Bộ ba bất khả thi là gì?

Bộ ba bất khả thi

(Nguồn: https://vi.wikipedia.org)

Bộ ba bất khả thi

Theo lý thuyết bộ ba bất khả thi, ba chính sách gồm tự do dòng vốn (free capital flow), tỷ giá hối đoái cố định (fixed exchange rate) và chính sách tiền tệ độc lập (sovereign monetary policy) không thể thực hiện được đồng thời.

 

Trong kinh tế học, bộ ba bất khả thi (còn gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời hoặc tam nan kinh tế, tiếng Anh: impossible trinity) chỉ một giả thuyết kinh tế cho rằng không thể thực hiện đồng thời ba chính sách gồm chế độ tỷ giá hối đoái cố định, chính sách tiền tệ độc lập để ổn định giá cả và tự dolưu chuyển vốn. Chỉ có thể thực hiện đồng thời hai trong ba chính sách này mà thôi. Thuật ngữ này còn dùng để chỉ tình thế kinh tế dễ đổ vỡ khi mà một quốc gia cố tình thi hành ba chính sách trên cùng lúc.

Các lý luận kinh tế như sơ đồ DD-AA hay mô hình Mundell-Fleming đều chỉ ra quan hệ giữa chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái với giả định là vốn được tự do lưu chuyển qua biên giới quốc gia. Khi ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng thì tỷ giá hối đoái sẽ tăng lên, khi thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt thì tỷ giá giảm đi. Như thế, nếu thực hiện một chế độ tỷ giá cố định, thì chính sách tiền tệ không thể thay đổi linh hoạt được.

Giả sử một nước cố gắng thực hiện cả ba chính sách trên đồng thời. Khi kinh tế tăng trưởng nhanh, vốn nước ngoài sẽ chảy vào trong nước gây ra áp lực tăng giá nội tệ. Khi đó, ngân hàng trung ương muốn bảo vệ chế độ tỷ giá cố định thì phải thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng. Song điều này có thể làm tăng lượng cung tiền trong lưu thông dẫn đến tăng tốc lạm phát. Muốn lạm phát không tăng tốc, thì phải thực hiện chính sách thanh khoản đối ứng. Song như thế thì vốn nước ngoài càng chảy vào nhiều.

Đầu thập niên 1990, một số nước châu Á đã cố gắng thực hiện đồng thời ba chính sách và hậu quả là rơi vào khủng hoảng.

Ở các quốc gia khác nhau, bộ ba bất khả thi sẽ được thể hiện dưới dạng thức cụ thể khác nhau nhưng về bản chất là không thay đổi như sau:

  1. Tỷ giá thể hiện ở: dự trữ ngoại tệ, cán cân thanh toán…
  2. Tự do lưu chuyển vốn được thể hiện ở: tăng trưởng GDP, đầu tư nước ngoài, nhập siêu, tài khóa ngân sách công, nợ nước ngoài…
  3. Chính sách tiền tệ độc lập thể hiện ở: lạm phát, lãi suất,…

Bộ đôi

Với sự tăng trưởng hàng hóa và dịch vụ và nhịp độ đổi mới tài chính nhanh như hiện nay, các kiểm soát đối với vốn thường sẽ bị qua mặt. Hơn nữa, việc kiểm soát dòng vốn cũng gây ra vô số méo mó trong thị trường. Trên thế giới thực tế hiện chỉ có một số rất ít quốc gia quan trọng sở hữu một hệ thống kiểm soát dòng vốn có hiệu quả. Lý thuyết bộ ba bất khả thi trong tình trạng thiếu kiểm soát hiệu quả đối với dòng vốn hàm ý rằng một quốc gia phải lựa chọn thực thi một trong hai chính sách: ổn định đồng tiền hoặc duy trì ổn định chính sách tiền tệ.

“Điểm mấu chốt là bạn không thể có tất cả được: một quốc gia phải chọn hai trong ba. Họ có thể cố định tỷ giá hối đoái mà không làm yếu ngân hàng trung ương nhưng chỉ làm được khi nào duy trì kiểm soát dòng vốn (như Trung Quốc hiện nay); họ cũng có thể để vốn lưu chuyển tự do song phải giữ được chính sách tiền tệ độc lập, nhưng chỉ có thể làm được nếu để tỷ giá hối đoái biến động (như Anh Quốc hoặc Canada); hoặc quốc gia đó cũng có thể chọn cách để vốn lưu chuyển tự do và ổn định tiền tệ, song chỉ làm được nếu từ bỏ khả năng điều chỉnh lãi suất để đối phó lạm phát hoặc suy thoái (như Argentina hiện nay).”[1]

— Paul Krugman, 1999


Đây là bộ ba khiến nhiều nước lao đao

(Nguồn: http://cafef.vn)

Một quốc gia buộc phải chọn lựa giữa dòng vốn có thể tự do di chuyển, tỷ giá nằm trong tầm tay quản lý và một chính sách tiền tệ độc lập. Ba điều này không thể xảy ra cùng một lúc mà chỉ có 2 điều có thể đi đôi với nhau.

Trước khi đồng tiền chung châu Âu euro ra đời năm 1999, các thành viên đã neo đồng nội tệ của mình vào đồng mark Đức. Kết quả là họ buộc phải nương vào chính sách tiền tệ của NHTW Đức để điều chỉnh chính sách của riêng mình. Một số nước dễ dàng làm được điều này bởi vì có các ngành kinh tế gắn bó chặt chẽ với Đức và như vậy mối quan hệ giữa hai bên là “nước nổi thuyền nổi’.

Tuy nhiên, có một số nước không thể duy trì chính sách tiền tệ như vậy. Năm 1992, Anh buộc phải “nhổ neo” vì nền kinh tế Anh đang rơi vào suy thoái trong khi kinh tế Đức bùng nổ.

Ngày nay, đồng nhân dân tệ của Trung Quốc cũng đang ở trong thế tiến thoái lưỡng nan. Trung Quốc muốn mở cửa hoàn toàn cán cân vốn để tạo ra một hệ thống tài chính hiện đại trong đó các lực đẩy của thị trường đóng vai trò quyết định thay vì mệnh lệnh của NHTW. Mùa hè năm ngoái, Trung Quốc đã có những bước đi nhỏ trên hành trình này. Tuy nhiên, thả nổi tỷ giá trong thời buổi kinh tế trì trệ không phải là một ý hay, làm dấy lên nỗi lo đồng nhân dân tệ sẽ rớt giá thảm hại. Sau cú sốc mùa hè năm ngoái, Trung Quốc lại thắt chặt kiểm soát dòng chảy của vốn.

Tình huống mà Anh và Trung Quốc gặp phải chính là hệ quả của bộ ba chính sách không thể đồng hành cùng nhau trong điều hành kinh tế vĩ mô, hay còn gọi là bộ ba bất khả thi. Theo đó, một quốc gia buộc phải chọn lựa giữa dòng vốn có thể tự do di chuyển, tỷ giá nằm trong tầm tay quản lý và một chính sách tiền tệ độc lập. Ba điều này không thể xảy ra cùng một lúc mà chỉ có 2 điều có thể đi đôi với nhau.

Ví dụ, một quốc gia muốn cố định tỷ giá và cũng muốn lãi suất không bị môi trường bên ngoài tác động thì sẽ phải kiểm soát dòng chảy vào và ra của vốn. Đó chính là bộ ba bất khả thi trong trường hợp của Trung Quốc. Trong trường hợp của Anh, nếu tỷ giá cố định nhưng vốn được tự do di chuyển, quốc gia đó không thể có chính sách tiền tệ độc lập. Và nếu một quốc gia chọn dòng vốn tự do nhưng cũng muốn tự chủ về chính sách tiền tệ, họ phải thả nổi đồng nội tệ. Đây cũng là mô hình được nhiều nước trên thế giới lựa chọn.

Để hiểu sâu hơn về bộ ba bất khả thi, hãy hình dung về một quốc gia có tỷ giá cố định neo vào đồng USD và mở cửa hoàn toàn đối với dòng vốn ngoại. Để giảm lạm phát, NHTW sẽ phải để lãi suất ở mức cao hơn so với lãi suất cơ bản mà Cục dự trữ liên bang Mỹ đưa ra. Vì dòng vốn tự do chảy từ nơi có lãi suất thấp đến nơi có lãi suất cao, dòng vốn sẽ ồ ạt đổ vào đây, gây áp lực tăng giá lên đồng nội tệ. Cuối cùng thì quốc gia đó không thể neo đồng nội tệ vào USD được nữa.

Nhiều nước thuộc nhóm mới nổi cho rằng đồng USD là một cái mỏ neo ổn định và do đó chính sách tỷ giá cố định bám vào đồng USD sẽ đem lại nhiều tác dụng. Đó cũng chính là lý do khiến Anh neo đồng bảng vào đồng D-mark trong những năm 1990. Cái giá phải trả là mất tự do về tiền tệ: phải điều chỉnh lãi suất sao cho vẫn giữ được mức tỷ giá cố định và các nước này cũng không thể điều chỉnh chính sách linh hoạt để ổn định nền kinh tế.

Vì vậy các quốc gia thường được khuyên là nên thả nổi đồng tiền khi muốn duy trì lạm phát ở mức thấp. Khi đó đồng tiền được điều chỉnh theo dòng chảy của vốn, cho phép lãi suất phản ứng tốt nhất với các chu kỳ của nền kinh tế.

Trên thực tế, nhiều nước mới nổi rất lo sợ tỷ giá biến động quá mạnh, do vậy họ chọn cách hi sinh dòng vốn (bằng cách kiểm soát chặt cán cân vốn hoặc tăng giảm dự trữ ngoại hối) hoặc hi sinh chính sách tiền tệ (bằng cách đặt yếu tố ổn định tỷ giá lên hàng đầu).

Trung Quốc muốn cuối cùng thì cán cân vốn sẽ tự do hoàn toàn, đánh dấu một cột mốc quan trọng trên con đường tiến tới một hệ thống tài chính hiện tại. Để làm được như vậy, Trung Quốc sẽ phải chung sống với đồng nhân dân tệ tăng giảm thất thường theo các lực đẩy của thị trường. Đạt được cả ba là không thể, nhưng 2/3 cũng không phải là một điều tồi tệ quá sức chịu đựng.

Thu Hương

Theo Trí thức trẻ/Economist

————-&&&————-

Khi cú hích đi quá xa và quá mạnh – Chủ nghĩa gia trưởng và cạm bẫy của kinh tế học hành vi

Khi cú hích đi quá xa và quá mạnh – Chủ nghĩa gia trưởng và cạm bẫy của kinh tế học hành vi

(Tác giả: Phillip L. Swagel – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Ở thủ đô Washington, luật sư có thể rất uy quyền, thế nhưng chính những nhà kinh tế học mới là người thúc đẩy quá trình hoạch định chính sách. Vào tháng 7 năm 2009, Douglas Elmendorf, nhà kinh tế học đứng đầu Ủy ban Ngân sách Quốc hội [Hoa Kỳ] đã suýt nữa chặn đứng Đạo luật bảo vệ bệnh nhân và chăm sóc y tế giá phải chăng[Affordable Care Act] (tên gọi khác là Obamacare) khi ông công bố rằng, như soạn thảo, dự luật này sẽ không “giảm đáng kể khoản chi cho y tế liên bang” — trái ngược hẳn với những lời khẳng định ban đầu của những kẻ ủng hộ đạo luật này vốn phải vội vã thay đổi dự án luật. Các nhà kinh tế học cũng chi phối giới học thuật hàn lâm nhiều đến nỗi những nhà khoa học xã hội khác gọi kinh tế học là “bộ môn ngạo mạn” (the imperial discipline); [và] chỉ trích xu hướng vượt quá giới hạn cho phép của nó.

Đúng như lời chỉ trích: nhiều nhà kinh tế học tin rằng họ có thể giải thích các hiện tượng chính trị và xã hội tốt hơn các nhà chính trị học hay xã hội học. [Thâm chí] lòng tự tin nơi họ phản ánh niềm tin rằng kinh tế học chặt chẽ hơn về mặt toán học và có căn cứ về mặt lí thuyết hơn các ngành khoa học xã hội khác. Theo những nhà kinh tế học chuyên nghiệp, kinh tế học không chỉ đưa ra các phân tích chi tiết về sự vận hành của xã hội (chẳng hạn như xác định ai là người bị ảnh hưởng bởi một loại thuế cụ thể) mà còn đề ra các khuyến nghị về chính sách mang tính quy phạm (chẳng hạn như xác định mức thuế tối ưu).

Douglas Elmendorf (1961-)
Richard Thaler (1945-)

Ý tưởng cốt lõi của kinh tế học dòng chính (mainstream economics) là tiền giả định con người tối ưu hóa [lợi ích] — rằng họ hành động một cách duy lý khi mua hàng, và mặt khác cũng như khi đưa ra các quyết định mang tính kinh tế, có tính đến sở thích của mình và tiếp nhận những thông tin có sẵn. Tuy nhiên, có thể khẳng định mà không ngại sai lầm rằng không ít giáo sư kinh tế học sau khi thiết lập xong những mô hình lý thuyết như thế đã dừng lại với các khẳng định đại loại như “Trong thực tế, con người không hành động chính xác như vậy”. Trong tác phẩmMisbehaving (tạm dịch: Hành xử lệch chuẩn) của mình, giáo sư Richard Thaler tại trường kinh doanh Booth thuộc đại học Chicago cho rằng cách tiếp cận chuẩn về kinh tế học đang phải chịu một thực tế rằng con người không phải cái mà ông gọi là “Econs”: họ không thể và thậm chí không thể lúc nào cũng tối ưu hóa. Thỉnh thoảng các quyết định tưởng như trong tầm tay kỳ thực lại quá phức tạp để giải quyết theo lý trí; mặt khác, con người cũng cho phép cái mà Thaler gọi là “những nhân tố giả định không phù hợp” ảnh hưởng đến hành vi của họ. Ví dụ, theo lý thuyết một người sẽ có khả năng đi ra ngoài mua một chai rượu mới hoặc uống chai rượu [có sẵn] trong hầm của mình. Suy cho cùng, chai rượu [có sẵn] trong hầm lại có thể đem đi bán, nói cách khác việc tiêu dùng rượu đã bao gồm chi phí ẩn (implicit cost) tương đương với việc mua chai rượu mới. Tuy nhiên, rất ít người nghĩ như thế. Thực tế, cái được gọi là hiệu ứng chu cấp (endowment effect) cho rằng con người đánh giá cao những gì mình có trong tay sẽ ảnh hưởng lên các quyết định trong nhiều tình huống khác nhau, ngay cả khi nó không ảnh hưởng gì đến việc ra quyết định tối ưu.

Con người không phải là “Econs”: không và thậm chí không thể lúc nào họ cũng tối ưu hóa.

Cass Sunstein (1954-)

Trong cuốn sách hấp dẫn và dễ hiểu của mình, Thaler đã giải thích rằng những điều phi lý như thế — không phải là khuyết điểm mà chính là thực tế — có nghĩa rằng, sự hiểu biết của kinh tế học dòng chính của thế giới hiện nay và những chính sách mà những hiểu biết này gợi ý đều có thể quá sai lệch. Ông tìm hiểu các đối chọn về phương pháp tối ưu hóa, đặc biệt kể cả những cách xây dựng các chính sách có thể “hích” con người — để sử dụng lối diễn đạt do Thaler và học giả luật pháp (the legal scholar) Cass Sunstein đại chúng hóa — nhắm đến việc tự đưa ra những quyết định nếu họ cư xử một cách duy lý. Thaler không phải là người duy nhất nói về vấn đề này, rộng hơn ngành khoa học hành vi đã trở thành thời thượng trong giới hoạch định chính sách. Vào năm 2014, chính quyền Obama đã thành lập nhóm nghiên cứu khoa học xã hội và hành vi để nghĩ ra những phương cách tiếp cận chính sách dựa trên hành vi. Tuy nhiên, Kinh tế học hành vi dễ dàng bị lợi dụng mỗi khi nhắc đến quá trình hoạch định chính sách. [Nếu] nằm trong tay những kẻ ý đồ xấu thì nó có thể là sự biện minh cho một hình thức nguy hại của chủ nghĩa gia trưởng (paternalism), theo đó các nhà hoạch định chính sách thúc đẩy (shove) [mạnh bạo], thay vì hích [nhẹ nhàng], để đạt mục đích. Thaler tố cáo cách tiếp cận như thế, [dù rằng] đây không phải lỗi của ông khi để chính đứa con tinh thần của mình bị lợi dụng. Dù sao thì điều đó vẫn thường xảy ra.

Một quá trình tiến triển tự nhiên

Gary Becker (1930-2014)
Raj Chetty (1979-)

Gần đây, giáo sư Kinh tế học ở Havard Raj Chetty đã viết “kinh tế học hành vi thể hiện quá trình tiến triển tự nhiên của (hơn là một thách thức cho) các phương pháp kinh tế học tân cổ điển”. Vào thời điểm Thaler bắt đầu sự nghiệp, hầu hết các nhà kinh tế học đã tỏ ra thận trọng khi đi theo kinh tế học hành vi, cả trong việc giải thích cách hành động và quyết định của con người lẫn trong việc xây dựng chính sách. Một mặt, sự dè dặt của họ phản ánh niềm tin rằng các hành vi có vẻ phi lý có thể được xem như một hình thức tối ưu hóa. Ví dụ, một công ty nọ có thái độ phân biệt khi tuyển dụng; nhìn thoáng qua ta thấy hành động này dường như phi lý bởi việc phân biệt đối xử dựa trên sắc tộc, giới tính, hay những đặc tính khác sẽ làm giảm lợi nhuận. Thế nhưng vào năm 1957, Gary Becker – một nhà kinh tế học từ Đại học Chicago, người sau này đoạt giải Nobel [năm 1992], giải thích rằng sự phân biệt có thể xuất phát từ việc nhà tuyển dụng đã phải hứng chịu “quả đắng” khi tuyển những người họ không thích. Sự phân biệt vì vậy mà phản ánh bản năng tối đa hóa sự hài lòng của bản thân thay vì lợi ích. Để ngăn cản sự phân biệt, chính phủ có thể đánh thuế đủ cao với việc này để nhà tuyển dụng phải cân nhắc [trước] khi đưa ra chính sách tuyển dụng [mang màu sắc] phân biệt. (Các độc giả không phải là chuyên gia có thể bỏ qua vùng xám không rõ ràng giữa “duy lý” với các dạng tối đa hóa thậm chí chủ quan và mang tính cá nhân, và các loại nhân tố “phi lí” vốn nằm trong trường nghiên cứu của các nhà kinh tế học hành vi; tuy nhiên, đối với các nhà kinh tế học tân cổ điển và các nhà hành vi học, ranh giới này lại rõ ràng).

Janet Yellen (1946-)
George Akerlof (1940-)

Có thể giải thích một số khuyết tật dễ nhận thấy của thị trường bằng sự tối ưu hóa: Nhà kinh tế học đoạt giải Nobel George Akerlof và Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ Janet Yellen đã từng giải thích tại sao một số nhà sử dụng lao động lại trả lương cao hơn mức hiện hành cho nhân viên. Đó là vì dưới mô hình “lương hiệu quả” (“efficiency wages”) của các tác giả trên, nhà sử dụng lao động có thể, một cách duy lí, chọn trả lương cao hơn cho nhân viên dù cho nỗ lực là khó giám sát nhằm động viên nhân viên làm việc cật lực. Cuối cùng, nhân viên nào bị bắt gặp đang chây lười có nguy cơ sẽ phải quay về với công việc được trả [lương]-thấp hơn. Nhờ bộ công cụ của mình có khả năng giải thích đến thế, kinh tế học dòng chính tiến xa hơn trong việc giải thích thế giới.

Amos Tversky (1937-1996)
Daniel Kahneman (1934-)

Tuy nhiên, nó không tiến đủ xa. Từ đầu những năm 1970, Thaler nổi bật với tư cách là thành viên của một nhóm nhỏ trong đó có 2 nhà tâm lý học Daniel Kahneman và Amos Tversky; họ bắt đầu tập trung nghiên cứu những điểm bất thường trong quá trình ra quyết định của con người vốn không dễ giải thích bằng các cách tiếp cận của kinh tế học dòng chính. Trong cuốn sách của mình, Thaler mô tả cách các nhà hành vi học nhận dạng không ít thiên lệch trong việc ra quyết định vốn ngăn con người có thể tối ưu hóa một cách đúng đắn. Thaler cho rằng khi ra quyết định, con người thường bị ảnh hưởng bởi các nhân tố tâm lý — ví dụ như cách trình bày vấn đề, liệu một lựa chọn có vẻ công bằng hay không — khiến cho cách hành xử của họ có vẻ phi lý. Thaler cũng nhận thấy các nhân tố tâm lý thậm chí có thể ảnh hưởng đến thị trường tài chính, nơi mà người ta kỳ vọng động cơ tiền tệ và sự hiện diện của các chuyên gia ngăn cản các hành vi phi lí. Chi tiết hơn, Thaler mô tả hành trình học thuật đó bắt đầu với các phát hiện trên, hào phóng ghi nhận đóng góp then chốt vào lĩnh vực nghiên cứu của những cộng tác viên và những người khác.

Khi ra quyết định, con người thường chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố tâm lýví dụ như cách trình bày vấn đề, liệu một lựa chọn có vẻ công bằng hay không khiến cho cách hành xử của họ có vẻ phi lý.

Thaler không còn đơn độc trên hành trình của mình nữa. Kinh tế học hành vi hiện nay đã trở nên nóng, hàng trăm bài viết học thuật và thậm chí sách giáo khoa mới đã dệt nên các chủ đề thông qua những dẫn nhập đại cương cho sinh viên. Thaler đã vươn đến đỉnh vinh quang trong sự nghiệp của mình và ông đang hoàn thành nhiệm kỳ một-năm của mình với cương vị Chủ tịch Hội Kinh tế học Hoa Kỳ. Và kinh tế học hành vi đã có chỗ đứng riêng ở thủ đô Washington khi Nhà Trắng đã lập ra một nhóm có sứ mệnh “khai thác các ý tưởng của khoa học hành vi để giúp chính phủ phục vụ quốc gia tốt hơn trong khi vẫn tiết kiệm tiền thuế của dân”. (Khi thành lập nhóm này, Washington đang nối gót thủ tướng Anh David Cameron – người đã từng lập một nhóm tương tự như thế cách đó vài năm, với sự tư vấn của Thaler). Cho đến bây giờ, nhóm của Nhà Trắng đã có những tác động khiêm tốn như tìm cách giúp người dân có lợi từ các công cụ tiết kiệm với thuế-ưu đãi (tax-preferred) và chương trình hoàn tiền vay.

Bên cạnh đó, vẫn còn ‘đất’ cho các chính sách có tính đến các nhân tố hành vi. Ví dụ, các chương trình của chính quyền Obama hỗ trợ thế chấp được thiết lập sau hậu quả của khủng hoảng tài chính năm 2008 nhằm giúp đỡ các người sở hữu nhà và ổn định thị trường nhà đất. Cho đến trước năm 2015, gần 4,8 triệu người sở hữu nhà đã giảm được mức đáo hạn mỗi tháng của mình nhờ chương trình tái cấp vốn và giảm nhẹ tiền cho vay của chính phủ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, theo tính toán của chính phủ, còn có hàng trăm ngàn người đi vay vẫn chưa tham gia chương trình dù họ có lợi từ việc tham gia. Một số người có lý do chính đáng cho sự e ngại của mình. Chẳng hạn như họ dự tính chuyển nhà, chưa kể họ sợ nhận không đủ số tiền tiết kiệm để bù lại thời gian và công sức mình đã bỏ ra khi đăng ký chương trình hỗ trợ từ chính phủ. Nhưng một số người không tham gia vì họ không vượt qua được tính ì của mình, không hiểu chính sách, hoặc đơn giản là hành động phi lý. Các nhà hành vi học khi tiếp cận chính sách sẽ tìm cách thuyết phục những người thụ hưởng tiềm tàng, dẫn dắt [nhưng] không áp đặt để những người này tự đưa ra quyết định tối ưu nhất. Nếu làm đúng điều này, một cú hích (nudge) như vậy sẽ buộc những người vốn đã chọn lối quyết định tối ưu hóa tự đưa ra lựa chọn cho mình một cách duy lý mà ít phải tốn kém, thậm chí không tốn xu nào.

Shlomo Benartzi
W.Kip Viscusi (1949-)

Cho đến nay, những cú hích kiểu này thành công nhất trong việc khuyến khích mọi người tiết kiệm cho tuổi hưu của mình. Nhiều công ty giờ đây đã tự động đăng ký cho nhân viên vào chương trình thuế ưu đãi thay vì yêu cầu nhân viên tự đăng ký – đây là chiến thuật giúp nhân viên vượt qua tính ì tự nhiên của mình. Trong số các đóng góp của Thaler vào lĩnh vực này, có một hệ thống được phát triển với sự hợp tác của Shlomo Benartzi (nhà kinh tế học hành vi của Đại học California, Los Angeles); hệ thống này được biết đến với cái tên “Ngày mai để dành nhiều hơn” (Save More Tomorrow), qua đó những nhân viên chấp thuận trước để tăng khoản đóng góp vào tài khoản tiết kiệm sau những đợt tăng lương trong tương lai. Bằng cách để nhân viên dành dụm khoản tiền dư ra chỉ sau khi được tăng lương, giúp đảm bảo khoản lương mang về nhà của họ không bao giờ sụt giảm, chính sách này đã gia tăng được mức tiết kiệm đồng thời né tránh được tâm lý sợ mất mát của nhân viên. Tất nhiên, người tham gia vẫn có quyền dừng tham gia bất kỳ lúc nào — và do đó mà chính sách này là một cú hích thay vì một chiếc còng tay.

KHÔNG CHỈ LÀ CÚ HÍCH

Đối với những lợi ích của các chính sách có sự kết hợp kinh tế học hành vi, có một vấn đề đáng quan tâm một cách nghiêm túc: các nhà hoạch định chính sách có thể vượt qua giới hạn của những cú hích để tiến đến một cái gì đó mạnh mẽ hơn, một cái gì đó phản ánh sở thích của họ thay vì những sở thích của những người chịu ảnh hưởng bởi chính sách. Khi ứng dụng không đúng cách, kinh tế học hành vi sẽ tạo ra một vỏ bọc cho các chính sách bằng việc giả định một cách sai lầm rằng công chức chính phủ thấu hiểu mong muốn và động cơ thật sự của nhân dân hơn cả chính người dân hiểu chính họ. Những cú hích của Thaler nhẹ nhàng hơn thế; tuy nhiên khi áp dụng không đúng, ý tưởng của cú hích có thể hỗ trợ cho những hành động ép buộc với những bất lợi đáng kể.

Một khách hàng tiềm năng xem xét nội thất một chiếc xe tải Ford tại Công ty The Frederick Motor ở Maryland vào tháng 8/2009. [MIKE THEILER / REUTERS]

Trong phân tích một số quy định về năng lượng, hai nhà kinh tế học Ted Gayer và W.Kip Viscusi phát hiện chủ nghĩa gia trưởng chứ không phải những lập luận vững chắc mới chính là nguyên nhân đằng sau những quyết định của chính phủ Mỹ trong việc kiểm soát bóng đèn dây tóc và tăng tiêu chuẩn tiết kiệm nhiên liệu cho ô tô và xe tải nhỏ. Những nhà lập pháp khẳng định những quy định của họ tốt cho người tiêu dùng vì họ cho rằng, người dùng và ngành kinh doanh sẽ giảm số tiền chi cho điện và tiết kiệm tiền mua xăng dầu. Tuy nhiên trong cả hai trường hợp, người tiêu dùng và các công ty dường như hiểu về sự đánh đổi đi cùng, và ngược lại với dụng ý của chính sách, họ lại chọn mua bóng đèn dây tóc và ô tô, xe tải tiêu hao nhiên liệu. Gayer và Viscusi lập luận rằng những quy định của chính phủ thể hiện giả định của các nhà hành vi học rằng người tiêu dùng phi lý và sở thích của họ được những lựa chọn của các công chức chính phủ phản ảnh tốt hơn. Ngược lại, cách tiếp cận của kinh tế học dòng chính lại cho rằng người tiêu dùng có các lý do chính đáng để lựa chọn như trên và khi có người sẵn lòng mua một chiếc bóng đèn ít tiết kiệm năng lượng hơn hay một phương tiện tiêu hao xăng hơn thì phải đánh giá các tiêu chí khác từ những gì mà họ mua — như nhiệt lượng của bóng đèn hay sức mạnh của động cơ. Cách tiếp cận này dường như đúng hơn, đặc biệt khi người dùng quyết định mua ô tô hay xe tải tiết kiệm nhiên liệu. Có lẽ, người tiêu dùng và các công ty thực ra để ý nhiều đến hệ quả cho lựa chọn chi phí xăng dầu của mình, đặc biệt khi chính phủ Mỹ yêu cầu phương tiện mới phải dán nhãn ghi chi tiết chi phí xăng dầu [hằng năm] và những thông số khác liên quan đến độ sử dụng hiệu quả xăng dầu.

Khi ứng dụng không đúng cách, kinh tế học hành vi sẽ tạo ra một vỏ bọc cho các chính sách bằng việc giả định một cách sai lầm rằng công chức chính phủ thấu hiểu mong muốn và động cơ thật sự của nhân dân hơn cả chính người dân hiểu chính họ.

Trong kinh tế học tân cổ điển, cách biện minh thông thường cho một quy định là sự tồn tại của một ngoại tác (externality), một tác dụng phụ của một hành động có ảnh hưởng đến những điều khác nhưng lại không thể hiện trong chi phí hay lợi nhuận của hoạt động ấy. Ví dụ, một nhà máy gây ô nhiễm môi trường đương nhiên sẽ tạo ra những ngoại tác tiêu cực cho người dân sống trong khu vực. Các hệ quả tiêu cực cũng có thể được đền bù bằng thuế: nếu có thể tính toán được mức độ ô nhiễm, bắt phạt nhà máy gây ra ô nhiễm vì chi phí của nó áp đặt trên mọi tác nhân khác có thể dẫn đến kết quả tối ưu nhất cho xã hội và giảm mức độ ô nhiễm. Ngược lại, các ngoại tác tích cực phải có sự trợ cấp chính phủ. Một ví dụ là trợ cấp cho chương trình vắc xin có thể ngăn chặn dịch bệnh và mang lại lợi ích cho cả cộng đồng.

Tuy nhiên, hóa ra những ngoại tác tiêu cực liên quan đến những chiếc bóng đèn dây tóc và những chiếc xe tiêu hao nhiên liêu lại khá khiêm tốn. Trong trường hợp này, tác động của việc tăng sử dụng năng lượng lên sự ô nhiễm hay lượng phát thải các bon khá nhỏ, điều này có nghĩa là xã hội không hưởng được nhiều lợi ích từ các quy định. Thay vào đó, những lợi ích lại đến từ những khoản đóng góp tích lũy từ những người tiêu dùng thực sự sẵn lòng trả thêm tiền cho loại bóng đèn và xe cộ ưa thích. Trong nỗ lực biện minh cho các quy định này, các nhà tạo lập chính sách đã liên hệ một cách mơ hồ đến sự bất lực của người dùng việc cân nhắc lợi ích dài hạn với chi phí ngắn hạn. Tuy nhiên, luận điểm này không giúp được mấy để cứu vãn các chính sách lạc lối, vốn dựa vào niềm tin của chính phủ Mỹ rằng người dân nên sử dụng các phương tiện tiết kiệm năng lượng bất luận sở thích thực sự của họ lúc chọn mua. Đây là chủ nghĩa gia trưởng ngụy trang dưới lớp vỏ khoa học. Tệ hơn, các đề xuất sai lầm có thể lấn át những điều hữu ích: sự quan tâm quá mức đến những tác động nhỏ yếu như tiêu chuẩn của bóng đèn và tiết kiệm nhiên liệu, làm các nhà hoạch định chính sách lạc lối khỏi việc tập trung giải quyết những thách thức của biến đổi khí hậu.

Một người đàn ông đang xem các gói chăm sóc sức khỏe trên trang thông tin chính phủ khi đang chuẩn bị đăng ký tại Trung tâm dịch vụ cộng đồng ở New York, tháng  3/2014. [BRENDAN MCDERMID / REUTERS]

Kinh tế học hành vi không chỉ ảnh hưởng lên một lĩnh vực ngách như chính sách năng lượng mà còn ảnh hưởng đến những mảng lập pháp đáng chú ý nhất trong thập kỷ qua, như Đạo luật bảo vệ bệnh nhân và chăm sóc y tế giá phải chăng — và ở đây, một lần nữa, các kết quả [tốt và xấu] đã lẫn lộn với nhau. Đạo luật nhấn mạnh vào việc phòng ngừa nhằm thúc đẩy con người hướng đến [các] quyết định lâu dài.  Bằng cách phân loại đa số các gói bảo hiểm (insurance plans) dựa trên hệ thống thứ bậc — đồng, bạc, vàng và bạch kim — nhằm cung cấp cho người dùng những lựa chọn khác nhau về ý nghĩa nhưng dễ hiểu được. Các gói có nhãn kim loại có giá trị cao cấp hơn sẽ có  mức độ bảo hiểm cao hơn. Ví dụ, gói đồng sẽ bao gồm 60% chi phí chăm sóc-sức khỏe trong khi gói vàng lên đến 80%. Theo luận điểm của các nhà hành vi học, người dùng tốt hơn hết nên được giới hạn trong một số lượng gói nhất định hơn là hàng loạt các gói bảo hiểm, vì càng ít lựa chọn thì càng ít bối rối và do dự. Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều người tiêu dùng than phiền rằng sự giới hạn các gói bảo hiểm khiến họ không thể tự tay tạo ra một cách ưng ý gói bảo hiểm họ cần, điều này dẫn đến việc đôi khi khách hàng phải chi trả cho những khoản không cần thiết (chẳng hạn những người gần về hưu bị buộc phải đóng phí khám nhi khoa). Để tiết kiệm chi phí, đạo luật này đã giảm quy mô của những mạng lưới nhà cung cấp [dịch vụ] chăm sóc sức khỏe, một sự chuyển biến được đánh giá là khiến cho việc lựa chọn bác sĩ của khách hàng khó khăn hơn thay vì trở thành một cú hích.

Sự kết hợp của chính sách và kinh tế học hành vi dường như đã phát triển thành một cách tiếp cận thịnh hành hơn. Điều quan trọng cho những nhà hoạch định chính sách là phải ghi nhớ rằng người điều tiết cũng chỉ là con người và do đó cũng dễ giống như người tiêu dùng trong việc ra quyết định tồi. Sẽ thật mỉa mai khi kinh tế học hành vi với sự phê phán đúng đắn dành cho cách tiếp cận của kinh tế học truyền thống lại bỏ qua điểm yếu của con người, lại nổi giận tiếp tay với chủ nghĩa gia trưởng mạnh tay khi, ngược hẳn với tầm nhìn của Thaler, các quan chức chính phủ né tránh việc hoạch định những chính sách bền vững dưới chiêu bài chỉnh sửa những điều chưa hoàn hảo.

* * *

Phillip L. Swagel (1966-)

Giới thiệu tác giả:

Phillip L. Swagel hiện đang là Giáo sư ngành chính sách kinh tế quốc tế tại trường chính sách công Maryland.

Ông tốt nghiệp cử nhân kinh tế học tại Đại học Princeton vào năm 1987 và tiến sĩ kinh tế học tại Đại học Harvard năm 1993.

Swagel từng là Trợ lý Bộ trưởng phụ trách về chính sách kinh tế tại Bộ Tài chính từ tháng 12 năm 2006 đến tháng Giêng năm 2009 dưới thời Tổng thống George Bush.

Lục Phạm Quỳnh Nhi, Nguyễn Thị Trà Giang dịch

Nguồn: A Nudge Too Far, ForeignAffairs, December 2015.

————–&&&————–

Tiền mặt thực tế (Real cash balances)

Tiền mặt thực tế (Real cash balances)

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Khi những người nắm giữ tiền không bị ảo giác tiền tệ thì họ xác định cầu tiền mặt của họ trên cơ sở giá trị thực tế của tiền tệ (M/P). Những biến thiên của giá trị thực tế của tiền mặt bắt nguồn từ một biến thiên của lượng danh nghĩa tiền tệ (M), biến thiên của mức giá (P), hay từ cả hai loại biến thiên này. Dưới một số điều kiện, những biến thiên này có thể làm thay đổi những đại lượng thực tế như tiêu dùng hay việc làm, được gọi là hiệu ứng tiền mặt thực tế. Ví dụ, trước một gia tăng của mức giá chung làm giảm giá trị thực tế của tiền mặt thì những cá thể có thể muốn tái lập tiền mặt thực tế bằng cách giảm tiêu dùng (hay, ngược lại, gia tăng tiêu dùng tiếp sau một sụt giảm của mức giá chung làm tăng giá trị của tiền mặt của họ). Như vậy hiệu ứng tiền mặt thực tế là một cơ chế hợp nhất lĩnh vực thực tế và lĩnh vực tiền tệ, cơ chế này được thêm vào hay thay thế cho việc hợp nhất bằng lãi suất, và được các tác giả tân cổ điển hậu walrasian ưu tiên.

Knut Wicksell (1851-1926)
Irving Fisher (1867-1947)

Được K. Wicksell nêu lên ngay từ năm 1898, ta gặp lại hiệu ứng thực tế cũng vào thời kì đó ở I. Fisher (1911) và A. C. Pigou ngay từ bài viết đầu tiên của ông năm 1917, “The value of money”. Pigou sẽ dùng khái niệm này trong những cuộc tranh luận về những phương thức thoát ra khỏi khủng hoảng, diễn ra sau khi Lí thuyết tổng quát của Keynes được công bố, và chỉ ra rằng có một lực nội sinh loại bỏ thất nghiệp (1943, 1947), do đó đôi lúc hiệu ứng này còn được gọi là“hiệu ứng Pigou”. Tuy nhiên phải đợi đếnPatinkin (1956, 1965) thì hiệu ứng này mới được tôn vinh khi ông làm rõ những khiá cạnh phân tích vi mô lẫn vĩ mô của hiệu ứng tiền mặt thực tế. Trong kinh tế học vi mô, vấn đề là đưa tiền mặt thực tế vào như một agumen của hàm lợi ích của người tiêu dùng. Tối đa hoá lợi ích dưới ràng buộc thu nhập cho thấy là cầu sản phẩm tiêu dùng cầu tiền mặt phụ thuộc vào giá trị của tiền mặt thực tế ban đầu. Trong so sánh tĩnh, một gia tăng của giá trị thực tế của tiền mặt ban đầu của một tác nhân làm tăng cầu sản phẩm và cầu tiền tệ của tác nhân ấy. Trong một cái nhìn cân bằng chung, những thay đổi của cầu phái sinh từ những biến thiên của giá trị thực tế của tiền mặt làm thay đổi việc xác định những cân bằng trên những thị trường và do đó làm thay đổi hệ thống những giá tương đối. Đóng góp của Patinkin là đã nhấn mạnh là hiệu ứng tiền mặt thực tế phát huy tác dụng trên thị trường tiền tệ cũng như trên thị trường sản phẩm, điều mà cả Wicksell, Fisher lẫn Pigou đã không cảm nhận, vì các tác giả này đều thừa nhận rằng cầu tiền mặt thực tế độc lập với những biến thiên của giá cả (hay cầu tiền tệ danh nghĩa có một độ co dãn bằng một đối với sức mua sức mua của đồng tiền, 1/P). Trong kinh tế học vĩ mô, vấn đề chính là đưa tiền mặt thực tế vào trong số những biến giải thích của hàm tiêu dùng (hay tiết kiệm), đạo hàm riêng của hàm này là dương (âm trong trường hợp hàm tiết kiệm):

C = f(…, M/P, …); df/d(M/P) > 0.

S = g(…, M/P, …); dg/d(M/P) < 0.

Cũng còn có thể đưa tiền mặt thực tế vào trong một hàm sản xuất tổng thể bên cạnh nhân tố tư bản K và nhân tố lao động L, với một đạo hàm riêng đối với tiền mặt thực tế là dương (Y= F(K, L, M/P); dF/d(M/P) > 0).

Có nhiều kiểm định kinh trắc của những hàm tổng thể này có tiền mặt thực tế, nhưng từ đó khó mà rút ra được một kết luận dứt khoát về hiệu lực thực nghiệm của hiệu ứng tiền mặt thực tế.

Don Patinkin (1922-1995)

Thật ra hiệu ứng này bị điều kiện hoá bởi phản ứng của các cá thể trước một biến thiên của giá trị thực tế của tiền mặt của họ. Sự không có ảo giác tiền tệ được Pigou nhấn mạnh, cũng như việc không có những dự kiến cộng dồn về những biến thiên của giá cả khả dĩ gây nên những hành vi “chạy trốn tiền tệ” (trường hợp siêu lạm phát), là những điều kiện cần cho sự hoàn thành của hiệu ứng. Khi hội đủ những điều kiện này, lí thuyết cầu tiền tệ giải thích vì sao những cá thể xem mức tiền mặt thực tế của họ có thể là không thích hợp và mang mất cân bằng này sang thị trường sản phẩm và dịch vụ. Đối với một số tác giả, như Wicksell hay Fisher, ưu tiên cho khiá cạnh trung gian những cuộc trao đổi của tiền tệ thì các cá thể duy trì một tỉ lệ nhất định giữa cầu tiền mặt thực tế của họ và chi tiêu sản phẩm vì, như Fisher viết, theo kinh nghiệm, sự “tiện dụng” trong giao dịch, hay vì những động cơ duy lí hơn như phân tích những cơ sở kinh tế vi mô của cầu tiền tệ cho thấy – điều này khuyến khích gọi hiệu ứng tiền mặt thực tế là “hiệu ứng thanh khoản”. Đối với một số tác giả khác, như Patinkin, ưu tiên cho một cách tiếp cận di sản về cầu tiền tệ hơn là một cách tiếp cận giao dịch thì giá trị thực tế của tiền mặt tham gia, hoặc một phần (quan điểm của Gurley và Shaw về tiền tệ bên ngoài) hoặc toàn bộ (quan điểm của Pesek và Saving), vào việc xác định giá trị của di sản. Từ đó, chính việc trở thành giàu hay nghèo hơn tiếp sau một biến thiên của tiền mặt thực tế mới khiến các tác nhân thay đổi cầu của họ – điều này khuyến khích gọi hiệu ứng tiền mặt thực tế là “hiệu ứng của cải”. Cho dù có chọn cách tiếp cận nào đi nữa thì cơ chế hợp nhất lĩnh vực thực tế và tiền tệ cũng như những hệ quả là giống nhau.

Những hệ quả này không phải là nhỏ vì việc tính đến hiệu ứng tiền mặt thực tế không dẫn đến gì khác hơn là vượt qua hai cách nhìn lớn về hoạt động kinh tế, tức là cách nhìn của lí thuyết keynesian và cách nhìn của lí thuyết walrasian. Đối với Keynes, cân bằng toàn bộ của thiểu dụng lao động là lâu dài vì không có lực nội sinh nào khả dĩ loại bỏ được thất nghiệp; Pigou là người đầu tiên chỉ rằng hiệu ứng tiền mặt thực tế có thể là một lực như thế. Nếu cuộc khủng hoảng do thiếu tổng cầu đi cùng với một sụt giảm của mức giá chung thì giá trị thực tế của tiền mặt danh nghĩa tăng, điều này làm tăng tổng cầu và có xu hướng loại bỏ thất nghiệp keynesian. Lập luận này, với những được thua hiển nhiên về mặt chính sách kinh tế, đã khơi lên lại cuộc tranh luận kinh tế vĩ mô giữa những nhà keynesian và những nhà tân cổ điển mà thành công của “lí thuyết tổng quát” đã che giấu đi. Hiệu ứng tiền mặt thực tế hiện ra trong cuộc tranh luận này như một cơ chế cân bằng lại nền kinh tế và đặt thành vấn đề tính dai dẳng của thất nghiệp keynesian. Nó cũng đặt lại vấn đề sự phân đôi khu vực thực tế và khu vực tiền tệ của lí thuyết walrasian. Đối với Walras, một biến thiên của mức giá chung, được giải thích bằng lí thuyết định lượng, không ảnh hưởng đến những đại lượng thực tế và không làm thay đổi vị thế ban đầu của cân bằng chung. Đó là vì những hàm cầu sản phẩm chỉ phụ thuộc vào những giá tương đối, và những giá này không bị tác động bởi biến thiên của mức giá chung (tiên đề tính thuần nhất). Tính trung lập này của tiền tệ bị hiệu ứng tiền mặt thực tế đánh bật: việc đưa tiền mặt thực tế vào trong những hàm cầu sản phẩm, theo kiểu Patinkin, loại bỏ tiên đề tính thuần nhất và sự phân đôi thực tế-tiền tệ. Một biến thiên của mức giá chung ảnh hưởng đến giá trị thực tế của tiền mặt, do đó ảnh hưởng đến những cầu sản phẩm và cuối cùng đến hệ thống những giá tương đối. Nói cách khác, tiền tệ là không trung lập, ngày nào còn có hiệu ứng tiền mặt thực tế, và hiệu ứng này còn phát huy tác dụng khi còn có một mất cân bằng giữa cung và cầu tiền mặt thực tế. Bằng cách phát huy tác dụng, kể cả trên thị trường tiền tệ, hiệu ứng tiền mặt thực tế tạo điều kiện dễ dàng cho việc đạt đến một vị thế cân bằng mới và hơn thế nữa còn đảm bảo cho tính ổn định của cân bằng này. Chỉ có trong vị thế mới này mới tìm lại được mối quan hệ tỉ lệ của lí thuyết định lượng giữa tiền tệ và giá cả và tiền tệ mới bị trung hoà. Cơ chế chủ yếu của hợp nhất cái thực tế và cái tiền tệ, hiệu ứng tiền mặt thực tế phá vỡ sự phân đôi walrasian và tính trung lập của tiền tệ trước khi trở thành công cụ của một cách kiến giải lại có giới hạn (vì phụ thuộc vào cân bằng) lí thuyết định lượng.

▶ FISHER I., The Purchasing Power of Money, New York, A. M. Kelley, 1911. –GURLEY J. & SHAW F., Banking in the Theory of Finance, Washington, The Brooking Institutions, 1960. – PATINKIN D., La monnaie, lintérêt et les prix, trad. fr., Paris, PUF, 1972. – PESEK & SAVING T., Money, Weath and Economic Theory, London, Macmillan, 1967. – PIGOU A. C.,“The Value of Money”, QJE, 1917; “The Classical Stationary State”, EJ, 1943;“Economic Process in a Stable Environment”, Economica, 1947. –WICKSELL K., Interest and Prices (1896), trad. angl., London, Macmillan, 1936.

Gérard BRAMOUILLÉ

Giáo sư đại học Aix-Marseille 3

Nguyễn Đôn Phước dịch

® Ảo giác tiền tệ; Di sản; Giá cả và cấu trúc thị trường; Học thuyết Keynes; Lãi suất; Tiền tệ.

Nguồn: Dictionnaire des sciences économiques, sous la direction de Claude Jessua, Christian Labrousse, Daniel Vitry, PUF, Paris, 2001

————-&&&————-

Dữ liệu lớn và dữ liệu cá nhân: hướng tới việc quản trị có tính đạo đức các thuật toán

Dữ liệu lớn và dữ liệu cá nhân: hướng tới việc quản trị có tính đạo đức các thuật toán

(Tác giả: Jerome Beranger – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Gần như khó có thể tưởng tượng được cuộc sống đương đại nếu không bàn đến việc chúng ta sử dụng hàng ngày các hệ thống thông tin được triển khai trên các máy tính, điện thoại thông minh, máy tính bảng, GPS, và từ nay còn thêm các thiết bị kết nối khác. Chúng ta đắm mình trong một thực tế kỹ thuật số được kiểm soát và cá nhân hóa, hội tụ vô số các dòng chảy thông tin. Việc khai thác các dữ liệu này trở thành một chủ đề nhạy cảm, bởi vì chúng ảnh hưởng trực tiếp đến sự riêng tư của chúng ta. Tất nhiên mỗi người đều có những công cụ cho phép điều chỉnh một số các thông số – ví dụ, chấp nhận hay không việc định vị địa lý. Nhưng sự kiểm soát cá nhân này chỉ mang tính cục bộ và hầu như chưa ai có khả năng thực hiện nó một cách nghiêm túc. Vì vậy câu hỏi được đặt ra ở một cấp độ kiểm soát khác, ở cấp độ quản lý Dữ liệu lớn. Bằng cách nào? Bên cạnh những giải pháp thể chế được xây dựng dựa trên các cơ quan kiểm soát, còn nổi lên một hướng là khai phá dữ liệu có đạo đức (ethical data mining).

Với sự phát triển của các công nghệ về Dữ liệu lớn, các thuật toán khai thác các dòng chảy dữ liệu đóng một vai trò ngày càng mang tính quyết định đối với sự lựa chọn của cá nhân. Có lẽ quá đáng khi nói rằng các thuật toán ấy kiểm soát chúng ta, nhưng chúng định hướng chúng ta trong rất nhiều quyết định, từ việc lựa chọn một khách sạn hay một vé máy bay đến việc lựa chọn một lộ trình, một cuốn sách trên Internet, hay việc gặp gỡ bạn bè mới trên các mạng xã hội.

Khi tạo điều kiện dễ dàng để chúng ta lựa chọn, khi tạo các thói quen lựa chọn của chúng ta, các thuật toán ấy tham gia vào cách thức tổ chức đời sống xã hội. Vì vậy, chúng ta đang chứng kiến sự nổi lên kín đáo của một “quyền lực” thuật toán được chủ yếu tiếp liệu bởi các dữ liệu thô. Năng lực của quyền lực này trong việc can thiệp vào đời sống riêng tư nhất của chúng ta là điều hoàn toàn mới: ngay cả các chế độ toàn trị, cùng với đội quân gián điệp và chỉ điểm của các chế độ ấy, cũng không dám mơ ước điều này. Việc khai thác trên quy mô lớn và diện rộng các dữ liệu này cho phép tạo ra các thông tin được cá nhân hóa, dựa trên một sự tiên đoán về điều khả thi và nhắm đến việc “tạo điều kiện” cho chúng ta ra quyết định, và cách làm này có những điểm không rõ ràng. Những tổ chức mà chúng có tiếp xúc dưới dạng số đều quan tâm đến những lựa chọn của chúng ta, tìm cách tiên đoán chúng, định hướng chúng. Chúng ta hầu như không có khả năng kiểm soát, và thậm chí hầu như không có cách để hiểu được những tiêu chí được các thuật toán vận dụng để tìm hiểu và tác động đến bản thân chúng ta.

Làm thế nào để nắm lại khả năng kiểm soát? Một trong những hướng thú vị nhất là thông qua việc xây dựng và thiết lập một mô hình hóa phù hợp để phân tích, tìm hiểu và xử lý những khối lượng lớn các dữ liệu phức tạp ấy. Có thể gọi đó là một mô hình hóa “đạo đức“.

Mô hình hóa đạo đức các dữ liệu phức tạp

Chúng ta hãy thống nhất một điều. Vấn đề không phải là kìm hãm sự phát triển của Dữ liệu lớn, càng không phải là quay lùi lại, mà là làm sao cho đời sống chúng ta không bị điều khiển bởi một sự duy lý mù quáng hay chỉ phục tùng những mệnh lệnh duy nhất nào đó của sự tiếp thị. Ngược lại, thách thức là xây dựng một mô hình hóa tương thích vừa với yêu cầu về ý nghĩa và vừa với tiềm năng to lớn của Dữ liệu lớn.

Vì vậy, chúng ta hoàn toàn có thể hình dung một mô hình hóa có tính đạo đức các dữ liệu phức tạp, vì một lý do thuộc về chính ngay chức năng vận hành của việc khai phá dữ liệu. Bởi vì các thuật toán quy nạp nằm ở trung tâm của Dữ liệu lớn được thúc đẩy bởi một lôgic gần gũi một cách lạ lùng với “minh triết thực tiễn” vốn ở trung tâm của đạo đức học.

Trong đời sống hàng ngày, con người cảm nhận dữ liệu, diễn giải thông tin, kết nối với các kiến thức khác đã được ghi nhớ trước đây và như vậy có được những năng lực cần thiết để vận dụng sau này theo cách lặp đi lặp lại. Như vậy, con người có được một “minh triết thực tiễn“, có thể hình thức hóa và tinh chỉnh hóa theo một “minh triết“, có nghĩa là một nghệ thuật ứng xử.

Các thuật toán khai phá dữ liệu được thúc đẩy bởi một lôgic rất gần với lôgic được con người vận dụng trong hành vi ứng xử hàng ngày của họ: một lôgic không mang tính diễn dịch, mà mang tính quy nạp. Các thuật toán của dữ liệu lớn không được thiết kế để đưa ra những chứng minh, để tạo ra những kết quả không thể chối cãi, được chứng minh bằng a + b. Chúng vận dụng những dữ liệu cục bộ, không đầy đủ, ít có cấu trúc, những dữ liệu không cho phép kiểu suy luận nói trên. Chức năng của chúng đúng hơn là nhận ra những sự lặp đi lặp lại, nhận diện các sơ đồ, các mô hình ứng xử: chẳng hạn như, trên Amazon, chúng nhận ra một đọc giả của một cuốn sách nào đó có nhiều khả năng sẽ quan tâm đến một cuốn sách khác. Chúng thu thập dữ liệu, tổng gộp chúng thành thông tin, diễn giải những thông tin ấy, kết nối với các kiến thức khác đã được ghi nhớ trước và từ đó đưa ra những lựa chọn có giới hạn, hướng tới một mục đích thực tiễn. Tính mục đích này nằm ở ngã ba đường giữa lợi ích của chúng ta và lợi ích của tổ chức sở hữu các hệ thống thông tin, theo nhiều cấu hình khác nhau, từ một tính gần như trung lập đến một định hướng bắt buộc theo một một sản phẩm nào đó, theo một lộ trình nào đó, theo một lựa chọn nào đó.

Thời điểm then chốt, đối với con người cũng như đối với các thuật toán, là vấn đề đơn giản hóa, có nghĩa là việc chuyển đổi một tập hợp phức tạp các dữ liệu thô thành một thông tin thực tế. Đặc biệt là sự đơn giản hóa này, trong trường hợp của các công nghệ thông tin, nhắm đến việc ưu tiên cho một entropi rất thấp, có nghĩa là một mức độ hỗn độn gần như bằng không. Để lấy lại ví dụ của Amazon, điều này có nghĩa là không nên đề nghị cho một người thích khoa học viễn tưởng một cuốn sách về dân tộc học. Chính vào thời điểm then chốt của sự đơn giản hóa này mà việc mô hình hóa đạo đức các dữ liệu phức tạp cần phải nỗ lực đi cùng và nuôi dưỡng ý nghĩa.

Có hai nguyên tắc bắt buộc.

Thứ nhất, “thông tin” mà chúng ta đang nói phải nằm trong một khuôn khổ hệ thống kết nối nó với hành động thông qua kiến thức. Thông tin được tổng gộp thành kiến thức, nhưng kiến thức này là một kiến thức thực tế, được đúc kết trong hành động. Nó không phải là một kiếnthức hiểu biết mà là một kiến thức biết để sử dụng.

Nguyên tắc thứ hai bắt nguồn trực tiếp từ lý thuyết thông tin. Chúng ta có thể trình bày nó như thế này: thay vì mô tả quá trình, chúng ta chuộng mô tả trạng thái hơn. Thách thức của đạo đức, cũng như thách thức của các Dữ liệu lớn, là bước chuyển từ một trạng thái các hiểu biết phức tạp, vô tổ chức và không rõ ràng sang một trạng thái các hiểu biết đơn giản, có cấu trúc và hướng tới một đích.

Một vấn đề then chốt: thứ bậc hóa dữ liệu

Một giai đoạn mang tính quyết định của việc đơn giản hóa dữ liệu là việc thứ bậc hóa dữ liệu. Chính sự thứ bậc hóa mới cho phép “điều chỉnh” các thuật toán, làm cho chúng tạo ra một kết quả có thể dùng được. Sự thứ bậc hóa này trước tiên đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ về giá trị của dữ liệu, mở ra cả một loạt các câu hỏi: Vì sao phải đánh giá dữ liệu, với mục đích gì và theo những mục tiêu gì? Chúng ta ước tính giá trị của một dữ liệu và một thông tin theo những tiêu chí nào? Và, đặc biệt, chúng ta phải đánh giá những gì?

Giá trị của một dữ liệu có thể được đánh giá dưới góc độ của nội dung: ví dụ, một nhấp chuột có nghĩa là bạn thích, là bạn tiến lên theo một hướng nào đó hay là bạn quay trở lại, hay là bạn hoàn tất một giao dịch thanh toán. Giá trị của dữ liệu cũng có thể được ước tính dưới góc độ của tính rườm rà, tính đa dạng và số lượng. Nó cũng phụ thuộc vào kiến thức tổng hợp: một số dữ liệu tạo ra ít kiến thức, một số dữ liệu khác thì có ý nghĩa nhiều hơn. Cuối cùng, chúng ta có thể đánh giá giá trị của dữ liệu theo mức độ chia sẻ, theo chất lượng và số lượng trao đổi.

Nhưng giá trị của dữ liệu cũng chuyển biến theo dịch vụ cung cấp cho người sử dụng. Đánh giá một thông tin, do đó cũng là xác định chiến lược truyền tải: truy cập vào những thông tin đúng vào đúng thời điểm, chọn lọc việc truyền tải thông tin theo các mối quan tâm và theo nhu cầu của người sử dụng, để đấu tranh chống lại thông tin sai lạc và dư thừa thông tin.

Do đó, điều cần thiết là xác định những dữ liệu nào và lượng thông tin nào cần thiết để nhà thiết kế một hệ thống sẽ cung cấp cho người sử dụng. Những dữ liệu nào là cần thiết cho người sử dụng để quyết định “đúng” hay để hành động “đúng“? Để đạt được một sự cân bằng thực tế trong các hệ thống thông tin giữa sự cải thiện và sự quá tải các dữ liệu được truyền, có hai biến có thể giúp tối ưu hóa chức năng thứ bậc hóa và lựa chọn.

Biến đầu tiên, là việc đánh giá lại sự phân bổ dữ liệu trên nhiều mức độ khác nhau của hệ thống. Nếu việc đánh giá lại này mang tính tuần hoàn, thì sự quá tải kết hợp với sự di chuyển dữ liệu theo hướng này và hướng khác có nguy cơ làm mất các kết quả thu được nhờ vào sự di chuyển của dữ liệu trên các đĩa lưu trữ.

Biến thứ hai, là số lượng các dữ liệu cần đưa vào trong đơn vị lưu trữ tối thiểu, kế đến là quản lý và di chuyển trong hệ thống thông tin. Một lần nữa, một lượng dữ liệu quá lớn sẽ làm phức tạp và làm chậm chức năng thứ bậc hóa và lựa chọn của hệ thống.

Công việc thứ bậc hóa và đánh giá dữ liệu này là điều rất quan trọng. Bởi vì, chính tại nơi đây mà một chiều kích đạo đức có thể được đưa vào. Hãy xem xét một trường hợp thực tế, đặc biệt nhạy cảm: các dữ liệu y tế.

Một ví dụ về phân tích đạo đức: dữ liệu y tế

Tom Beauchamp (1939-)
James Childress (1940-)

Dữ liệu y tế tồn tại ở ranh giới của hai thế giới: sự riêng tư của bệnh nhân cần được bảo vệ, và dữ liệu thống kê về dịch tễ học, có một mức độ hữu dụng nhất định đối với toàn thể dân chúng (mà còn đối với các thầy thuốc, bảo hiểm xã hội, ngành công nghiệp dược phẩm, các công ty bảo hiểm, các nhà thuốc, các bệnh viện …). Làm thế nào để nối khớp hai chiều kích này?

Một cách tiếp cận về đạo đức có thể dựa vào bốn nguyên tắc được Tom Beauchamp và James Childress xác định trong công trình tham chiếu về vấn đề này, Principles of Biomedical Ethics – Các nguyên tắc của đạo đức y sinh (2001).

Ÿ

Nguyên tắc thứ nhất là làm điều đúng, được định nghĩa như là một đóng góp cho phúc lợi của người khác. Hành động “làm điều đúng” phải đáp ứng hai quy tắc rõ ràng: nó phải mang tính có lợi, và nó phải mang tính có ích, có nghĩa là có một quan hệ tích cực về chi phí và lợi ích.

Ÿ Nguyên tắc thứ hai, quyền tự chủ: việc một người tự đề ra cho bản thân một quy tắc ứng xử. Nguyên tắc này nhắm đến sự tham gia của bệnh nhân vào quá trình ra quyết định.

Ÿ Nguyên tắc thứ ba, “không làm điều xấu“: tránh làm điều xấu đối với người mà chúng ta có trách nhiệm, tránh làm những điều tổn hại hay đau khổ, không có ý nghĩa gì đối với người ấy.

Ÿ Cuối cùng, nguyên tắc thứ tư, công lý, có thiên hướng chia sẻ các nguồn lực có sẵn cho tất cả các bệnh nhân (thời gian, tiền bạc, năng lượng). Nguyên tắc này gắn chặt với các khái niệm về bình đẳng và công bằng, có tác động trong quá trình đưa ra một quyết định về công lý. Lý tưởng nhất thì mọi hành động cần phải nhắm đến một sự bình đẳng hoàn hảo, nhưng tùy theo hoàn cảnh và con người, thường thì sự công bằng sẽ thắng thế để thiết lập các vấn đề ưu tiên và một hệ thống thứ bậc nào đó trong hành động.

Dựa vào các dữ liệu y tế, ta có thể đưa ra một lựa chọn đúng đáp ứng ba trong bốn nguyên tắc đạo đức sau:

Ÿ Nguyên tắc của hành động đúng, khi sự truyền tải kiến thức một cách thích đáng đến người sử dụng (các chuyên gia y tế và các công dân) đảm bảo tính có căn cứ và tính chính đáng của hành động. Việc truyền thông sẽ trở nên hiệu quả hơn.

Ÿ Nguyên tắc tự chủ, khi một thông tin rõ ràng, chính xác, phù hợp và dễ hiểu, thì nó đảm bảo sự ưng thuận sáng suốt của con người. Bệnh nhân luôn có khả năng cân nhắc, đưa ra quyết định và hành động.

Ÿ Cuối cùng, nguyên tắc của hành động không làm điều xấu, khi quyền truy cập có giới hạn vào dữ liệu tùy theo nhân thân và cương vị của người sử dụng, sẽ cải thiện tính an toàn, bảo mật và bảo vệ dữ liệu.

Tuy nhiên, thiết kế chọn lọc dữ liệu này có một tác động ngược với nguyên tắc về công lý, thông tin được chuyển giao không hoàn toàn giống nhau và còn tùy theo người sử dụng hệ thống thông tin là ai. Hệ thống áp đặt những quy tắc phân bổ và truy cập thông tin khác nhau tùy theo cương vị của người sử dụng. Sự bất đối xứng về kiến thức mang tính phân biệt đối xử và làm đặt lại vấn đề về tính minh bạch của thông tin.

Theo cách tiếp cận này, việc phân loại và lựa chọn dữ liệu được thực hiện theo tầm quan trọng mà người ta gắn cho chúng và theo những câu hỏi được đặt ra về việc sử dụng và truyền tải dữ liệu. Việc đơn giản hóa sự truyền tải dữ liệu dẫn đến một cách sử dụng và truy cập hiệu quả hơn, với việc nắm bắt dữ liệu tốt hơn và bảo mật dữ liệu nhiều hơn. Ngược lại, nó dẫn đến một tính toàn vẹn dữ liệu ít hơn. Từ vấn đề này, việc thứ bậc hóa dữ liệu sẽ đơn giản hóa công việc của nhiều người sử dụng khác nhau, nhưng lại khiến cho nhà thiết kế hệ thống thông tin phải đối mặt với một mức độ phức tạp kỹ thuật lớn hơn.

Việc thứ bậc hóa có chọn lọc các dữ liệu này đóng một vai trò to lớn trong mức độ phức tạp của dữ liệu và khả năng tiếp cận dữ liệu của người sử dụng. Chúng ta có thể đồng nhất nó với một “trí tuệ về tổ chức“. Các thuật toán được thiết kế theo các nguyên tắc của việc khai phá dữ liệu có đạo đức làm sản sinh ra những thông tin mới, mà người ta có thể gọi là “thông tin đạo đức“. Thông tin tiền xử lý này, theo một lưới đánh giá đạo đức, sẽ chứa nhiều giá trị hơn cho hoạt động khai thác dữ liệu trong tương lai.

Khi đạo đức cải thiện chất lượng của dữ liệu

Thiết kế thứ bậc hóa này và sau đó chọn lọc các dữ liệu ban đầu sẽ dẫn đến một sự cải thiện giá trị về chất lượng và entropi của kiến thức, bất chấp việc mất đi về mặt số lượng của dữ liệu và thông tin. Do đó, một hệ thống thứ bậc hóa và chọn lọc tự động các dữ liệu sẽ cho phép một hệ thống lưu trữ di trú các dữ liệu một cách tự động sang một lớp những dịch vụ đúng với nhu cầu của từng người sử dụng.

Cách tiếp cận này khớp hoàn toàn với các công trình về những thuật toán quy nạp, nằm ở trung tâm của các công nghệ về Dữ liệu lớn. Đối với một vấn đề nhất định, không tồn tại một giải pháp quy nạp duy nhất và phổ quát. Tuy nhiên, điều phổ biến là có một số nhỏ các phương pháp xử lý đáp ứng một mục đích cụ thể. Cũng như một quá trình đạo đức, các thuật toán quy nạp hiệu quả nhất đều mang tính tiến hóa. Chúng được cải tiến bằng cách điều chỉnh cách thức xử lý dữ liệu theo cách sử dụng thích đáng nhất có thể có được. Để xây dựng các thuật toán này, điều cần thiết là việc xử lý dữ liệu phải mang tính tiên đoán và đóng góp. Để làm được điều này, việc khai thác Dữ liệu lớn phải chuyển đổi càng sớm càng tốt các dữ liệu ấy thành thông tin đạo đức có thể khai thác được vào các lần sau.

Trong bối cảnh này, việc nghiên cứu giải pháp thứ bậc hóa và lựa chọn qua một lăng kính đạo đức sẽ cho phép hiểu rõ hơn về sự cân bằng không ổn định giữa tính sẵn có, tính bảo mật và việc bảo vệ dữ liệu. Sự cân bằng này có thể nghiêng về bên này hay bên kia tùy thuộc vào bối cảnh cụ thể. Một cách tiếp cận như vậy sẽ dẫn chúng ta đến việc đặt ra một loạt các câu hỏi trước khi tiến hành việc lựa chọn dữ liệu: những mục tiêu, mục đích, thách thức và ý nghĩa của giai đoạn này là gì? Tôi sẽ sử dụng những dữ liệu nào? Một phần hay toàn bộ dữ liệu? Tôi sẽ sử dụng chúng như thế nào? Ở đâu? Với những người sử dụng nào? Nói tổng quát hơn, làm thế nào để khai thác tập hợp không đồng nhất các dữ liệu được tích lũy và lưu trữ trong một hệ thống thông tin? Tính thích đáng của thông tin so với tình huống của tôi là gì? Liệu điều đó có làm sai lệch bản chất giá trị thông tin ban đầu không? Tính toàn vẹn của thông điệp cuối cùng có được bảo toàn không?

Jerome Beranger

Công nghệ không thể trả lời hết các câu hỏi nói trên. Chúng ta cũng cần phải viện đến quy chế đạo đức hành nghề và hành vi của con người để đảm bảo sự riêng tư và việc bảo vệ các dữ liệu cá nhân. Có thể đạt được điều này bằng một bản điều lệ về đạo đức liên quan đến quan điểm thiết kế, việc thiết lập và sử dụng các dữ liệu cá nhân được hợp nhất trong các Dữ liệu lớn này. Lúc bấy giờ sẽ đặt ra vấn đề về cơ chế hay định chế sẽ chịu trách nhiệm chuẩn bị bản điều lệ này, và các quá trình gắn nhãn hiệu cho các thuật toán “đạo đức“.

Jerome Beranger, Cố vấn cao cấp, Keosys, nhà nghiên cứu hợp tác với tổ chức Espace éthique méditerranéen.

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: Big Data et données personnelles: vers une gouvernance éthique des algorithmes,ParisTech Review, December 22nd, 2014

————–&&————–

Thách thức của cải cách kinh tế học

Cải cách kinh tế học nhìn từ bên trong: Thách thức của cải cách kinh tế học

(Tác giả: Cameron Murray – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

 

Không thể cường điệu thách thức mà cải cách kinh tế học phải đối mặt. Kinh tế học hiện đại dòng chính vẫn chiếm ưu thế trong các trường đại học và các chính phủ của chúng ta mặc cho bằng chứng áp đảo chống lại hầu hết các nguyên tắc cốt lõi của nó, và mặc chonhiều thập niên nỗ lực của các cuộc cách mạng. Khái niệm về trạng thái cân bằng tĩnh và ‘tác nhân tiêu biểu’ (‘representative agent’) của phương pháp tổng gộp chỉ là hai khái niệm mà đã nhiều lần cho thấy là không có sự nhất quán nội tại, không chỉ từ những người bên ngoài mà còn từ nhiều trong số những nhà lãnh đạo trong dòng chính. Tuy nhiên, chúng vẫn tiếp tục thống trị bộ môn [kinh tế học] này.

Điều cốt lõi vẫn không hề suy suyển.

Các khái niệm lỗi thời và không thích đáng về mặt kinh tế vẫn chiếm đầy các trang của những quyển giáo trình nhập môn. Từ đó, chúng được nhồi vào tâm trí của mỗi thế hệ sinh viên mới, đến lượt mình, họ tiếp tục chuyển giao các ý tưởng này cho thế hệ sinh viên tiếp theo, và toàn bộ xã hội rộng lớn hơn. Để biến đổi bộ môn [kinh tế học], điều cần thiết là phải phá vỡ những vòng phản hồi trong hệ thống này.

Lời kêu gọi đa nguyên xứng đáng được ca tụng. Đa nguyên là một mục tiêu mà hầu hết các nhà cải cách đều đồng thuận. Nhưng theo quan điểm của tôi, những nỗ lực cải cách kinh tế học trước đó đã thất bại vì chúng lẩn tránh, hoặc không đủ thấu hiểu, hai rào cản chính đối với sự thay đổi. Thoạt tiên, trông có vẻ không thể vượt qua được những rào cản này, nhưng nếu không tận dụng chúng để tạo ra sự thay đổi, [kinh tế học] dòng chính sẽ vẫn chiếm ưu thế bởi cách tiếp cận phân tích kinh tế chủ đạo.

Rào cản chính đầu tiên là xã hội. Kinh tế học là một ngành thường tưởng thưởng cho lòng trung thành đối với bộ lạc hơn là việc điều hòa ý kiến bất đồng. Nếu bạn theo dõi các blog về kinh tế học trong những năm gần đây, bạn có thể có cái nhìn khá rõ về điều này. Nhưngnhững hoạt động sôi nổi tương tự cũng xảy ra trong giới học thuật. Các tạp chí buộc [các bài viết phải] tuân theo các phương pháp và các khái niệm ưa thích của mình và hành động như người gác cổng cho bộ lạc, yêu cầu tất cả mọi người khi đến bộ lạc đều phải dâng hương kính lễ cho các tộc trưởng lão làng. Thêm vào đó, [kinh tế học] dòng chính đại diện cho hơn 80% của ngành, vì vậy, bất kỳ thay đổi nào do các nhóm thiểu số khởi xướng đều nhận được những cái chau mày khó chịu. Và đây chính là hiện thực xã hội.

Thách thức về mặt xã hội này, về bản chất, là làm thế nào mang các bộ lạc lại với nhau sao cho tất cả đều cảm thấy bản thân mình là “người trong nhà” trong một nhóm mới lớn hơn. Điều này không có nghĩa là khiêu chiến với các bộ lạc hùng mạnh, đặc biệt là không gây chiến với [kinh tế học] dòng chính hiện nay; mà nó có nghĩa là nêu bật bất kỳ nền tảng chung nào mà các bộ lạc đồng thuận và tin tưởng vào cách mà họ góp tay xây dựng một quan điểm tốt hơn về kinh tế học. Còn nhiều vấn đề có thể bàn về các rào cản xã hội đối với sự thay đổi trong kinh tế học, và tôi hy vọng sẽ giải quyết chúng vào chi tiết trong tương lai. Nhưng với những mục đích hiện tại thì điều này cũng cung cấp đủ bối cảnh để thảo luận về rào cản thứ hai đối với sự thay đổi.

Rào cản chính thứ hai là kỹ thuật. Vấn đề liên quan đến kỹ thuật ở đây là: Làm sao bạn có thể giảng dạy một chương trình đa nguyên khi không có cấu trúc chính thức để giới thiệu nội dung từ các tư tưởng khác nhau và thường trái ngược với nhau, và khi mà có rất ít học giả được đào tạo đủ khả năng để thực hiện điều này?

Simon Wren-Lewis

Giảng dạy một chương trình đa nguyên không nên giống như là đang giới thiệu bộ môn kinh tế học như thể nó là một trong các bộ lạc có mối thù truyền kiếp. Tôi chia sẻ nỗi lo sợ của Simon Wren-Lewis rằng một chương trình giảng dạy đa nguyên có thể trở thành một cửa hàng mà sinh viên có thể mua sắm tất cả mọi thứ, họ lướt qua các bộ lạc trước khi gia nhập vào bộ lạc nào phù hợp với hệ tư tưởng chính trị hiện có của mình nhất. Thay vào đó, mục tiêu nên là đào tạo một thế hệ kinh tế gia nhận thức được di sản của mỗi trường phái tư tưởng, và thừa nhận nền tảng chung giữa chúng.

Có một câu châm ngôn xưa cũ cho rằng nếu bạn hỏi năm nhà kinh tế cùng một câu hỏi, bạn sẽ nhận được năm câu trả lời khác nhau – và sáu nếu có nhà kinh tế ở Harvard. Liệu chúng ta có thể giảng dạy một chương trình đa nguyên mà chương trình này sẽ làm cho các kinh tế gia suy nghĩ theo cách tương tự nhau, để rồi khi bạn đặt cùng một câu hỏi cho năm nhà kinh tế, bạn sẽ nhận được một câu trả lời hay ho?

Vấn đề này cần một giải pháp có hệ thống. Ví dụ, chúng ta cần suy nghĩ về phương cách để cấu trúc việc giảng dạy xung quanh các chủ đề và khái niệm cho phép sinh viên có thể nghiên cứu các vấn đề và đánh giá các cách tiếp cận tiềm năng. Chúng ta cần một giáo trình hoặc một bộ giáo trình thay thế mà ở đó có thể thể hiện thỏa đáng mỗi cách tiếp cận và cuối cùng là cung cấp nền tảng cho một chương trình giảng dạy đa nguyên.

Hiện nay, thậm chí các quyển giáo trình chính thống nhất cũng chỉ bổ sung một vài ý kiến về các cách tiếp cận khác. Ví dụ, các trường phái kinh tế học thực nghiệm hoặc kinh tế học hành vi phổ biến hiện nay – dù cho khắp nơi coi đó là một cuộc cách mạng trong tư duy kinh tế và khoa học kinh tế – nhận được rất ít tín nhiệm trong các quyển giáo trình phổ biến nhất. Sau khi xem xét nội dung của 25 quyển giáo trình nhập môn kinh tế vi mô phổ biến ở bậc đại học, Lombardini-Riipinien và Autio thấy rằng:

“… mười trong số 25 quyển giáo trình được kiểm tra không có tài liệu tham khảo nào về kinh tế học hành vi; sáu quyển dành cho nó ít hơn 1% tổng số trang, sáu quyển từ 1% đến 2,6%, và ba quyển từ 6% đến 11%. Khi thảo luận về kinh tế học hành vi, trọng tâm vẫn có xu hướng bàn về duy lý hạn chế (bounded rationality) hơn là tư lợi hạn chế (bounded self-interest) hoặc ý chí hạn chế (bounded willpower).”

“Kinh tế học thực nghiệm không hề được thảo luận trong mười quyển giáo trình, mười hai quyển dành cho nó ít hơn 0,6% tổng số trang, trong khi ba quyển dành từ 2% đến 10% tổng số trang.”

Joan Robinson (1903-1983)
John Eatwell (1945-)

Joan Robinson đã cố gắng viết lại toàn diện quyển giáo trình cốt lõi về nhập môn kinh tế học với John Eatwell vào năm 1973. Tuy quyển sách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là đặt phân tích kinh tế trong bối cảnh triết học và lịch sử, nhưng nó lại không cung cấp khung sườn cố kết để dựa vào đó mà xây dựng sự thông hiểu về kinh tế học. Nó chứa đựng rất ít nội dung hỗ trợ sinh viên trong việc trả lời các câu hỏi thực tế hàng ngày về nền kinh tế. Tiền đến từ đâu? Làm thế nào để đo lường thất nghiệp? Làm thế nào chúng ta có thể đánh giá các đối chọn thay thế để giải quyết các hiệu ứng ngoại lai tiêu cực (negative externalities)? Khái niệm rất riêng về hiệu ứng ngoại lai này có hữu ích không khi nó ngụ ý sự tồn tại của một thế giới không hề có hiệu ứng ngoại lai?

Điều cần thiết ở đây là một phương cách để kết cấu việc khảo sát phân tích kinh tế bằng cách sắp xếp các vấn đề kinh tế xung quanh một số lĩnh vực cốt lõi. Các phương pháp tiếp cận từ những trường phái tư tưởng khác nhau có thể được đưa vào phân tích khi thích hợp, cùng với việc nhấn mạnh nền tảng chung và các mối liên kết giữa chúng.

Theo quan điểm của tôi, để đạt được điều này đòi hỏi phải sắp xếp những mô hình và ý tưởng vào các lĩnh vực khái niệm vượt khỏi các trường phái tư tưởng cụ thể. Sau đó, bất kỳ chủ đề kinh tế nào cũng đều có thể được trình bày như một vấn đề chung, chẳng hạn như, “Tại sao các công ty tồn tại?”, hoặc “Tại sao chúng ta quan tâm đến việc phân bổ các nguồn lực?” Nhưng các cuộc thảo luận này sẽ được cấu trúc thành các lĩnh vực có thể áp dụng rộng rãi.

Để minh họa, hãy xem xét sơ đồ sau đây. Hai mức thấp hơn (được đánh dấu màu vàng) là hai lĩnh vực kinh tế học dòng chính hiện hành.

Khi thảo luận về hành vi của người tiêu dùng, nó sẽ được lưu ý rằng đây là một phân tích về phúc lợi. Một giảng viên giỏi sẽ giải thích rằng bất kỳ lựa chọn nào của người tiêu dùng cũng sẽ phụ thuộc vào tình hình trong các lĩnh vực ở phía cao hơn [trong sơ đồ trên]. Khi thảo luận về sản xuất và các lựa chọn của công ty, chúng sẽ được phác họa như là một trong những nguồn lực thực được đồng thuận, hàng hóa vật chất mà chúng ta tiêu thụ, và tư bản hữu hình mà chúng ta đầu tư. Một lần nữa, các lĩnh vực ở phía cao hơn [trong sơ đồ trên] sẽ cung cấp kiến thức cho những điều này, chẳng hạn như ai sở hữu quyền đối với tài sản. (Rốt cuộc thì bạn sẽ không thể xây dựng một tòa nhà mà không có quyền hợp pháp đối với địa điểm bạn dự kiến sẽ xây.)

Cameron Murray

Chúng ta cần phải khám phá các mối liên kết giữa các lĩnh vực và những hạn chế của từng lĩnh vực trong việc đưa ra lời giải thích cho toàn bộ, và tôi hy vọng sẽ phát triển khái niệm này trong tương lai.

Nếu cộng đồng các nhà cải cách kinh tế không nỗ lực để tái xây dựng đường lối giảng dạy kinh tế học, và đưa ra những quyết định khó khăn về phương cách kết cấu các giáo trình cốt lõi mới, bao gồm những gì nên để lại và những gì nên bỏ đi, khi đó sự thay đổi vẫn còn ngoài tầm tay. Chúng ta không thể kêu gọi sự thay đổi trong môi trường xã hội bộ lạc của kinh tế học mà không đưa ra một lựa chọn hấp dẫn thay thế – một lựa chọn mà trong đó bao trùm những tinh hoa từ mỗi trường phái tư tưởng và tìm kiếm nền tảng chung mà không cần tạo ra một tập hợp mới những người ngoài cuộc.

Nguyễn Hoàng Mỹ Phương dịch

Nguồn: Murray, Cameron. “Inside the reform of Economics. Reforming Economics: The Challenge”. Inside, Vol. 1, no.1, November 10, 2014.

————–&&————–

Trường phái Anh Quốc (English School)

Trường phái Anh Quốc (English School)

(Nguồn: http://nghiencuuquocte.org)

Tác giả: Nguyễn Thành Trung

Nguồn gốc của Trường phái Anh Quốc có thể được coi xuất phát từ cuối những năm 1930. Không giống như những lý thuyết có nguồn gốc từ truyền thống dựa trên thuyết hành vi (bahaviouralist) hay thuyết thực chứng (positivist), Trường phái Anh Quốc đại diện cho tổng hòa cách tiếp cận pha trộn lý tính (rationalist) và luân lý (moralist). Nói cách khác, đây là trường phái tư tưởng tập trung vào các đặc điểm và nguyên tắc mang tính đạo đức, chính trị và xã hội của hệ thống quốc tế, và chỉ rõ những đặc điểm và nguyên tắc này vừa giúp hình thành vừa hạn chế lợi ích và hành động của các quốc gia như thế nào.

Mặc dù tên gọi của trường phái này chỉ được chính thức thiết lập vào đầu những năm 1980 nhưng trường phái này đã trải qua những bước tiến hóa trong suốt những năm 1960 và 1970 với các trước tác của Hedley Bull, John Vincent, và Martin Wright. Trong tác phẩm có lẽ được coi là nổi tiếng nhất của mình Xã hội Vô chính phủ (The Anarchical Society), Bull đã tìm cách chứng minh bản chất của các qui tắc luân lý và quy phạm mà dựa vào đó các quốc gia cố gắng học cách hợp tác với nhau, cũng như làm sáng tỏ những ràng buộc mang tính qui phạm của trật tự quốc tế và việc hoạch định chính sách.

Nói chung, Trường phái Anh Quốc bao gồm 3 nhóm truyền thống lý thuyết chính: chủ nghĩa Grotius (Grotianism), chủ nghĩa Kant (Kantism), và chủ nghĩa Hobbes (Hobbesianism). Trong đó, chủ nghĩa Grotius dựa trên các tác phẩm của Hugo Grotius, một luật sư và chính khách người Hà Lan vào đầu thế kỷ 18, đại diện cho nhóm duy lý trong trường phái. Trái lại, chủ nghĩa Kant và chủ nghĩa Hobbes lần lượt đại diện cho các nhóm theo tư tưởng đại đồng (universalist) và hiện thực. Mỗi nhóm tư tưởng có một bộ nguyên tắc cấu trúc khác nhau dùng để lý giải chính trị quốc tế. Trong khi chủ nghĩa Grotius đề cập đến các hạn chế lý tính của luật pháp trong nước đối với quốc gia và xã hội quốc tế (chủ nghĩa duy lý), thì chủ nghĩa Hobbes đại diện cho bản chất vô chính phủ của hệ thống quốc tế, hay nói một cách cụ thể hơn là quan niệm cho rằng xã hội quốc tế có xu hướng dẫn tới chiến tranh xuất phát từ sự nghi kỵ và cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia. Trái lại, chủ nghĩa Kant đại diện cho nhóm mang tư tưởng đại đồng và luân lý của Trường phái Anh Quốc, trong đó họ cho rằng tình đoàn kết quốc tế được thể hiện bởi nghĩa vụ thực hiện theo đúng các nguyên tắc quốc tế về trách nhiệm giải trình và tôn trọng lẫn nhau.

Ở đây chúng ta cần phải nhấn mạnh những khác biệt giữa các nhánh tư tưởng khác nhau trong Trường phái Anh Quốc, bao gồm hai nhánh tư tưởng cơ bản: chủ nghĩa đoàn kết (solidarism) và chủ nghĩa cá thể (particularism). Trong khi những người theo chủ nghĩa đoàn kết ưu tiên an ninh tập thể hay các quyền mang tính quốc tế trong phân tích của họ, thì những người theo chủ nghĩa cá thể nhấn mạnh giá trị qui phạm của chủ quyền quốc gia, hay nói cách khác là các động cơ xuất phát từ việc khẳng định và giữ gìn chủ quyền quốc gia thông qua hợp tác.

Trong thập niên 1980 và 1990, nhánh theo chủ nghĩa đoàn kết có thể nói đã có vai trò nổi bật hơn trong tư tưởng của Trường phái Anh Quốc, đặc biệt là trong bối cảnh cuộc tranh luận về mục đích và trách nhiệm liên quan đến can thiệp nhân đạo. Những người theo chủ nghĩa đoàn kết như Tim Dunne và Nick Wheeler thách thức các phân tích về can thiệp nhân đạo theo chủ nghĩa cá thể được ủng hộ bởi các học giả như Vincent bằng cách nhấn mạnh trách nhiệm tập thể của cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ quyền của những dân tộc bị áp bức. Cuộc tranh luận này dẫn tới các cuộc thảo luận rộng khắp hơn về vấn đề liệu sự quá độ từ một xã hội quốc tế sang xã hội thế giới có đòi hỏi phải có những phân tích xã hội học và thể chế rộng lớn hơn về xã hội dân sự toàn cầu hay không.

Chẳng hạn Barry Buzan lập luận rằng việc tập trung vào nhân quyền mặc dù giúp mang lại nhiều kiến giải quan trọng nhưng cũng chỉ là một trong những lĩnh vực thiết yếu của nghiên cứu mà thôi. Quan trọng không kém chính là các nguồn gốc kinh tế của xã hội thế giới và quốc tế, trong đó liên quan đến vai trò của các tổ chức phi chính phủ cũng như các chủ thể phi nhà nước khác, như các tổ chức khủng bố. Dù có đồng ý với các nỗ lực của Buzan trong việc thiết kế một lý thuyết Trường phái Anh Quốc mang tính hệ thống hay không thì lập luận của Buzan cũng khiến chúng ta phải lưu tâm tới một số hạn chế của lý thuyết Trường phái Anh Quốc. Có lẽ quan trọng hơn, phản biện của Buzan cho thấy mối quan tâm mới xuất hiện trở lại đối với lý thuyết Trường phái Anh Quốc trong giai đoạn hậu Chiến tranh Lạnh cũng như viễn cảnh mở rộng lý thuyết này, đặc biệt trên khía cạnh giải thích và thấu hiểu vai trò đang biến chuyển của đạo đức, các giá trị xã hội, quyền lực toàn cầu và các khái niệm mang tính đại đồng của tình đoàn kết và hòa bình.

Nguồn: Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ biên), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, (TPHCM: Khoa QHQT – Đại học KHXH&NV TPHCM, 2013).

————&&————

Thương mại tác động tới tiền lương như thế nào?

Thương mại tác động tới tiền lương như thế nào?

(Nguồn: http://nghiencuuquocte.org)

Nguồn:The relationship between trade and wages“, The Economist, 04/09/2016

Biên dịch: Lê Thị Hồng Loan | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Thương mại có ảnh hưởng xấu đến tiền lương không? Hay chính xác hơn, việc nhập khẩu từ các nền kinh tế có mức lương thấp có làm tổn hại công nhân ở các nền kinh tế có mức lương cao không? Nhiều người cho là như vậy. Các nhà kinh tế học thì giải thích thuyết phục hơn một chút. Quay trở lại những năm 1930, một nhà kinh tế học về thương mại, Gottfried Haberler, đã lập luận rằng ” tổng thể tầng lớp lao động không có gì phải lo sợ về thương mại quốc tế” – ít nhất là trong dài hạn. Sự tin tưởng này được căn cứ trên ba quan sát.

Lao động, không giống như nhiều nguồn lực sản xuất khác, là cần thiết trong tất cả các ngành nghề. Do đó sẽ luôn có nhu cầu đối với lao động cho dù toàn cầu hóa làm đảo lộn cơ cấu công nghiệp của một quốc gia tới mức nào đi nữa. Qua thời gian, lao động cũng trở nên linh hoạt. Người lao động có thể di chuyển và được đào tạo lại; những người mới gia nhập có thể được thu hút vào các ngành mới nổi thay vì các ngành công nghiệp đang suy giảm. Cuối cùng, công nhân cũng là người tiêu dùng, những người thường xuyên mua hàng hoá nước ngoài tại các cửa hàng địa phương. Ngay cả khi sự cạnh tranh từ hàng nhập khẩu giá rẻ kéo mức tiền lương (danh nghĩa) của họ xuống, rốt cuộc họ sẽ vẫn thu được phúc lợi nếu giá giảm nhiều hơn.

Tuy nhiên niềm tin của Haberler đã không được chia sẻ rộng rãi. Wolfgang Stolper, một nhà kinh tế học Harvard, nghi ngờ rằng sự cạnh tranh từ các quốc gia dư thừa lao động có thể làm tổn hại người lao động ở những quốc gia khác. Năm 1941, ông cộng tác với Paul Samuelson, đồng nghiệp tại Harvard, để chứng minh điều đó.

Định lý Stolper-Samuelson kết luận rằng loại bỏ thuế quan đối với hàng hóa thâm dụng lao động sẽ làm giảm tiền lương nhiều hơn giá, làm tổn hại đến tầng lớp người lao động, ngay cả khi phúc lợi tăng lên đối với tổng thể nền kinh tế. Logic của định lý này dựa trên sự tương tác giữa các ngành công nghiệp có mức độ thâm dụng lao động khác nhau. Tốt nhất nên giải thích định lý này với một ví dụ.

Giả sử một nền kinh tế có mức lương cao được chia thành hai ngành công nghiệp: trồng lúa mỳ (thâm dụng đất) và sản xuất đồng hồ, một ngành sử dụng nhiều lao động và được bảo vệ với mức thuế [nhập khẩu đồng hồ] 10%. Nếu bảo hộ [thuế] được dỡ bỏ, giá đồng hồ sẽ giảm 10%. Điều đó sẽ buộc ngành công nghiệp này phải thu hẹp [quy mô], sa thải lao động và bỏ trống đất. Điều đó tới lượt nó sẽ tạo áp lực làm giảm tiền lương và tiền thuê đất. Đáp lại, người trồng lúa mì sẽ mở rộng sản xuất, lợi dụng nguồn đất và lao động mới có sẵn. Xu hướng này sẽ tiếp tục cho đến khi chi phí sản xuất đồng hồ giảm 10%, cho phép ngành công nghiệp này cạnh tranh với hàng nhập khẩu miễn thuế.

Stolper và Samuelson chú ý đến sự kết hợp của chi phí thuê đất và tiền lương để giúp đạt được mức sụt giảm chi phí này. Người ta có thể giả định rằng cả hai sẽ giảm 10%. Nhưng điều đó là sai lầm. Bởi vì sản xuất đồng hồ là ngành thâm dụng lao động, sự thu hẹp sản xuất của nó sẽ tạo ra nhiều lao động dư thừa hơn đất, gây sức ép làm giảm tiền lương nhiều hơn so với tiền thuê đất. Ngược lại, sự mở rộng sản xuất của người trồng lúa mì sẽ gây áp lực làm tăng tiền thuê đất nhiều hơn so với tiền lương. Kết quả cuối cùng là tiền lương sẽ giảm nhiều hơn 10% do tiền thuê đất sẽ giảm ít hơn. Tiền thuê đất sẽ tăng lên một cách nghịch lý. Sự kết hợp của lao động rẻ hơn nhiều và đất đắt hơn một chút sẽ khôi phục lại “giao  kèo” giữa hai ngành sản xuất. Nó sẽ ngăn chặn sự thu hẹp của các nhà sản xuất đồng hồ (vì lao động rẻ hơn sẽ có lợi cho họ nhiều hơn mức mà tiền thuê đất cao hơn gây hại cho họ). Nó cũng sẽ kìm hãm sự mở rộng của người trồng lúa mì (vì tiền thuê đất cao hơn ảnh hưởng xấu đến họ nhiều hơn mức mà lao động giá rẻ sẽ giúp họ).

Trong ví dụ này, tự do hóa thương mại làm sụt giảm tiền lương nhiều hơn giá cả hàng hóa, gây tổn hại đến người lao động trong điều kiện thực tế. Kết luận ảm đạm này đã chứng minh là có ảnh hưởng đáng kể. Nó xuất hiện ngay cả 75 năm sau, trong cuộc tranh luận về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương giữa Mỹ và 11 quốc gia khác, nhiều trong số đó là các nền kinh tế có mức lương thấp. Một số nhà kinh tế thấy tiếc về tác động này, cho rằng kết luận rõ ràng của định lý không đứng vững nếu đặt ra ngoài các bối cảnh ước lệ mà trong đó định lý được hình thành lúc ban đầu. Ngay cả đồng tác giả của định lý, Paul Samuelson, cũng do dự với kết quả này. Về sau ông viết: “Mặc dù thừa nhận đây là một điều khá có khả năng về mặt lý thuyết, hầu hết các nhà kinh tế vẫn có khuynh hướng nghĩ rằng chân lý trong định lý đó là quá ít ỏi nếu xét đến những cân nhắc khác thực tế hơn.”

—————&&————–