Cách mạng công nghiệp lần thứ tư: Việt Nam đang “đứng” đâu?

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư: Việt Nam đang “đứng” đâu?

(Tác giả: Đăng Khoa – Nguồn: http://viettimes.vn)

VietTimes – Cuộc cách mạng công nghiệp mới sẽ thay đổi cách chúng ta sống, làm việc và liên hệ với nhau, quy mô, phạm vi và sự phức tạp của nó sẽ không giống với bất kỳ cuộc cách mạng nào mà con người đã trải nghiệm trước đó. Vậy, Việt Nam chúng ta đang đứng ở đâu trong cuộc cách mạng công nghiệp này?

CMCN 4.0 sẽ tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho Việt Nam CMCN 4.0 sẽ tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho Việt Nam

LTS: Gần đây cụm từ “Cách mạng công nghiệp thứ tư” hay từ viết tắt “CMCN 4.0” xuất hiện khá nhiều và trở thành cụm từ, thuật ngữ phổ biến. Tuy nhiên, thế nào là cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư, nội dung và xu thế phát triển của cuộc cách mạng này là gì thì vẫn chưa rõ ràng và cùng với đó là nhiều vấn đề cần làm rõ để xác định hướng đi, cách thức tiếp cận hiệu quả nhất.

Hiện tại, cả thế giới đang ở trong giai đoạn đầu của cuộc CMCN 4.0 và đây được xác định là chiến lược bản lề cho các nước đang phát triển tiến đến để theo kịp với xu hướng thế giới và mở ra bước ngoặt mới cho sự phát triển của con người. Theo đó, Việt Nam có thể đi thẳng vào nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới để nhanh chóng rút ngắn khoảng cách phát triển.

Trước cuộc CMCN 4.0 đang cận kề với nhiều cơ hội và thách thức, VietTimes xin giới thiệu một số thông tin cơ bản về cuộc cách mạng này để sẵn sàng cho một cuộc thay đổi lớn lao, không chỉ biến đổi nền kinh tế mà cả văn hóa, xã hội một cách toàn diện.

Các cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) đều làm thay đổi cuộc sống

Cuộc CMCN lần thứ nhất kéo dài từ cuối thế kỷ 18 đến nửa đầu thế kỷ 19, đánh dấu bằng việc sử dụng nước và năng lượng từ hơi nước để cơ giới hóa sản xuất. Sau đó là sử dụng động cơ đốt trong, nhiên liệu than đá và xây dựng các tuyến đường sắt mở rộng giao thương.

Cuộc CMCN lần thứ hai bắt đầu từ nửa sau thế kỷ 19 cho đến đầu thế kỷ 20. Cuộc cách mạng này có đặc điểm nổi bật là sử dụng điện năng để phục vụ sản xuất công nghiệp. Đây là thời kỳ phát minh ra máy phát điện, đèn điện, động cơ điện.

Cuộc CMCN lần thứ ba bắt đầu từ thập niên 60 của thế kỷ 20. Đây là thời kỳ mà con người đã phát minh ra máy tính để thực hiện các công việc về trí óc thay cho con người. Ở cuộc CMCN lần thứ hai, con người mới chỉ phát minh ra các loại máy móc thay thế lao động cơ bắp. Việc phát minh ra chất bán dẫn vào thập kỷ 60 đã giúp con người tạo ra máy tính cá nhân vào những năm 70 và 80, và mạng Internet vào thập kỷ 90.

Cuộc CMCN lần thứ ba đã giúp cho máy tính, phần cứng, phần mềm và mạng toàn cầu phát triển mạnh mẽ. Nó làm biến đổi mọi mặt đời sống kinh tế và xã hội toàn cầu, tạo tiền đề cho sự ra đời một cuộc CMCN mới.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) là gì?

Về cơ bản, cuộc CMCN 4.0 sẽ dựa trên ba lĩnh vực chính:

–  Lĩnh vực Kỹ thuật số: Bao gồm dữ liệu lớn (Big Data), vạn vật kết nối Internet (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI),

–  Lĩnh vực Công nghệ sinh học: Ứng dụng trong nông nghiệp, thủy sản, y dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường, năng lượng tái tạo, hóa học và vật liệu.

– Lĩnh vực Vật lý: Robot thế hệ mới, in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới (graphene, skyrmions…), công nghệ nano.

Theo quan điểm của Giáo sư Klaus Schwab, Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế Thế giới, thế giới đang ở giai đoạn đầu của CMCN 4.0 “đó là sự thay đổi cơ bản trong cách thức chúng ta tạo ra, tiêu thụ và liên đới lẫn nhau, được dẫn dắt bởi sự hội tụ của thế giới vật chất, thế giới số và con người chúng ta”.

Có ba yếu tố cho thấy Cuộc CMCN 4.0 không phải là sự kéo dài của CMCN lần ba, đó là tốc độ, phạm vi và hệ thống. Tốc độ phát minh những công nghệ đột phá hiện nay chưa từng có trong lịch sử. Khi so sánh với các cuộc CMCN trước đó, cuộc cách mạng lần thứ tư đang phát triển theo hàm số mũ chứ không phải là tốc độ tuyến tính. Hơn nữa, nó đang phá vỡ cấu trúc của hầu hết các ngành công nghiệp ở mọi quốc gia. Chiều rộng và chiều sâu của những thay đổi này báo trước sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị.

Hàng tỷ người đang được kết nối với nhau thông qua điện thoại di động, qua mạng xã hội. Các thế hệ máy tính hiện nay đang có một sức mạnh xử lý chưa từng có với dung lượng lưu trữ tăng lên đáng kể cho phép con người dễ dàng truy cập vào kho kiến thức không giới hạn. Những khả năng này được nhân lên nhờ những công nghệ đột phá trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, robot, Internet vạn vật, xe tự lái, in 3D, công nghệ nano, công nghệ sinh học, khoa học vật liệu, lưu trữ năng lượng và máy tính lượng tử.

Cuộc CMCN 4.0 là sự kết hợp các công nghệ làm mờ đi đường ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và công nghệ sinh học.
Hiện tại, trí thông minh nhân tạo đang hiện diện xung quanh chúng ta, từ xe tự lái, máy bay không người lái đến trợ lý ảo, các phần mềm dịch thuật hoặc tư vấn tài chính. Trong những năm gần đây, loài người đã đạt được tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo nhờ vào sự gia tăng năng lực điện toán và khối lượng dữ liệu lưu trữ. Trong khi đó, công nghệ chế tạo kỹ thuật số đang tương tác với công nghệ sinh học trong cuộc sống hàng ngày. Các kỹ sư, các nhà thiết kế và các kiến trúc sư đang kết hợp các thiết kế trên máy tính với các loại vật liệu mới và các kỹ thuật sinh học tổng hợp để tạo ra các sản phẩm kết hợp của vi sinh vật với cơ thể con người, với sản phẩm con người tiêu thụ và thậm chí ngay cả căn nhà nơi chúng ta đang sống.

Thách thức và Cơ hội

Giống như các cuộc CMCN trước đó, cuộc CMCN 4.0 sẽ làm tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân toàn cầu. Cho đến nay, đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ cuộc cách mạng này chính là người tiêu dùng. Họ đã được tiếp cận dễ dàng với thế giới kỹ thuật số. Công nghệ đã tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới làm tăng hiệu quả và niềm vui cuộc sống của mỗi cá nhân. Gọi taxi, đặt vé máy bay, đặt mua hàng hóa, thanh toán hóa đơn, nghe nhạc, xem phim, chơi game đều có thể thực hiện từ xa.

Trong tương lai, đổi mới về công nghệ cũng sẽ tạo ra một phép màu cho dịch vụ cung ứng, cải thiện năng suất và hiệu suất về lâu dài. Chi phí vận chuyển và thông tin liên lạc sẽ giảm, các dịch vụ hậu cần (logistic) và chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ trở nên hiệu quả hơn, chi phí thương mại sẽ giảm. Một thị trường mới sẽ được mở ra và thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế.

Tuy nhiên, như các nhà kinh tế Erik Brynjolfsson và Andrew McAfee đã chỉ ra, cuộc CMCN 4.0 có thể mang lại sự bất bình đẳng lớn hơn, đặc biệt là nó có thể phá vỡ thị trường lao động. Khi tự động hóa thay thế lao động chân tay trong nền kinh tế, khi robot thay thế con người trong nhiều lĩnh vực, hàng triệu lao động trên thế giới có thể rơi vào cảnh thất nghiệp, nhất là những người làm trong lĩnh vực bảo hiểm, môi giới bất động sản, tư vấn tài chính, vận tải. Nhưng mặt khác, việc thay thế người công nhân bằng máy móc có thể đem lại sự an toàn và tạo ra những năng suất và giá trị mới.

Tại thời điểm này chúng ta chưa lường trước được tình huống nào sẽ xuất hiện. Lịch sử phát triển cho chúng ta thấy kết quả có thể là sự kết hợp của cả hai yếu tố tích cực và tiêu cực, thách thức và cơ hội. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia kinh tế, trong tương lai tài năng sẽ thay thế cho vốn để trở thành yếu tố quan trọng bậc nhất của sản xuất. Điều này sẽ khiến cho thị trường việc làm chia tách thành các phân khúc “kỹ năng thấp/giá rẻ” và “kỹ năng cao/lương cao”, từ đó sẽ dẫn đến gia tăng căng thẳng xã hội.

Bên cạnh sự mất cân bằng trong kinh tế, nhiều người cũng quan ngại về sự bất bình đẳng trong xã hội mà cuộc CMCN 4.0 sẽ đem lại. Những người được hưởng lợi nhiều nhất từ cuộc cách mạng này là các công ty công nghệ cao, vốn hóa lớn, cổ đông và các nhà đầu tư. Cuộc CMCN 4.0 sẽ có lợi cho tầng lớp giàu có hơn là người nghèo, đặc biệt là lao động trình độ thấp.

Công nghệ là một trong những nguyên nhân làm cho thu nhập của người lao động ở các nước phát triển không gia tăng, nếu không muốn nói là đang có xu hướng giảm đi. Nhu cầu về lao động có tay nghề rất cao đang tăng lên trong khi những người có trình độ học vấn và tay nghề kém hơn đang đứng trước nguy cơ thất nghiệp. Thị trường việc làm có nhu cầu mạnh mẽ ở đầu cao và thấp, trong khi những người “thường thường bậc trung” sẽ bị loại thải dần.

Điều này giải thích tại sao có rất nhiều người lao động thất vọng và sợ hãi rằng thu nhập của họ sẽ tiếp tục trì trệ, khiến con cái họ có một tương lai không hề tươi sáng. Nó cũng giúp giải thích tại sao các tầng lớp trung lưu khắp thế giới đang ngày càng trải qua một cảm giác bất mãn, không hài lòng. Một nền kinh tế mà kẻ chiến thắng sẽ giành được tất cả trong khi người trung lưu chỉ được một phần nhỏ sẽ tạo ra một xã hội mất dân chủ và bất mãn.

Sự bất mãn cũng có thể được nhân lên bởi các thiết bị công nghệ số và các mạng truyền thông xã hội. Hơn 30% dân số toàn cầu hiện đang sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để kết nối, học hỏi và chia sẻ thông tin. Sự tương tác trên mạng xã hội sẽ giúp cho con người gắn kết và hiểu biết liên văn hóa. Tuy nhiên, truyền thông xã hội cũng có thể tuyên truyền những kỳ vọng phi thực tế về thành công của một cá nhân hay một nhóm người, đồng thời tạo cơ hội cho những ý thức hệ và tư tưởng cực đoan lan rộng.

Việt Nam đang đứng ở đâu trong cuộc CMCN 4.0?

Mặc dù Việt Nam là một quốc gia đang phát triển với thu nhập bình quân đầu người chỉ là 2.200 USD (theo thống kê của Standard & Poor), nhưng Việt Nam cũng đã tham gia khá sâu rộng trong lĩnh vực Internet và truyền thông. Theo  Cục Viễn thông (Bộ Thông tin và Truyền thông), tính đến hết năm 2015, tỷ lệ người dùng Internet Việt Nam đã đạt 52% dân số. Việt Nam đứng thứ tư trên thế giới về thời gian sử dụng Internet với 5,2 giờ mỗi ngày, đứng thứ 22 trên thế giới tính theo dân số về số người sử dụng mạng xã hội (thống kê của wearesocial.net).

Hiện tại, 55% dân số Việt Nam đang sử dụng điện thoại di động. Với một chiếc điện thoại được kết nối Internet, chúng ta có thể được cập nhật các tin tức thời sự xã hội tại Việt Nam cũng như trên thế giới. Chúng ta cũng thể đặt vé máy bay, gọi taxi giá rẻ hay lên mạng xã hội tán gẫu với bạn bè. Việt Nam đang được tận hưởng những công nghệ mới nhất của thế giới trong lĩnh vực truyền thông di động. Đây cũng là cơ sở bước đầu để Việt Nam tham gia vào cuộc CMCN 4.0.

Có 2 lĩnh vực được nhắc đến trong CMCN 4.0 thuộc về y học là cấy ghép và in 3D thì Việt Nam đã có được những thành tựu nhất định. In 3D còn được gọi là công nghệ “chế tạo cộng”. Nó khác với công nghệ sản xuất vật liệu thông thường ở chỗ không phải gọt giũa phôi (chế tạo trừ) để tạo ra sản phẩm hoàn thiện, ngược lại nó được chế tạo theo từng lớp, bổ sung dần dần cho đến khi khi sản phẩm hoàn thiện. Công nghệ in 3D đã có mặt tại Việt Nam từ năm 2003, tuy nhiên do giá thành thiết bị khá đắt đỏ nên chưa ứng dụng được nhiều.

Hiện nay, in 3D đã được ứng dụng tại Việt Nam trong rất nhiều lĩnh vực, từ giáo dục, mỹ thuật, y học đến kiến trúc, xây dựng. Thành tựu nổi bật nhất là vào năm 2016, các bác sỹ của bệnh viện chợ Rẫy đã in một mảnh sọ nhân tạo bằng methyl methacrylate để vá sọ cho bệnh nhân L.N.T 17 tuổi. Bệnh nhân này bị chấn thương sọ não với một lỗ thủng trên hộp sọ rộng gần 140 mm. Sau khi được phẫu thuật ghép mảnh sọ nhân tạo, bệnh nhân đã hồi phục.

Việt Nam cũng đã có những tiến bộ trong việc cấy ghép tế bào gốc tạo máu trong điều trị ung thư. Các bác sỹ đã làm khá thành tạo các ca phẫu thuật ghép thận, ghép tạng. Về mặt kỹ thuật, người Việt Nam có khả năng tiếp thu các công nghệ tiên tiến rất nhanh.

Trong lĩnh vực Trí tuệ nhân tạo (AI), một trong những đặc trưng chủ yếu của CMCN 4.0, chúng ta cũng đã có những sản phẩm AI “Made in Vietnam”, chẳng hạn như “Hệ thống Săn dữ liệu mạng xã hội” của Lê Công Thành và các cộng sự thuộc Topica AI Labs. Hệ thống AI này được các ngân hàng, Tổng cục Du lịch và nhiều doanh nghiệp sử dụng để định vị thương hiệu. Anh Thành cho biết để có được kết quả thống kê, hệ thống AI hàng ngày phải phân tích vài tỷ câu văn – đây là một khối lượng hoàn toàn quá sức với con người, mà chỉ có trí thông minh nhân tạo mới có thể đảm đương được.

Một dự án AI khá thú vị khác là của tiến sỹ Nguyễn Tuấn Đức cùng các cộng  sự tại Alt Việt Nam. Tiến sỹ Đức cho biết nhóm của ông đang phát triển một chatbot thay thế con người làm một số công việc như trả lời điện thoại, email, đặt lịch làm việc. Chatbot này được sử dụng cho các dịch vụ hỗ trợ khách hàng. Đặc biệt, nhóm của tiến sỹ Đức đang có ý định xây dựng “hiện thân ảo” của những người đã mất. “Hiện thân ảo” sẽ hiện diện hàng ngày, trò chuyện với người thân để họ nguôi ngoai nỗi đau mất mát. Để nhân vật ảo này giống người thực, các nhà lập trình sẽ phải thu thập một khối lượng lớn dữ liệu của họ trên mạng xã hội, thư điện tử hoặc các hình ảnh do người thân cung cấp.

Công ty Alt Nhật Bản, công ty mẹ của Alt Việt Nam cũng đang có ý định xây dựng một trung tâm nghiên cứu AI lớn nhất châu Á đặt tại Hà Nội. Đây sẽ là tiền đề để Việt Nam phát triển ngành khoa học tiên tiến, đón đầu xu thế chuyển mình của nền khoa học công nghệ thế giới.

Tạm kết

Thế giới đang chuyển mình để hòa vào dòng chảy của cuộc CMCN 4.0. Việt Nam cũng không thể nằm ngoài xu thế ấy. Để tận dụng được những lợi thế đồng thời giảm thiểu những tác động tiêu cực của cuộc cách mạng công nghệ mới, chúng ta cần phải nhận thức rõ các đặc điểm của cuộc cách mạng công nghệ đó, từ đó tìm ra các biện pháp và xây dựng các chính sách phát triển thích hợp.

Cũng tại buổi họp này, Bộ trưởng Bộ TT&TT Trương Minh Tuấn nhấn mạnh: “Trong cuộc CMCN 4.0, cơ hội đem đến cho chúng ta rất lớn, tuy nhiên thách thức cũng không hề nhỏ”.
Ngay tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3/2017, Thủ tướng Chính phủ lưu ý các Bộ, ngành cần tăng cường nhận thức về CMCN 4.0. “Toàn xã hội, từng người dân, mọi doanh nghiệp, mọi cơ quan, các tổ chức đều hiểu về thời cơ, thách thức của CMCN 4.0; tránh tình trạng chỗ nào cũng nói CMCN 4.0 nhưng hỏi làm gì cho bản thân bộ mình, ngành mình thì không ai biết rõ ràng”, Thủ tướng nhấn mạnh.

Theo Thủ tướng, chỉ khi có nhận thức đúng đắn về bản chất của CMCN 4.0, thì mới có cách ứng xử, có định hướng, tư duy phát triển phù hợp. “Cần phải nói cho mọi người biết rằng CMCN 4.0 không phải là việc của riêng Chính phủ, của các viện nghiên cứu mà đây là việc của toàn xã hội, tác động trực tiếp đến mọi mặt đời sống xã hội, kể cả chính trị, kinh tế, văn hóa, lao động, giáo dục, quốc phòng an ninh”, Thủ tướng nhấn mạnh và đề nghị các viện nghiên cứu, trước hết là hai Viện Hàn lâm (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ và Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), các chuyên gia, nhà khoa học, mọi doanh nghiệp và người dân cùng chung tay tận dụng cơ hội của CMCN 4.0 để đổi mới sáng tạo, có nhiều tư duy mới, sáng tạo mới để đưa đất nước có bước đột phá trong phát triển kinh tế – xã hội.

———————-&&&———————

Năm căn bệnh trong khoa học

Năm căn bệnh trong khoa học

(Nguồn: http://tuanvannguyen.blogspot.com)

Đọc bài này (1) của John Antonakis, tổng biên tập tạp chí Leadership Quarterly, thấy hay và thấm thía. Ông liệt kê 5 căn bệnh trong khoa học mà ông đặt tên theo kiểu chơi chữ làSignificosis, Neophilia, Theorrhea, Arigorium, và Disjunctivitis.
1. Significosis là cách chơi chữ từ “significance” trong thống kê học, và osis là tiếp vĩ ngữ y khoa có nghĩa là trang thái rối loạn. Người mắc “bệnh” này thường có xu hướng đi tìm những kết quả có ý nghĩa thống kê (có nghĩa là “statistically significant”). Những kết quả như thế giúp cho nhà khoa học nâng cao khả năng công bố bài báo. Một kết quả với P thấp hơn 0.05 có khi được xem như là một giấy thông hành cho công bố quốc tế. Nhưng trong thực tế, ít ai biết rằng 1/3 những kết quả như thế (P thấp hơn 0.05) là sai, tức là dương tính giả. Nhìn thấy nó có ý nghĩa thống kê đó, nhưng trong thực tế thì chẳng có ảnh hưởng hay tác động gì cả. Do đó, công bố những bài báo chỉ dựa vào “ý nghĩa thống kê” làm cho nền khoa học mắc bệnh. Đó có thể xem significosis là bệnh “rối loạn thống kê”.

2. Neophilia cũng là một cách sáng tạo chữ mới từ neo (có nghĩa là “mới”) và philia có nghĩa là “yêu thích”). Do đó, neophilia là bệnh yêu thích cái mới. Trong thực tế, rất hiếm khi khoa học tìm ra cái mới, vì trước đó đã có quá nhiều phát hiện. Đại đa số các nghiên cứu khoa học ngày nay chỉ mang tính “incremental”, tức là thêm kiến thức một chút so với kiến thức cũ, chứ rất rất hiếm các nghiên cứu dạng “breakthrough” hay đột phá. Nhưng bất cứ nhà khoa học nào cũng muốn tìm cái mới. Cái mới có thể là một phát hiện động vật mới, bệnh lí mới, hay nói chung là kết quả mới. Cái mới giúp cho nhà khoa học nâng cao khả năng bài báo được công bố trên các tập san khoa học lừng danh. Vì thế, giới khoa học tìm cách nâng tầm nghiên cứu của mình để sao cho nó có cái mới, và cách vặn vẹo đó dẫn đến tình trạng rất nhiều nghiên cứu phát hiện ra “cái mới”, nhưng khi người khác không được lặp lại bởi các nhóm nghiên cứu độc lập. Có thể nói rằng hầu hết (có thể 90%) các kết quả nghiên cứu công bố trên các tập san khoa học hiện nay là sai hoặc không tái lập được. Do đó, Neophilia có thể xem là bệnh “Ái tân”.
3. Theorrhea cũng là một cách chơi chữ hay, vì theoros có nghĩa là suy nghiệm, và tiếp vĩ ngữ orrhea trong y khoa có nghĩa là “chảy”. Do đó, bệnh này có thể hiểu là bệnh “tiêu chảy lí thuyết.” Khoa học chẳng những yêu cái mới, mà còn yêu lí thuyết, giả thuyết. Đọc bài báo khoa học nào cũng thấy tác giả cố gắng đề ra một giả thuyết mới, một lí thuyết mới. Bài báo bắt đầu bằng một giả thuyết được đánh giá cao hơn bài báo kiểu “bước đầu đánh giá”. Nhưng trong thực tế, những cái gọi là lí thuyết mới đó chỉ là hoa ngữ thôi, chứ chẳng phải lí thuyết thật sự, và cũng chẳng bao giờ được kiểm định cả. Do đó, sự hiện diện của quá nhiều lí thuyết dỏm làm cho môi trường khoa học bị dơ bẩn, và dẫn đến … tiêu chảy.
4. Arigorium tôi đoán là lấy từ tên của một lang băm, Jose Arigo, người tự cho rằng ông có khả năng làm phẫu thuật tâm thần. Có lẽ tác giả muốn dùng tên ông này để chỉ những nghiên cứu không có cơ sở lí thuyết vững vàng, mà chỉ dựa trên những kết quả bề ngoài. Đa số các nghiên cứu khoa học xã hội, kể cả kinh tế học, là những nghiên cứu “soft”, hiểu theo nghĩa dữ liệu không có độ chính xác cao. Khoa học xã hội không có cái xa xỉ với máy móc thiết bị đắt tiền để đo lường hiện tượng tự nhiên; họ phải dựa vào bộ câu hỏi hay những phương tiện bán định tính như thế. Do đó, để nâng tầm “khoa học”, giới khoa học xã hội thường sáng chế ra những phương pháp phân tích thống kê phức tạp. Những phương pháp này dựa trên nhiều giả định, và ít khi nào nói lên các mối liên hệ nhân quả. Vì không nói lên mối liên hệ nhân quả, nên nhiều phát hiện trong nghiên cứu khoa học chỉ mang tính ngẫu nhiên, như lang băm Arigo chữa bệnh bằng tay vậy.
5. Disjunctivitis có lẽ là lấy từ chữ disjunction có nghĩa là rời rạc, và itis là tiếp vĩ ngữ trong y khoa có nghĩa là viêm. Do đó, bệnh này có thể dịch là bệnh “viêm lượng phẩm”. Có thể hiểu là bệnh mất cân đối giữa lượng và phẩm. Vì áp lực công bố, nên nhiều nhà khoa học có xu hướng công bố nhiều bài báo khoa học, nhưng phẩm chất thì rất kém. Có thể nói rằng rất nhiều bài báo khoa học hiện nay là thừa thải, hay nói theo dân gian Việt Nam chúng ta là “không mợ thì chợ vẫn đông”, tức là có hay không có bài báo thì khoa học vẫn chẳng có ảnh hưởng gì. Lí do là những công trình này chỉ lặp lại những gì người khác đã làm mà không có cái gì mới. Nhưng nhà khoa học, đặc biệt là từ các nước đang phát triển, phải công bố càng nhiều càng tốt, kể cả công bố trên tập san dỏm. Công bố để được bảo vệ luận án, được giải thưởng (như “chiến sĩ thi đua” ở Việt Nam chẳng hạn), và được đề bạt. Nhưng công bố bất chấp phẩm chất như thế không làm cho khoa học tiến bộ thêm, chẳng tạo ra được kiến thức mới, mà chỉ làm cho khoa học thêm vẩn đục.
Sau khi đã chẩn đoán bệnh, vậy câu hỏi là làm gì để điều trị bệnh? Tác giả đề ra 8 liệu pháp:
1. Nghiên cứu nên có cơ sở lí thuyết tốt; 
2. Sáng tạo trong đo lường; 
3. Thiết kế nghiên cứu thực tiễn; 
4. Làm nghiên cứu định tính có phẩm chất cao; 
5. Chú ý đến các yếu tố nhiễu và bias;
6. Minh bạch trong báo cáo và dữ liệu;
7. “Khai báo” những mâu thuẫn về lợi ích; và 
8. Thành thật trong khoa học.
Tôi nghĩ đây là những liệu pháp hoàn toàn khả thi. Riêng liệu pháp minh bạch trong nghiên cứu, tôi và đồng nghiệp bên VN đang có kinh nghiệm. Số là bài báo đang được bình duyệt và xác suất cao là sẽ được chấp nhận, nhưng ban biên tập đã viết cho chúng tôi gợi ý là công bố toàn bộ dữ liệu! Các bạn thử tưởng tượng nhóm nghiên cứu bỏ ra cả hai năm trời, mai phục ngày và đêm “bắt” bệnh nhân cho được, với kết quả hơn 4000 bệnh nhân, mà bây giờ họ muốn mình công bố cho họ xem. Cái nguyên lí đằng sau sự minh bạch là tuyệt vời vì nó giúp cho khoa học thêm liêm chính và sẽ làm cho những nhà khoa học ăn gian biến mất, nhưng nguyên tắc này gây nên vấn đề đạo đức khoa học.
Tôi nghĩ những người trong cuộc ngày nay không còn nghi ngờ gì nữa: khoa học đang rơi vào khủng hoảng. Khủng hoảng niềm tin. Người ta càng ngày càng ít tin khoa học vì có quá nhiều kết quả nghiên cứu không được lặp lại, quá nhiều nghiên cứu vô bổ không sản sinh ra kiến thức mới, và hệ quả là làm cho khoa học trở nên sai và lẫn lộn. Nếu điều trị dứt 5 căn bệnh này (bệnh rối loạn thống kê, ái tân, tiêu chảy lí thuyết, Arigo, và bệnh viêm lượng phẩm) thì may ra có thể cứu vãn được khoa học và khôi phục niềm tin ở công chúng.
—-
(1) http://www.sciencedirect.com/…/article/pii/S104898431730070X
On doing better science: From thrill of discovery to policy implications
——————-&&&—————-

Các nhà kinh tế đưa ra các quy tắc đạo đức

Các nhà kinh tế đưa ra các quy tắc đạo đức

(Tác giả: BEN CASSELMAN – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

CHICAGO – Một nhóm các nhà kinh tế hàn lâm hàng đầu đã thông qua các quy tắc xung đột lợi ích để đáp lại những phê phán cho rằng ngành kinh tế học không những thất bại trong việc dự đoán cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008, mà trong thực tế có thể còn giúp tạo ra nó.

Chính sách mới này quyết định không đi tới cùng trước lời kêu gọi của một số người trong ngành kinh tế học về những hướng dẫn chung về mặt đạo đức.

Nhiều nhà kinh tế còn làm tư vấn cho các công ty, các chính phủ và các tập đoàn khác, những công việc ngoài lãnh vực học thuật chính thức của họ. Các nhà phê bình, cả bên trong và bên ngoài ngành kinh tế học, đã biện luận rằng các mối quan hệ đó – thường có lợi và đôi khi không được công bố – có thể đã gây ảnh hưởng đến công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế, khiến họ, trước tiên, bỏ lỡ những dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng sắp xảy đến và tiếp đó khuyến nghị những giải pháp về chính sách chỉ phục vụ cho lợi ích của các khách hàng của họ, với cái giá mà nền kinh tế nói chung phải gánh trả.

Charles Ferguson (1955-)

Những phê phán nổi bật nhất đã được đưa ra trong bộ phim “Inside Job (Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế)” năm 2010, bộ phim đã giành được giải thưởng Oscar về phim tài liệu hay nhất năm 2011. Bộ phim nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa các nhà kinh tế lỗi lạc với các công ty và các chính phủ, để rồi sau đó sụp đổ trong cuộc khủng hoảng tài chính. Giám đốc Charles Ferguson đã cáo buộc các nhà kinh tế hàn lâm là những người “tham nhũng“, những người đã góp phần trực tiếp vào cuộc khủng hoảng.

Theo quy định mới của Hiệp hội Kinh tế Mỹ (AEA, American Economic Association) được thông qua tại cuộc họp thường niên ở đây tuần trước, các nhà kinh tế sẽ phải thông tin các mối quan hệ tài chính và các xung đột lợi ích tiềm tàng khác trong các bài báo được đăng tải trên các tạp chí khoa học. Những người ủng hộ chính sách mới này biện luận rằng những thông tin được công bố ấy sẽ giúp khôi phục lại niềm tin vào giới kinh tế học, bằng cách cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách và công chúng có thêm thông tin để đánh giá sự tư vấn của các nhà kinh tế.

Michael Woodford (1960-)

Người dân, khi nghe những gì chúng ta nói, có quyền được biết chúng ta là ai, chúng ta vướng mắc những gì, lý do vì sao những vướng mắc ấy tồn tại để có thể bị cho là đáng ngờ,” Michael Woodford, giáo sư Đại học Columbia, ủy viên ban điều hành của Hiệp hội, người đã nhất trí thông qua chính sách, đã nói. “Hầu như chắc chắn đã có một số suy nghĩ ngây ngô nào đó. Nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng: “Vâng, chúng tôi nghĩ chúng tôi là những người không thể chê vào đâu được, nên đó là điều hiển nhiên“.

Một vài nhà kinh tế đã biện luận trong nhiều năm rằng kinh tế học cần có những hướng dẫn rõ ràng về mặt đạo đức giống như bên các ngành y học, kỹ sư và các lĩnh vực khác. Nhưng vấn đề không được cộng đồng kinh tế rộng rộng lớn hơn hưởng ứng.

John Y. Campbell (1958-)

Trưởng khoa kinh tế của Đại học Harvard John Campbell, người được thấy trong bộ phim “Inside Job” lúng túng bảo vệ ngành kinh tế học, hôm chủ nhật cho biết rằng những phê phán của công chúng cho thấy cần phải minh bạch hóa nhiều thông tin hơn. Nhưng ông cũng lưu ý một sự khác biệt giữa các lĩnh vực như y học, nơi mà các nhà nghiên cứu có thể ngăn chặn những dữ liệu nào không hỗ trợ cho kết quả mong muốn của họ hoặc của các nhà tài trợ của họ, thì trong kinh tế học, đa số các nghiên cứu đều dựa trên những thông tin công khai có sẵn. Và ông bác bỏ quan điểm cho rằng xung đột lợi ích góp phần vào sự thất bại trong việc đoán trước cuộc khủng hoảng. “Phần thưởng đối với các nhà kinh tế khi dự đoán hoặc cảnh báo đúng một cuộc khủng hoảng là rất lớn“, ông Campbell nói.

George Demartino
David Colander (1947-)

Tuy nhiên, bộ phim đã làm cho một số nhà kinh tế phải tự vấn lương tâm. Tại một buổi họp chuyên đề về đạo đức nghề nghiệp ở đây vào hôm thứ bảy, David Colander, nhà kinh tế học của trường Middlebury College, đã kêu gọi xây dựng một bộ quy tắc đạo đức dựa trên bộ quy tắc đã được Hiệp hội quốc gia các kỹ sư chuyên nghiệp thông qua. George Demartino, giáo sư tại Đại học Denver, dẫn đầu buổi hội thảo, thậm chí đã biện luận rằng việc thông qua một “lời thề của các nhà kinh tế” rộng lớn hơn sẽ giải quyết được những vấn đề như đạo đức của việc tham mưu cho các nhà độc tài và trách nhiệm của các nhà kinh tế đấu tranh vì người nghèo. Giáo sư Deirdre McCloskey, thuộc Đại học Illinois, nói với hội nghị rằng các nhà kinh tế thường hành động giống như các luật sư, đấu tranh vì một quan điểm nào đó mà không quan tâm đến bằng chứng.

Deirdre McCloskey (1942-)

Cái tội chủ yếu, đặc biệt trong kinh tế học Mỹ, là biện hộ mà không quan tâm đến chân lý,” Bà McCloskey cho biết.

Chính sách mới này không giải quyết những vấn đề lớn như vậy, mà thay vào đó, bám lấy những vấn đề mà thông tin được minh bạch hóa ít gây tranh cãi hơn.

Theo chính sách này, sẽ được ban hành vào năm sau, các tác giả khi gửi bài nghiên cứu cho các tạp chí khoa học phải thông tin cho các biên tập viên của tạp chí tất cả các nguồn tài trợ cho việc nghiên cứu và tất cả các quan hệ tài chính “đáng kể” với các nhóm hoặc cá nhân có một “quyền lợi tài chính, ý thức hệ hoặc chính trị” trong nghiên cứu. Chính sách định nghĩa thuật ngữ “đáng kể” là một sự hỗ trợ tài chính dành cho tác giả và cho các thành viên trực hệ trong gia đình một số tiền tổng cộng bằng ít nhất 10.000 USD trong vòng ba năm qua. Các tạp chí, sau đó, sẽ công khai những gì mà các biên tập viên của họ cho là “xung đột lợi ích tiềm tàng có liên quan.”

Gerald Epstein
Ben Casselman

Về mặt chính thức, chính sách này chỉ áp dụng cho bảy tạp chí được hiệp hội AEA xuất bản, nhưng các nhà xuất bản học thuật khác có khả năng làm theo. Chính sách này cũng kêu gọi các nhà kinh tế áp dụng các nguyên tắc tương tự trong các cuộc phỏng vấn với báo chí, các lời chứng với chính phủ và các công trình phi học thuật khác.

Gerald Epstein, giáo sư tại Đại học Massachusetts tại Amherst, người trước đây đã phê phán việc các nhà kinh tế thiếu minh bạch, trong một email đã gọi chính sách này là “một bước tiến lớn về phía trước.” Ông cho biết lời kêu gọi bạch hóa thông tin trong các công trình phi học thuật, mặc dù không bị bắt buộc, là điều đặc biệt quan trọng vì nó giúp “thiết lập các chuẩn mực ứng xử mà các đồng nghiệp, báo chí, sinh viên và người dân có thể giúp các nhà kinh tế có trách nhiệm giải trình.”

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: Economists Set Rules on Ethics, The Wall Street Journal, January 9, 2012.

————&&————

Tuyển sinh trên thế giới khác gì ở Việt Nam?

Tuyển sinh trên thế giới khác gì ở Việt Nam?

(Tác giả: Mai Văn Tỉnh – Nguồn: giaoduc.net.vn)

(GDVN) – Thi, kiểm tra và đánh giá người học luôn được các nước trên thế giới coi trọng, Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật này. Tuy nhiên, ở mỗi nước sẽ khác nhau.

LTS: Thi, kiểm tra đầu vào là phương thức mà các cơ sở giáo dục dùng để xét tuyển ở các cấp khác nhau từ tiểu học cho tới đại học, nhưng tuyển đầu vào thường là rất nóng bỏng cho bậc giáo dục đại học.

Nó được coi như giấy phép (visa) bước vào hành lang cơ sở giáo dục hay khoá học chuyên nghiệp, nếu thi sinh đạt điểm tối thiểu thì đỗ. Nhưng ở các kỳ thi/kiểm tra tuyển đầu vào lại chẳng có cái gì giống như đỗ hay trượt cả.

Đó thường là cuộc cạnh tranh, như cái phễu lọc, chỉ chọn những người tốt nhất trong số các thí sinh dự thi. Cần có kế hoạch hoá hệ thống, luyện thi nghiêm túc và học chuyên cần, vất vả mới có thể chọc thủng kỳ thi tuyển sinh.

Hầu hết các nước trên thế giới đều có điều kiện xét tuyển đầu vào ĐH, CĐ là phải có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) hay Trung học nghề hoặc tương đương.

Ở một số nước, cạnh tranh vào CĐ, ĐH chỉ đơn giản thông qua điểm thi đầu vào, nhiều nước khác có chính sách tuyển sinh đại học phức tạp bao gồm cả điểm thi, xét học bạ, nguyện vọng và hoạt động xã hội của sinh viên tương lai.

Đặc biệt có nước còn phân biệt sự khác nhau giữa trường công và trường tư. Tác giả bài viết đưa ra bức tranh tổng quan về chính sách tuyển sinh đại học (bậc cử nhân) ở một số nước điển hình ở khắp 5 châu Mỹ, Âu, Phi, Úc và Á để giúp bạn đọc có cơ sở so sánh đối chiếu với những cải cách thi cử gần đây ở Việt nam.

Bài viết của TS. Mai Văn Tỉnh sẽ giúp chúng ta có được cách hình dung về quy tắc tuyển sinh của các nước trên thế giới. Bài viết gồm 3 phần, hôm nay, tòa soạn trân trọng giới thiệu cùng độc giả phần thứ nhất.

Tuyển sinh đầu vào ở các nước khác nhau như thế nào?



Tại Mỹ, các đại học đại học không tổ chức thi tuyển sinh mà dựa vào kết quả kiểm tra SAT (Scholastic Achivement Test) và ACT (American College Test) do các tổ chức khảo thí tư nhân độc lập tiến hành 4 lần/năm cho khoảng 1,8 triệu thí sinh thi SAT và 1,6 triệu thí sinh thi ACT trong một năm.

Từ năm 1900 SAT được các đại học phía Đông Hoa Kỳ tổ chức nhằm giúp thí sinh không phải thi vào nhiều đại học. Phương thức ra đề lúc đầu là tự luận, đánh giá chủ yếu 2 khả năng: Anh văn và Toán; kỳ trắc nghiệm tiến hành một lần trong khoảng 3 giờ.

Điểm tối đa của 2 môn là 800. Mức trung bình là 500. Từ 1926, SAT được các đại học toàn Hoa Kỳ sử dụng với cách ra đề chủ yếu là trắc nghiệm. Từ 1994, SAT được cải tiến, phân chia thành SAT I cho thí sinh dự thi và SAT II cho thí sinh lựa chọn thêm phần tự luận 20 phút.

Năm 1959 ACT được tổ chức để tăng thêm lựa chọn cho thí sinh. Lúc đầu các đại học miền Tây Hoa Kỳ tổ chức, đến 1960 được sử dụng rộng rãi trên cả nước. Phương thức ra đề là trắc nghiệm 4 lĩnh vực: Anh văn, Toán, Đọc hiểu và Khoa học.

Ngoài ra, qua đăng ký của thí sinh, ACT đưa ra bộ câu hỏi đánh giá năng khiếu và sở trường ứng viên. Từ đó khi trả kết quả, ACT cũng tư vấn cho ứng viên nên chọn trường, ngành nghề nào để đạt thành công trong cuộc đời.

Học sinh sau tốt nghiệp THPT được quyền gửi hồ sơ tới 5-6  đại học kèm học bạ THPT và kết quả SAT hoặc ACT để các trường ĐH, CĐ xét tuyển. Một số đại học có thể kiểm tra thêm năng lực nghề hoặc năng khiếu đặc biệt của ứng viên.

Từ giữa năm 1980, một số đại học Hoa Kỳ đưa ra chính sách “SAT tùy ý”, nghĩa là trong thực tế tuyển sinh, các trường xét kết quả kiểm tra SAT của ứng viên một cách linh động, không cứng nhắc theo tiêu chuẩn.

Riêng đại học danh tiếng Harvard, chế độ tuyển chọn rất khắt khe với kế hoạch tuyển sinh bắt đầu vào mùa xuân hàng năm. Nhà trường gửi thư đến hơn 70.000 sinh viên có điểm số xuất sắc, gợi ý nộp đơn. Danh sách thí sinh được mua từ College Board – Ban tổ chức thi SAT và ACT (một tổ chức tuyển sinh đại học phổ biến ở Trung Tây Hoa Kỳ). Danh sách này đã qua lần sàng lọc kỹ lưỡng.

Ảnh minh họa. Internet

Ngoài ra, các đại học danh tiếng của Mỹ như Harvard, Stanford, Duke còn áp dụng thêm hình thức tuyển đặc biệt. Hàng năm, Ban tuyển sinh các trường đi tới 140 thành phố trên cả nước tìm những học sinh xuất sắc nhất.

Thư mời nộp hồ sơ được các đại học danh tiếng này gửi tới học sinh cuối cấp có thành tích vượt trội. Bằng cách này, các đại học danh tiếng đảm bảo mỗi học sinh nộp hồ sơ vào trường đều là nhân tài.

Sau khi có danh sách sơ tuyển, Ban tuyển sinh sàng lọc lại hàng nghìn ứng viên trong danh sách. Mỗi đơn dự tuyển phải “đối mặt” 6 thành viên trong Ban tuyển sinh. Hàng năm họ tuyển khoảng 10% sinh viên quốc tế từ các nước khác.

Ở Canada, ứng viên nộp hồ sơ từ trường phổ thông sau khi có thông báo của CĐ, ĐH từ cuối tháng Ba cho tới tháng Năm, có thể được kéo dài từ đầu tháng 11 tới tháng Giêng để đạt điểm cao (GPA – trung bình chung học tập hoặc các tiêu chí xét tuyển khác).

Trong một số trường hợp, có trường nhận hồ sơ học sinh lớp 11 PTTH nếu chuyển tiền học đến sớm. Canada có kiểu tuyển sinh kép cho ứng viên sau khi hoàn thành yêu cầu tốt nghiệp.

Ví dụ học sinh lớp 11 hay 12 ở trường đại học quốc tế Columbia có thể nộp hồ sơ tuyển sinh kép vào các đại học Canada như York university, University of Alberta vv. Điều kiện để nộp đơn vào bất kỳ đại học nào của Canada là phải có bằng tốt nghiệp PTTH Ontario.

Tại Vương quốc Anh: Thí sinh nộp hồ sơ qua hệ thống tuyển sinh tập trung UCAS. Nhìn chung, ứng viên không được tuyển vào học toàn bộ chương trình ĐH, CĐ, mà chỉ học theo khoá trình cụ thể.

Trong vài tháng đầu (9 – 12) năm cuối PHTH học sinh tuổi 17/18 hoặc đã học xong PTTH đăng ký trên website UCAS để chọn 5 khoá trình ở các ĐH, CĐ (ít lựa chọn hơn là ngành cạnh tranh cao như Y hoặc Thú Y).

Nếu ứng viên còn đang học PTTH thì giáo viên sẽ cấp điểm số bắt buộc ở trình độ A, hoặc trình độ cao hơn cho các môn IB của học sinh để làm hồ sơ TSĐH.

Nếu đã học xong PTTH thì nộp kết quả học tập đã có. Trường PTTH phải cung cấp thông tin học bạ để tham khảo. Một số đại học như Oxford, Manchester, Cambriger vv… sơ tuyển bằng phỏng vấn và trắc nghiệm đặc biệt để ứng viên quyết định nộp hồ sơ tuyển sinh.

Ở Ireland có đôi chút khác biệt so với hai quốc gia trên, sau PTTH, học sinh phải dự thi quốc gia lấy Chứng chỉ Tốt nghiệp (Leaving Certificate). Sau đó, ai muốn vào đại học sẽ nộp nguyện vọng lên Cơ quan TSTW (CAF- Central Admissions Office), độc lập với các trường.

Ứng viên chỉ cần gửi nguyện vọng lên CAF và máy tính tự động xử lý chuyển danh sách thí sinh đến các trường kèm nguyện vọng và điểm thi. Từng ĐH xác định số lượng sinh viên cần tuyển theo chương trình và tổ chức tuyển độc lập (2*).

Tại Na Uy cũng giống Hoa Kỳ, không thi tuyển sinh đại học, chỉ xét thành tích học THPT. TSĐH ở Na Uy được điều phối tập trung bởi Dịch vụ tuyển sinh đại học thuộc Chính phủ (Norwegian Universities & Colleges Admission Service).

Ứng viên được quyền đăng kí 10 nguyện vọng và tuyển theo trình độ THPT, có cộng điểm thưởng ngành học đặc biệt, vùng địa lý hay kinh nghiệm phục vụ quân đội.

Tại Phần lan: Tuyển sinh đại học theo điểm GPA năm cuối, điểm tốt nghiệp PHTH (the abitur), và thi đầu vào đại học. Qui trình xét tuyển hoàn toàn minh bạch, dựa vào học lực và khách quan; Không yêu cầu bài luận viết, không có nhân tố con ngừoi trong xét tuyển, không có chính sách hỗ trợ dân tộc thiểu số, không có trọng số cho hoạt động ngoại khoá.

Hơn nữa, các kỳ tuyển sinh đại học hiếm khi trắc nghiệm đa phương án trả lời dài, mà thay vào đó là một số câu hỏi dài và khó hơn để trắc nghiệm năng lực hơn là kiểm tra khả năng nhớ thuộc lòng và giải quyết vấn đề máy móc. Tuy nhiên, qui trình tuyển sinh rất khác biệt so với nhiều nước khác.

Ở Ôxtrâylia: Bộ Giáo dục Chính phủ liên bang chịu trách nhiệm tuyển sinh đại học cho ĐH,CĐ và giáo dục tiếp tục (TAFE). Các tiểu bang (trừ Tasmania) đều có bộ phận xử lý thông tin tuyển sinh chung vào hệ cử nhân cho công dân Úc và Neu-di-lân. Các trung tâm tuyển sinh đại học (UAC) xử lý hồ sơ vào học cử nhân của các đại học tham gia tư các Tiểu bang…

Tại Niu-di-lân: Để học đại học, ứng viên phải thoả mãn định nghĩa pháp lý về sinh viên nội địa và đáp ứng một trong các điều kiện sau: 1) Chuẩn đầu vào đại học; 2) Tuyển theo trình độ đầu vào; 3) Tuyển đặc biệt; 4) Nhập học tuỳ ý.

Có một lượng nhỏ chương trình không theo các điều kiện trên để đào tạo sinh viên CĐ, ĐH có kỹ năng lao động cơ bản quan trọng.

Chuẩn tối thiểu đầu vào ĐH: do cơ quan trình độ chuyên môn New-di-lân (Qualifications Authority-NZQA) xác lập;

Chứng chỉ học lực quốc gia (NCEA) do cơ quan chuyên môn xác lập để làm yêu cầu xét vào học ĐH, từ 2015 các yêu cầu tuyển sinh đại học có thay đổi, công bố chi tiết trên website của NCFA;

Tuyển đặc biệt: dành cho công dân Úc/Neu-di-lân trên 20 tuổi, hoặc thường trú ở nước khác vào học không cần xét đầu vào.

Nhập học tuỳ ý: Điều kiện có hiệu lực từ 2003 dành cho người chưa học hết lớp 12 với qui định như sau:

Chỉ dành cho công dân Neu-di-lân hoặc Úc sống thường trú dưới 20 tuổi; Ứng viên phải có tối thiểu 13 tín chỉ về môn học đã được duyệt ở trình độ 2 của NCEA.

Ứng viên phải đạt các chuẩn về kỹ năng đọc và đếm theo yêu cầu nhập đại học;

Ứng viên phải theo sự tuyển chọn của trường đại học và có thể phải nộp học phí;

Cần có ý kiến nhận xét của hiệu trưởng PTTH hay những người có trách nhiệm khác để sẵn sàng cho phỏng vấn;

Tại Israel: Thi trắc nghiệm đo lường tâm lý (Psychometric Entrance Test – PET) về 3 môn: Toán, Luận nói và tiếng Anh. Kỳ thi đươc tổ chức bởi Học viện quốc gia Israel về trắc nghiệm và đánh giá (NITE).

Tuyển sinh đại học chủ yếu dựa vào điểm số trung bình của PET và điểm trung bình chung GPA Bagrut (tốt nghiệp THPT). Ngoài ra, một số ngành khoa học và kỹ thuật đòi hỏi thí sinh phái có số học phần tối đa tốt nghiệp THPT (5 học phần) cho môn Toán.

Tuyển sinh ở Liên bang Nga: Xét về truyền thống, các đại học và học viện của Nga tổ chức thi riêng cho tuyển sinh đại học, không quan tâm học bạ, không đo năng lực tốt nghiệp THPT vì điểm số các trường không thể so sánh được do sự khác nhau giữa các trường và các vùng.

Năm 2003 Bộ Giáo dục khởi động chương trình tuyển sinh đại học chung toàn quốc (USE). Bộ chuẩn trắc nghiệm học sinh tốt nghiệp THPT được ban hành trên toàn quốc, độc lập với việc đánh giá của giáo viên phổ thông, tương tự như SAT của Bắc Mỹ, được gợi ý thay cho kỳ thi tuyển sinh đại học quốc gia.

Các nhà cải cách cho rằng tuyển sinh đại học chung toàn quốc sẽ cho phép học sinh tài năng tốt nghiệp ở vùng xa xôi hẻo lánh có thể cạnh tranh vào các đại học mà họ chọn.

Đồng thời hạn chế được nạn đút lót hối lộ liên quan tuyển sinh đại học mà ước tính khoảng 1 tỷ USD hàng năm. Chỉ riêng năm 2003 có 858 cán bộ các ĐH, CĐ bị buộc tội nhận hối lộ thi cử. Ví dụ, “lộ phí” lo lót một suất vào MGIMO (Học viện ngoại giao) khoảng 30.000 USD.

Những người đứng đầu các đại học danh tiếng như Hiệu trưởng Đại học Quốc gia Moscơva Victor Sadovnichly đã chống lại chủ trương đổi mới với lập luận cho rằng trường họ không thể tồn tại nếu không thu phí của thí sinh bằng các rào chắn riêng của trường.

Tuy nhiên, các nhà lập pháp đã qui định luật tuyển sinh chung toàn quốc vào năm 2007 cho phép ứng viên được tự chọn thi vào các ĐH, CĐ. Điều này được thực hiện từ 2009, một vài cơ sở giáo dục đại học vẫn cho phép đưa thêm vào tuyển sinh chung bài trắc nghiệm bổ sung cho USE, nhưng phải công bố công khai yêu cầu trắc nghiệm cho xã hội biết trước.

Tuyển sinh đại học tại Brazil: Để vào đại học, các ứng viên phải dự kỳ thi công khai “Vestibular” kéo dài 1 tuần lễ, mỗi năm 1 lần. Một số đại học tư thục tổ chức thì 2 lần/ năm.

Quy cách thi có thể thay đổi tuỳ theo đại học, nhưng gồm những môn học bắt buộc ở THPT như Toán, Lý, Hoá, Sinh, Lịch sử, Địa lý, tiếng Bồ Đào nha, Văn học và một ngoại ngữ (tiếng Anh).

Ảnh minh họa Internet.

Các đại học tư thục thường tổ chức thi dồn vào vài ngày, các ĐH công lập lại tổ chức suốt cả tuần. Vì ở đại học công lập sinh viên được miễn học phí nên sự cạnh tranh thi khá cao.

Do số lượng thí sinh nộp đơn lớn nên các đại học công lập thường sơ tuyển bằng câu hỏi trắc nghiệm đa phương án trả lời và tiến hành khoảng 1-2 tháng trước khi tổ chức thi Vestibular.

Brazil tổ chức tuyển sinh đại học chung toàn quốc sau khi Chính phủ đưa ra thi tốt nghiệp THPT mới (ENEM) và có hệ thống tiếp nhận hồ sơ tuyển sinh thống nhât toàn quốc (SISU) để thí sinh ở bất kỳ nơi nào trong cả nước đều có quyền nộp hồ sơ vào bất kỳ ngành nào của các trường.

Có hệ thống chỉ tiêu tuyển sinh độc đáo ưu tiên thí sinh dân tộc thiểu số, những em đã học dự bị đại học ở các trường đại học công lập.

Tình hình tuyển sinh đại học ở Phi châu có gì cần chú ý?

Ở Nigêria (Tây phi): Kỳ thi tuyển sinh đại học vào hệ cử nhân ĐH, CĐ bách nghệ, cao đẳng kỹ thuật đơn ngành, và cao đẳng sư phạm, nông nghiệp do cơ quan chính phủ liên bang JAMB quản lý (Joint Admision and Matriculation Board).

Cơ quan tuyển sinh đại học này tiến hành kỳ thi chung cả nước (UTME) để sinh viên tương lai của các ĐH, CĐ bách nghệ, kỹ thuật đơn ngành, và cao đẳng sư phạm, nông nghiệp được xét nhập học vào các cơ sở giáo dục đại học ở Nigêria.

Tại Nam Phi: Một số đại học lo ngại tỷ lệ sinh viên đại học trượt cao tiếp tục xói mòn sức cạnh tranh toàn cầu của họ, nên đã nâng yêu cầu tuyển sinh đại học lên từ 2011. Sinh viên không bất ngờ nhưng rất không hài lòng với chính sách này.

Theo khảo sát nhanh của tờ The Sunday Times 8 trong 12 đại học đang thắt chặt yêu cầu tuyển sinh đại học, vì họ tin rằng sinh viên kém chất lượng vào học đại học là do tiêu chỉ thi đầu vào lỏng lẻo.

Ví dụ đại học Western Cape không chấp nhận thi môn Toán thông thường vào ngành khoa học. Thí sinh có thể phải dự thi Toán thuần tuý căng thẳng hơn khi thi tốt nghiệp phổ thông (thi matric để xét tuyển ĐH). Đại học Cape Town tuyên bố thí sinh muốn vào 6 khoa của họ phải thi viết về Toán, Kỹ năng hàn lâm và Văn học định lượng.

Đại học Stellenbosch cũng cho tờ Tin tức đại học thế giới (University World News) biết rằng đã có giải pháp lựa chọn yêu cầu tuyển sinh một số ngành nhất định, nhưng đồng thời cũng mở rộng đầu vào để lựa chọn thí sinh tài năng có hoàn cảnh xã hội thiệt thòi tiếp cận giáo dục đại học.

Trường yêu cầu thí sinh đạt 50% điểm thi môn vật lý để học ngành khoa học, còn vói ngành kinh tế hay khoa học quản lý thì phải đạt 60% điểm Toán và 50% điểm tiếng Anh và môn châu Phi học.

Nhìn chung các đại học đều tăng điểm tuyển sinh lên từ 35- 40 năm 2011 thay vì xét từ 27-34 điểm như trước đây.

Phó chủ tịch Hiệp hội giáo dục đại học đại diện 23 đại học công lập tuyên bố cách đây 2 năm rằng tỷ lệ sinh viên bỏ học tăng lên đáng lo ngại, chiếm 35% ở một số đại học với lý do chính là thiếu tài chính, không đáp ứng cuộc sống trong đại học và chất lượng học của họ quá kém.

Liên đoàn thanh niên cộng sản Nam Phi chỉ trích các tiêu chí tuyển sinh của đại học tiểu bang Free có ý đồ loại sinh viên da đen. Đại học này vẫn phải nâng yêu cầu TS từ 28 lên 30 điểm vào các ngành khoa học xã hội.

Chính sách tuyển sinh đại học ở châu Á khác nhau như thế nào?

Tại Pakistan: Để tuyển sinh hệ cử nhân, các đại học quốc gia xét thi trắc nghiệm đầu vào chung theo SAT tổ chức ở các vùng miền, các đại học tư thục tổ chức thi trắc nghiệm riêng dựa theo kết quả SAT.

Hệ thống chỉ tiêu tuyển sinh đại học ở Pakistan dành ưu tiên sinh viên nông thôn. Đối với ngành Y có cạnh tranh cao vì ít trường Y khoa, các trường này vửa tổ chức thi trắc nghiệm, vừa phỏng vấn (3*).

Ở Ấn Độ: Được coi là nước có tuyển sinh đại học phức tạp nhất thế giới. Các thí sinh được tuyển vào đại học Ấn Độ trên cơ sở điểm chuẩn thi tốt nghiệp THPT và thi đầu vào đại học. Các kỳ thi này được chỉ đạo, tổ chức bởi nhiều cơ quan khác nhau bao gồm Chính phủ, chính quyền địa phương, trường đại học cấp quốc gia và cấp tiểu bang.

Từng trường đặt ra yêu cầu riêng cho các kỳ thi để thí sinh tham gia, ví dụ cùng thi chung môn ngoại ngữ nhưng mỗi trường/mỗi ngành được phép lấy trọng số và điểm chuẩn khác nhau.

Tại Trung Quốc: Thí sinh muốn vào đại học bắt buộc phải dự thi đầu vào theo lĩnh vực Khoa học kỹ thuật hoặc Khoa học xã hội. Đây là kỳ thi quốc gia do Chính phủ điều hành tập trung, xác định nội dung đề thi và chỉ tiêu tuyển sinh cho từng ngành và từng trường.

Thí sinh nộp nguyện vọng lên Hội đồng thi quốc gia. Kết quả thi kèm nguyện vọng thí sinh được chuyển đến các trường đại học học sinh đăng ký. Việc tuyển sinh được các trường chọn theo nguyện vọng và trên cơ sở điểm thi.

Đối với nhân tài “nguồn”, Trung Quốc cho phép 2 trường hàng đầu là Đại học Bắc Kinh và Đại học Thanh Hoa tổ chức tuyển lựa những học sinh xuất sắc nhất trong cả nước (trước kỳ thi tuyển).

Trước đây Việt Nam như Trung Quốc và phần lớn các quốc gia châu Á khác vẫn duy trì thi TSĐH trên phạm vi toàn quốc cho học sinh sau tốt nghiệp THPT. Hàng năm, Trung Quốc tuyển chọn khoảng 300 em từ nguồn này (2*).

Tại Hồng kông:
Tất cả đại học công lập tuyển sinh người địa phương theo chương trình TS liên kết các trường đại học (JUPAS).  Theo hệ thống cũ HKALE: Tiêu chí tuyển sinh chính là kết quả thi HKALE, và ở phạm vi nhỏ hơn xét kết quả HKCEE có phỏng vấn năng lực ứng viên.

Theo hệ thống mới HKALE: tiêu chí tuyển sinh chính là kết quả thi HKDSSE với phạm vi nhỏ hơn có phỏng vấn năng lực và xét kết quả học THPT (3*).

Ở Nhật Bản: Trung tâm trắc nghiệm quốc gia tổ chức tuyển sinh đại học chung toàn quốc (National Center Test for University Admisions) theo 6 nhóm môn học với 31 môn cụ thể. Tuỳ ngành học, mỗi thí sinh được chọn 5/18 môn thi.

Có 400 địa điểm thi trắc nghiệm trên toàn quốc. Khi xét tuyển vào trường, thí sinh có thể phải thi thêm 1-2 môn đặc thù phù hợp với yêu cầu của nhà trường.

Nhật bản đang xem xét phương thức tuyển sinh mới thay hệ thống tuyển hiện nay, sẽ phải cạnh tranh hơn, chắt chẽ và không linh động. Có tranh luận căng thẳng về phuong thúc TS mới, nhưng chắc chắn phải đưa ra cách tuyển sinh nghiêm khắc hơn, dựa vào năng lực học và kỹ năng tư duy.

Tại Hàn Quốc: Thí sinh phải dự thi tuyển sinh đại học chung trên toàn quốc. Tuy nhiên, điểm thi đại học chỉ chiếm 65% kết quả tuyển sinh. Các yếu tố còn lại là bảng điểm PTTH (25%) và thi tự luận tại trường đại học (10%).

Từ 1994 Ủy ban cải cách giáo dục trực thuộc Văn phòng Tổng thống Hàn Quốc đã đệ trình 4 đề xuất cải cách giáo dục với thuật ngữ Edutopia (giáo dục toàn hảo của nhà nước phúc lợi giáo dục) để đón đầu thách thức kỷ nguyên thông tin và toàn cầu hóa.

Đề án chi tiết cho giáo dục nghề nghiệp mới gồm các bậc PTTH, CĐ&ĐH, nhằm cải cách cơ cấu hệ thống giáo dục mở với phương thức hỗ trợ học từ xa qua Trung tâm đa phương tiện giáo dục, Ngân hàng tín chỉ để giúp người dân tiếp cận giáo dục ở nhà, ở trường cũng như ở công sở vào bất kỳ lúc nào.

Ở Thái Lan: Tổ chức thi tuyển sinh đầu vào đại học chung toàn quốc JHEFE (Joint Higher Education Intrance Examination), nhưng việc xét tuyển vào đại học còn bao gồm kết quả học phổ thông; điểm thi đại học bằng trắc nghiệm; phỏng vấn kiểm tra hể lực.

Mỗi học sinh có thể gửi đơn dự tuyển vào 5 khoa của nhiều trường hay Viện đại học. Tuyển sinh đại học Thái Lan có truyền thống dựa trên cạnh tranh giáo dục phổ thông (gồm PHTH và dạy nghề) và kết quả thi tuyển sinh đại học chung.

Như vậy, có thể dễ dàng nhận thấy xu hướng chung của các quốc gia châu Á là vẫn duy trì tuyển sinh đại học chung với quy mô toàn quốc.

Ngược lại, các nước phương Tây lại áp dụng hình thức xét tuyển gọn nhẹ, với các yếu tố như thành tích của thí sinh tại trường THPT, kỹ năng tư duy, phân tích vấn đề, vận dụng kiến thức… được cân nhắc.

Kỳ thi THPT quốc gia 2015 là một cố gắng thay đổi theo hướng “Tây hóa” của Việt Nam, tuy nhiên, vẫn chưa thực sự hoàn chỉnh và thành công như mong đợi.

Các nước hậu công nghiệp ở phương Tây không thắt chặt tuyển sinh đầu vào, mà lại mở rộng đầu vào đại học, có cơ chế sàng lọc mạnh trong quá trình đào tạo, đồng thời siết chặt chất lượng đầu ra.

Việc đổi mới thi năm 2015 đã gợi mở nhiều điều để tiếp tục suy nghĩ cơ hội đổi mới GD&ĐT nói chung, giáo dục đại học nói riêng trên qui mô rộng lớn, mang tính hệ thống với tầm chiến lược vĩ mô hơn, có kế thừa kinh nghiệm trước đây, chẳng hạn:

Hoàn chỉnh khung cơ cấu giáo dục quốc dân, đổi mới chương trình giáo dục phổ thông với cấu trúc mở khớp nối các bậc học theo cách tiếp cận năng lực cần cho thế kỷ 21 làm cơ sở cho chính sách tuyển sinh và xây dựng chương trình quốc gia và nhà trường.

Xây dựng tiêu chí phân loại hình các ĐH, CĐ, đặc biệt chú ý loại hình trường theo hướng khoa học ứng dụng.  Tăng tự chủ tuyển sinh đại học cho các trường công lập và ngoài công ở xa thành phố lớn (Hà Nội, HCM, Đà nẵng, , Cần thơ).

Khuyến khích các trường cao đẳng cộng đồng, cao đẳng nghề đa dạng hoá chương trình dạy nghề sơ, trung cấp tiếp nối sau phổ thông cơ sở để thu hút thanh thiếu niên nông thôn, miền núi không có khả năng học lên THPT, chuẩn bị lực lượng lao động kỹ thuật qua đào tạo cho các vùng miền ở mọi trình độ.

Nguồn tài liệu tham khảo:

(1*)  Nguồn: http://www.entrance.examsavvy.com/2010/04/entrance-examination.html).

(2*)  Theo ĐH FPT.edu.vn và Kênh 14.vn “Tuyển sinh ĐH ở nước ngoài khác Việt Nam như thế nào”?

(3*)  University and college admission ( en.m.wikipedia.org);

(4*)  Reform of university entrance exam sparks debate. Suvendrini Kakuchi14 September 2013 Issue No:287

(5*)  Cải cách Giáo dục cho thế kỷ XXI, Bảo dảm để dẫn đầu trong kỷ nguyên thông tin và toàn cầu hóa; Báo cáo của Uỷ ban cải cách Giáo dục trực thuộc Tổng thống Hàn quốc. NXB Giáo dục 2006.

(6*)  Theo CNBC’s Katie Holliday: Follow her on Twitter @hollidaykatie

(7*)  Thailand- Webster University in Huahin ; Accepted Credentials – Required Credentials for Admission to Webster University as an Undergraduate Student.

(8*). Phuong Thi Thanh Nguyen – Luận án bảo vệ Tiến sĩ về Quản trị GDĐH (Higher Education Adminiistration) trang 31- Texas Tech university, 2005.

(9*)  Vietnam: Higher Education and skills for growth. World Bank June 2008.

—————-&&—————

Tiếp tục đọc

Sàn giao dịch chứng khoán ảo – VCU

Sàn giao dịch chứng khoán ảo – VCU

Sàn Giao dịch Chứng khoán ảo là một sân chơi học thuật nổi bật của trường Đại học Thương mại dưới sự quản lý trực tiếp của Khoa Tài chính-ngân hàng thành lập từ năm 2014.
Từ năm 2014 cho đến nay, Sàn Giao dịch Chứng khoán ảo đóng góp một phần không nhỏ trong việc xây dựng thương hiệu các hoạt động học thuật của sinh viên trường với lực lượng nòng cốt là các sinh viên có nền tảng vững chắc về kiến thức kinh tế – tài chính, có khả năng tổ chức và làm việc nhóm tốt.
Sàn Giao dịch Chứng khoán ảo là mô hình mô phỏng thị trường tài chính, tạo ra sân chơi bổ ích cho sinh viên không chỉ tại trường Đại học Thương mại mà còn tại trường Đại học khác trong thành phố đam mê lĩnh vực tài chính chứng khoán, là nơi giúp các bạn sinh viên vận dụng lý thuyết tài chính vào thực hành và tiếp cận diễn biến của thị trường. Không những thế, Sàn Giao dịch Chứng khoán ảo còn tạo ra một môi trường rèn luyện cho chính các thành viên ban tổ chức về kiến thức, khả năng quản lý chuyên nghiệp cùng các kỹ năng mềm khác.

Trang chủ: http://flab.vcu.edu.vn/

banner_IRS.jpg (975×100)

—————–&&—————-

Trường đại học sẽ được xếp theo 3 tầng, 3 hạng

Trường đại học sẽ được xếp theo 3 tầng, 3 hạng

(Nguồn: vietnamnet.vn)

Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định tiêu chuẩn phân tầng, khung xếp hạng và tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục đại học.

Nghị định này quy định về tiêu chuẩn phân tầng; khung xếp hạng và tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục đại học; quy trình, thủ tục phân tầng và xếp hạng cơ sở giáo dục đại học.

Trong đó, phân tầng cơ sở giáo dục đại học là sự sắp xếp thành các nhóm các cơ sở giáo dục đại học theo mục tiêu, định hướng đào tạo dựa trên các tiêu chuẩn phù hợp với quy định của Nghị định này.

Cơ sở giáo dục đại học được phân thành 3 tầng: Cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu; Cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng và Cơ sở giáo dục đại học định hướng thực hành.

Tất cả các cơ sở giáo dục đại học trong mỗi tầng tùy theo chất lượng được sắp xếp vào 3 hạng của khung xếp hạng theo thứ tự từ cao xuống thấp: Hạng 1, hạng 2, hạng 3.

Khung xếp hạng được xác định theo điểm với cơ cấu như sau: Hạng 1 bao gồm 30% các cơ sở giáo dục đại học có điểm cao nhất; Hạng 3 bao gồm 30% các cơ sở giáo dục đại học có điểm thấp nhất; và Hạng 2 bao gồm 40% các cơ sở giáo dục đại học không thuộc Hạng 1 và Hạng 3.

Nghị định quy định rõ các tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục đại học gồm: Quy mô, ngành nghề và các trình độ đào tạo; Cơ cấu các hoạt động đào tạo và khoa học công nghệ; chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học; Kết quả kiểm định chất lượng giáo dục.

Bộ GD-ĐT sẽ hướng dẫn cách tính điểm cho mỗi chỉ số của các tiêu chí theo tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục đại học.

Nghị định cũng nêu rõ, phân tầng cơ sở giáo dục đại học được thực hiện theo chu kỳ 10 năm. Xếp hạng cơ sở giáo dục đại học được thực hiện theo chu kỳ 2 năm.

Nghị định có hiệu lực từ 25/10/2015.

Ngân Anh

—————&&————–

Đại học Mỹ: Học ở đâu và bảng xếp hạng – Jeffrey Brenzel, Vũ Hà Văn dịch

—————-&&—————-

Thời loạn.

Hỗn loạn tại công viên nước: Phụ huynh liều với mạng sống của trẻ

(Nguồn: vietnamnet.vn)

Công viên nước Hồ Tây, mở cửa miễn phí, quá tải, vượt cổng, trèo rào, liều mạng

  • Isaac Newton: “Tôi có thể đo đạc được lực chuyển động của các thiên thần nhưng chẳng thể nào đo đạc được sự điên rồ của con người”.
  • Albert Einstein: “Chỉ có hai điều là vô hạn: vũ trụ và sự ngu xuẩn của con người, và tôi không chắc lắm về điều đầu tiên”.

—————-&&—————-