Coursera MOOC-Portfolio and Risk Management; University of Geneva

Coursera MOOC-Portfolio and Risk Management; University of Geneva

About this course: In this course, you will gain an understanding of the theory underlying optimal portfolio construction, the different ways portfolios are actually built in practice and how to measure and manage the risk of such portfolios. You will start by studying how imperfect correlation between assets leads to diversified and optimal portfolios as well as the consequences in terms of asset pricing. Then, you will learn how to shape an investor’s profile and build an adequate portfolio by combining strategic and tactical asset allocations. Finally, you will have a more in-depth look at risk: its different facets and the appropriate tools and techniques to measure it, manage it and hedge it. Key speakers from UBS, our corporate partner, will regularly add a practical perspective on these different topics as you progress through the course.

University of Geneva

Syllabus
  • General Introduction and Key Concepts
In this introductory week, you will first be presented with a few mistakes you will no longer make after following this course. In order to avoid making these mistakes, you will start by gaining a foundation and understanding of the three main types of information we need in order to build optimal portfolios: expected returns, risk and dependence.
  • Modern Portfolio Theory and Beyond
The focus of this second week is on Modern Portfolio Theory. By understanding how imperfect correlations between asset returns can lead to superior risk-adjusted portfolio returns, we will soon be looking for ways to maximize the effect of diversification, which is at the heart of Modern Portfolio Theory. But we won’t stop there: we will also explore the implications of Modern Portfolio Theory on real-world investment decisions and whether or not these implications are followed by investors. Finally, we will see how Modern Portfolio Theory can be built upon to derive the most popular asset pricing model: the Capital Asset Pricing Model.
  • Asset Allocation
This third week is dedicated to asset allocation. After a short introduction to investor profiling, we will delve into Strategic Asset Allocation (SAA). You will see how it relates to Modern Portfolio Theory and how it differs from Tactical Asset Allocation (TAA). We will look at how both asset allocations can be implemented separately but also in conjunction in order to build portfolios that fulfill investors’ needs and constraints while taking advantage of market opportunities.
  • Risk Management
This fourth and final week is dedicated to risk. We will start by looking in more depth at different sources of risk such as illiquidity and currency risk but also at the different tools available to investors to perform risk management. But how should we measure risk? We will see that it may be valuable to go a step beyond standard deviation, the risk measure we used so far, and look at the Value-at-Risk and Expected Shortfall which focus on potential large losses. Finally, we will use the financial instruments at our disposal to hedge market and currency risk.
***********
Đăng kí (free): link
—————–&&&—————-

“Ba điều dối trá” về tài chính

“Ba điều dối trá” về tài chính

(Tác giả: Gilles Raveaud – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com/)

Sự thật xuất phát từ miệng của các quan chức ngân hàng trung ương. Trong một bài phát biểu vào ngày 21 tháng 9, 2015 Mark Carney, thống đốc hiện nay của Ngân hàng Trung ương Anh, đã nêu bật điều mà ông gọi là “ba điều dối trá” của nền tài chính hiện đại: làm cho người ta tin rằng có thể nợ nần vô hạn mà không rủi ro; nói rằng các thị trường tự cân bằng với nhau; khẳng định rằng các thị trường mang tính đạo đức. Đó quả là một quả bom nổ từ bên kia bờ biển Măng-sơ chống lại những gì được giảng dạy tại Đại học Harvard hoặc được Bruxelles (nơi có trụ sở của EU – ND) hay Bercy (nơi có trụ sở của Bộ tài chính Pháp – ND) lặp đi lặp lại.

Điều dối trá thứ nhất: “Lần này thì khác”

Điều ngạc nhiên là Carney mở đầu bài phát biểu bằng việc ca ngợi chính sách tiền tệ của nước Anh vào những năm 1970 và 1980, được ông đánh giá là “có trách nhiệm về mặt dân chủ” và “có hiệu quả cao” trong cuộc chiến chống lạm phát. Nhưng đó là để ngay lập tức chỉ ra rằng “những đổi mới ấy không mang lại một sự ổn định kinh tế vĩ mô bền vững. Mà còn ngược lại đằng khác”.

Thật vậy, dưới mặt nước yên lặng của sự ổn định giá cả (giá cả hàng hóa và dịch vụ, chứ không phải giá cả tài sản), là sự gầm gừ của con quái vật nợ nần, đã sầm sầm thức dậy vào năm 2008. Nguyên nhân là vấn đề nhân khẩu học, và cả “sự trì trệ về tiền lương thực tế của tầng lớp trung lưu (mà bản thân nó xuất phát từ công nghệ tiên tiến và toàn cầu hóa)”, ngoài ra vấn đề nợ nần cũng được hỗ trợ bởi sự đổi mới tài chính và sự dồi dào của tiền tiết kiệm.

“Các thị trường chỉ tự cân bằng trong sách giáo khoa mà thôi. Trong thực tế, con người là phi duy lý”

Đặc biệt – và chính điều dối trá nằm ở đây, Carney nói – “sự dễ dãi của các cá nhân và các thể chế, được nuôi dưỡng trong một thời gian dài ổn định về kinh tế vĩ mô và gia tăng giá cả các tài sản, đã làm cho người ta tin rằng không nên day dứt về vấn đề nợ nần là điều hợp lý“.

Theo Carney, cho dù không nhất thiết phải theo quan điểm trên, một khi cuộc khủng hoảng đã xảy ra, các nhà hoạch định chính sách “đã nhanh chóng từ bỏ các ý tưởng được phát triển trong thời kỳ Đại điều độ” để “học lại các bài học của thời kỳ Đại suy thoái (1930)”.

Tuy nhiên, ông lo ngại rằng Trung Quốc cũng đang ngồi trên những núi nợ (từ nay đã đạt gần đến 200% GDP)…

Điều dối trá thứ hai: “thị trường luôn ở trạng thái cân bằng” (*)

Đây là huyền thoại trung tâm của kinh tế học đương đại: theo đó, “quy luật” cung cầu, hệ quả không thể tránh khỏi của “sự tự do cạnh tranh“, được coi là để đảm bảo sự cân bằng của lượng cung cầu, và như vậy cho phép sử dụng các nguồn lực sẵn có một cách hiệu quả nhất có thể.

“Các nhà hoạch định chính sách đã bị cuốn hút bởi huyền thoại theo đó nền tài chính có thể tự điều tiết và tự sửa sai”

Như Carney đã nói, “các nhà hoạch định chính sách đã bị cuốn hút bởi huyền thoại theo đó nền tài chính có thể tự điều tiết và tự sửa sai một cách tự nhiên“. Tuy nhiên, ông lưu ý rằng, thay vì hình ảnh yên tâm của sự cân bằng, là sự mất cân bằng trên mọi thị trường, bất luận là thị trường hàng hóa, thị trường lao động hay thị trường tài sản.

John M. Keynes (1883-1946)

Và khi nói rằng các thị trường luôn tự cân bằng được có hai hậu quả nguy hiểm.

Đầu tiên, người ta khó mà phát hiện các hiện tượng bong bóng, bởi vì giá cả được cho là “đúng“, xa rời với sự vận hành thực của các thị trường tài chính (như mô tả của Carney khi viện dẫn trực tiếp đến “cuộc thi sắc đẹp” của Keynes, xem ra một số quan chức ngân hàng trung ương cũng biết đọc sách hay!). Ngoài ra, bất kỳ sự bất ổn nào vì thế được gán cho nguyên nhân biến dạng của thị trường hoặc tính bất toàn của thị trường, dẫn đến việc phải “tạo ra những thị trường mới” để giải quyết tạm thời những thiếu sót của các thị trường cũ – điều mà Carney gọi là “tiến triển mà không ngừng lùi bước“.

“Khi tồn tại sự không hoàn hảo (có nghĩa là luôn luôn tồn tại), thì việc bổ sung thêm các thị trường đôi khi có thể làm cho mọi việc tồi tệ hơn”

Tuy nhiên, Carney nhấn mạnh, “các thị trường chỉ tự cân bằng trong sách giáo khoa mà thôi. Trong thực tế, con người là phi duy lý, các nền kinh tế không hoàn hảo và chính ngay trạng thái của tự nhiên [có nghĩa là tình hình kinh tế thực – BBT] là không thể biết được“. Từ thực tế đó, “khi tồn tại sự không hoàn hảo (có nghĩa là luôn luôn tồn tại), thì việc bổ sung thêm các thị trường đôi khi có thể làm cho mọi việc tồi tệ hơn” – như đã chỉ ra ví dụ về các tín dụng phái sinh, đã làm gia tăng thay vì phân chia rủi ro như đã hứa.

Frank Knight (1885-1972)

Sau đó, Carney phân tích đền thờ kinh tế học, mô hình Arrow-Debreu, mà các giả định của thị trường đầy đủ (có nghĩa là những thị trường có thể dự đoán được mọi trạng thái trong tương lai) là, theo lời của ông, “điều phi lý về mặt mô tả thế giới thực“. Từ bỏ truyền thống tân cổ điển, Carney quay trở lại với Frank Knight và khái niệm “bất trắc” của ông ấy với hệ quả là các cá nhân thực hiện sự lựa chọn của họ theo một “tí chút có vẻ là kiến thc”, bản thân tâm trạng của những người tham gia thị trường cũng bị ảnh hưởng bởi “bản năng động vật” của Keynes.

Điều dối trá thứ ba: “các thị trường mang tính đạo đức”

Tất nhiên, Carney không quên đề cập đến nhiều phẩm chất của thị trường, nguồn gốc của sự thịnh vượng, tăng trưởng và các công cụ quản lý rủi ro. Nhưng, ông lưu ý rằng “nếu để tự bản thân các thị trường vận động, thì chúng có thể có khuynh hướng thái quá và lạm dụng”.

Carney muốn “xây dựng lại các thị trường công bằng và hiệu quả“, mang tính “chuyên nghiệp và cởi mở

Đặc biệt là trường hợp của các thị trường tài chính, nơi mà “các giá trị trở nên trừu tượng và tương đối” và “đám đông có thể lấn át sự chính trực của cá nhân”. Để vận hành, các thị trường cần có “sự đồng thuận của xã hội“; tuy nhiên, sự đồng thuận này bị đặt lại vấn đề bởi những vụ bê bối gần đây (Libor, Forex, vv).

Để khôi phục lại niềm tin này, Carney muốn “xây dựng lại các thị trường công bằng và hiệu quả“, mang tính “chuyên nghiệp và cởi mở“, chứ không phải “những thị trường phi chính thức và vận hành như các câu lạc bộ”. Tuy nhiên, điều này giả định rằng “tất cả các tác nhân của thị trường, công cũng như tư, phải hiểu được trách nhiệm của mình đối với hệ thống trong một thể thống nhất”.

Một vài điều dối trá thật

Đối với Carney, ngày nay người ta dễ chống lại những điều dối trá nói trên hơn là trong quá khứ.

Để đáp lại điều dối trá đầu tiên (khẳng định những thành công của sự đổi mới tài chính), ông cho rằng Ngân hàng Trung ương Anh có những “quyền hạn rất lớn” để thúc đẩy sự ổn định tài chính. Ngân hàng Trung ương Anh đã yêu cầu tăng mức vốn của các ngân hàng và thắt chặt các điều kiện cung cấp các tín dụng bất động sản. Như vậy, hiện tượng “quá lớn để sụp đổ” (nghĩa vụ hỗ trợ các định chế tài chính lớn đang gặp khó khăn, bằng tiền của người nộp thuế) phải giảm, nhờ việc loại bỏ các khoản trợ cấp công tiềm ẩn và hoạt động cạnh tranh ngày càng gia tăng.

Carney kêu gọi sự nâng cao trách nhiệm của các cá nhân và doanh nghiệp, và áp dụng các hình phạt nặng hơn đối với những người gian lận

Đối với điều dối trá thứ hai (về khả năng tự cân bằng của các thị trường), người ta đã tiến hành nhiều chính sách cải cách để gỡ rối các sản phẩm phái sinh phức tạp, và từ nay Ngân hàng (Trung ương) đã sẵn sàng để hành động như là “người làm nên thị trường cuối cùng” trong trường hợp cần thiết.

Để đáp lại điều dối trá thứ ba (chiều kích mạo xưng về tính đạo đức của các thị trường), Carney cho rằng những thay đổi đã diễn ra trong các chính sách tiền lương và đãi ngộ, hoặc trong việc làm rõ trách nhiệm của các nhà lãnh đạo.

Tuy nhiên, ông lưu ý, “cần phải làm nhiều hơn nữa” (phew!).

Và Carney kêu gọi sự nâng cao trách nhiệm của các cá nhân và doanh nghiệp, và áp dụng các hình phạt nặng hơn đối với những người gian lận.

Hơn nữa, để cuộc tranh luận được tiếp diễn, Ngân hàng (Trung ương) Anh đã tổ chức một diễn đàn, nơi mà mọi người có thể gửi các đề xuất cải cách của mình để xây dựng những thị trường “xứng đáng để xã hội chấp nhận và làm củng cố vốn xã hội”.

Trọng lượng của niềm tin

Jean-Claude Trichet (1942-)

Đọc xong bài phát biểu của Mark Carney, người ta kinh ngạc trước những phê phán đối với những gì đang được giảng dạy tại các trường đại học “tốt nhất” thế giới, hay đối với các nguyên tắc hướng dẫn chính các cơ sở nền tảng của Liên minh châu Âu. Đọc bài phát biểu của một thống đốc ngân hàng trung ương, được viết dựa trên một cách đọc cấp tiến về Keynes hay về Knight và cho rằng mô hình Arrow-Debreu là phi lý, khác xa với diễn ngôn của Jean-Claude Trichet (nguyên Thống đốc ECB – ND) và sự “giảm phát cạnh tranh” mang tính tàn phá của ông ấy…

Tuy nhiên, chúng ta sẽ ít bị thuyết phục bởi những thay đổi trong chính sách điều tiết về tài chính kể từ khi cuộc khủng hoảng nổ ra vào năm 2008. Để khôi phục lại nền tài chính và rút ra những kết luận về mặt kinh tế chính trị từ những cách đọc lành mạnh được viện dẫn ở trên, chúng ta sẽ cần một sự thay đổi về chính trị và trí tuệ với cường độ lớn, một điều không dễ diễn ra.

GILLES RAVEAUD

Phó giáo sư về kinh tế tại Đại học Paris 8 Saint-Denis

Gilles Raveaud

Gilles Raveaud là Phó giáo sư về kinh tế tại Viện Nghiên cứu Châu Âu thuộc Đại học Paris 8 Saint-Denis. Ông là tác giả của cuốn La dispute des économistesSự tranh cãi của các nhà kinh tế học (NXB Le Bord de l’eau, 2013) và đóng góp vào các tác phẩm Petit bréviaire des idées reçues en économieSách gối đầu giường về những ý tưởng trong kinh tế học (NXB La Découverte, 2004) và Douze économistes contre le projet de constitution européenneMười hai nhà kinh tế học chống lại dự thảo Hiến pháp châu Âu(NXB L’Harmattan, 2005). Ông làm hậu tiến sĩ tại Đại học Harvard (Mỹ) từ năm 2005 đến năm 2007.

Ông là thành viên hội đồng quản trị của Hiệp hội Kinh tế học Chính trị của Pháp (AFEP), nơi ông đặc biệt phụ trách các vấn đề về giảng dạy, và là thành viên ban biên tập của tạp chí L’Économie Politique (Kinh tế Chính trị).

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: Les “trois mensonges” de la finance, Altereco Plus, 28/09/2015


Ghi chú: (*) Các mô hình CAPM và APT đều yêu cầu giả thiết thị trường cân bằng.

—————&&&————-

Google Trends của các phần mềm thống kê: R, Matlab, SAS, SPSS, Stata

Google Trends của các phần mềm thống kê: R, Matlab, SAS, SPSS, Stata

(Nguồn: https://www.google.com/trends)

r

Ghi chú: Các con số thể hiện mức độ phổ biến trong tìm kiếm bằng Google của các phần mềm tại từng tháng. Con số lớn nhất của tất cả phần mềm, trên tất cả các tháng (phạm vi toàn thế giới) được cho điểm 100.



rvietnam

Ghi chú: Các con số thể hiện mức độ phổ biến trong tìm kiếm bằng Google của các phần mềm tại các quốc gia. Con số lớn nhất của tất cả phần mềm, trên tất cả các quốc gia (tính trong suốt khoảng thời gian) được cho điểm 100.

————&&&———–

Thi SAT và công bằng xã hội

Napoleon, thi SAT và công bằng xã hội

(Tác giả: Alain de Botton – Người dịch: TQ – Nguồn: https://hocthenao.vn)

Tiểu luận dưới đây trích từ Status Anxiety (Nỗi lo âu về địa vị xã hội) của Alain de Botton. Bản tiếng Anh (2004), bản tiếng Việt (sắp xuất bản), tên của đoạn trích đăng do HTN tự đặt.

Chuyện thứ hai: Địa vị cũng có hàm ý đạo đức

Tâm điểm trong tư tưởng Kitô giáo truyền thống tuyên bố rằng địa vị không mang ý nghĩa đạo đức. Jesus là con người hiển hách nhất, nhưng ngài từng là thợ mộc. Pilate, vốn là một chức sắc có vai vế của đế chế,  là một kẻ có tội[1]: chỉ riêng sự không phù hợp này đã chứng tỏ địa vị một người trong thang bậc xã hội không phản ánh những phẩm chất thực sự của anh ta hay cô ta. Người ta có thể thấy một cá nhân thông minh, tử tế, tháo vát, nhanh nhẹn và sáng tạo phải lau sàn nhà, và một kẻ lẹm cằm[2], băng hoại, fin de race[3], sa đích[4] và xuẩn ngốc lại đang cai trị một quốc gia.

Việc xác quyết về sự tách rời giữa thứ bậc và giá trị thực chất thật khó mà bác bỏ được khi mà ở các xã hội phương Tây, từ nhiều thế kỷ qua vị trí đã được phân bổ dựa theo huyết thống hay các mối quan hệ gia đình hơn là tài năng, một thông lệ đã gây ra hệ quả là nhiều thế hệ vua không có năng lực cai trị, những lãnh chúa không thể quản lý địa sản của chính mình, những thống lĩnh không thể hiểu những điều phức tạp của trận đánh, những nông dân còn thông thái hơn chủ nhân và những tỳ nữ hiểu biết nhiều hơn nữ chủ.

Khuôn mẫu trên đứng vững cho đến giữa thế kỷ 18, khi những tiếng nói đầu tiên bắt đầu chất vấn nguyên tắc cha truyền con nối. Những người cha có thực sự khôn ngoan khi luôn để con trai họ thừa hưởng việc kinh doanh mà không xem xét đến trí thông minh của chúng? Những đứa trẻ của hoàng gia có nhất thiết phù hợp nhất để vận hành đất nước? Để thấy rõ sự điên rồ của nguyên tắc này, ta đặt sự so sánh vào một lĩnh vực của đời sống, nơi từ lâu một hệ thống trọng nhân tài đã được củng cố và chấp nhận bởi ngay cả những người cổ suý mạnh mẽ nhất đặc quyền cha truyền con nối: văn học. Khi chọn một cuốn sách, điều quan trọng là văn chương có hay không, chứ không phải bố mẹ tác giả nổi tiếng hay giàu có. Một người cha có tài không đảm bảo cho một thành công về văn chương, cũng như người cha bất tài đối với một thất bại. Vậy tại sao không áp dụng phương pháp đánh giá khách quan ấy vào việc bổ nhiệm trong đời sống chính trị hay kinh tế?

“Tôi cười thầm khi ngẫm nghĩ đến tính tầm thường lố bịch mà văn chương và tất cả môn khoa học sẽ tiêm nhiễm phải, nếu như chúng đi theo thuộc tính cha truyền con nối, là lời Thomas Paine bày tỏ trong Các quyền của con người (1791)[5], và tôi cũng có cùng suy nghĩ ấy về các chính phủ. Một tổng trấn do cha truyền con nối cũng bất nhất trước sau như một tác giả cha truyền con nối. Tôi không biết liệu Homer hay Euclid có con trai không; nhưng tôi dám đưa ra một nhận định rằng nếu họ có, và nếu những tác phẩm của họ vẫn còn dang dở, các con họ sẽ không thể nào hoàn thành chúng.”

Napoleon chia sẻ sự căm phẫn của Paine, và ngay từ khi mới nắm quyền, ông đã trở thành lãnh đạo phương Tây đầu tiên hướng tới cái ông đặt tên là một hệ thống carrières ouvertent aux talents, “sự nghiệp rộng mở cho tài năng”. “Tôi cất nhắc hầu hết tướng lãnh của mình từ dưới bùn lầy (de la boue),” ông kiêu hãnh nhắc lại lời Thánh Helena, lúc gần cuối đời. “Bất cứ khi nào tìm thấy tài năng, tôi đều tưởng thưởng cho họ.” Có một điều thực chất trong lời nói khoa trương của ông: nước Pháp của Napoleon chứng kiến sự phá bỏ các đặc quyền phong kiến và thông lệ Bắc đẩu Bội tinh, tước hiệu đầu tiên được trao cho các cá nhân thuộc mọi tầng lớp xã hội. Hệ thống giáo dục cũng được cải cách tương tự: trường trung học (lycées) mở cửa cho tất cả, và năm 1794 một trường bách khoa ra đời, dành những khoản trợ cấp hào phóng của nhà nước cho các học sinh nghèo (trong những năm đầu, một nửa số sinh viên vào học tại đây là con trai của các nông dân và thợ thủ công). Nhiều nhà lãnh đạo được Napoleon bổ nhiệm có nền tảng xuất thân khiêm tốn, trong số đó có những tỉnh trưởng do bộ Nội vụ quản lý, các nhà tư vấn khoa học và một số nghị viên. Theo lời Napoleon, những nhà quý tộc cha truyền con nối là “tai ương của quốc gia, lũ ngu và bọn đần cha truyền con nối!”

Kể cả sau khi bị hạ bệ, các ý tưởng của Napoleon vẫn đứng vững và thu được sự ủng hộ của những người khởi xướng có tầm ảnh hưởng ở châu Âu và Mỹ. Ralph Waldo Emerson bày tỏ khao khát nhìn thấy “mỗi người được đặt vào vị trí anh ta thuộc về, với thật nhiều quyền lực được phó thác cho anh ta để có thể gánh vác và sử dụng.” Về phần mình, Thomas Carlyle lại bày tỏ sự tức tối trước cách con cái của người giàu hoang phí tiền của trong khi con cái người nghèo bị khước từ ngay cả một nền giáo dục phổ cập: “Chúng ta sẽ nói gì về giới Quý tộc Nhàn rỗi, các chủ nhân đất đai ở Anh quốc; những chức năng được ghi nhận của họ là thứ chức năng tiêu xài hào phóng tiền tô của nước Anh và đi bắn gà Gô[6]?” Ông mắng nhiếc những kẻ chưa từng làm cái gì hay mang lợi ích cho ai, không phải chứng tỏ bản thân trong bất cứ lãnh vực nào, thay vào đó nghiễm nhiên được trao cho những đặc quyền. Ông phác họa chân dung một quý tộc Anh điển hình, “có nhà cao cửa rộng, không phải đi làm, không thiếu thốn, lo lắng hay kham khổ. Hắn ta ngồi đó bình lặng, giữa đống đồ đạc trong nhà, và có những người khác làm việc thay cho hắn. Và một kẻ như vậy gọi mình là người quý tộc ư? Hắn nói, có ông bà tổ tiên làm việc cho hắn, hoặc đã gieo vận may cho hắn. Chính nhờ luật đất đai, và luật này được coi là luật Phổ quát, mà người đàn ông này sẽ không phải làm việc gì ngoại trừ ăn những thức ăn được nấu chín và đừng có gieo mình qua cửa sổ là được!”

Như nhiều nhà cải cách thế kỷ 19, Carlyle không mơ về một thế giới nơi mọi người đều bình đẳng về tài chính, mà về thế giới nơi địa vị cao hay thấp đều gặp những bất bình đẳng như nhau. “Châu Âu đòi hỏi một nền quý tộc thực thụ,” ông viết, “nó nhất định phải là một nền quý tộc vềtài năng. Các nền quý tộc giả hiệu đều không có chỗ đứng.” Điều ông tưởng tượng là một hệ thống mà khi đó còn chưa được đặt tên: nền tinh anh trị.

Ý hệ mới về nền tinh anh trị phải cạnh tranh với hai khái niệm khác về sự tổ chức xã hội: nguyên tắc về chủ nghĩa quân bình, kêu gọi sự bình đẳng tuyệt đối trong phân phối sản phẩm giữa tất cả các thành viên của xã hội; và nguyên tắc cha truyền con nối, tán đồng sự chuyển giao tự động của những tước hiệu và địa vị (và việc bắn gà gô) từ những người giàu cho con cái họ. Giống các quý tộc ngày xưa, những người tài phải chuẩn bị để chịu đựng một sự đối đãi bất bình đẳng lớn, nhưng giống nhưng nhà quân bình chủ nghĩa triệt để, họ ủng hộ (nếu như chỉ đối với một giai đoạn chuyển tiếp) sự bình đẳng hoàn toàn về cơ hội. Họ lập luận rằng, nếu bất kỳ ai cũng nhận được cùng nền giáo dục, có cùng cơ hội bước vào bất cứ nghề nghiệp nào, thì những khác biệt theo sau về thu nhập và danh vọng sẽ được minh xác tùy theo tài năng và khuyết điểm cụ thể của mỗi cá nhân. Theo đó, lẽ tự nhiên sẽ không phát sinh một nhu cầu phải đong đều tiền lương hoặc tài sản; lao động nỗ lực đến đâu sẽ được hưởng đặc quyền đến đó.

Pháp chế xã hội ở thế kỷ 19 và 20 thể hiện cho thắng lợi của nguyên tắc tinh anh trị. Những cơ hội bình đẳng được chính phủ ở tất cả đất nước phương Tây khích lệ, mặc dù với sự sốt sắng khác nhau và mức độ chân thành khác nhau. Nhìn chung người ta chấp nhận rằng một nền giáo dục phổ thông tử tế, và trong nhiều trường hợp là cả giáo dục đại học, nên được dành cho mọi công dân, bất kể thu nhập thế nào. Năm 1824, nước Mỹ đi trước với việc mở những trường trung học công thực thụ đầu tiên. Vào giai đoạn Nội chiến Mỹ, thập niên 1860, có đến ba trăm trường như vậy, và đến năm 1890 số trường lên đến 2.500. Thập niên 1920, đến lượt nền giáo dục đại học được cải cách theo lối trọng nhân tài qua việc đưa vào hệ thống Kiểm tra Khả năng Học vấn, hay SAT. Các nhà sáng lập của nó, chủ tịch đại học Harvard, James Conant, và giám đốc cục Trắc Nghiệm Giáo dục của chính phủ Mỹ, Henry Chauncey, muốn phát triển một tiêu chuẩn chú trọng tài năng, được chứng thực bằng khoa học, đánh giá trí thông minh của ứng viên một cách công bằng và không cảm tính, nhờ đó tránh những thành kiến lạc hậu, sự phân biệt chủng tộc hay tính hợm hĩnh trong việc nhận đầu vào bậc đại học. Thay vì được đánh giá xem cha họ là ai hay cách họ ăn mặc thế nào, học sinh Mỹ giờ đây được xếp hạng dựa theo năng lực thật – tức là, theo cách hiểu của Conant và Chauncey, khả năng giải quyết những vấn đề kiểu như:

Hãy chọn từ trái nghĩa trong những từ sau:

obdurate, spurious, ductile, recondite

và:

Hãy cho biết từ nào, hoặc cả hai, hoặc không từ nào, có nghĩa tương tự từ đầu tiên:

impregnable, terile, terilevacuous

nominal, terileexorbitant, teriledidactic

Những ai vượt qua được những thử thách như thế có thể hy vọng vào sự thành công học thuật, công việc ở phố Wall, và thẻ thành viên trong những câu lạc bộ thượng lưu[7]. Nói theo Conant, SAT là “một dạng công cụ xã hội mới, nếu được sử dụng thích đáng có thể là phương tiện để cứu giúp cho tính không giai cấp của quốc gia … một phương tiện để lấy lại tính linh hoạt xã hội, một phương tiện để tiến gần hơn đến lý tưởng Mỹ.”

Tất nhiên, lý tưởng Mỹ ấy không đòi hỏi sự bình đẳng thực tế mà chỉ đơn thuần là một giai đoạn đầu của cơ hội bình đẳng dựa trên chính sách chặt chẽ. Nếu tất cả công dân có cùng cơ hội đến trường, tìm được từ phản nghĩa trong danh sách các từ và bước vào đại học, thì đó mới chính là công lý của bất cứ nền quý tộc nào rốt cuộc đã khởi phát từ những người dân Mỹ.

Năm 1946, năm công bố Tuyên ngôn phổ quát về Nhân quyền, lời hứa hẹn trong điều khoản 26 của nó đã ít nhiều trở thành hiện thực ở nhiều khu vực châu Âu và Mỹ: “Mọi người đều có quyền hưởng nền giáo dục. Giáo dục sẽ miễn phí, ít nhất ở bậc tiểu học và các bậc nền tảng. Giáo dục tiểu học sẽ là bắt buộc. Giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp sẽ được mở cửa rộng rãi và mọi người đều sẽ được bình đẳng tiếp cận giáo dục đại học dựa trên nền tảng về năng lực.”

Đi cùng với những cải cách về giáo dục, nền pháp chế thúc đẩy những cơ hội bình đẳng ở nơi làm việc. Tại Anh, năm 1870 đánh dấu sự ra đời thước đo cho nền tinh anh trị, đó là kỳ thi đầu vào đầy cạnh tranh dành cho khu vực Hành chính công[8]. Trong nhiều thế kỷ, ngành này vốn là chốn dung thân cho họ hàng thân thích khố rách áo ôm và dốt nát của giới quý tộc, dẫn đến một số kết quả tai hại cho đế chế Anh. Đến giữa thế kỷ 19, chi phí để thuê đám người dễ bảo, thích bắn gà gô, đã tăng cao tới mức hai quan chức chính phủ, Sir Stafford Northcote và Sir Charles Travelyan, được hỏi cách lập ra một hệ thống tuyển dụng thay thế. Sau khi nghiên cứu hệ thống hành chính quan liêu trong vài tháng, Trevelyan nhận xét trong một lá thư gửi cho tờ Times, “Không nghi ngờ gì nữa, tầng lớp quý tộc cấp cao của chúng ta đã quen với việc coi hành chính công như là phương tiện cứu đói cho những người cơ nhỡ và lạc lối trong gia đình họ – như một dạng trại tế bần nơi những kẻ, vốn không có hơi sức để tự bước chân vào những nghề nghiệp cạnh tranh, có thể nhận được một chức vụ trên danh nghĩa suốt cả đời được chi trả bằng ngân quỹ công.”

Bảy mươi năm sau, trong Sư tử và kỳ lân, George Orwell vẫn chống lại những tai họa thâm căn cố đế của thói gia đình trị. Ông nhất mực cho rằng, Anh quốc cần một cuộc cách mạng, nhưng là cuộc cách mạng không có “cờ đỏ và đánh nhau trên phố”, thay vào đó là “sự chuyển dịch mang tính nền tảng về quyền lực” sang phía những người xứng đáng gánh vác nó: “Điều chúng ta muốn là một cuộc nổi dậy mở, có ý thức của lớp bình dân chống lại sự vô hiệu quả, đặc quyền giai cấp và sự cai trị kiểu cũ. Ngay trong đời sống quốc gia của chúng ta, chúng ta phải chiến đấu chống lại đặc quyền, chống lại ý niệm cho rằng một nam sinh trường công ngu ngốc sẽ lãnh đạo tốt hơn một thợ cơ khí thông minh. Mặc dù trong số họ có những cá nhân tài năng và trung thực, chúng ta vẫn phải phá vỡ sự kìm kẹp của tầng lớp có tiền như một tổng thể. Anh quốc cần phải có trách nhiệm với hiện trạng thực tế của nó.”

Ở khắp những nước phát triển, việc thay thế một kẻ không xứng đáng bằng một người có năng lực trở thành một tham vọng chủ đạo ẩn sau sự cải cách về việc làm. Ở Mỹ, người ta theo đuổi sự bình đẳng về cơ hội với nỗi chú tâm đặc biệt. Tháng Ba 1961, chưa đầy hai tháng sau khi nhậm chức, tổng thống John F. Kennedy thành lập một Ủy ban Cơ hội Việc làm Bình đẳng, giao cho nó trọng trách chấm dứt nạn phân biệt đối xử về việc làm dưới mọi hình thức trong các ban ngành chính phủ và doanh nghiệp tư nhân. Theo sau đó là một loạt những điều luật  cụ thể: Đạo luật Trả công Bình đẳng (1963), Đạo luật Dân quyền (1964), Đạo luật Cơ hội Việc làm Bình đẳng (1964), Đạo luật người Mỹ Lớn tuổi (1965), Đạo luật Phân biệt Tuổi tác trong Việc làm (1967), Đạo luật Cơ hội Tín nhiệm Bình đẳng (1976) và Đạo luật người Mỹ bị Tàn tật (1990). Với những luật như thế được đưa vào áp dụng, có cơ sở để tin rằng bất kỳ ai cũng sẽ được đảm bảo một cơ hội thành công công bằng, dù họ già cả thế nào, có tôn giáo, sắc tộc hay mang giới tính nào.

Mặc dù việc tiến đến một hệ thống tinh anh trị thuần túy có thể đã chậm chạm, đôi khi lộn xộn và đến nay còn chưa hoàn chỉnh, từ giữa thế kỷ 19, nhất là ở Mỹ và Anh, xu hướng này đã bắt đầu tác động lên nhận thức công chúng về các đức tính có liên quan của người nghèo và người giàu. Một khi việc làm và công xá bắt đầu được trao dựa trên cơ sở những cuộc phỏng vấn và kỳ thi phi cảm tính, người ta không còn lập luận rằng địa vị ngoài đời hoàn toàn tách biệt với các phẩm chất bên trong, như nhiều nhà tư tưởng Kitô giáo đề xuất, cũng không còn tuyên bố rằng người giàu và có quyền lực đã nghiễm nhiên đạt được địa vị của họ bằng những phương tiện đồi bại, như Rousseau và Marx chỉ ra. Một khi những kẻ bắn gà gô bị tống cổ khỏi hệ thống Hành chính công và được thay thế bằng những con cháu thông minh xán lạn của tầng lớp lao động, một khi điểm SAT dọn sạch khỏi những trường Ivy League các cậu ấm cô chiêu bất tài của những tài phiệt Bờ Đông và thay bằng con cháu cần cù của những chủ cửa hàng, chúng ta sẽ khó để bảo lưu ý nghĩ rằng địa vị hoàn toàn là kết quả của một hệ thống bị thao túng.

Tiếp đó, niềm tin vào mối quan hệ ngày càng đáng tin cậy giữa tài năng và thành công ngoài đời lại đem đến cho tiền bạc một phẩm chất đạo đức mới. Khi của cải vẫn được truyền lại cho nhiều thế hệ dựa theo huyết thống và mối quan hệ, lẽ tự nhiên người ta sẽ gạt bỏ đi cái quan niệm cho rằng giàu có là một dấu chỉ của phẩm hạnh nào đó, ngoại trừ  việc được sinh ra bởi những cha mẹ giàu có. Nhưng trong một thế giới tinh anh trị, nơi những công việc danh giá và lương cao chỉ có thể đảm bảo bằng trí thông minh và năng lực tự có, đồng tiền bắt đầu giống như một biểu đạt đáng tin cậy về nhân cách. Dường như, người giàu không chỉ giàu hơn, họ có thể còn tử tế hơn nữa kia.

Trong suốt thế kỷ 19, nhiều nhà tư tưởng Kitô giáo, đặc biệt là ở Mỹ, sửa lại quan điểm về đồng tiền của mình cho phù hợp. Các chi phái Tin lành Mỹ thuyết giảng rằng Chúa đòi hỏi ở các tín đồ một cuộc đời đạt thành tựu cả về mặt thế tục lẫn tâm linh; theo đó, sự sở hữu của cải trên thế giới này là bằng chứng cho  thấy người đó xứng đáng có một chỗ tốt đẹp ở thế giới sau đó, thái độ ấy được phản ánh trong tiêu đề phụ của cuốn sách bán chạy của đức cha Thomas P. Hunt năm 1936, Kinh thư về của cải: Trong đó chứng mình rằng theo Kinh thánh nghĩa vụ của mỗi người là trở nên giàu có[9]. Của cải được mô tả như là phần thưởng của Chúa trời dành cho sự thánh khiết. John D. Rockefeller không hề nao núng tuyên bố rằng chính Chúa đã làm cho ông giàu có, trong khi William Lawrence, giám mục Giám nhiệm[10] của Massachusetts, viết năm 1892, thừa nhận rằng, “Trong dài hạn, tài sản chỉ đến với người sống có đạo đức. Chúng tôi, giống những nhà viết thánh vịnh, cũng có lúc nhìn thấy sự thịnh vượng của kẻ ác, nhưng chỉ thỉnh thoảng thôi. Tính ngoan đạo đi cùng với sự giàu có.”

Nhờ vào lý tưởng tinh anh trị, quần chúng được ban cơ hội để thực hiện nguyện vọng của họ. Những cá nhân có khiếu và thông minh, trong nhiều thế kỷ bị đè nén trong một hệ thứ bậc bất di bất dịch chia theo đẳng cấp, giờ đây được tự do bày tỏ năng khiếu của họ trong một sân chơi công bằng trên lý thuyết. Nền tảng xuất thân, giới tính, chủng tộc hay tuổi tác không còn là một chướng ngại không thể vượt qua, để thăng tiến. Một yếu tố của sự công bình cuối cùng đã đóng góp vào sự phân phối phần thưởng.

Nhưng chắc hẳn câu chuyện còn có mặt tối dành cho những người vị thế thấp. Nếu người thành công xứng đáng hưởng thành công của họ, thì theo đó, nhất thiết kẻ thất bại cũng phải xứng đáng nhận thất bại. Trong thời đại tinh anh trị, một yếu tố của công bình dường như có góp phần vào việc phân phối sự nghèo đói không kém gì phân phối sự giàu sang. Vị thế thấp có vẻ không đơn thuần là đáng tiếc, mà còn đáng phải nhận.

Không nghi ngờ gì, sự thành công tài chính trong một nền tinh anh trị về mặt kinh tế, không hưởng lợi từ quyền thừa kế hoặc những lợi thế về xuất thân, đã mang lại một thước đo cho sự phê chuẩn cá nhân, thứ những nhà quý tộc ngày xưa, vốn thừa hưởng tiền và lâu đài từ cha họ để lại, chưa bao giờ được biết. Nhưng đồng thời, thất bại tài chính cùng dần dà đi cùng với một cảm giác tủi hổ, thứ những người nông dân ngày xưa, vốn bị khước từ tất cả cơ hội trong đời, vốn đã không, và hạnh phúc thay, màng đến.

Câu hỏi tại sao mà một người tử tế, lanh lợi và có khả năng mà vẫn nghèo, trở nên hóc búa và đau đớn hơn với người không thành công phải trả lời (cho chính họ và cho người khác) trong một thời đại trọng hiền tài mới.

*********************

[1] Sau khi bị Judas chỉ điểm, Jesus bị giải tới quan tổng trấn La Mã là Pontius Pilate. Pilate phán quyết đóng đinh Jesus trên tập tự giá vì tội xưng vua xứ Do Thái.

[2] Chinless: ý nói những người có tính cách yếu kém.

[3] Tiếng Pháp, chỉ sự suy đồi.

[4] Sadistic (tính từ).

[5] The Rights of Man,Thomas Paine.

[6] Partridge shooting: môn săn bắn phổ biến ở Anh.

[7] Country clubs.

[8] Civil Service.

[9] The Book of wealth: In Which It Is Proved form the Bible That It Is the Duty of Every Man to Become Rich, Thomas P.Hunt.

[10] Episcopal.

————–&&&————

Nassim Taleb phê phán Value at Risk

Prof. Dr. Taleb – tác giả cuốn sách nổi tiếng Thiên nga đen – trả lời về các vấn đề liên quan đến quản trị rủi ro của hệ thống ngân hàng (đặc biệt về mô hình VaR sử dụng trong Basel II) tại phiên họp của Quốc hội Mỹ.

Ghi chú: Phê phán nhưng không đưa ra được giải pháp “tử tế”.



Xem thêm: VaR: The number that killed us. Futures, 2010.

—————&&&————–

Risk Typology

Risk Typology

(Nguồn: https://www.bionicturtle.com/forum)

0713-risk-typology.png (783×528)

————–&&&————–

Ứng dụng mô hình Merton trong giảng dạy rủi ro tín dụng và định giá trái phiếu cho sinh viên ngành tài chính

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH MERTON TRONG GIẢNG DẠY RỦI RO TÍN DỤNG VÀ ĐỊNH GIÁ TRÁI PHIẾU CHO SINH VIÊN NGÀNH TÀI CHÍNH (*)

 

Lê Văn Tuấn

Trường Đại học Thương mại

 

Tóm tắt. Bài viết trình bày cơ sở lý luận của mô hình Merton – mô hình mang tính khái sáng trong lĩnh vực rủi ro tín dụng. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng trình bày kỹ thuật ứng dụng phần mềm R trong giảng dạy mô hình Merton, cũng như việc ước tính xác suất vỡ nợ (PD) và lãi suất trái phiếu của doanh nghiệp từ mô hình này (trên bộ dữ liệu thực tế của một số doanh nghiệp Việt Nam). Cuối cùng, bài viết sẽ đưa ra những đánh giá/giải pháp trong việc giảng dạy mô hình Merton cho sinh viên ngành tài chính tại các trường đại học của Việt Nam.

(*) Báo cáo Hội thảo: Nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Ngân hàng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. ĐH Ngân hàng Tp HCM. 10/11/2016

Download bài viết đầy đủ: ung-dung-mo-hinh-merton-trong-giang-day

————-&&&————