí mua máy tính để “‘biến’ các trường học thành người sở hữu”; dù thiếu giáo viên tin học nhưng mục tiêu đầu tiên của “Tiigrihüpe” là khơi gợi sự tò mò về công nghệ cho trẻ em trước khi hướng tới những vấn đề phức tạp hơn bởi “hãy tin học sinh, chúng sẽ tính toán được tất”.
Ngày nay, ở Estonia, trẻ em 7 tuổi đã được học các kiến thức lập trình máy tính cơ bản. “7 tuổi là có tư duy logic cơ bản để làm được điều đó”, ông Ilves nhận xét. Năm 2012, đất nước này bắt đầu dạy lập trình và robotic ở tất cả các cấp, từ thiết kế game, phim hoạt hình dạng đơn giản ở cấp tiểu học đến ngôn ngữ lập trình như Python ở trung học phổ thông.
Không chỉ có vậy, thành công của “Tiigrihüpe” còn dẫn đến việc mở ra nhiều sáng kiến liên quan đến kỹ năng máy tính khác, ví dụ như Quỹ Look@World vào năm 2001 nhằm phát triển năng lực sử dụng máy tính cho người lớn tuổi (và đến nay vẫn tiếp tục).

Thanh Nhàn tổng hợp
Nguồn:
https://www.theatlantic.com/education/archive/2016/06/is-estonia-the-new-finland/488351/
http://www.estonica.org/en/Education_and_science/
https://govinsider.asia/innovation/exclusive-inside-estonias-edtech-revolution/
—-
1.Các em có thể theo học các chương trình tiếng Estonia và tiếng Nga ở bậc phổ thông nhưng bậc đại học thì chỉ có chương trình tiếng Estonia.

—————–&&&—————–

Chỉ số GDP cần được điều chỉnh chứ không phải thay thế

Chỉ số GDP cần được điều chỉnh chứ không phải thay thế

(Nguồn: http://nghiencuuquocte.org)

Nguồn: Urs Rohner, “GDP Should Be Corrected, Not Replaced”, Project Syndicate, 17/01/2018.

Biên dịch: Nguyễn Quỳnh Chi | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Nhiều nhà kinh tế học nổi tiếng từ lâu đã chỉ ra rằng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là một phương thức đo lường không đầy đủ cho sự phát triển kinh tế và thịnh vượng xã hội, và do đó không nên là mối quan tâm duy nhất của các nhà làm chính sách. Tuy vậy chúng ta vẫn chưa tìm được một phương thức khả thi khác thay thế cho chỉ số GDP.

Một điểm thiếu sót khá rõ ràng của GDP là việc chỉ số này không tính đến giá trị của các công việc nội trợ, bao gồm chăm sóc trẻ nhỏ và người lớn tuổi trong gia đình. Quan trọng hơn nữa, việc gán một giá trị tiền tệ cho những hoạt động trên sẽ không giải quyết được một điểm yếu sâu sắc hơn của GDP: sự thiếu khả năng phản ánh đầy đủ trải nghiệm sống của từng thành viên trong xã hội. Tính thêm yếu tố công việc nội trợ sẽ làm GDP phình to, trong khi đó lại không tạo được khác biệt thực sự nào về mặt tiêu chuẩn sống. Và những phụ nữ cấu thành một phần đáng kể trong nhóm những người làm các công việc nội trợ sẽ tiếp tục được coi là những “tình nguyện viên”, thay vì là những nhân tố đóng góp thực sự cho nền kinh tế.

Một thiếu sót khác cũng khá nổi tiếng của GDP là việc nó không tính đến sự phá hủy giá trị, như khi các quốc gia quản lý sai nguồn nhân lực của họ qua việc trì hoãn cung cấp giáo dục cho một số nhóm dân cư hoặc qua việc làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên vì những lợi ích kinh tế trước mắt. Tổng kết lại, GDP có xu hướng đo lường các tài sản một cách không chính xác và hầu như không đo lường chút nào các khoản giảm trừ.

Mặc dù chưa xuất hiện sự đồng thuận quốc tế nào về một phương thức thay thế cho GDP, đã có một tiến trình rất đáng khích lệ hướng đến tư duy toàn diện hơn về đo lường hoạt động kinh tế. Năm 1972, các nhà kinh tế thuộc Đại học Yale gồm William Nordhaus và James Tobin đã đề xuất một khuôn khổ mới, được gọi là “Đo lường phúc lợi kinh tế” (measure of economic welfare – MEW), nhằm tính đến những hoạt động nhỏ không được trả công. Và, gần đây hơn, Trung Quốc đã thiết lập một chỉ số “phát triển xanh”, trong đó xem xét thành tích kinh tế bên cạnh nhiều yếu tố môi trường khác.

Hơn nữa, những người ra quyết định trong khu vực kinh tế công và tư nhân giờ đây đã có nhiều hơn rất nhiều các công cụ so với trước đây để giúp đưa ra những lựa chọn phức tạp. Về phía nhà đầu tư, nhu cầu đối với các dữ liệu môi trường, xã hội và quản trị đang tăng lên đột biến. Và trong khu vực công, các tổ chức như Ngân hàng Thế giới (WB) đã sử dụng các chỉ số đo lường khác ngoài GDP nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống, bao gồm tiếp cận giáo dục và tuổi thọ khi sinh.

Cùng lúc, cuộc tranh luận về Tổng thu nhập quốc nội (GNI) cũng đang ngày càng nóng lên. Mặc dù chỉ số này chia sẻ những yếu tố nền tảng với chỉ số GDP, GNI phù hợp hơn với kỷ nguyên toàn cầu hóa của chúng ta, bởi nó tính tới các thu nhập được tạo ra bởi những công ty nước ngoài và công dân nước ngoài. Theo đó, trong một quốc gia nơi các công ty nước ngoài sở hữu một phần lớn các tài sản sản xuất và các tài sản khác, GDP sẽ bị thổi phồng lên, trong khi GNI chỉ thể hiện phần thu nhập mà nước này thực sự giữ lại (xem biểu đồ).

Ireland là một ví dụ điển hình về việc GNI đã được sử dụng như thế nào để điều chỉnh cho những sai lệch trong tính toán của GDP. Năm 2015, GDP theo báo cáo của Ireland tăng 26,3% – một con số làm nhiều người tròn mắt. Theo một nghiên cứu của OECD năm 2016, sự kiện này đã làm dấy lên những câu hỏi nghiêm túc về “năng lực của khung khái niệm kế toán dùng để định nghĩa GDP nhằm phản ánh đầy đủ hiện trạng của nền kinh tế.”

Báo cáo của OECD từ đó kết luận rằng GDP không phải là một chỉ dẫn đáng tin cậy về sự thịnh vượng vật chất của một quốc gia. Trong trường hợp của Ireland, sự tăng trưởng GDP đáng kinh ngạc trong một năm đó là bởi nhiều công ty đa quốc gia “dịch chuyển” một số quyền lợi kinh tế – ví dụ như lợi nhuận từ quyền sở hữu trí tuệ – trong toàn hệ thống kế toán của họ. Để giải quyết sự khác biệt ngày càng lớn giữa phát triển kinh tế thực sự và GDP được báo cáo, Tổng cục thống kê Ireland đã giới thiệu một phiên bản điều chỉnh của GNI được gọi là GNI* vào năm 2016.

Khoảng cách giữa GDP và GNI cũng sẽ sớm được thu hẹp ở những quốc gia khác. Trong một bài nghiên cứu gần đây, Urooj Khan đến từ Trường Kinh doanh Columbia, Suresh Nallareddy đến từ Đại học Duke và Ethan Rouen đến từ Trường Kinh doanh Havard đã nêu bật lên một sự không thống nhất giữa “tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế Hoa Kỳ” từ năm 1975 đến 2013. Họ phát hiện ra rằng trong thời kỳ đó, tăng trưởng trung bình của lợi nhuận doanh nghiệp sẽ vượt xa tăng trưởng GDP mỗi khi tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp trong nước cao hơn tỷ lệ này của các nước trong khối OECD.

Vào cuối tháng 12 vừa qua, sự không nhất quán này được giải quyết bằng việc Quốc hội thông qua Đạo luật cắt giảm thuế và việc làm 2017. Bằng việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp xuống mức cạnh tranh toàn cầu và đưa ra nhiều điều khoản tốt hơn cho việc đem lợi nhuận quay về nước, gói cải cách thuế này được kỳ vọng sẽ giúp đem lợi nhuận của doanh nghiệp ở nước ngoài quay về Hoa Kỳ. Kết quả là, sự khác biệt giữa GDP và GNI sẽ nhiều khả năng được thu hẹp cả ở Hoa Kỳ và Ireland, nơi nhiều doanh nghiệp Hoa Kỳ lớn đã và đang cất giữ tiền mặt.

Nhìn về tương lai, tôi cho rằng các nhà làm chính sách nên tập trung vào 3 điểm. Đầu tiên, như đã kể trên, các nhóm có liên quan đã và đang giải quyết một vài điểm yếu của GDP, vốn là một điều rất đáng khích lệ. Thứ hai, những người đưa ra quyết định trong khu vực công và tư nhân giờ đây có rất nhiều công cụ để đánh giá tốt hơn các ảnh hưởng phức tạp về mặt xã hội và môi trường mà những hành động của họ gây ra.

Và, thứ ba, trong kinh doanh, không nhất thiết cứ phải thật hoàn hảo. Chúng ta vẫn chưa giải quyết hết tất cả các vấn đề liên quan tới GDP, nhưng chúng ta đã tiến rất xa trên con đường giảm thiểu những điểm gây sai lệch của chỉ số này. Thay vì tìm kiếm một khuôn khổ khái niệm mới, mang tính đột phá để thay thế các kỹ thuật phân tích và dữ liệu hiện tại, chúng ta nên tập trung vào việc tạo ra những thay đổi thấu đáo và dần dần nhằm điều chỉnh hệ thống chỉ số GDP hiện hữu.

Urs Rohner hiện là Chủ tịch hội đồng quản trị Credit Suisse.

———————&&&——————–

Các mô hình kinh tế có thật sự trung tính về mặt ý thức hệ không?

Các mô hình kinh tế có thật sự trung tính về mặt ý thức hệ không?

(Tác giả: Bernard Guerrien – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Tóm tắt

Những mô hình kinh tế, kể cả các mô hình sử dụng toán học không thể thoát khỏi hệ tư tưởng – những tin tưởng tiên nghiệm của các tác giả của chúng. Điều này không có gì là sai trái, trừ phi một số những mô hình này được trình bày, dù có ý thức hay không, một cách sai lạc để biện minh cho những tin tưởng ấy. Như thế hệ tư tưởng lấn át lí trí. Nhiều thời gian và năng lượng đã bị phung phí trong việc thiết kế các mô hình trên, vốn là nguồn gốc của những lẫn lộn hơn là của sự tiến bộ của tri thức.

Dẫn nhập

Hệ tư tưởng thường được hiểu như một tập những tin tưởng tiên nghiệm mà một người rất gắn bó. Không thể tránh được kiểu tin tưởng này trong kinh tế học, khi mà hiếm khi việc thí nghiệm cho phép phân định giữa các lí thuyết lấy cảm hứng từ những tin tưởng trên. Chẳng hạn, trào lưu gọi là trào lưu “Áo” tin chắc rằng hệ thống các thị trường là điều tốt nhất mà nhân loại đã tìm ra để giải quyết các vấn đề có tính vật chất, trong khi đối với các nhà marxist hệ thống này tất sẽ biến mất để nhường chỗ cho một hệ thống công bằng và hiệu quả hơn. Những tin tưởng tiên nghiệm trên khiến “các nhà kinh tế Áo” và các nhà kinh tế marxist bác bỏ các mô hình. Đối với các tác giả đầu đó là vì chúng mang mầm mống của sự can thiệp tất nhiên là tai hại của Nhà nước và đối với các tác giả sau vì họ đấu tranh cho sự tiêu vong của chủ nghĩa tư bản chứ không phải để thiết kế các mô hình nhằm sửa sai nó.

Do đó những nhà kinh tế xây dựng các mô hình không thừa nhận những tin tưởng tiên nghiệm của các nhà kinh tế “Áo” hay của các nhà kinh tế marxit. Hơn nữa, họ còn có xu hướng nghĩ rằng việc sử dụng toán học khiến họ miễn nhiễm với hệ tư tưởng – một điều sai lầm mà việc nghiên cứu hai loại mô hình lớn trong kinh tế học, vi mô lẫn vĩ mô, sẽ cho thấy.

Về hệ tư tưởng trong kinh tế học vi mô

Kinh tế học vi mô truyền thống (hay “lí thuyết tân cổ điển”) được xây dựng xung quanh mô hình cân bằng chung, một mô hình cung cấp một biểu trưng những quan hệ hàng hoá giữa các hộ gia đình và các doanh nghiệp. Lúc nguyên thuỷ, có một quyết tâm cung cấp một cơ sở duy lí cho sự tin tưởng rằng những cuộc trao đổi bị chi phối bởi “qui luật cung cầu” sẽ dẫn đến một cân bằng – trạng thái mà mỗi người có thể hoàn thành các mục tiêu của mình (tối đa hoá sự thoả mãn hay lợi nhuận, tuỳ trường hợp), có tính đến những nguồn lực mình có được. Vào cuối thế kỉ XIX khi các lí thuyết gia lần đầu tiên hình thức hoá mô hình cân bằng chung giả định là các thị trường tự tổ chức bằng cách ấn định một giá duy nhất cho mỗi sản phẩm, trên cơ sở đó các tác nhân phát biểu những cung và cầu của mình[1]. Như vậy, nếu những cung và cầu này chỉ phụ thuộc vào giá cả thì có thể thể hiện chúng bằng những biểu tượng toán học đơn giản – ví dụ, oi(P) và di(P) cho cá thể i ở những giá P. Khi giá cả là sao cho tổng những cung cá thể của mỗi sản phẩm bằng với tổng những cầu cá thể của mỗi sản phẩm thì ta nói rằng có sự cân bằng. Do đó về mặt toán học, các giá cân bằng là nghiệm của một hệ thống n phương trình, một phương trình cho mỗi sản phẩm, với n ẩn số (giá của sản phẩm).

Để chứng minh được là một hệ thống như thế có ít nhất một nghiệm không âm, các lí thuyết gia tân cổ điển buộc phải giả định một dạng rất đặc biệt các cuộc trao đổi là “cạnh tranh hoàn hảo”, trong đó có “ai đó” hay “cái gì đó” :

  1. Đề xuất những giá mà trên cơ sở đó những cung và cầu được hình thành
  2. So sánh cho mỗi sản phẩm tổng của những cung và cầu
  3. Trên cơ sở này tìm kiếm cân bằng bằng cách thay đổi giá cả và vừa phải ngăn cản những giao dịch diễn ra trực tiếp giữa các tác nhân.

Hình thức tổ chức này – mà các nhà kinh tế vi mô hầu như không bao giờ làm rõ[2] – là của một hệ thống cực kì tập trung.

Một cách nghịch lí, khi tìm cách chứng minh rằng hệ thống những “thị trường tự do và phi tập trung” phân bổ một cách hiệu quả các nguồn lực, ta đạt đến một kết luận trái ngược : duy chỉ một hệ thống tập trung – dưới sự dẫn dắt của một người tốt bụng được gọi là “thư kí thị trường”, “đấu thủ-thị trường” hay “người xướng giá” – mới cho phép đạt dược kết quả này.

Lí trí muốn rằng phải vứt bỏ đi mô hình cạnh tranh hoàn hảo vì nó không liên quan gì đến thế giới mà nó có tham vọng biểu trưng, nhưng điều này sẽ đi ngược lại niềm tin đã ăn sâu trong đa số các nhà kinh tế. Do đó, đặc biệt trong các sách giáo khoa nhập môn, có một sự trình bày những mô hình của mô hình cạnh tranh hoàn hảo đủ mơ hồ như thể để hàm ý rằng các giả thiết này tương thích với niềm tin ấy, ít ra là trong trường hợp “hoàn hảo”. Thay vì liệt kê các giả thiết này, các sách giáo khoa tự bằng lòng với việc nêu lên những “điều kiện” mập mờ (“tính nguyên tử”, “sự minh bạch”, “tính đồng nhất” hay “tự do gia nhập”) mà mỗi người có thể kiến giải theo cách của mình và để trong bóng tối đặc tính chính của mô hình : một tổ chức cực kì tập trung các cuộc trao đổi (Guerrien, 2015a).

Đã từ lâu các nhà kinh tế tân cổ điển tìm cách tự bảo vệ chống lại những phê phán gieo sự nghi ngờ đối với một số giả thiết của mô hình của họ. Như vậy, họ đã đề xuất lập luận như thể: nếu chúng ta làm như thể các giả thiết là xác đáng, cho dù hiển nhiên chúng không như thế, và chỉ quan tâm đến những tiên đoán rút ra từ đó. Nếu các tiên đoán này được xác thực, thì có thể xem rằng các mô hình là có hiệu lực (không bị bác bỏ). Cách quan niệm kì lạ này về quan hệ giữa lí thuyết và thực tế không đủ để cứu vãn mô hình cạnh tranh hoàn hảo vì những nhà kinh tế toán học xem xét nó đã đi đến kết luận là mô hình này không thể cung cấp những tiên đoán – hay đúng hơn, theo các tác giả của cuốn sách giáo khoa uy tín nhất về kinh tế học vi mô thì “bất kì điều gì đều có thể xảy ra” (anything goes) (Mass-Colell et alii, trang 698)[3]. Đặc biệt điều này có nghĩa rằng không gì đảm bảo hiệu lực của “quy luật cung cầu”[4], đến độ là không còn lí do để một cân bằng nổi lên và để cho cân bằng này là cân bằng duy nhất. Nói chung, trong trường hợp “hoàn hảo”, “không có ma sát”, hệ thống là không ổn định, chuyển động liên tục, theo chu kì hay một cách hỗn độn, không bao giờ đạt tới trạng thái ngưng nghỉ đặc trưng cho một cân bằng (Besnicourt và Guerrien, 2008, trang 74 và tiếp sau).

Kết quả này, được biết dưới tên định lí Sonnenchein, được xác lập trong những năm 1970. Nó đáng lẽ ra phải khiến những ai bảo vệ lập luận như thể bác bỏ mô hình cạnh tranh hoàn hảo. Hoàn toàn không, một lần nữa hệ tư tưởng đã chiến thắng lí tính.

Về những “ứng dụng” của kinh tế học vi mô

Trong các sách giáo khoa kinh tế vi mô, đặc biệt là các sách tự nhận là “sơ đẳng”, thường ta có thể thấy những cái gọi là “ví dụ bằng số” có thể tạo cảm giác rằng kinh tế học vi mô được “ứng dụng” trong thực tế. Nói chung các ví dụ này là thuần tuý tưởng tượng, một điều không mấy ngạc nhiên cho trường hợp của cạnh tranh hoàn hảo mà thế giới của nó hoàn toàn không liên quan gì đến thế giới chúng ta. Để trở về với thế giới của chúng ta thì ít ra phải thừa nhận là có những tác nhân – ví dụ, các doanh nghiệp – đề nghị giá cả. Như vậy các mô hình phải đưa vào cung hoặc cầu mà các tác nhân này dự kiến ở những giá có thể, có tính đến những phản ứng khả dĩ của những tác nhân khác trong nền kinh tế. Cách tiếp cận bằng khái niệm cân bằng chung trở thành quá phức tạp nên các nhà kinh tế vi mô tự giới hạn ở các mô hình cân bằng bộ phận xử lí chỉ một sản phẩm duy nhất (độc quyền, độc quyền vài người, cạnh tranh độc quyền) hay chỉ những quan hệ song phương (cách tiếp cận bằng hợp đồng với thông tin không đối xứng) giữa những ứng viên trong trao đổi (ví dụ, người sử dụng lao động và người lao động). Như vậy lí thuyết hiện ra như một danh sách dài không có điểm kết thúc những mô hình “nhỏ” mà các “lời giải” (cân bằng) là cực kì nhạy cảm với các giả thiết về thông tin các tác nhân có được và về phản ứng của các tác nhân khác. Tuy nhiên, điểm chung của tất cả các lời giải này là phân bổ không hiệu quả các nguồn lực, trái với trường hợp của cân bằng cạnh tranh hoàn hảo. Do đó tầm quan trọng của cân bằng cạnh tranh này, được trình bày như một lí tưởng không với tới được nhưng vẫn phải tìm cách tiệm cận. Đây là một điều vô nghĩa vì không ai thật sự nghĩ đến việc chấp nhận, dù chỉ một phần, hình thái tổ chức vô cùng tập trung mà mô hình cạnh tranh hoàn hảo, trong các giả thiết “toán học” của nó, đòi hỏi. Do đó sự hiểu lầm chung quanh các giả thiết này – chỉ giải thích được bằng những lí do ý thức hệ – là cội nguồn không đổi của những lẫn lộn. Trái lại, ta có thể nhận xét là không có bất kì dấu vết nào của các mô hình này, hay ngay cả của kinh tế học vi mô nói chung, trong cả ngàn nguồn tham chiếu trong tập Encyclopédie de gestion của Simon và Joffre, một tác phẩm trước hết dành cho những nhà thực hành.

Noah Smith

Trong một bài viết gần đây, Noah Smith, một trong những nhà kinh tế viết blog rất nổi, điểm qua những “thành công” của kinh tế học vi mô, được ông ấy đối lập với những thất vọng đối với kinh tế học vĩ mô vốn bị mất uy tín do đã không thấy trước cuộc khủng hoảng năm 2008 (Smith, 2014a). Kết quả của bản tổng kết này là hơi khiêm tốn và nhất là không liên quan gì nhiều đến những gì ta thấy trong các sách giáo khoa kinh tế vi mô. Ví dụ được Noah Smith yêu thích là ví dụ về một mô hình đã dự đoán đúng đắn – vào năm 1972 ! – số lượng hành khách có khả năng sử dụng một tuyến đường xe hoả mới ở San Francisco. Mô hình được xây dựng với một tí tâm lí học sơ đẳng, các cuộc điều tra về chi phí, thực tế và theo cảm nhận, của những phương tiện vận chuyển khác nhau và vài kĩ thuật thống kê cổ điển về xử lí dữ liệu. Ta ở cách xa những điểm tinh tế của lí thuyết với những tác nhân “nhận giá” (price taker – ND) vì trong mô hình này chủ đầu tư là Nhà nước, một tác nhân rất đặc biệt.[5] Những ví dụ khác được Noah Smith nêu lên thuộc về lí thuyết mechanism design (thiết kế cơ chế), thuật ngữ để chỉ cách tổ chức “tốt nhất” một số kiểu trao đổi : đấu giá trong trường hợp thương mại hay kết đôi các cá nhân (ứng viên hôn nhân, hiến tạng giữa những cá nhân có nội tạng tương thích, tuyển dụng bác sĩ nội trú trong các bệnh viện, …) trong trường hợp phi thương mại. Cách tiếp cận này rõ ràng có tính chuẩn tắc và thuộc về lĩnh vực kế hoạch hoá hơn là “thị trường tự do”, một điều không mấy ngạc nhiên khi nghĩ đến tính nước đôi của kinh tế học vi mô.

Về hệ tư tưởng trong kinh tế học vĩ mô

John M. Keynes (1883-1946)

Nhà nước, tác nhân thiết yếu của nền kinh tế, không thể tự bằng lòng với những trò chơi toán học nhỏ trong cạnh tranh hoàn hảo của các nhà kinh tế. Nhà nước yêu cầu họ phải cung cấp những công cụ để hỗ trợ cho chính sách kinh tế của mình. Đó là vai trò của kinh tế học vĩ mô vốn ngay tức thì theo một quan điểm tổng thể khi quan tâm đến những quan hệ giữa các đại lượng tổng gộp như sản xuất, tiêu dùng, đầu tư. Lấy cảm hứng trước tiên từ Keynes, các mô hình kinh tế vĩ mô đầu tiên được hợp thành từ một số nhỏ quan hệ thực nghiệm – hay mong muốn được như thế – giữa các đại lượng tổng gộp mà nổi tiếng nhất là quan hệ giữa tiêu dùng và thu nhập được Keynes gọi là “quy luật tâm lí”. Thêm vào các quan hệ này còn có những đẳng thức kế toán, kết quả của chính ngay định nghĩa của các đại lượng tổng gộp và thể hiện những sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các khu vực của nền kinh tế.

Nhưng sự đồng thuận được xây dựng sau cơn Đại suy thoái trên cơ sở của các mô hình này chỉ kéo dài một thời gian. Khi kí ức về cuộc khủng hoảng những năm 1930 phai dần thì những chia cắt có tính ý thức hệ lại nổi lên ngay trong nội bộ của trào lưu thống trị giữa, một mặt, “những ai tin tuyệt đối (hay gần như tuyệt đối) vào thị trường” và, mặt khác, “những ai tin vào thị trường với một số dè dặt”. Đối với những tác giả đầu, phải giới hạn sự can thiệp của Nhà nước ở mức tối thiểu trong khi đối những tác giả sau thì sự can thiệp này là cần thiết trong một số tình huống, mà vả lại còn biến đổi theo từng tác giả một (Guerrien, 2015, b).

Những mô hình “keynesian” của thời hậu chiến, mang dấu ấn của cuộc khủng hoảng những năm 1930, trước tiên đã bị các nhà “trọng tiền” – vốn trách chúng là đã không dự báo lạm phát trong những năm 1960 – đặt thành vấn đề rồi nhất là các nhà “cổ điển mới”[6] mà đối với họ sự thiếu vắng những “cơ sở kinh tế vi mô” của các mô hình này là nguồn gốc của những những điều không nhất quán. Lí thuyết cân bằng chung đã có thể là lí thuyết duy nhất có thể tránh được những điều này nhưng nó vấp phải chướng ngại không thể vượt qua là định lí Sonnenschein, theo đó “bất kì điều gì đều có thể xảy ra”. Tuy nhiên các nhà “cổ điển mới” không biết đến chướng ngại này khi chọn một trong những giả thiết đáng kinh ngạc nhất : họ giả định rằng diễn tiến đã qua của nền kinh tế của một nước là kết quả của sự lựa chọn của một tác nhân tối đa hoá sự thoả mãn bản thân bằng cách quyết định ngày hôm nay việc phân chia sản xuất của mình giữa tiêu dùng và đầu tư (và phân chia thời gian giữa thời gian lao động và thời gian nhàn rỗi), đồng thời dự đoán đúng đắn tương lai, li lai một vài ngẫu nhiên – những dự kiến của tác nhân này là những “dự kiến duy lí”. Đây được gọi là giả thiết về “tác nhân tiêu biểu”.

Alan Kirman (1939-)
Robert Solow (1924-)

Vài tiếng nói uy tín ngay trong chính trào lưu thống trị, trong đó có Alan Kirman (1992) và Robert Solow (2008), đã tìm cách lưu ý đến tính phi lí của giả thiết trên mà không có ai đáp trả họ, vì không có lập luận[7] (Hartley, 1997). Các tiếng nói trên đặc biệt nhấn mạnh đến việc là chung quy giả thiết này trục xuất ra khỏi kinh tế học vĩ mô vấn đề trung tâm của tính tương thích của các quyết định được lấy bởi những tác nhân có những quyền lợi (phần nào đối lập nhau) và những tin tưởng khác nhau về tương lai. Như vậy, không có lí do gì để tổng số tiền các hộ gia đình quyết định tiết kiệm trùng khớp với tổng số tiền các doanh nghiệp dành cho đầu tư, trừ phi chỉ có một tác nhân duy nhất mà theo định nghĩa đầu tư hết tất cả những gì mình tiết kiệm.

Các phê phán trên – không được đáp trả – đã không ngăn cản ý tưởng tác nhân tiêu biểu nhanh chóng thắng thế và hầu như không gặp sự kháng cự trong giới hàn lâm, điều này gây lúng túng cho những ai ngoài giới. Điều này dường như là trường hợp của các nhà thực hành làm việc trong các cơ quan và ngân hàng trung ương, vốn tiếp tục công việc của họ với những mô hình “theo kiểu cũ”, mặc dù có những mệnh lệnh và chế giễu đến từ giới đại học (Smith, 2014b).

Vả lại hai kiểu mô hình tiếp tục sống chung sau cuộc khủng hoảng năm 2008. Các mô hình đi theo hướng do các nhà “cổ điển mới” mở ra – nay được gọi là “mô hình keynessian mới” – dần dần được thay đổi nhằm áp đặt cho tác nhân tiêu biểu những chướng ngại khác nhau (về mặt pháp lí, hành chinh, kĩ thuật). Những điều “không hoàn hảo” này ngăn cản việc hoàn thành trường hợp “hoàn hảo” và biện minh cho sự can thiệp của Nhà nước, cho dù để làm dịu bớt những hiệu ứng của các bất hoàn hảo (do chính sách của Nhà nước gây nên) hay để loại bỏ chúng (bằng những “cải cách cấu trúc”). Các mô hình có vẻ “thực tế” hơn, nhưng tính phi lí nằm ở nền tảng của chúng – tác nhân tiêu biểu – vẫn tồn tại.

Hệ tư tưởng và chính sách kinh tế

Những mô hình của kinh tế học vĩ mô được xem là giúp những ai cai trị chúng ta lựa chọn chính sách kinh tế. Đối với họ, việc có sẵn nhiều loại mô hình – đặt cơ sở trên những giả thiết khác nhau, thậm chí đối lập nhau – không nhất thiết là một điều bất tiện ; họ có thể chọn trong số này mô hình nào thích hợp nhất với đề án chính trị (hay hệ tư tưởng) của họ và cung cấp được một “đảm bảo khoa học”. Tuy nhiên họ biết giảm bớt tham vọng khi phải lấy những quyết định ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế. Chẳng hạn, khi nền kinh tế thế giới có nguy cơ sụp đổ, ta thấy đột ngột nổi lên một đồng thuận của tất cả những người ra quyết định – các chính phủ và ngân hàng trung ương – về sự cần thiết của sự can thiệp nhanh chóng và mạnh mẽ của các Nhà nước để cứu khu vực ngân hàng và tránh sự sụp đổ dây chuyền của cả những mảng của nền kinh tế thế giới. Lí lẽ thông thường, hay bản năng sinh tồn, đã (tạm thời) lấn át những chia rẻ ý thức hệ, mặc dù có ảnh hưởng, đặc biệt trong các đại học, của trào lưu tự do cực đoan chống đối mọi sự can thiệp.

Hệ tư tưởng và lí tính

Nếu những lí thuyết kinh tế không thể thoát khỏi hệ tư tưởng thì điều này không có nghĩa là chúng thuộc về lĩnh vực phi lí trí. Có thể nêu lên nhiều sự kiện và luận chứng để biện minh cho niềm tin vào vai trò tự điều tiết của các thị trường hay để biện minh cho điều ngược lại. Nhiều lắm là chỉ có thể hi vọng là lí tính và kinh nghiệm một ngày nào đó sẽ cho phép quyết định dứt điểm giữa những niềm tin khác nhau nằm bên dưới các mô hình kinh tế. Trái lại hệ tư tưởng làm đầu óc lạc lối khi nó dẫn đến việc trình bày một cách sai lầm một số các mô hình này, như đó là trường hợp của mô hình cạnh tranh hoàn hảo khi đưa ra một phiên bản lí tưởng hoá của các nền kinh tế phi tập trung, hay của mô hình tác nhân tiêu biểu khi được coi là “cân bằng chung”. Chính niềm tin ăn sâu cho rằng sự vận động tự do của cung và cầu chỉ có thể dẫn đến, chí là trong trường hợp “hoàn hảo”, sự phân bổ các nguồn lực là cội nguồn của một dạng mù quáng đáng kinh ngạc của những người tự nhận, chắc chắn là một cách thành thật, theo phương pháp khoa học. Như vậy, hệ tư tưởng sẽ lấn át lí tính, vả lại đây là điều mà sinh viên kinh tế học cảm nhận một cách ít nhiều rõ ràng, như những cuộc phản đối có tính lặp lại của một bộ phận trong giới này chống lại những điều mà sinh viên được giảng dạy đã chứng minh – một hiện tượng khiến ta phải suy nghĩ và không hề có trong bất kì bộ môn nào khác.

Thư mục

Bénicourt E. và Guerrien B. (2008), La théorie néoclassique, La Découverte, Paris

Boudon R. (1986), L’idéologie, Paris

Guerrien (2015a), “Qu’est-ce que la concurrence parfaite”,

Guerrien (2015b), “Une brève histoire de la macroéconomie et les leVons qu’on peut en tirer

Guerrien (2015c), “Robinson, Maupertius et la nouvelle macroéconomie”,

Hartley J. (1997), The Representative Agent in Macroeconomics, Routledge, London

Kirman A. (1992), “Whom and What Does the Representative Individual Represent?”, Journal of Economic Perspectives, 6(2), 117-136

Simon Y. và Joffre P. (1997), Encyclopédie de gestion, Economica, Paris

Solow R. (2008), “The State of Macroeconomics: A Comment”, Journal of Economic Perspectives, 22(1), 243-249

Smith N. (2014a), “Here’s What Economics Gets Right”, bloomberg, 31 December, 2014

Smith N. (2014b), “The Foxy Fed”, blog noahpinion, April 01, 2014

 Nguyễn Đôn Phước dịch

Nguồn“Les modèles économiques sont-ils vraiment idéologiquement neutres?”Regards croisés sur l’économie, 2019/1 (n0 18)

[1] Stanley Jevons giả định sự tồn tại của những “thực thể buôn bán” và một quy luật “giá duy nhất” trong lúc Walras nói đến những “giá được rao” và gợi ý một “người tính toán” xác định giá các cân bằng (Guerrien, 2015a).
[2] ở đây làm ta liên tưởng đến những “giả thiết vô hình” của Raymond Boudon (1986).
[3] Ví dụ, cầu một sản phẩm không nhất thiết giảm cùng với giá của nó, ngược lại với những gì ta có thể nghĩ. Cũng không gì bảo đảm là giá cả hội tụ về cân bằng.
[4] Đặc biệt luật cầu có thể được kiểm chứng là đúng hay không, nghĩa là hàm di có thể là một hàm tăng hay một hàm giảm.
[5] Tác giả của mô hình, Daniel McFadden, tỏ ra dè dặt hơn Noah Smith. Vả lại có thể tự hỏi phải chăng kết quả của năm 1972 phần lớn có được là do ngẫu nhiên.
[6] Họ chọn tên như thế để quy chiếu về các nhà “cổ điển” từng bị Keynes công kích kịch liệt.
[7] Ngay cả không ai dám lập luận kiểu như thể, do sự đánh lừa quá hiển nhiên không có sức thuyết phục.

————————&&&———————-