Thế giới đang thổi phồng những ưu điểm của công nghệ blockchain?

Thế giới đang thổi phồng những ưu điểm của công nghệ blockchain?

(Nguồn: http://cafef.vn)

Mark Gates, tác giả cuốn sách ‘Blockchain – Ultimate guide to understanding blockchain, bitcoin, cryptocurrencies, smart contracts and the future of money’ đã đề cập tới một số điểm bất ổn của công nghệ này.

Mặc dù đã giảm khoảng 30% so với mức đỉnh hơn 19.000 USD/bitcoin thiết lập hồi giữa tháng 12/2017, giá của đồng tiền mật mã này hiện tại cũng đã tăng hơn 13 lần sau 1 năm và vẫn chưa chấm dứt cơn sốt mà nó gây ra trên toàn thế giới.

Từ khóa ‘bitcoin’ thậm chí còn là một trong hai từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất của hạng mục Tin tức (News) trong năm 2017, trong tổng số 15 hạng mục được Google công bố gần đây .

Mặc dù vậy, nhiều chuyên gia trong lĩnh vực tài chính tiền tệ không đánh giá cao giá trị của đồng tiền mật mã này. Đặc biệt, Warren Buffett, nhà đầu tư huyền thoại, và Jamie Dimon, CEO của JPMorgan Chase, còn thẳng thắn tuyên bố Bitcoin là một trò lừa đảo và cho rằng những ai ‘đầu tư’ vào đồng tiền này sớm muộn cũng sẽ mất trắng số tiền mình có.

Trong khi bitcoin nhận được nhiều ý kiến tiêu cực, thì blockchain, công nghệ đứng đằng sau nó, đã trở thành thuật ngữ quan trọng thường được nhắc tới trong các cuộc bàn luận về công nghệ. Các nhà đầu tư và các tổ chức tài chính hầu như không quan tâm tới bitcoin, nhưng họ bắt đầu chú ý tới công nghệ blockchain.

Những người ủng hộ công nghệ blockchain vẫn không ngừng ca tụng về các lợi ích mang tính đột phá mà công nghệ này mang lại. Họ thậm chí còn cho rằng những đột phá này có thể là bước ngoặt công nghệ sẽ thay đổi nhiều ngành công nghiệp.

Họ không ngừng nói về những lợi ích của công nghệ blockchain như tính minh bạch, loại bỏ được các đơn vị trung gian, tính phi tập trung, độ bảo mật, tiết kiệm chi phí hay tăng tốc độ giao dịch.

Phải chăng công nghệ blockchain không có bất kỳ một nhược điểm nào? Đây có thực sự là công nghệ đột phá và sẽ thay đổi một loạt ngành công nghiệp giống như những người ủng hộ nó ca tụng?

Mới đây, Mark Gates, tác giả cuốn sách ‘Blockchain – Ultimate guide to understanding blockchain, bitcoin, cryptocurrencies, smart contracts and the future of money’ (Tạm dịch: Blockchain – Giới thiệu về công nghệ blockchain, bitcoin, tiền mật mã, hợp đồng thông minh và tương lai của tiền tệ) đã đề cập tới một số điểm bất ổn của công nghệ này.

Thiếu tính riêng tư

Xuất phát từ tính phi tập trung, blockchain là một mạng lưới trong đó tất cả các giao dịch trong mạng lưới đó đều có thể được truy xuất ngược bởi bất kỳ thành viên nào. Nếu bạn thanh toán hàng hóa tại một cửa hàng mà mạng thanh toán tại cửa hàng được sử dụng công nghệ blockchain, chủ cửa hàng có thể thấy giao dịch đó trên blockchain và dễ dàng truy xuất xem khoản tiền đó được gửi từ ví nào. Thậm chí, họ còn có thể kiểm tra số dư tài khoản đó cũng như toàn bộ các giao dịch gửi, rút tiền hoặc thanh toán khác từ tài khoản của bạn.

Ý tưởng về một blockchain phi tập trung cung cấp rõ ràng, công khai từng giao dịch đơn lẻ trong mạng lưới đã trở thành nỗi lo lắng của nhiều người. Điều này cũng gây ái ngại rằng nhiều máy tính hoạt động trên mạng lưới blockchain quy mô lớn tại những quốc gia như Nga hay Trung Quốc, nơi tình trạng tội phạm công nghệ cao và thông tin cá nhân có thể bị lợi dụng để gây hại cho những người sinh sống và khách du lịch tới các quốc gia đó.

Mặc dù có nhiều blockchain phi tập trung cung cấp mức độ bảo mật giao dịch cao hơn hoặc giới hạn người có thể truy cập để theo dõi thông tin, nhưng Bitcoin, Ethereum và nhiều đồng tiền mật mã khác không vận hành theo cách đó và hiện tại không có kế hoạch tăng cường tính riêng tư cho giao dịch hay tài khoản.

Những vấn đề về bảo mật

Trong các hệ thống bảo mật thông qua bên trung gian, chẳng hạn như ngân hàng, nếu một người quên mất mật khẩu, họ có thể nhờ ngân hàng nơi họ mở tài khoản cấp lại bằng cách xác thực tại chi nhánh. Tuy nhiên, trong mạng lưới blockchain không có bên trung gian (Peer-to-Peer), một người quên mất khóa cá nhân của mình sẽ không có cách nào truy cập vào khoản tiền của họ.

Tính bảo mật quá cao này đôi khi gây rắc rối cho người sử dụng. Một số người thậm chí còn lưu mã khóa cá nhân bằng tin nhắn, email hoặc chép ra giấy, điều này có thể tạo ra các lỗ hổng bảo mật, và biến sự an toàn thành không an toàn.

Một thanh niên người Anh tên James Howells gần đây trở nên nổi tiếng sau khi cho biết anh đã tình cờ vứt bỏ một ổ cứng cũ chứa mã khóa hơn 7.000 bitcoin, tương đương gần 100 triệu USD với giá hiện tại.

Rủi ro từ tấn công quá bán

Một giao dịch trong mạng lưới blockchain sẽ được ghi lại nếu trên 50% số máy trong mạng lưới xác nhận nó là đúng. Sau khi đã được ghi lại, giao dịch đó gần như sẽ không thể bị thay đổi, trừ khi có ít nhất trên 50% số máy trong mạng lưới cùng xác nhận giao dịch đó.

Về mặt thực tế, việc này rất khó xảy ra. Tuy nhiên trên lý thuyết, nếu một người (hoặc nhóm người) có khả năng kiểm soát trên 50% số máy trong mạng lưới blockchain, họ có thể kiểm soát được các giao dịch trên mạng lưới này.

Một cuộc tấn công quá bán trên mạng lưới blockchain thường được coi là bất khả thi trong thực tế vì để kiểm soát một số lớn trên mạng lưới lưới là rất khó khăn. Tuy nhiên, có nhiều trang trại khai thác khổng lồ đặt tại Trung Quốc, Nga và nhiều nơi khác trên thế giới nắm quyền kiểm soát phần lớn công suất tính toán trong mạng lưới blockchain. Nếu những trang trại khai thác khổng lồ này liên kết lại với nhau, họ có khả năng chiếm dụng mạng lưới blockchain và thao túng vì lợi ích riêng.

Chi phí khai thác các khối mới ngày càng tăng

 Thuật toán bằng chứng xử lý (Proof of Work) mà nhiều mạng lưới blockchain sử dụng yêu cầu chứng thực rằng các nguồn lực và công suất tính toán được đóng góp vào mạng lưới trước khi một khối được bổ sung vào mạng. Bằng chứng này được thể hiện dưới dạng lời giải cho một mảnh ghép được thêm vào khối để mạng lưới xác nhận xem có chính xác hay không. Giải đáp mảnh ghép này cần điện năng và công suất tính toán ngày càng lớn.

GIáo sư John Quiggin thuộc Đại học Queensland đã tính ra rằng cứ nửa giờ, mạng Bitcoin sử dụng một lượng điện năng gần tương đương với lượng điện các hộ gia đình bình thường tại Mỹ tiêu thụ trong một năm. Giả định mỗi hộ bình thường tại Mỹ tiêu thụ tự 10.000 đến 12.000 kWh mỗi năm, lượng điện này gần bằng lượng điện cần thiết để tạo ra 4 Bitcoin.

Hơn nữa, độ khó của các khối mới của mạng blockchain ngày càng tăng, nên lượng tiêu thụ điện năng cũng sẽ tăng, điều này khiến chi phí càng cao và đòi hỏi càng nhiều nguồn lực để vận hành blockchain sử dụng thuật toán bằng chứng xử lý (Proof of Work) trên quy mô lớn.

Thiếu khả năng mở rộng

Cứ mỗi 10 phút sẽ có một khối mới được bổ sung vào blockchain bitcoin. Mỗi khối chứa khoảng 2.000 giao dịch, tức là mạng lưới bitcoin hiện xử lý được khoảng 3 giao dịch mỗi giây. Vì kích thước khối hạn chế nên mạng lưới bitcoin chỉ có khả năng xử lý tối đa 7 giao dịch mỗi giây. Đây là con số quá nhỏ so với số lượng giao dịch mỗi giây mà các định chế tài chính lớn đang xử lý. Chẳng hạn, VISA sử dụng mạng lưới IBM có khả năng thực hiện trên 20.000 giao dịch mỗi giây.

Một vấn đề khác hạn chế khả năng mở rộng ứng dụng của blockchain. Khi một người đi mua hàng và thanh toán bằng thẻ tín dụng, nhưng không đủ tiền trong thẻ để thanh toán, giao dịch đó sẽ bị từ chối. Mạng lưới sử dụng công nghệ blockchain không có khả năng này.

Nếu mỗi giao dịch trên blockchain bitcoin sẽ cần tối thiểu 10 phút mới bổ sung vào blockchain nên các công ty có thể sẽ phải chờ nhiều khối được thêm vào hơn trước khi xác nhận giao dịch, để đảm bảo rằng giao dịch sẽ không bị đảo chiều.

Nhiều người nhắc đến viễn cảnh công nghệ blockchain sẽ biến đổi hoàn toàn thế giới. Tuy nhiên trong thực tế, ngay cả khi mọi người muốn sử dụng bitcoin và hệ thống dựa trên nền tảng blockchain, nhiều người vẫn ưa thích các phương thức cũ. Chẳng hạn, nhiều người vẫn sẽ sử dụng tài khoản tại một ngân hàng được bảo mật bởi ngân hàng hơn là tự mình phải lưu trữ các mã khóa.

Suy cho cùng, công nghệ blockchain là cách thức mới để lưu trữ và quản lý dữ liệu. Ở thời điểm hiện tại và trong tương lai gần, công nghệ này chưa thể là giải pháp cho mọi vấn đề trên thế giới. Vì thế những người quan sát, người nghiên cứu, người ứng dụng công nghệ này cần phải khách quan khi đánh giá tiềm năng của blockchain, đặc biệt là tỉnh táo trước cơn sốt đầu cơ tiền số.

Quang Huân

Theo Trí thức trẻ

——————&&&—————

Bitcoin, tiền kỹ thuật số và blockchain: ảo ảnh hay phép lạ

Bitcoin, tiền kỹ thuật số và blockchain: ảo ảnh hay phép lạ

(Tác giả: MATTHIEU MONTALBAN – Nguồn: phantichkinhte123.com)

Những thực tiễn liên quan đến Bitcoin và blockchain (chuỗi khối hay công nghệ chuỗi khối) đang bắt đầu lan rộng. Đối với một số người, đó chỉ là một vật dụng mới lạ, hoặc là một trò bịp, đối với một số người khác đó là một cuộc cách mạng thực sự có thể làm biến đổi hệ thống tiền tệ và tài chính, hoặc thậm chí cả hệ thống kinh tế, một cách lâu dài. Trong bài viết này, chúng tôi điểm qua nguồn gốc, những tiềm năng và rủi ro liên quan đến các loại tiền kỹ thuật số và blockchain. Bài viết này sẽ tập trung vào các loại tiền kỹ thuật số như Bitcoin. Sau khi giới thiệu nền tảng triết học của các loại tiền kỹ thuật số, chúng tôi sẽ xem xét những nguyên nhân và lợi thế giải thích sự phát triển của Bitcoin và các loại tiền kỹ thuật số khác. Sau đó chúng tôi sẽ thảo luận về những hạn chế của chúng và những phê phán có thể có.

Nền tảng triết học của các loại tiền kỹ thuật số

Friedrich Hayek (1899-1992)

Bitcoin là sản phẩm của một dự án chính trị và blockchain là công nghệ đã làm cho dự án này trở nên khả thi. Ít nhất là từ cuối những năm 1970 và từ bài viết của Friedrich Hayek về dự án phi quốc gia hóa tiền tệ[1] , thì một trong những điều ám ảnh của những người theo chủ nghĩa tự do triệt để (một tên gọi khác của những người theo chủ nghĩa tư bản vô chính phủ hoặc chủ nghĩa tự do cực đoan) là giải phóng việc tạo sinh tiền tệ khỏi ảnh hưởng của ngân hàng trung ương và Nhà nước. Theo họ, ảnh hưởng này chịu trách nhiệm về tình hình lạm phát và về những rủi ro quá mức của ngân hàng. Các nhà tự do cực đoan đã nảy sinh nhiều dự án trong đầu, được trường phái Áo truyền cảm hứng, như dự án free banking (các ngân hàng tư nhân cạnh tranh với nhau trong việc phát hành chính đồng tiền riêng của mình, mà không cần đến ngân hàng trung ương với vai trò người cho vay cuối cùng), sự quay trở lại với vàng, tiền tệ 100% (cấm các ngân hàng cho vay vượt mức tiền được kí gởi, một hệ thống được những người tự do cực đoan gọi là hệ thống tiền dự trữ theo tỷ lệ).

Bitcoin được phát minh sau cuộc khủng hoảng năm 2008, được cho là để bổ khuyết những điểm yếu của hệ thống tiền tệ và tài chính, tiến gần đến lý tưởng tư bản chủ nghĩa vô chính phủ về một “đồng tiền tự do”, nhằm làm suy yếu sự độc quyền trong việc phát hành tiền tệ của các ngân hàng trung ương và ngân hàng tư nhân. Do Satoshi Nakamoto, một hoặc nhiều người ẩn danh, sáng tạo (nhiều đồn đoán đang phát triển rất nhanh để tìm ra đó là ai), Bitcoin là một đồng tiền kỹ thuật số, được phát hành theo cách phi tập trung, không có sự kiểm soát của Nhà nước, nhưng được kiểm soát bởi một thuật toán đảm bảo tính an toàn của các giao dịch và không có nạn thao túng hoặc “in tiền giả”. Nói tóm lại, đó là giấc mơ của một phiên bản tiền tệ tư bản chủ nghĩa vô chính phủ của Thung lũng Silicon. Kể từ khi có Bitcoin, đã có nhiều loại tiền kỹ thuật số khác và các blockchain khác được phát minh (như Ethereum, Litecoin, Peercoin, v.v..). Một số người theo chủ nghĩa tự do cánh tả cũng có vẻ rất phấn khích với đồng tiền này, vốn tấn công vào các ngân hàng và uy quyền của các Nhà nước.

Nguồn gốc phát triển của blockchain Bitcoin và các loại tiền kỹ thuật số khác

 Để được thể chế hoá, một loại tiền tệ cần phải có sự tin tưởng: người sử dụng nó cần tin rằng nó sẽ được chấp nhận như là một phương tiện thanh toán và giá trị của nó được đảm bảo bằng cách này hay cách khác. Nói chung, có ba nguồn gốc được cho là tạo ra niềm tin vào một loại tiền tệ: sự tin tưởng về mặt phương pháp, liên quan đến việc sử dụng hợp lý biểu tượng (tôi biết người khác sử dụng đồng tiền đó, vì vậy tôi sử dụng đồng tiền đó), sự tin tưởng về mặt thứ bậc, liên quan đến sự tồn tại của một bên thứ ba đáng tin (tôi biết hệ thống thanh toán được ngân hàng trung ương và mạng lưới các ngân hàng tư nhân đảm bảo) và sự tin tưởng về mặt đạo đức (việc phát hành tiền tệ được thực hiện theo các quy tắc được hợp pháp hóa)[2] . Trong một thời gian dài, người ta cho rằng, để đảm bảo sự tin tưởng vào một loại tiền tệ nào đó, thì sự tin tưởng về mặt thứ bậc và Nhà nước là điều cần thiết. Bitcoin cố gắng bỏ qua trung gian tập quyền đó, điều mà các nhà tự do triệt để và các nhà tân tự do đã luôn phê phán do có thể có việc thao túng lạm phát về lượng tiền để đảm bảo nguồn tài chính cho Nhà nước.
Để làm được như trên, các loại tiền kỹ thuật số dựa vào một kỹ thuật mã hoá và kiểm tra tự động, huy động sức mạnh tính toán của tất cả các máy tính tham gia hệ thống mạng: đó là blockchain. Đây là một loại cơ sở dữ liệu lớn phi tập trung đóng vai trò là sổ kế toán, một sổ, có tính phân phối, minh bạch và an toàn, ghi lại tất cả các giao dịch kể từ khi khởi động hệ thống, tự động hóa việc xác minh các giao dịch bằng cách huy động sức mạnh tính toán của tất cả các máy tính đang tham gia mạng, mà không cần sự kiểm soát tập trung và trên cơ sở đồng thuận. Nó có thể được đồng nhất với một kiểu hệ thống phi tập trung tổ chức và kiểm soát sự chuyển nhượng quyền sở hữu. Vì vậy, nó không cần đến bên thứ ba đáng tin (niềm tin về mặt thứ bậc). Đối với từng khối giao dịch, mỗi máy tính sẽ thực hiện những công việc xác minh tốn kém về mặt tính toán và năng lượng (Proof of work hay bằng chứng công việc trong trường hợp của Bitcoin) cho phép duy trì độ tin cậy, kể cả khi đối mặt với các nỗ lực ác ý của tin tặc trong việc phổ biến những thông tin sai lệch. Hệ thống này được các chuyên gia về mật mã coi là gần như bất khả xâm phạm.
Một khi đã huy động sức mạnh tính toán của nhiều máy tính, thì cần khuyến khích người dùng tham gia hệ thống mạng ngày càng nhiều và đảm bảo việc phát hành Bitcoin. Sự khéo léo xuất phát từ việc là, khi đưa máy tính của mình vào hệ thống mạng, chủ sở hữu của mỗi máy tính sẽ giải quyết được vấn đề được gọi là đào vàng (và các máy tính là những “máy đào vàng”), và được trả thù lao bằng các Bitcoin. Về cơ bản, Bitcoins được phát hành để bù đắp cho chi phí về tiền điện và sức mạnh tính toán của máy tính [tham gia hệ thống mạng]. Do thuật toán của Bitcoin được thiết kế để phát hành đồng tiền có hạn chế này, nên giá trị của nó so với các loại tiền có chủ quyền phải có xu hướng tăng lên, khuyến khích người đào “vàng” đào ngày càng nhiều và như thế đảm bảo sự phát hành đồng tiền kỹ thuật số. Sau đó, đồng tiền kỹ thuật số này có thể được chuyển đổi, ở các dạng nền tảng hoạt động như là một phòng thu đổi ngoại tệ, sang một đồng tiền có chủ quyền hoặc một đồng tiền kỹ thuật số khác.
Bitcoins được giao dịch không thông qua các trung gian ngân hàng và vì vậy tiết kiệm được các chi phí giao dịch liên quan đến hoạt động trung gian ngân hàng (phí hoa hồng, phí duy trì tài khoản, v.v..). Việc chuyển khoản hoặc chuyển đổi Bitcoins thành một đồng tiền có chủ quyền diễn ra khá dễ (hay đúng hơn từng là khá dễ, là điều mà chúng ta sẽ thấy dưới đây), điều này làm cho các giao dịch thanh toán trở nên khả thi ở bất kỳ điểm nào trên hành tinh trong một thời gian kỷ lục, tất nhiên, với điều kiện là các bên trong giao dịch chấp nhận nó. Hơn nữa, việc chuyển khoản này chỉ có thể được thực hiện nếu Bitcoins đã có trong một tài khoản trước đó, ở đây không có hệ thống tiền dự trữ theo tỷ lệ (các ngân hàng không thể tạo ra tiền bằng tín dụng), điều mà, trong tầm nhìn của giới tự do cực đoan, là một phẩm hạnh bảo vệ chống lại các rủi ro lạm phát và nạn in tiền giả mà họ cáo buộc cho các ngân hàng.
Như vậy, Bitcoin có thể được coi là một dạng vàng kỹ thuật số, và chế độ tiền tệ mà nó sẽ thiết lập, nếu được phổ biến rộng (chúng ta sẽ thảo luận sau tính khả thi của kịch bản này), sẽ giống như chế độ bản vị vàng (thuật ngữ “đào vàng” được sử dụng có chủ đích).

Bitcoin, một sản phẩm đầu cơ

 Có một chỉ trích chính là Bitcoin là một sản phẩm đầu cơ thuần túy. Không ai tranh cãi việc Bitcoin là một tài sản đầu cơhầu hết những người đầu tư vào các loại tiền kỹ thuật số này đều làm như vậy để có một thu nhập cao. Trong thực tế, Bitcoin tăng giá theo thời gian và căn cứ vào sự tăng giá đó, người ta có thể tự hỏi, một cách chính đáng, liệu đó có phải là một bong bóng [đầu cơ] khônghttps://www. coindesk. com/price/
Liệu đó có phải là một bong bóng [đầu cơ] khôngTrong trường hợp này, thuật toán của Bitcoin làm cho việc tạo tiền bằng Bitcoin được giới hạn ở mức 21 triệu đơn vị. Các bạn đã đọc rõ chứtất cả sẽ chỉ có 21 triệu Bitcoins được tạo ra cuối cùng, biết rằng hiện nay đã có 12 triệu Bitcoins đã được tạo ra. Vì vậy, nó là một đồng tiền hiếm theo định nghĩa và điều này giải thích một phần sự thành công của nó, vừa là một dạng giá trị ẩn náu và bởi vì nó có thể dẫn đến một hình thức tin tưởng về mặt đạo đức, khi mà việc tạo ra tiền không thể bị thao túng. Bitcoin được coi là một dạng giá trị ẩn náu và các tác nhân tiên đoán rằng giá Bitcoin sẽ tăng lên, do quy mô hệ thống mạng và sự lan rộng của Bitcoin tăng lên trong khi khối lượng Bitcoin có giới hạn.
Vì vậy, đồng tiền ảo này không có tính ổn định bởi vì nó tăng giá cao và là đối tượng đầu cơ. Nếu như một đồng tiền như thế và một chế độ tiền tệ như thế được thể chế hóa và phổ cập hóa, thì sẽ thấy xảy ra các cơ chế giảm phát, mà hiệu ứng của chúng sẽ có khả năng tác động tiêu cực lên hoạt động tiền tệ, một cách tiềm tàng. Thực vậy, tình trạng giảm phát làm tăng nợ, có hiệu ứng xiết nợ (các doanh nghiệp, hộ gia đình hoặc Nhà nước), cụ thể là những tác nhân có khuynh hướng tiêu dùng cao nhất. Người ta có thể sẽ lập luận rằng khi giá cả giảm thì sẽ làm tăng sức mua tiền mặt và từ đó làm tăng tiêu dùng, nhưng hiệu ứng được gọi là tiền mặt thực tế này nói chung là khá yếu. Hơn nữa, nếu tiền lương là không linh hoạt so với giá cả (một điều vốn thường là như vậy), thì tình trạng giảm phát làm giảm lợi nhuận và giảm bớt động lực đầu tư. Hiện tại, khi chúng ta đang ở trong chế độ tiền tệ có chủ quyền, khi Bitcoin không được sử dụng để ấn định giá cả và tiền lương, thì hiệu ứng giảm phát này khó có thể xảy ra và sự tăng giá của tài sản này [Bitcoin] chủ yếu mang tính đầu cơ.
Maurice Allais (1911-2010)

Các phương tiện thanh toán được tạo ra không căn cứ vào nhu cầu thanh khoản gắn với sự lưu thông tiền tệ, mà căn cứ vào hoạt động đào vàng, mà hiệu suất giảm dần theo thời gian (xác suất mà một máy tính đào được một Bitcoin giảm dần). Nếu mọi người có thể cho vay bằng Bitcoins để tài trợ cho hoạt động kinh doanh này hay hoạt động kinh doanh khác, thì các khoản nợ và giấy nợ này không thể tạo ra tiền, và cũng không thể được lưu thông như tiền thông qua blockchain của Bitcoin. Người ta sẽ tiến gần hơn đến lý tưởng của một Maurice Allais hoặc một số nhà tự do cực đoan người Áo, những người muốn tách chức năng tiền tệ và cho vay bằng cách ngăn cấm những khoản tiền dự trữ theo tỷ lệ.

Tuy nhiên, Bitcoin không ngăn cấm hệ thống tiền dự trữ theo tỷ lệ: nếu một ngân hàng tạo ra các tài khoản bằng Bitcoin, thì không có gì ngăn cản họ đưa đồng tiền đó vào lưu thông, thông qua tín dụng, các phương tiện thanh toán (ngân phiếu, ví dụ) vượt quá mức dự trữ bằng Bitcoin của ngân hàng. Nhưng để làm được điều này, đòi hỏi các ngân hàng phải cung cấp một dịch vụ thú vị hơn, vì tính minh bạch của sổ kế toán và vì các tác nhân trong hệ thống mạng có thể có những tài khoản/ví tiền (“wallet”) riêng của mình mà không cần đến các ngân hàng. Đặc biệt khi mục tiêu của Bitcoin là bỏ qua trung gian ngân hàng, bằng cách cung cấp dịch vụ với chi phí giao dịch thấp hơn. Hơn nữa, trong một hệ thống “được bitcoin hóa” hoàn toàn, thì các ngân hàng vẫn chịu những hạn chế định lượng về trữ lượng Bitcoin, giống như vàng có thể phần nào đó hạn chế sự mở rộng tín dụng trong bản vị vàng. Vì vậy, có nhiều khả năng để đặt cược rằng chế độ tiền tệ này sẽ mang tính giảm phát và tiêu cực cho mức độ hoạt động kinh tế vì độ co dãn thấp của nó. Trong một kịch bản như vậy, nó sẽ kéo theo việc biến mất hoàn toàn của công cụ chính sách tiền tệ.

Sự thiếu vắng các quy định mở đường cho các hoạt động bất hợp pháp

Jamie Dimon (1956- )

Liệu Bitcoin có thực sự là một đồng tiền không, hay là một vụ lừa đảo in tiền giả, như khẳng định của một số người, trong đó có Jamie Dimon, giám đốc Ngân hàng JPMorgan ChaseHãy nhớ rằng một đồng tiền chỉ là đồng tiền bởi vì nó được coi là như vậy theo quy ước. Điều này có nghĩa là nếu một ngày nào đó Bitcoin được chấp nhận như là một đồng tiền, nghĩa là nếu nó tạo đủ niềm tin để cho phép mua hàng, thì nó sẽ là một đồng tiền. Trong số các yếu tố có thể nuôi dưỡng sự ngờ vực, đã có nhiều trường hợp lừa đảo tiền kỹ thuật số, có thể tạo ra sự ngờ vực của công chúng và chỉ ra rằng một kỹ thuật, dù có bất khả xâm phạm đến đâu, cũng có thể là chưa đủ để tạo ra niềm tin. Đồng thời, cũng có trường hợp những hệ thống Ponzi (gian lận) trên Bitcoin.

Các hoạt động được gọi là Initial Coin Offerings (ICO, hình thức huy động vốn đầu tư thông qua việc phát hành những tài sản số đổi lấy tiền kĩ thuật số – ND), nghĩa là những đợt phát hành các token (thẻ số) với lãi suất ưu đãi cho những nhà đầu tư bằng Bitcoin và để tài trợ cho các start-up [doanh nghiệp khởi nghiệp] đào vàng đổi lấy đồng tiền có chủ quyền, không bị điều tiết và phát triển nhằm tránh hoạt động tài trợ truyền thống bằng cổ phiếu với các quy định kèm theo. Trong các ICOs, các token tiền kỹ thuật số được phát hành đến kỳ hạn không cho nhà đầu tư quyền được hưởng cổ tức và quyền bỏ phiếu, mà là cho quyền được mua một trong những sản phẩm hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp sẽ cung cấp sau này, hoặc bán lại các token tiền kỹ thuật số có được với một mức gia tăng của giá trị khi thời giá tăng lên. Nhưng khi tiền kỹ thuật số rớt giá, thì các nhà đầu tư sẽ mất tất cả. Cơ quan quản lý các thị trường tài chính [Autorité des Marchés Financiers] lo ngại các hoạt động này và đang suy nghĩ về các biện pháp để điều tiết chúng. Trong các ICO này, có nhiều trường hợp lừa đảo có thể làm suy yếu niềm tin vào đồng tiền ảo này. Ngoài ra, tiền kỹ thuật số thường được sử dụng trong việc rửa tiền các hoạt động kinh doanh bất hợp pháp. Nói tóm lại, sự thiếu vắng điều tiết khuyến khích những hành vi dẫn đến tranh chấp. Sự đổi mới tài chính và tiền tệ thường là một cách để lẩn tránh các quy định để giao dịch những thương vụ đáng ngờ, Bitcoin không phải là một ngoại lệ.

Một đồng tiền chưa hoàn chỉnh

Hơn nữa, một tiền tệ mang tính hoàn chỉnh nếu kết hợp được các chức năng của đơn vị hạch toán, phương tiện thanh toán, và dự trữ giá trị. Hiện tại, Bitcoin được sử dụng chủ yếu như là dự trữ giá trị và là phương tiện thanh toán cho một số sản phẩm nhất định trên Internet, hoặc trong thời gian gần đây tại một vài cửa hàng cụ thể ở Nhật Bản và Đức. Các trang web hoặc doanh nghiệp này chấp nhận Bitcoin như là một phương tiện thanh toán bởi vì thuật toán được đảm bảo an toàn và bởi vì họ dự đoán rằng họ sẽ có thể chuyển đổi Bitcoins thành đồng tiền có chủ quyền, có nhiều khả năng với một mức giá trị thặng dư căn cứ vào sự tăng trưởng của thời giá.
Nhưng, Bitcoin chưa thực sự có được chức năng là đơn vị hạch toán, ngoại trừ trong những giao dịch giữa các loại tiền kỹ thuật số, nơi mà Bitcoin là đồng tiền tham chiếu. Vì vậy, nó không thể được coi là một đồng tiền hoàn chỉnh. Nhân tố chính có thể làm chậm việc sử dụng các loại tiền kỹ thuật số này xuất phát từ các Nhà nước và các ngân hàng trung ương, những tác nhân có toàn quyền quyết định về đơn vị hạch toán trên lãnh thổ của mình và bắt buộc trả tiền thuế bằng đồng tiền quốc gia. Yêu cầu bắt buộc này đảm bảo đồng tiền quốc gia được sử dụng vừa như là đơn vị hạch toán và vừa là phương tiện thanh toán. Hơn nữa, các Nhà nước rất có thể quyết định cấm lưu thông Bitcoin và các loại tiền kỹ thuật số khác, để tạo ra loại tiền kỹ thuật số của riêng họ, theo nhiều quy tắc phát hành khác nhau cho vấn đề được gọi là phát hành tiền tệ: đây là những gì mà Nga, Estonia và Việt Nam đang nghĩ đến.
Một số điều gọi là lợi thế của Bitcoin đang biến mất. Trước tiên, khi số lượng các giao dịch tăng lên, thì cần nhiều thời gian hơn để xác minh một giao dịch, đôi khi cần đến vài chục phút, điều này không mấy thuận tiện. Ngoài ra, khi không có các phương tiện thanh toán tương đương, như thẻ tín dụng hoặc tiền giấy, thì hiện tại có rất ít khả năng để sử dụng loại tiền này trong các giao dịch hàng ngày ở siêu thị hoặc ở quán cà phê. Hoặc việc chuyển đổi Bitcoin thành US$ đã tạo ra các chi phí giao dịch ngày càng tăng (đạt mức 5.5US$ vào tháng 6 năm ngoái và xu hướng tăng lên cho mỗi giao dịch), làm giảm lợi ích của đồng tiền kỹ thuật số trong các giao dịch có giá trị thấp. Tất cả điều này được giải thích bởi chi phí về tính toán và năng lượng của việc duy trì blockchain Bitcoin.

Một chế độ [tiền tệ] không bền vững

Dựa vào xác suất giảm dần trong khả năng đào được vàng, các máy tính cần phải chạy ngày càng lâu hơn để có được Bitcoin, hoặc cần phải huy động ngày càng nhiều máy tính hơn. Người ta thấy rằng Bitcoin quả thực là rất hao tốn về năng lượng, bởi vì giao thức xác minh (Proof of work – bằng chứng công việc) huy động rất nhiều năng lượng và sức mạnh tính toán, và điều đó càng nhiều hơn nữa khi số lượng các giao dịch tăng lên.
Hiện tại, khi Bitcoin chưa được phổ biến rộng rãi, người ta ước tính rằng mức tiêu thụ điện để làm cho blockchain này hoạt động tương đương với mức tiêu thụ điện của Ireland. Và mức này đang ngày càng tăng lên, vì vậy nó không có tính bền vững về mặt năng lượng. Theo cách điên rồ nhất, một số người Nga và người Trung Quốc cho hàng trăm máy tính hoạt động liên tục để đào Bitcoins (người ta đang nói đến các trang trại đào vàng). Khi hiệu suất ngày cần thấp dần, thì các trang trại đào coin luôn cần đến nhiều máy tính hơn để có thể giải quyết các vấn đề tính toán… Người ta đã thấy sự phân bổ nguồn lực thông minh hơn cho tập thể. Vả lại, có một điều gì đó khôi hài, đó là Bitcoin được tạo ra để hạn chế cái gọi là in tiền giả nhà nước, nhưng điều đó có vẻ như không cản trở những người cổ xúy Bitcoin rằng có người, để kiếm sống (một số người đã trở thành triệu phú) chỉ việc cho các máy tính hoạt động suốt ngày để giải quyết những vấn đề viễn vông khi tiêu thụ năng lượng mà lẽ ra năng lượng đó chắc chắn sẽ được sử dụng tốt vì mục đích khác; một hoạt động trông rất giống với một hoạt động “thực” về in tiền giả.
Tuy nhiên, về lâu dài, khi hiệu suất đào vàng giảm dần trong khi các chi phí về năng lượng và giao dịch tăng lên, thì lợi ích của việc đào Bitcoin sẽ giảm, thậm chí biến mất. Liệu có ai đó quan tâm đến việc để cho máy tính của mình chạy liên tục mà không có bất kỳ hy vọng nào đào ra vàng khôngTrong trường hợp này, đã có các loại tiền kỹ thuật số khác được tạo ra, như Litecoin hoặc Ethereum, với những giao thức ít tốn kém hơn về mặt năng lượng, nhưng điều vẫn cần được chứng minh là tất cả hệ thống này có tính bền vững.
Để cho sòng phẳng, cần phải so sánh chi phí các blockchain của các loại tiền kỹ thuật số với chi phí của các hệ thống thanh toán hiện có. Chi phí này không phải bằng không, trái với những gì người ta có thể đôi khi nghe thấy: cần có các máy rút tiền, các thiết bị thanh toán đầu cuối, chi phí in tiền, cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin… Nhưng người ta cũng cảm thấy cần phải xem xét lại những lợi thế từng được ca tụng của Bitcoin.
Hơn nữa, khi chi phí các giao dịch tăng lên, để có thể sử dụng Bitcoins trong đời sống hàng ngày, thì các ngân hàng có thể có một giải pháp là phát hành những phương tiện thanh toán “cụ thể” (ngân phiếu) để đổi lấy Bitcoins, làm mất đi triết lý ban đầu của Bitcoin khi mà hoạt động ngân hàng quay trở lại và đi kèm với hoạt động ngân hàng đó, là khả năng của hệ thống tiền dự trữ theo tỷ lệ. Các ngân hàng vẫn chưa chịu thua. Tuy nhiên, tôi không nghi ngờ rằng giá trị của Bitcoin sẽ tiếp tục tăng thêm nữa, miễn là chi phí biên của việc đào vàng thấp hơn giá trị của bitcoin (việc so sánh giá trị/chi phí sản xuất sẽ xác định mức sản xuấtlợi tức kỳ vọng ấn định mức cầu) và miễn là Nhà nước không có các biện pháp để ngăn cấm hoặc điều tiết việc phát hành Bitcoin. Điều này sẽ còn tạo ra, trong một thời gian, một sự lãng phí năng lượng và nguồn lực một cách vô lý.

Khó xảy ra sự “phá vỡ” của ngành ngân hàng và tài chính bởi các loại tiền kỹ thuật số

Lý do cuối cùng có khả năng làm chậm sự phát triển của loại tiền kỹ thuật số là phản ứng của cơ chế độc quyền dịch vụ ngân hàng, mà dù thế nào vẫn có thể bị các loại tiền kỹ thuật số, blockchain và tổng quát hơn là toàn bộ ngành Fintech [công nghệ tài chính] đe dọa. Nhưng hãy nhìn nhận rằng việc “phá vỡ” ngành ngân hàng và tài chính để giảm bớt khả năng gây phiền toái của nó và sự phụ thuộc của chúng ta có thể không hoàn toàn làm cho chúng ta không hài lòng.
Cuối cùng, ngay cả khi Bitcoin trở thành một phương tiện thanh toán cho hoạt động thương mại điện tử, thì cũng có rất ít khả năng nó “phá vỡ” được các đồng tiền quốc gia. Nếu Bitcoin được phổ cập là đồng tiền thay thế cho đồng tiền có chủ quyền, thì sẽ đặt ra những vấn đề nghiêm trọng về giảm phát, vì sự cứng nhắc của quá trình tạo ra tiền của nó và vì việc tạo ra tiền đó không điều chỉnh được với nhu cầu về thanh khoản. Nếu Bitcoin, giống như các loại tiền kỹ thuật số khác, chỉ là những tài sản đầu cơ, thì điều tốt nhất là lợi ích của chúng là hạn chế, và điều tồi tệ nhất là chúng mang tính tiêu cực. Kịch bản có nhiều khả năng xảy ra nhất trong trung hạn là kịch bản của việc cùng tồn tại giữa các đồng tiền quốc gia và các loại tiền kỹ thuật số. Các loại tiền kỹ thuật số này sẽ được sử dụng trong một số giao dịch và được một số doanh nghiệp và quày hàng chấp nhận, trong khi các đồng tiền quốc gia sẽ vẫn giữ vai trò nòng cốt do thời giá hợp pháp và vai trò trong thanh toán thuế của chúng.
Đồng tiền kỹ thuật số có những hạn chế quan trọng, nhưng kỹ thuật cơ bản, blockchain, có nhiều ứng dụng tiềm năng. Chúng ta sẽ xem xét vấn đề này trong một bài viết khác.
Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch
NguồnBitcoin, crypto-monnaies et blockchain: mirage ou miracle?Alternatives Economiques, 18/11/2017.  

 

[1] https://iea.org.uk/publications/research/denationalisation-of-money

[2] Alary et al. (2016), Théories françaises de la monnaie [Các lý thuyết tiền tệ của Pháp], PUF, Paris. 

——————-&&&—————-

Forecasting and risk management in the Vietnam Stock Exchange

Forecasting and risk management in the Vietnam Stock Exchange

(Manh Ha Nguyen, Olivier Darné)

Abstract. This paper analyzes volatility models and their risk forecasting abilities with the presence of jumps for the Vietnam Stock Exchange (VSE). We apply GARCH-type models, which capture short and long memory and the leverage effect, estimated from both raw and filtered returns. The data sample covers two VSE indexes, the VN index and HNX index, provided by the Ho Chi Minh City Stock Exchange (HOSE) and Hanoi Stock Exchange (HNX), respectively, during the period 2007 – 2015. The empirical results reveal that the FIAPARCH model is the most suitable model for the VN index and HNX index.

Conclusion.

Volatility has become one of the most important and interesting topics in the time series econometrics and economic forecasting field during recent decades. One of the most prominent tools to capture such changing variance is the GARCH models developed by Bollerslev (1986). There is a large number of empirical studies employing GARCH to examine the volatility of exchange rates, stock returns, inflation rates and a range of other economic variables. Modeling the stock market’s volatility has become an important issue in various empirical works, which have been mainly conducted in developed and emerging stock markets.

To complement the existing literature, the present paper aims to investigate the volatility of stock returns in Vietnam over the period 2007 – 2015 by considering the GARCH family model (GARCH, EGARCH, GJRGARCH, IGARCH, RiskMetrics, APARCH, FIGARCH, FIAPARCH, FIAGARCH and HYGARCH) for a data sample of two stock indexes, notably the VN index and the HNX index. We also employ the procedure of Franses and Ghijsels (1999) to detect and correct the additive outliers when a GARCH model is used. Moreover, to evaluate the volatility forecast performances of studied models, we use the back-testing VaR with the Kupiec test and DQT. First, we find that FIAPARCH is the most suitable model for both of the VSE indexes. Second, our empirical study finds evidence of long memory and asymmetry in the volatility of the VSE.

The present paper allows for gaining a better understanding of the VSE’s volatility since its establishment. This study also contributes to the concerned literature in two ways. First, this paper is the first one that provides an empirical analysis on five VSE indexes. Second, while the existing works only employ one or two GARCH models for the case of Vietnam, we extend our empirical research by considering all nine models of the GARCH family to determine the most appropriate model for the VSE. To conclude, in our further research, the GARCH family models will be used once again to compare the volatility of the VSE with that of other developing countries at the same level of economic development.

Full paper: https://halshs.archives-ouvertes.fr/halshs-01679456/document

———————&&&——————–

Năng suất lao động có ý nghĩa cho phát triển bền vững ?

Năng suất lao động có ý nghĩa cho phát triển bền vững ?

(Tác giả: Lê Văn Cường – Nguồn: http://vcreme.edu.vn)

Năng suất của một công ty/xí nghiệp là gì?

Hãy xem xét một công ty F sản xuất một lượng Y (đầu ra) của một hàng hoá bằng cách sử dụng, để làm đơn giản, hai đầu vào: vốn vật chất (máy móc) K, và lao động L. Thông thường người ta sử dụng hai loại chỉ số để mô tả sự hiệu quả của công ty. Đầu tiên được gọi là năng suất theo vốn, đó là tỷ số κ = Y/K. Thứ hai là năng suất lao động λ =Y/L.

Từ đây, ta có thể luận giải rằng, để sản xuất Y đơn vị đầu ra, chúng ta cần máy κK đơn vị máy và λL đơn vị lao động. Các chỉ số κ và λ này có ý nghĩa nếu công nghệ sản xuất là Leontieff, tức là trong công nghệ này, một đơn vị đầu ra đòi hỏi tỷ lệ cố định của đầu vào K và L. Nhưng thực tế không đơn giản như vậy. Đối với một số công nghệ, các đầu vào có thể thay thế cho nhau một phần. Một số công nghệ sử dụng nhiều vốn hơn lao động và một số khác sử dụng nhiều lao động hơn vốn. Vì vậy, sử dụng hai loại chỉ số Y/L, Y/K sẽ khó để so sánh sự hiệu quả của hai doanh nghiệp khác biệt nhau, một doanh nghiệp cần nhiều vốn trong khi đó doanh nghiệp còn lại cần nhiều lao động.

Có những cách khác để đo lường hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp.

Hãy xem xét một công ty, và gọi nó là công ty F1. Chúng ta có thể ước lượng (bằng cách sử dụng dữ liệu về số hàng hóa nó sản xuất, số vốn và lao động mà nó sử dụng) hai yếu tố sau:
• Độ co dãn của vốn (ký hiệu là α) : tăng 1% vốn làm tăng α% sản lượng hàng hóa
• Tính co dãn của lao động: 1% lao động tăng làm tăng β% sản lượng hàng hóa
Các thông số này α, β thực sự đo lường năng suất của vốn và lao động.

Tuy nhiên đó chưa phải là tất cả. Ta có thể gặp hai công ty có cùng các tham số α, β, nhưng khi ta tăng lượng đầu vào lên cùng 1%, sản lượng của hai công ty tăng khác nhau. Điều gì tạo ra sự khác nhau này? Đó là yếu tố năng suất tổng hợp TFP (Total Factor of Productivity), nói nôm na là khả năng sử dụng công nghệ, thể hiện trong hàm sản xuất. Thành phần TFP này phụ thuộc vào chất lượng máy móc (cũ/mới, công nghệ lạc hậu hay công nghệ tiên tiến), trình độ của người lao động, động lực làm việc của họ. Đóng góp của lao động được tính bằng L = Nht trong đó N là số người lao động, h là chỉ số đo lường trình độ của họ, và t là thời gian làm việc. Nếu hai công ty sản xuất cùng một mặt hàng và cạnh tranh trên cùng một thị trường, công ty với chỉ số TFP thấp sẽ bị đào thải bởi giá thành sản xuất của họ cao hơn giá thành sản xuất của công ty kia (với giả định rằng họ có cùng năng suất của vốn và lao động, theo định nghĩa ở phía trên).

Giả sử rằng thời gian làm việc t được cố định bởi luật pháp. Khi đó để tăng chỉ số TFP, người lao động cần:

• Được đào tạo tốt (ta thấy tầm quan trọng của giáo dục, của giáo viên trình độ cao cũng như tầm quan trọng của việc đào         tạo đúng ngành đúng nghề).
• Được tuyển dụng với mức lương phù hợp.
(Quá nhiều tiến sỹ không hẳn là chính sách tốt.)

Mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế là gì? Vai trò của vốn là như thế nào?

Vốn khác với lao động bởi nó là kết quả của một quá trình tích lũy theo thời gian của đầu tư. Đầu tư vào vật chất (máy móc) ngày hôm nay sẽ được tính vào vốn (máy móc) của ngày mai. Số vốn này sẽ được ta sử dụng để sản xuất cho ngày mai. Nếu như chúng ta chuyển sang mua công nghệ mới kết hợp với đầu tư vào máy móc, vốn cuối cùng của ta có sẽ hiệu quả hơn, có năng suất cao hơn (so với trường hợp ta không đầu tư vào công nghệ mới), năng suất hơn.

Vấn đề ở chỗ là ta phải tìm ra phân bổ tối ưu giữa mua máy móc và công nghệ mới, số tiền chi tiêu cho giáo dục, đào tạo, chính sách tiền lương. Với cách nhìn này, ta không thể nói năng suất lao động (cũng như năng suất của vốn) là quan trọng cho tăng trưởng một cách độc lập. Một sự kết hợp hợp lí giữa cả hai nhân tố mới là quan trọng cho tăng trưởng kinh tế.

Cuối cùng, vẫn còn tồn tại một vấn đề quan trọng ở một số nước đang phát triển. Đó là một phần “overhead” ẩn dấu bị biển thủ trong tiết kiệm của quốc gia và được dùng như thu nhập của cá nhân. Quan trọng hơn, phần ẩn dấu này là một biến số không được xác định.

Thứ nhất, biển thủ tiết kiệm làm giảm ngân sách cho đầu tư, đào tạo để nâng cao kĩ năng của nhân công. (Nhà nước lo âu vi tỷ lệ nợ nước ngoài, 70% GDP, đươc đánh giá là quá cao. Nhưng giả sử phần bị biển thủ là 20%. Như vậy 14% GDP được dùng như thu nhập của một số cá nhân. Nhưng toàn người dân Việt Nam phải gánh số nợ này).

Thứ hai, vì “overhead” bị ẩn đi, các nhà đầu tư sẽ đối đối diện với chi phí không dự đoán trước và có thể không có kích thích để đầu tư. Tốt hơn hết là minh bạch khoản phí “overhead” này. Nhà đầu tư biết trước những phí này và sẽ quyết định đâu tư nếu họ nghĩ là đáng để làm.

Tóm lại, chương trình nghiên cứu có thể như sau:

  • Điều tra nhu cầu của những công ty sản xuất cùng loại sản phẩm và những yêu cầu đối
    với công nhân.
  • Điều tra nhu cầu của công ty về công nghệ.
  • Cải cách hệ thống giáo dục phù hợp với nhu cầu về lao động của các công ty, cũng như
    quản trị và các sản phẩm công nghệ mới.
  • Mức lương công nhân có thể nhận được từ các công ty (công nghệ cao hoặc công nghệ
    thấp) bao nhiêu mới tạo động cơ cho lao động làm việc có năng suất cao?
  • Minh bạch chi phí “overhead” để có thể đo chính xác năng suất của các công ty. Điều
    này có thể thực hiện được hay không?
  • Nếu sự minh bạch về chi phí “overhead” là quá nhạy cảm, tư nhấn hóa các doanh nghiệp
    nhà nước: nhưng làm sao xác định giá trị của các doanh nghiệp này?

—————–&&&—————

Sự khác nhau giữa Khoa học dữ liệu, Học máy & Trí tuệ nhân tạo

What’s the difference between data science, machine learning, and artificial intelligence?

(Tác giả: David Robinson – Nguồn: http://varianceexplained.org/)

The fields do have a great deal of overlap. An oversimplified definition of the difference between the three fields:

  • Data science produces insights
  • Machine learning produces predictions
  • Artificial intelligence produces actions

Xem: http://varianceexplained.org/r/ds-ml-ai/

——————–&&&——————

Kinh tế toán học

Kinh tế toán học

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

 
Mathematical Economics
® Giải Nobel: ALLAIS, 1988 ARROW, 1972 DEBREU, 1983 HARSANYI, 1994 KANTOROVITCH, 1975 KLEIN, 1980 NASH, 1994 SEN, 1998.

Ngày nay kinh tế học hình thức hoá bao phủ một phổ cực kì rộng những chủ đề nghiên cứu trong số này, có thể kể lí thuyết cân bằng chung, tài chính toán học, lí thuyết lựa chọn xã hội, lí thuyết trò chơi vận dụng một số công cụ toán học còn đa dạng hơn nữa từ topo đại số đến những phương trình đạo hàm riêng ngẫu nhiên qua đến phân tích tổ hợp, hình học vi phân, phân tích không trơn hay lí thuyết những hệ động hỗn độn. Đến độ mà điều gây ấn tượng truớc hết cho nhà toán học, có lẽ là sự sinh sôi nảy nở của những mô hình có vẻ là không hoà giải được. Có một mối liên hệ nào chăng về mặt khái niệm giữa định lí Gibbard-Satterthwwaite và folk theorem (định lí dân gian)? Mặt khác, trước một số phát triển có tính kĩ thuật của nhũng công trình đương đại, nhà kinh tế có thể nghi ngờ là bộ môn của mình chỉ là cái cớ cho những bài tập hình thức không có liên quan gì đến những mối bận tâm lí thuyết của mình. Ví dụ chứng minh sự tồn tại của giá trị Shapley trong khuôn khổ không khả vi (xem Mertens, 1988) có cải thiện được gì hiểu biết của chúng ta về các hiện tượng kinh tế?

Bởi thế thay vì lao vào việc liệt kê nhàm chán những kết quả chính sẵn có ngày nay, chúng tôi sẽ cố gắng, trong những phần dưới đây, chỉ ra là những mô hình khác nhau sẽ được đề cập là bấy nhiêu cách nhìn cùng một vấn đề mà việc giải quyết vấn đề này là thiết yếu cho lí thuyết kinh tế.
Điểm xuất phát của chúng tôi sẽ như sau: có thể đọc phần lớn nhất của kinh tế toán học như việc phân tích những điều kiện hình thức của khả năng có bàn tay vô hình bí ẩn của Adam Smith: bằng cách nào sự tương tác của những cá thể tìm cách đạt được những mục tiêu thường là đối kháng nhau có thể dẫn đến việc nổi lên một trật tự tập thể đáng mong ước về mặt xã hội (xem phần giới thiệu của Arrow và Hahn, 1971, cũng như xem Mertens, 1989)?
Cân bằng kinh tế chung
Đóng góp chính của lí thuyết cân bằng kinh tế chung (đặc biệt xem Arrow & Debreu, 1954; Debreu, 1959) là cung cấp một phác thảo trả lời lạc quan đầu tiên cho vấn đề sau: trái với những tiên đoán tai hoạ của Sismondi, Marx hay ngay cả của Schumpeter, ta có thể trưng ra những điều kiện đủ đảm bảo rằng một hệ thống giá cả hoàn toàn linh hoạt cho phép lưu chuyển tất cả thông tin mà các tác nhân cần để phối hợp với nhau và như thế tránh được sự hỗn độn. Mô hình Arrow-Debreu không nói được là vectơ những giá cạnh tranh đến từ đâu nhưng đảm bảo là, nếu tồn tại một vectơ như thế và quả là có điều này thể theo định lí điểm bất động của Kakutani và được các tác nhân kinh tế xem là dữ liệu không thể tác động được thì việc các tác nhân này đeo đuổi lợi ích riêng của bản thân không mâu thuẫn với lợi ích chung vì phân bổ cuối cùng, dưới những giả thiết tốt, là một tối ưu Pareto đây là định lí thứ nhất của kinh tế học phúc lợi. Tuy nhiên rõ ràng là một kết quả như thế là không đủ: thường tồn tại nhiều tối ưu Pareto và một số những tối ưu này là không mấy thoả đáng (cứ nghĩ đến phân bổ độc tài trong đó tất cả những nguồn lực của nền kinh tế đều nằm trong tay một cá thể duy nhất!). Phải chăng là cân bằng walrasian đưa vào một độ chênh có hệ thống trong việc chọn lựa những tối ưu mà cân bằng này cho phép đạt được? May thay một định lí tách những tập lồi cho phép chứng minh và đây là định lí thứ hai của kinh tế học phúc lợi rằng mọi tối ưu Pareto có thể được phi tập trung hoá bằng một hệ thống giá cả và chuyển nhượng được chọn một cách thích hợp, khiến cho ta có được sự tuơng đương Walras/tối ưu Pareto. 
Hơn nữa, để tránh khỏi bị phê phán là thiếu tính thực tế một cách quá hiển nhiên, câu trả lời của lí thuyết cân bằng chung phải trưng được những điều kiện đủ, và những điều kiện đủ này là yếu nhất có thể, đảm bảo sự tồn tại của một cân bằng như thế: như vậy, trong thực tế, chắc chắn là không thể biểu trưng sở thích của người tiêu dùng bằng những tiền thứ tự đầy đủ, bắc cầu, liên tục hay lồi như hầu hết các công trình trong những năm 1950 giả định. Do đó có sự cần thiết cần một chứng cứ tồn tại trong khuôn khổ không đầy đủ và không bắc cầu (xem Florenzano, 1981). Tương tự như thế khu vực sản xuất cũng có thể trưng ra những chi phí cố định, có những sản phẩm không thể chia nhỏ hay có những lợi tức tăng dần, và điều này được thể hiện, trên quan điểm toán học, bằng sự có mặt của những hiện tượng không lồi và không vi phân mà việc xử lí đòi hỏi những công cụ mới như phân tích không trơn (xem Guesnerrie, 1975) hay lí thuyết của Morse (xem Bonniseau & Cornet, 1988).
Tuy nhiên, nếu tồn tại một số rất lớn những cân bằng thì lí thuyết cân bằng kinh tế chung chỉ thay thế vấn đề ban đầu (làm cho những lợi ích trái ngược nhau của các cá thể được tương thích với nhau) bằng một vấn đề không kém phần phức tạp về sự phối hợp giữa các tác nhân: nên lựa chọn cân bằng nào? Do không thể có được tính đơn nhất tổng quát của các cân bằng, ngoại trừ có những điều kiện cực kì hạn hẹp về những cơ bản của nền kinh tế, thì lần này chính việc hình thức hoá những sở thích trơn (xem Debreu, 1972) và topo vi phân sẽ cho phép thu được tính đơn nhất địa phương của tất cả những cân bằng cũng như một số tính chất topo khác rất hữu dụng: một cách đại thể, gần hết tất cả các nền kinh tế (nghĩa là cho một tập hợp con chung của không gian những tham số của các nền kinh tế) có một số hữu hạn (lẻ) những cân bằng. Hơn nữa, có thể điều chỉnh giá cả, lượng tiêu dùng và kế hoạch sản xuất ở lân cận mỗi một cân bằng sao cho có hội tụ không va chạm (nghĩa là hội tụ một cách Cm) đến một giá cân bằng (xem Mas-Colell, 1985; Jouini, 1992).
Dưới đây ta sẽ thấy những kết luận đầu tiên đầy tính lạc quan này kể từ giữa những năm 1970 sẽ bị đánh thủng[1]. Tạm thời ta ghi nhận là cho tới giờ chúng ta tự giới hạn ở việc đặc trưng hoá một trật tự đáng mong muốn về mặt xã hội bằng khái niệm tối ưu Pareto. Phải chăng khái niệm này đã khai thác hết tất cả những gì ta có quyền chờ đợi từ một giải pháp hoàn chỉnh cho vấn đề bàn tay vô hình?
Cái lõi, giá trị và v.v.
Robert Aumann (1930-)

Thật ra tập những tối ưu Pareto, được kiến giải như tập của tất cả những phân bổ thực hiện được bằng bất kì hợp đồng nào do tập những cá thể hợp thành một xã hội kí với nhau, là khái niệm hợp tác ít ý nghĩa nhất trong số những khái niệm hợp tác trong chừng mực mà khái niệm này hoàn toàn coi nhẹ khả năng những nhóm con của xã hội nghiệp đoàn, hội đoàn, nhóm vận động hành lang, đảng phái chính trị …– kí những hợp đồng với nhau. Từ đó, điều ta cần là một định lí tương đương giữa những phân bổ cân bằng và cái lõi hơn là một tương đương Walras/tối ưu Pareto. Thế nhưng nếu mọi cân bằng walrasian quả thật làm phái sinh một phân bổ thuộc về cái lõi thì, một cách tổng quát, không đúng là ta có thể phi tập trung hoá mọi phân bổ của lõi bằng một giá cân bằng được chọn một cách khéo léo. Để thu được một kết quả tương tự với định lí thứ hai của kinh tế học phúc lợi, cần phải xét những nền kinh tế tới hạn, tức là những nền kinh tế thu được khi để số tác nhân tiến đến vô cực (xem Debreu và Scarf, 1963) hay biểu trưng tập những tác nhân bằng một continuum (xem Aumann, 1964). Tất nhiên cách viết lại như trên về mô hình ban đầu của Arrow-Debreu đòi hỏi là phải chứng minh lại tất cả những kết quả đã thu được trong khuôn khổ của trường hợp hữu hạn: sự tồn tại (xem Hildenbrand, 1970), tính đơn nhất địa phương và tính đều đặn (xem Mass-Colell, 1985).

Như thế có chắc là ta đã nắm được một khái niệm phi tập trung hoá cân bằng walrasian làm phái sinh một nghiệm hợp tác thoả đáng chưa? Không có gì là chắc chắn cả! Trước hết, cần làm rõ hơn nữa những lí do thật sự nhờ đấy ta có khả năng thu được sự tương đương của cái lõi với những cân bằng walrasian trong mô hình Aumann: phải chăng khi đưa vào một số vô hạn những tác nhân đồng thời với việc giữ lại một số hữu hạn những sản phẩm ta đã tạo ra một sự khác biệt (giữa những tác nhân không đáng kể đứng trước những sản phẩm đáng kể) và chính duy chỉ sự khác biệt này là lí do của sự tương đương? Điều này có nghĩa là việc phá rối định lí tương đương trong trường hợp một nền kinh tế không phải là tính hữu hạn của tập các tác nhân mà là việc các tác nhân và sản phẩm đều có cùng kích cỡ. Do đó để kiểm tra điều này phải xem xét những nền kinh tế vừa có vô số sản phẩm vừa có vô số tác nhân. Như bạn đọc có thể ngờ trước, một khi thu được sự tương đường rồi (xem Mertens, 1970), một lần nữa phải làm lại tất cả (và đây là đối tượng của những nỗ lực nghiên cứu ráo riết ngay từ đầu những năm 1970): chứng minh sự tồn tại (xem, ví dụ, Bewley, 1972; Zamer, 1987), tính đơn nhất địa phương và tính đều đặn của những cân bằng (xem Balasko, 1997), có thể bằng những đặc tính tinh tế của những không gian Rieszlí thuyết những nhân tử của Fredholm.
Nhưng không vì thế mà sự tương đương lõi/Walras lại trở thành thoả đáng. Thật vậy, cái lõi cũng là một khái niệm hợp tác khá thô sơ trong chừng mực là tính đến tất cả những phản bác mà một liên minh có thể nêu lên để chống lại một phân bổ nhất định, kể cả những phản bác mà một khi được thực hiện thì rõ ràng chính bản thân những phản bác này tức thì bị một liên minh khác phủ nhận. Mặt khác cái lõi là rỗng trong hầu hết những trò chơi hợp tác không trực tiếp xuất phát từ một tình thế thị trường. Đặc biệt đó là trường hợp của tất cả các trò chơi không thoả mãn điều kiện thăng bằng (balancedness, một khái quát hoá của tính siêu cộng, theo đó hai liên minh hợp sức chung lại chỉ có thể làm tăng sức mạnh của họ). Như thế trong những trò chơi bầu cử, cái lõi luôn rỗng, trừ khi một trong những đấu thủ có quyền phủ quyết! Từ đó, mặc dù bản thân khái niệm cái lõi không qui chiếu về bất kì thể chế đặc biệt nào (cái lõi chỉ phụ thuộc vào hàm đặc trưng của trò chơi, nghĩa là vào những sở thích của các cá thể), có thể là khái niệm này phụ thuộc sâu sắc vào biểu trưng hàng hoá của không gian xã hội ngầm ẩn sau lí thuyết cân bằng chung, cho nên những kết quả về sự tương đương với cái lõi tóm lại không gì khác hơn là việc lặp lại những tính ưu việt của những giá walrasian trên một thị trường.
Khó khăn đầu tiên gặp phải đã dẫn đến việc hình thức hoá một khái niệm đối chọn, tập thương lượng được (bargaining set; xem Aumann & Maschler, 1964) và đến những chứng minh mới về sự tương đương (xem Mas-Colell, 1989), sự tồn tại (xem Vohra, 1991) và sự tồn tại tiệm cận (xem Anderson, 1998)[2]. Khó khăn thứ hai đã dẫn đến việc nghiên cứu một khái niệm lời giải hợp tác mới: giá trị. Được Shapley (1953) đề xuất, có thể xem khái niệm này như một chỉ báo về sức mạnh của mỗi cá thể, hay như một ước lượng giá mà mỗi đấu thủ sẵn sàng trả để tham gia vào trò chơi, hay cuối cùng như là đóng góp cận biên mong chờ của mỗi liên minh. Shapley (1953) đã chứng minh là tập những phân bổ phái sinh từ giá trị trong một trò chơi thị trường với lợi ích chuyển nhượng trùng khớp tiệm cận với cái lõi, miễn là hàm đặc trưng của trò chơi hợp tác là đủ vi phân. Tiếp đấy Aumann và Shapley (1974) rồi Champsaur (1975) thu được một kết quả tương tự trong khuôn khổ của một continuum những tác nhân. Tuy nhiên tất cả những kết quả này vẫn còn phụ thuộc vào bối cảnh của những trò chơi với lợi ích chuyển nhượng, và do đó với khả năng có những so sánh lợi ích giữa các cá thể với nhau. Thế mà, may thay, lí thuyết cân bằng chung cung cấp một khuôn khổ khái niệm thoát khỏi sự cần thiết phải có những so sánh như thế. Do đó phải mở rộng giá trị Shapley ra trường hợp những trò chơi với lợi ích không chuyển nhượng (xem Shapley, 1969) và trong khuôn khổ này có thể một lần nữa thu được sự tương đương với cái lõi (xem Aumann, 1975).
Như đã nói, lợi ích của giá trị, do giá trị tồn tại trong một khuôn khổ ít hạn hẹp hơn cái lõi, là cung cấp một tiêu chuẩn có vẻ phổ cập hơn về điều mà ta có thể chờ đợi từ bàn tay vô hình. Thật ra, khái niệm này đã có những ứng dụng có sức thuyết phục trong nhiều bối cảnh cực kì đa dạng (xem Aumann & Kurz, 1977; Aumann, Kurz & Drèze, 1983, 1987; Aumann & Drèze, 1986). Còn phải đảm bảo là, ngoài những ví dụ ad hoc khác nhau ra, khái niệm giá trị hoàn thành đầy đủ chức năng của nó dưới những giả thiết yếu nhất có thể (xem Mertens, 1988). Thế mà, một phản ví dụ của Lefèvre (1994) cho thấy là có những nền kinh tế trao đổi thuần tuý không nguyên tử (nghĩa là những trò chơi với giá trị không chuyển nhượng có một continuum những đấu thủ) trong đó không tồn tại giá trị Mertens (1988). Nhưng điều tệ hơn nữa là ví dụ này là vững mạnh và không thể thu hồi lại sự tồn tại, ngay cả một tồn tại tổng quát.
John Harsanyi (1920-2000)

Một kết quả khác gây lúng túng cho thấy là còn xa mới khép lại được chương về những cơ sở hợp tác của bàn tay vô hình: việc mở rộng giá trị Shapely vào trường hợp những lợi ích không chuyển nhượng cũng đã được Harsanyi (1959, 1963) đề xuất. Thoạt có vẻ khó vận dụng hơn giá trị-lợi ích không chuyển nhượng của Shapley song giá trị này vẫn là đối chọn cho giá trị Shapley, một giá trị mà như ta đã thấy đặt ra nhiều khó khăn nghiêm trọng cho vấn đề tồn tại. Thế mà Hart và Mas-Colell (1991), sử dụng một cách tiếp cận mới những trò chơi hợp tác dựa trên một hàm thế vị (được gọi như thế do loại suy từ lí thuyết điện thế trong vật lí học), đã tìm ra một lớp rất tổng quát những trò chơi thị trường không nguyên tử trong đó những phân bổ phái sinh từ giá trị Harsanyi đều chứa ngặt trong cái lõi. Nói cách khác, lí thuyết hợp tác về giá trị ngày nay một mặt giáp mặt với một vấn đề không tồn tại, và mặt khác với sự không tương đương với những phân bổ mà thị trường hứa hẹn (tất nhiền, có nhiều khái niệm đối chọn khác đã được đề xuất: những tập ổn định von Neumann-Morgenstern, hạt nhân, nucleolus, giải pháp Nash cho vấn đề thương lượng (Nash, 1950 ); trong rất nhiều tác giả khác, xem Lucas, 1992 và Maschler, 1992).

Những thất bại của thị trường
Erik Lindahl (1891-1960)

Sự thất vọng của người tâng bốc thị trường, mà vào đầu những năm 1970 còn có thể hi vọng sử dụng kinh tế toán học để tụng ca tự do kinh doanh”, không dừng lại ở đây. Thật vậy, có nhiều tình huống mà ngay cả những giả thiết cần thiết cho việc thu được những kết quả tương đương trên đây không được kiểm tra là đúng. Đặc biệt đó là trường hợp khi có những ngoại ứng. Trong những điều kiện này, ví dụ khi có những sản phẩm công cộng, đã từ lâu ta biết rằng cân bằng cạnh tranh cung cấp những phân bổ cuối cùng không có tính tối ưu Pareto. Tất nhiên một giải pháp đã được Lindahl (1912) đề xuất. Nhưng ngoài việc phải viết lại toàn bộ lí thuyết trên trong khuôn khổ của những sản phẩm công cộng (Foley, 1970 thu được một định lí tương đương với cái lõi) khái niệm cân bằng của Lindahl vấp phải một phản bác về nguyên tắc: khái niệm này cốt ở việc mở ra những thị trường trên đó chỉ có một tác nhân duy nhất. Như thế tại sao tác nhân này lại phải xem giá cân bằng như một dữ liệu cho trước?

Một tình thế khác gây lúng túng cho lí thuyết cân bằng chung là tình thế của những ngành sản xuất với lợi tức tăng dần. Ta đã thấy là trong trường hợp này có thể chứng minh sự tồn tại của một cân bằng, nhưng cân bằng này rất có thể không phải là một tối ưu Pareto (xem Brown & Heal, 1979). Hơn nữa, không còn có thể xác định những mục tiêu của một doanh nghiệp bằng việc tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp này với những giá cho trước. Bởi thế, do thị trường là khiếm thị, nên cần ấn định cho thị trường (ví dụ để cho chính quyền làm việc này) những tiêu chuẩn tối đa hoá mới (xem Drèze & Dehez, 1988) nhằm cứu vớt lấy định lí thứ hai của kinh tế học phúc lợi.
Kenneth Arrow (1921-2017)

Cuối cùng việc đưa vào những những thị trường tài chính không đầy đủ trong những năm 1970 (nhưng tiếp sau những trực quan có thể tìm thấy tiềm tàng trong Arrow, 1953) đã đảo lộn những kết quả cổ điển nêu trên: những cân bằng cạnh tranh không những chỉ là không còn tính tối ưu Pareto do không thể có một số chuyển nhượng nhất định của cải giữa những trạng thái không chắc chắn của thế giới, mà hơn thế nữa chúng cũng không có tính tối ưu Pareto khi bị ràng buộc (xem Geanakopoulos & Polemarchakis, 1986); Geanakopoulos et al., 1990). Điều này có nghĩa là, ngay cả khi tính đến những ràng buộc bị áp đặt do thiếu một số tài sản, thì thị trường không còn cho phép có được một phân bổ tối ưu các nguồn lực, trong chừng mực mà một nhà kế hoạch hoá khôn khéo có thể cải thiện ngặt (theo nghĩa paretian) trạng thái của xã hội bằng cách phân bổ lại đúng đắn các tài sản tài chính.  

Mặt khác, một ví dụ của Hart (1975) cho thấy là cân bằng có thể không tồn tại dưới những điều kiện rất hợp lí cho nên sự tồn tại (dưới dạng tổng quát nhất) lại trở thành một vấn đề khó, huy động đến cả tính đồng thấu xạ của những thớ vectơ (cohomologie des fibrés vectoriels). Hơn nữa ngay cả khi cân bằng cạnh tranh tồn tại, thì thường cân bằng này không còn là đơn nhất địa phương (xem Geanakopoulos), làm cho vấn đề phối hợp giữa các tác nhân lần này nổi lên một cách gay gắt. Cuối cùng ta đã biết là các thị trường đầy đủ được miễn dịch với những vết đen mặt trời nếu tất cả các tác nhân đều ngại rủi ro thì điều này không còn đúng một khi các thị trường là không đầy đủ (xem Cass & Shell, 1983): một cách tiên nghiệm không gì ngăn cản sự xuất hiện của những bong bóng đầu cơ cả.
Friedrich Hayek (1899-1992)
Ronald Coase (1910-2013)

Những nhận định này[3], cùng với nhiều nghịch lí mà khái niệm cân bằng dự kiến duy lí với thông tin không đối xứng đặt ra (xem Radner, 1979; Grossman & Stiglitz, 1980) nếu ít ra cũng buộc phải tương đối hoá niềm tin của một Hayek vào khả năng của giá cả để giữ vai trò của bàn tay vô hình thì cũng không kéo theo là phải hoàn toàn từ bỏ  hệ chuẩn của thị trường, và điều này là vì ít nhất hai lí do. Lí do thứ nhất, ít ra là về mặt lí thuyết, là có thể bổ khuyết cho một số thất bại của thị trường. Ta biết rằng Coase, theo một tinh thần rất gần với Lindahl, đề nghị mở những thị trường về quyền sở hữu để nội hiện hoá những ngoại ứng. Về phần mình, lí thuyết đánh thuế tối ưu cố gắng sửa chữa một số thất bại của thị trường bằng cách phân bổ lại những phân bổ cuối cùng phái sinh từ cân bằng cạnh tranh, cũng như việc nghiên cứu những cân bằng với giá cứng nhắc có thể bổ khuyết cho sự mù quáng của thị trường khi không có một định nghĩa rõ ràng về mục tiêu của doanh nghiệp, và cứu chữa tính không hiệu quả của những thị trường không đầy đủ.

Tuy nhiên, trực giác nằm sau trường hợp được Lihdahl và Coase minh hoạ là, để lập lại tất cả quyền lực của những giá linh hoạt, thì chỉ cần mở thêm những thị trường mới. Đó chính là triết lí của tài chính toán học (xem tiểu mục sau đây). Lí do thứ hai khiến cho là không chắc rằng phải từ bỏ thị trường như một thể chế xã hội, mặc dù thị trường có những thành tựu tồi, là vì rất có thể không có bất kì hình thức tổ chức nào khác (kiểu tập trung hoá) có thể làm tốt hơn (hay nếu muốn, không làm tệ hơn) thị trường. Đó là điều ta sẽ xem xét trong tiểu mục năm.
Định giá chênh lệch và tài sản tài chính 
Trên một số khía cạnh, tài chính toán học là sự nối dài lí thuyết cân bằng chung. Điều này là đặc biệt hiển nhiên khi ta nhận xét là mô hình CAPM có thể được viết như một trường hợp đặc biệt của một mô hình cân bằng chung với những thị trường không đầy đủ (xem Geanakopoulos & Shubik, 1989). Mặt khác, Duffie va Huang (1985) đã chứng minh là có thể đạt những cân bằng walrasian của mô hình Arrow-Debreu bằng những cân bằng của một thị trường tài chính với thời gian liên tục. Hơn nữa, khái niệm không mua bán song hành, một khái niệm trung tâm trong tài chính toán, một cách nào đó, đã nằm tại trung tâm của việc chứng minh sự tồn tại của một cân bằng chung (xem Werner, 1987). Cuối cùng những chứng minh sự tồn tại cân bằng chủ yếu sử dụng cùng những phương pháp đã được phát triển trong lí thuyết cân bằng chung với chiều vô tận (ví dụ định lí Banach-Alaoghi hay một trong những biến thể của nó), như được minh chứng trong Duffie và Zame (1989).  
Việc tính đến những khả năng trao đổi trong thời gian liên tục của những công cụ tài chính mà các lợi tức tuỳ thuộc vào việc hoàn thành những biến cố tương lai không chắc chắn buộc phải thao tác với những quá trình Markow cũng như với những tích phân ngẫu nhiên (đối lại với những nửa martingale ). Đặc biệt việc khai thác điều kiện không mua bán song hành (điều kiện cần để cho giá cả có thể giữ vai trò của bàn tay vô hình) dẫn đến những vấn đề toán học tế nhị, như vấn đề tìm kiếm một xác suất tương đương với xác suất mà dựa trên đó giá của một tài sản được xác định lúc ban đầu, và sao cho, dưới độ đo mới này, giá trở thành một martingale (xem Harrisson & Kreps, 1979), một bài toán mà việc giải nó đòi hỏi phải mở rộng ra chiều vô tận một định lí tương đương với định lí Hahn-Banach (xem Delbean & Schachermayer, 1994).
Nhưng tính độc đáo thật sự của tài chính toán có lẽ ít nằm ở việc đưa vào những phương pháp xác suất mới mà nằm nhiều hơn ở cuộc cách mạng copernician mà bộ môn này gây ra trong việc đánh giá những biến động của giá cả. Thật thế, tính độc đáo này là ở việc đào sâu nhận xét được chúng tôi dùng để kết luận tiểu mục trên. Phải chăng các thị trường là không đầy đủ? Không sao cả; chỉ cần đưa thêm vào những tài sản mới, có thể đó là những tài sản phái sinh, để bổ sung các thị trường, điều này đòi hỏi là phải gán một giá cho những tài sản mới này vừa phải cho phép những người nắm giữ chúng tự bảo hiểm. Thế mà, cho bất kì điều kiện nào trong hai điều kiện trên, không cần thiết phải tiến hành một nghiên cứu kinh tế về các cơ bản được xem là chi phối giá của những tài sản nằm sau những tài sản mới này: chỉ riêng việc quan sát giá của những tài sản nằm sau những tài sản mới này do thị trường cung cấp đủ để tiến hành bảo hiểm và định giá một công cụ tài chính mới. Mô hình của Black và Scholes (1973) không nói điều gì khác hơn. Nói cách khác, tài chính toán học đương đại, trong một chừng mực nhất định, có thể không cần đến thế giới phía sau mà mô hình Arrow-Debreu cố gắng mô hình hoá. Vả lại, quan điểm này là nhất quán với những gì ta biết được, trong những lĩnh vực khác, về các thị trường không đầy đủ vì ta đã thấy là những thị trường này cho phép xuất hiện những bong bóng đầu cơ. Nhưng điều nhà kinh tế quan tâm, ngoài những hệ quả thực tiễn hiển nhiên của cuộc cách mạng này ra, chính là tác động của cuộc cách mạng này trên phúc lợi xã hội. Rõ ràng là việc đưa thêm vào tài sản cuối cùng cho phép có được những thị trường đầy đủ cũng cho phép giá cả phục hồi tất cả những tính chất tốt đẹp mà mô hình Arrow-Debreu gán cho giá cả, nhưng từ nay cho đến ngày vinh hồi (của Chúa) thì tác động của đổi mới tài chính này còn rất không rõ nét, và không có gì chứng minh rằng việc đưa thêm những tài sản mới không làm trầm trọng thêm những khiếm khuyết mà lí thuyết những thị trường không đầy đủ, từ hai mươi năm này, đã cho ta biết là không nên coi nhẹ.
Nghịch lí của nhà kế hoạch hoá
Roger Guesnerie (1943-)

Như R. Guesnerie (1996, trang 54) đã viết để so sánh một cách nghiêm túc thị trường và hành động công cộng tập trung hoá, và để đánh giá tính bổ sung của hai thể chế này, việc phân tích những thất bại của thị trường phải đi đôi với một nghiên cứu đối xứng những thất bại kế hoạch hoá. Xét một nhà kế hoạch hoá nhân từ, thông suốt mọi chuyện và có quyền tuyệt đối, tìm cách thiết lập thế giới tốt nhất trong số những thế giới có thể bằng bất kì phương thức nào. Nhà kế hoạch hoá này có thể làm được gì? Tất nhiên người này phải áp đặt một vài hạn chế tối thiểu có tính chuẩn tắc cho trạng thái xã hội này: trạng thái này ít ra là phải có tính tối ưu Pareto, độc lập với một số nhận định không liên quan gì đến phúc lợi của đồng bào mình, và trạng thái này không phải là một trạng thái độc tài. Thế mà câu trả lời đầu tiên của kinh tế toán học đã được biết rõ: nhà kế hoạch hoá này không thể làm được gì cả! Nói cách khác và kết quả tiêu cực này gần như là giấy khai sinh của lí thuyết lựa chọn xã hội dường như “định lí bất khả của Arrow muốn nói là, dưới những giả thiết có vẻ hợp lí, chế độ độc tài là đối chọn phổ cập duy nhất cho sự hỗn độn xã hội. Hiển nhiên là kết luận này, được phát biểu ở đây một cách biếm hoạ và có tính khiêu khích, là đối tượng của vô số lần viết lại để củng cố cũng như để tố cáo những điểm yếu của kết quả này.

Một mặt, ta đã thấy là giá cả nổi lên trên một thị trường chỉ thật sự đóng vai trò của chúng với điều kiện là nền kinh tế gồm một số lớn cá thể. Âu cũng là một điều công bằng khi cho phép nhà kế hoạch hoá của ta cũng được hưởng cùng những điều kiện lí tưởng như thế. Thế mà nghịch lí Arrow sụp đổ trước một continuum những đấu thủ (xem Kirman & Sondermann), nhưng không thể nào thu được một đặc tính tiệm cận tương đương với kết quả của Debreu và Scarf (1963). Trong điều kiện này, ý nghĩa kinh tế của continuum như một ẩn dụ là có vấn đề: ngày nào nền kinh tế còn gồm có một số hữu hạn dù là lớn” – những cá thể thì chế độ độc tài là giải pháp phổ cập duy nhất. Tương tự như vậy, như ta đã thấy, việc đưa vào những không gian sản phẩm có chiều vô tận là kết quả tự nhiên của những định lí tương đương với cái lõi. Thế mà, nếu không gian những đối chọn xã hội là một không gian Hilbert với chiều vô tận thì quả là ta tìm lại được một định lí có thể (xem Chichilnisky & Heal, 1983) nhưng kết quả này cũng không bền vững: trong lúc những cân bằng cạnh tranh trong không gian có chiều vô tận quả thật là những giới hạn của những cân bằng trong không gian có chiều hữu hạn (xem Bewley, 1972), thì đó không phải là trường hợp của những hàm lựa chọn xã hội mà nhà kế hoạch hoá có được.
Amartya Sen (1933-)

Mặt khác, có rất nhiều cách đa dạng để hình thức hoá tính độc lập đối với những nhận định không xác đáng. Do đó điều cần thiết là đảm bảo rằng kết quả của Arrow không phụ thuộc vào việc lựa chọn cách hình thức hoá này hay hình thức hoá khác (xem Sen, 1986). Vả lại, việc đưa vào những sở thích không đầy đủ và không bắt cầu tuy gây khó khăn cho lí thuyết cân bằng chung có thể, trong trường hợp này giúp tìm ra lối thoát: chỉ tiếc rằng đấy không phải là trường hợp tổng quát, cho dù việc thay thế giả thiết tính bắc cầu bằng giả thiết tính tựa bắt cầu cho phép làm yếu đi kết luận của Arrow bằng cách thay thế chế độ độc tài bằng quyền phủ quyết của một tập đoàn thống trị (xem ví dụ Sen, 1969).

Tuy nhiên cũng loé lên vài tia hi vọng. Trong số này, Sen và Pattanaik (1969) đề xuất một cách tiếp cận tổ hợp cho phép thu được những điều kiện đủ để né tránh nghịch lí Arrow trong khi Chichilnisky và Heal (1983) viện đến cách hình thức hoá một hình thức hoá cổ điển, như đã thấy, trong lí thuyết cân bằng chung những sở thích trơn và đến topo đại số để làm nổi bật những điều kiện cần và đủ đảm bảo là việc tìm kiếm của nhà kế hoạch hoá không phải là một việc làm hoài công (tất nhiên ở đây không thể trình bày tính đa dạng của những cách tiếp cận được vận dụng để né tránh định lí Arrow, xem một tổng quan về kinh văn này trong Sen, 1986).
Một khi đạt được điểm này rồi thì nhà tốt bụng xã hội cũng chưa hết nhọc nhằn! Cho đến nay ta đã gán cho nhà kế hoạch hoá nhân từ này quá nhiều hiểu biết để cho giả thiết này có tính hiện thực. Nói cách khác, ta phải đặt lại vấn đề lựa chọn xã hội như sau: biết rằng nhà kế hoạch hoá không biết được ngay từ đầu những đặc điểm của các cá thể hợp thành xã hội mà mình phải phụ trách, đâu là những trạng thái đáng mong muốn về mặt xã hội mà người này có thể thực hiện được khi tính đến việc là các tác nhân có thể được động viên để không trung thực bộc lộ những đặc điểm của họ và do đó việc thu thập thông tin này có một chi phí xã hội? Để trả lời một cách hình thức câu hỏi này, phải có một mô hình mô tả hành vi (có thể là đánh lừa) của những tác nhân thông minh. Chính ở đây lí thuyết trò chơi chiến lược xuất hiện tại ngay trung tâm của lí thuyết lựa chọn xã hội. Thế mà, một lần nữa, câu trả lời đầu tiên là đáng ngạc nhiên (xem Gibbard, 1975 và Satterthwaite, 1973): nếu ta muốn rằng câu trả lời của những cá thể của một xã hội là một cân bằng với chiến lược khống chế thì mọi hàm lựa chọn xã hội phổ cập thực hiện được đều mang tính độc tài! Kết quả này, về mặt hình thức là tương đương với định lí Arrow, lúc ban đầu được trình bày bằng những khái niệm của lí thuyết tổng hợp, không có qui chiếu đến những cấu trúc đại số và topo được mô hình Arrow-Debreu cung cấp một cách tự nhiên. Tiếc rằng Dasgupta et al. (1979) đã chứng minh rằng định lí Gibbard-Satrerwaite không chỉ có hiệu lực cho (ví dụ) những trò chơi bầu cử mà cả cho trường hợp của một nền kinh tế trao đổi. Một hạn chế cố hữu khác của đinh lí Gibbard-Satterthwaite là định lí này nhằm vào những hàm lựa chọn xã hội (trong lúc, như ta đã thấy những cân bằng walrasian thường không phải là độc nhất). Bước chuyển từ một hàm lựa chọn xã hội sang một tương ứng tất nhiên làm thay đổi sâu sắc những dữ liệu của vấn đề (ví dụ, xem Moore, 1992). Nhưng dù sao ta cũng biết là không thể thực hiện tương ứng Walras với chiến lược khống chế (xem Hurwics, 1972). Tương tự như thế quả thật là có những tình thế cực kì đặc biệt có thể triển khai được một qui tắc xã hội không độc tài với chiến lược khống chế (ví dụ, xem Laffont & Maskin, 1980) nhưng Guesnerie và Laffont (1982) đã chứng minh, nhờ định lí gác ngang của Thom, là những tình thế này không phải là những tình thế tổng quát.
Thế mà cuộc tìm kiếm vô vọng này (nguyên tác là quête du Graal ND), lựa chọn xã hội hiện ra như thế dưới mắt những ai mà cuộc khủng hoảng thông tin của những năm tháng kinh khủng của thập niên 1970 đã tước mất mọi ảo tưởng về quyền lực vạn năng của tập trung hoá lại có một chuyển hướng mới một khi người ta ý thức sự kiện sau: nhiều kết quả về định lí bất khả trên đây có nghĩa là ta phải bớt khe khắt trong định nghĩa chiến lược của các tác nhân ở thế cân bằng. Trong thực tế, dAspremont và Gérard-Varet (1979, 1982) dựa trên những công cụ được Harsanyi đề xuất (1967-68) để mô hình hoá hành vi chiến lược của một đấu thủ trong tình thế thông tin không đầy đủ, đưa vào khái niệm thực hiện, một khái niệm bayesian về sự tương ứng lựa chọn xã hội, vừa chỉ ra những cơ chế cho phép giải quyết vấn đề người ăn không khi có những sản phẩm công cộng, một vấn đề mà như đã thấy thị trường tỏ ra bất lực. Từ đó quan điểm bayesian này tỏ ra là một góc tiếp cận tốt những vấn đề rất đa đạng, trong đó những trò chơi đấu giá giữ một vị trí trung tâm (xem, trong số những đóng góp khác, Milgrom và Weber, 1982).
Nhưng như thế cũng là coi nhẹ khó khăn mà nhiệm vụ của nhà kế hoạch hoá gặp phải: được cảnh báo nhờ kinh nghiệm của khái niệm lõi và những khái niệm hợp tác khác vừa nêu ở trên, người này không thể không biết là có khả năng các tác nhân hình thành những liên minh một cách nội sinh, nhằm cùng nhau chuyển hướng có lợi cho bản thân những kết cục của cơ chế mà người này thiết lập nên. Điều này để nói rằng nhà kế hoạch hoá phải tính đến những khái niệm lời giải liên minh, ví dụ như cân bằng mạnh (xem Aumann. 1959 và Moulin & Peleg, 1982), thậm chí viết lại những điều kiện động viên và tối ưu của những trạng thái đáng mong muốn (xem Laffont & Martimort, 1997). 
Do đó chính với những yêu cầu nặng nề hơn mà lí thuyết lựa chọn xã hội mà những hình thức hoá khác nhau về khái niệm công lí (fairness, envy-free, ), những nghịch lí vị lợi đáng lí ra phải được trình bày sơ lược ở đây dẫn chúng ta đến những yêu cầu đối với những trò chơi không hợp tác: làm cách nào tạo sinh ra một hành vi hợp tác về phía những tác nhân chiến lược?
Chiến lược đối lại hợp tác
Thật ra, một cách đọc ngây thơ lí thuyết cân bằng chung mà không thông qua lí thuyết lựa chọn xã hội cũng dẫn ta đến cùng một số đòi hỏi đối với các trò chơi chiến lược. Như thế, chứng minh đầu tiên về sự tồn tại của cân bằng cạnh tranh của Arrow-Debreu (1954) chủ yếu dựa trên định lí của Nash (1951) về sự tồn tại của cân bằng. Song còn hơn thế nữa: chúng tôi đã bắt đầu bài viết này với nhận xét là mô hình Arrow-Debreu không nói gì về phương thức hình thành một vectơ giá phi tập trung. Trò chơi được Arrow và Debreu (1954) sử dụng là không thoả đáng trong chừng mực mà nó giả định sự có mặt của một người xướng giá mà hàm chi trả được ấn định một cách ad hoc. Những trò chơi chiến lược thị trường (xem Shapley & Shubik, 1977; Schmeidler, 1980; Dubey, 1982) đã lấp lỗ hổng này bằng cách đề xuất những mô hình chiến lược về sự hình thành giá cả.
Nhưng cách làm này, nếu không tất yếu dẫn đến thất bại, là một việc khó khăn: như vậy một trong những hệ quả của định lí gác ngang của Thom là, một trò chơi thị trường khả vi không thể là một trò chơi cạnh tranh. Mặt khác, ta biết là những cân bằng Nash của một trò chơi theo kiểu Cournot nói chung không trùng khớp với những cân bằng walrasian của nền kinh tế (chính nhận xét này đã dẫn tới kinh văn to lớn về cạnh tranh hoàn hảo). Tương tự như thế, trong thế tiến thoái lưỡng nan của người tù cân bằng duy nhất với chiến lược khống chế là không có tính hiệu quả Pareto. Tất nhiên ta vẫn luôn còn cách nghiên cứu trường hợp tới hạn được tượng trưng bằng continuum của Aumann, quả thật là trường hợp này cho phép, một khi định nghĩa lại khái niệm cân bằng Nash trong khuôn khổ này và chứng minh lại tồn tại của cân bằng Nash (xem Schmeidler, 1973) tìm lại được những định lí tương đương Nash/Walras (xem Haynes, Okuno & Schmeidler, 1976 và Mas-Colell, 1982). Nhưng bản thân những kết quả này cũng vấp phải phê phán giống với phê phán đối với những cách né tránh định lí Arrow bằng continuum: nếu không thể xấp xỉ hoá continuum bằng một số lớn, nhưng hữu hạn, những đấu thủ mà vẫn giữ những đặc tính tiệm cận thì ngay tính xác đáng của mô hình Aumann bị đặt thành vấn đề. Do đó nhiệm vụ của chúng ta trở nên chính xác hơn: điều quan trọng là phải sinh ra những hành vi hợp tác từ một số hữu hạn những đấu thủ. 
Đến lúc này thì một nhận xét của lí lẽ thông thường hiển nhiên nổi lên: những đấu thủ không gặp nhau trên một thị trường biết rõ là thị trường này ngày mai sẽ mở cửa lại. Thế mà, chỉ cần các đấu thủ đủ kiên nhẫn thì việc lặp lại một trò chơi có thể thu hồi lại tính tối ưu Pareto một cách phi tập trung bằng cách cho phép các đấu thủ đe doạ trả đũa lẫn nhau trong dài hạn nếu một trong những đấu thủ này chơi một cách không hợp tác. Đây là ý lớn chi phối những chứng minh của những folk theorem (định lí dân gian) khác nhau khởi đầu ngay từ những năm 1960 (xem Aumann, 1960). Tất nhiên những răn đe này phải đáng tin vì nếu không mỗi người biết là những người thốt lên những đe doạ này không bao giờ thực thi những răn đe này. Vì thế người ta ngày càng đòi hỏi cao hơn: folk theorem phải là hoàn hảo theo nghĩa là định lí này phải cho phép kết luận là có sự tương đương giữa bao lồi của tất cả những kết cục thực hiện được và duy lí cá thể của trò chơi một nước và tất cả những kết cục cân bằng trong trò chơi con hoàn hảo (xem Selten, 1975 và Rubinstein, 1976).
Nhưng folk theorem cũng không đáng tin: để cho những răn đe động viên mỗi đấu thủ ứng xử một cách hợp tác có tác dụng thì mỗi người thao tác trên một thị trường biết được hoàn toàn những đặc điểm của các đối tác của mình một điều hiếm khi xảy ra. Nói cách khác, ta không có bất cứ lí do gì để cung cấp thông tin cho các đấu thủ hợp thành xã hội của chúng ta nhiều hơn hơn là thông tin ta gán cho nhà kế hoạch hoá của lí thuyết lựa chọn xã hội. Thế mà có thể quyền lợi của một số những đấu thủ này là nên che giấu những đặc điểm thật của mình để dễ đánh lừa đối thủ hơn. Như thế họ đứng trước một thế lưỡng nan thật sự: hành động hôm nay để tối đa hoá lợi ích tức thì với nguy cơ là bộc lộ những đặc điểm của mình hoặc không có bất kì hành động nào có thể làm mình bị lộ để chờ đợi những ngày mai tốt hơn nhưng không chắc chắn, khi mà việc sử dụng thông tin riêng cho phép thu lợi nhiều hơn nữa? Chính những nhận định chiến lược này đã khiến Aumann và Maeschler (1967) nghiên cứu các trò chơi lặp lại với thông tin không đầy đủ những trò chơi mà phân tích đã được tinh vi hoá và tất nhiên không thể trình bày ý tưởng ở đây được (xem Aumann & Maeschler, 1995 và Mertens et al., 1994) do đòi hỏi việc nghiên cứu những đặc tính ngẫu nhiên của những martingale đôi lẫn việc khái quát hoá định lí Borsuk-Ulam.
Tuy nhiên, khi nhìn kĩ thì một trò chơi thị trường không hợp tác liên thời gian không phải là một trò chơi lặp lại trong chừng mực mà, trước một thị trường tín dụng, chắc chắn là các đấu thủ sẽ được quyền chuyển một phần của cải của mình từ thời kì này sang thời kì khác. Do đó đúng hơn đây là một trò chơi ngẫu nhiên theo nghĩa được Shapley (1953) gán cho khái niệm này, nghĩa là một trò chơi mà việc chọn một hành động hôm nay không chỉ ảnh hưởng đến những chi trả hôm nay mà còn cả đến những chi trả ngày mai thông qua một không gian phụ những trạng thái (ví dụ, quĩ tiền của một hộ gia đình). Thế lưỡng nan cũng tương tự như thế lưỡng nan do thông tin không đầy đủ đưa lại: hôm nay nên tiêu dùng hay nên tiết kiệm? Hơn nữa sự có mặt của những sản phẩm tiêu dùng không chia nhỏ được kéo theo là ta không thể tự giới hạn ở những tập chiến lược hữu hạn. Mặt khác, rõ ràng là những cân bằng mà ta nghiên cứu phải có những đặc tính chiến lược bền vững, do đó phải ít ra là những trò chơi con hoàn hảo. Việc mở rộng những chứng minh tồn tại của một cân bằng trong trò chơi con hoàn hảo sang trường hợp những trò chơi ngẫu nhiên tổng quát là một việc làm điêu luyện (xem Mertens & Parthasaraty, 1987).
Tuy nhiên xin chớ lầm lẫn: (perfect) folk theorem và những biến thể của định lí này nhiều nhất cũng chỉ mới đến một phần tư con đường phải đi cho hết để có được một cơ sở chiến lược cho bàn tay vô hình: quả thế, những định lí này sinh ra quá nhiều cân bằng do đó một lần nữa đặt ra vấn đề phối hợp kể cả những kết cục không phải là tối ưu Pareto. Do đó cần phải và đây là phần tư thứ hai của con đường phải đi thu hẹp lại tập những kết cục cân bằng giống như Aumann (1959) đã làm, tác giả này thu được kết quả là sự tương đương giữa một khái niệm phái sinh từ cái lõi và những cân bằng mạnh của trò chơi được lặp lại vô tận (ta ghi nhận là trước một không gian không nguyên tử của những đấu thủ,  ta có được, may thay, một anti folk theorem [xem Bubey & Kaneko, 1984] và điều này có nghĩa là những đặc tính tĩnh tốt của continum được bảo tồn trong trường hợp trò chơi lặp lại). Chính đây cũng là điều mà, ba mươi năm sau, Aumann và Sorin (1989) đã làm bằng cách giả định rằng một số đấu thủ là những automat. Một cách tổng quát hơn, tính duy lí hạn chế là một công cụ đầy hứa hẹn nhằm thu được một tương đương thật sự giữa cân bằng Nash và tối ưu Pareto (xem Anderlini & Sabourian, 1995), cho dù tương đương này đặt ra nhiều vấn đề khó về mặt logic. Nhiệm vụ càng thêm khó khăn khi có nhiều tiếng nói nổi lên cho rằng cân bằng Nash thật ra là một cân bằng quá hạn hẹp và cần được thay thế bằng cân bằng tương quan, thậm chí bằng cân bằng liên lạc (xem Forges, 1986), với nguy cơ là thấy xuất hiện một lần nữa sự lạm phát số kết cục cân bằng.
Một cách khác làm giảm số cân bằng và đây là phần tư thứ ba của con đường phải đi là tinh vi hoá chính ngay cân bằng Nash. Như ta đã thấy những cân bằng Nash nào không phải là hoàn hảo trong trò chơi con là không đáng tin cậy. Trong thực tế phân tích chỉ ra là một số lớn những cân bằng chiến lược không đứng vững trước một định nghĩa ít đòi hỏi cao về tính duy lí (xem trong số rất nhiều tác giả, Kohlberg & Mertens, 1986; Osborne, 1990). Hơn nữa tính duy lí này còn phải được xây dựng (xem Mertens, 1990).
Cuối cùng và đây là phần tư cuối cùng của con đường phải đi bản thân cân bằng Nash (ngay cả khi đó là cân bằng độc nhất) giả định một mức độ phối hợp cao của các đấu thủ. Bằng việc đặt cơ sở những giải pháp hợp tác mà bàn tay vô hình hứa hẹn trên hành vi chiến lược của các tác nhân phải chăng người ta chỉ đơn thuần thay thế người xướng giá walrasian bằng một người xướng giá nashian? Do đó để có thể chứng tỏ là hoàn toàn có sức thuyết phục, việc đi vòng thông qua lí thuyết trò chơi chiến lược không thể không có thêm một nỗ lực cuối cùng: đặt cơ sở của chính ngay cân bằng Nash trên hành vi thích nghi của các đấu thủ. Đó là ý nghĩa của những phát triển mới đây về sự tập huấn (xem Kalai & Lehrer, 1993) và về những trò chơi tiến hoá (ví dụ xem Young, 1993; Ritzberrger & Weibull, 1995), những công trình này, giống như sinh học từ mười năm nay, dựa trên cỗ máy những nhiễu loạn ngẫu nhiên của những hệ động.

AGHION P., On the Generic Efficiency of Differentiable Market Games, Journal of Economic Theory, 1985, 37, 126-146. ANDERLINI L. & SABOURIAN H, Cooperation and Effective Computability, Econometrica, 1995, 63, (6), 1337-1339. ARROW J. K., Social Choice and Individual Values, New York, Wiley, 1951, 1963; Le rôle des valeurs boursières pour la répartition la meilleure des risques, Économétrie, 1953, 40, 41-48.. ARROW K. J. & DEBREU G., Existence of an Equilibrium for a Competitive Economy, Econometrica, 1954, 22. ARROW K. J. &  HAHN F., General Competitive Analysis, Holden Day, 1971. – ASPREMONT C. D & GERARD-VARET L. A., Incentives and Incomplete Information, Journal of Public Economics, 1979, 11, 25-45; Bayesian Incentive Compatible Beliefs, Journal of Matematical. Economics, 1982, 10, 83-103. AUMANN R., Acceptable Points in General Cooperative n-person Games, Contributions to the Theory of Games, vol. 4, Princeton, Princeton University Press (Annals of Mathematical Studies, 40), 1959; Markets with a Contimum of Traders, Econometrica, 1964. 32, 30-50; Values of Markets with a Continuum of Traders, Econometrica, 1975, 43, 611-646. AUMANN R. & DREZE J, Values of Markets with Satiation of Fixed Prices, Econometrica, 1986, 54, 1271-1318. AUMANN R. & KURZ M., Power and Taxes, Econometrica, 1977, 45; 1137-1161. AUMANN R., KURZ & NEUMAN A., Power and Public Goods, Journal of Economic Theory, 1987, 42, 108-127. AUMANN R. & MASCHLER M., Repeated Games with Incomplete Information: a Survey of Recent Results, 1967 (Report to the US Arms Control and  Disarmament Agency ST-16, chap III, 287-403); The Bargaining Set for Cooperative Games, trong Advances in Game Theory, M. Dresher, L. S. Shapley & A. W. Tucker chủ biên, Princeton, Princeton University Press, 1964, p. 443-447; (với sự cộng tác của R. E. Stearns), Repeated Games with Incomplete Information, MIT Press, 1995. AUMANN R. & SHAPLEY L., Values of Nonatomic Games, Princeton, Princeton University Press, 1974. AUMANN R. & SORIN D., Cooperation and Bounded Recall, Games and Economic Behavior, 1989, 1, 5-39. BALASKO Y., The Natural Projection Approach to the Infinite-Horizon Model, Journal of Mathematical Economics, 1997, 27 (3), 251-265. BEWLEY T., Existence of Equilibria in Economies with Infinitely Many Commodities, Journal of Economic Theory, 1972, 4, 514-540. BLACK F. & SCHOLES M., The Pricing Options and Corporate Liabilities, Journal of Political Economy, 1973, 81, 637-654. BONNISSEAU J. M. & CORNET B., Existence of Equilibria  when Firms Follow Bounded Losses Pricing Rules, Journal of Mathematical Economics, 1988, 17, 119-147. BROWN D. J. J. & HEAL G., Equity, Efficiency and Increasing Returns, Review of Economic Studies, 46 (4), 571-585. CASS D. & SHELL K., Do Sunspots Matter?”,  Journal of Political Economy, 1933, 91 (2), 193-227. CHAMPSAUR P., Cooperation versus Competition, Journal of Economic Theory, 11, 394-417. CHIAPPORI P. A. & EKELAND L, Exterior Differential Calculus and Aggregation Theory: a Presentation and some New Results, 1996. CHICHILNINSKY G & HEAL G., Necessary and Sufficient Conditions for a Resolution of the Social Choice Paradox, Journal of Economic Theory, 1989, 31, 68-87. DASGUPTA P., HAMMOND P. & MASKIN E., The Implementation of Social Choice Rules: Some General Results on Incentive Compatibility, Review of Economic Studies, 1979, 46, 185-216. DEBREU G., The Coefficient of Resource Utilization, Econometrica, 1951, 19, 273-292; Théorie de la valeur (1959), Paris, Dunod, 1984 (Theory of Value, New York, Wiley, 1964); Economies with a Finite Set of Equilibria, Econometrica, 1970, 40, 387-392; Smooth Preferences, Econometrica, 1972, 40 (4), 603-615. DEBREU G. & SCARF H., A Limit theorem on the Core of An Economy, trong DEBREU G., chủ biên, General Equilibrium Theory, vol 1, Brookfield, Ashgate, 1996, 330-341. DELBEAN F. & SCHACHERMAYER W., A General Version of The Fundamental Theorem of Asset Pricing”, Mathematical Annals, 1994, 300, 465-520. DREZE J. & DEHEZ P., Competitive Equilibrium with Quantity-taking Producers and Increasing Returns to Scale”,  Journal of Mathematical Economics, 1988, 17 (2/3), 209-230 DUREY P., Market Games: a Survey of Recent Results trong MERTENS J. F. & SORIN S., chủ biên, Game-Theoretic Methodss in General Equilibrium Theory, 1994. DUBEY P. & KANEKO M., Information Patterns and Nash Equilibria in Extensive Games I”, Mathematical Social Sciences, 1984, 8 (2), 1111-139. DUFFIE D. & HUANG C, Implementing Arrow-Debreu Equilibria by Continuous Trading of Few Long-lived Securities, Econometrica, 1985, 53, 1337-1356. DUFFIE D. & ZAME W., The Consumption-based Capital Asset Pricing Model”, Econometrica, 1985, 53, 1337-1356. ELLUL R, Welfare Effects of Financial Innovation in Incomplete Markets Economies with Several Consumption Goods, Journal of Economic Theory, 1995, 65 (1), 43-78. FLORENZANO M., L’équilibre économique transitif et intransitif: problèmes d’existence, Monographies du séminaire déconométrie, Paris, CNRS, 1981. FORGES P., An Approach to Communication Equilibrium, Econometrica, 1986, 54, 1376-1385. GEANAKOPLOS J., An Introduction to General Equilibrium with Incomplete Asset Marketst”, Journal of Mathematical Economics, 1990, 19, 1-38. GEANAKOPLOS J., MAGILL M. QUINZII M. & DREZE J., Generic Inefficiency of Stock Market Equilibrium When Markets are Incomplete, Journal of Mathematical Economics, 1990, 19, 113-151. GEANAKOPLOS J. & MASS-COLELL A., Real Indeterminacy with Financial Assets, Journal of Economic Theory, 1989, 47, 22-38. GEANAKOPLOS J. & POLEMARCHAKIS H., “Existence, Regularity and Constrained Suboptimality of Competitive Portfolio Allocations when Asset Markets Are Incomplete, trong HELLER, STARR & STARRET, chủ biên, Equilibrium Analysis Essays in Honor of J. K. Arrow, vol. III, chap. 3, Cambridge, Cambridge University Press, 1986. GEANAKOPLOS J. & SHUBIK M., The Capital Asset Pricing Model as a General Equilibrium with Incomplete Markets, Cowles Foundation DP, 1989, 913. GIBBARD A., Manipulation of Voting Scheme: a General Result”, Econometrica, 1973, 41, 587-601. GRANDMONT J. M., Temporary General Equilibrium Theory, Econometrica, 1977, 45, 535-572. GROSSMAN S. & STIGLITZ J., On the Impossibility of Informationally Efficient Markets, American Economic Review, 1980, 70 (3), 393-408. GUESNERIE R., Pareto-optimality in Nonconvex Economies, Econometrica, 1975, 43, 1-19; Léconomie de marché, Évreux, Flammarion, Dominos, 1996. GUESNERIE R. & LAFFONT J. J., On the Robustness of Strategy-proof Mechanisms”, Journal of Mathematical Economics, 1982, 10, 5-15. HARRISON J. M. & KREPS D., Martingales and Arbitrage in Multiperiod Securities Markets, Journal of Economic Theory, 1979, 20, 381-408. HARSANYI J. C., Games with Incomplete Information Played by “Bayesian” Players, Management Science, 1967-1968, 14, 159-182, 320-334, 486-502. HART O., On the Existence of Equilibrium in a Securities Model, Journal of Economic Theory, 1974, 31, 170-175. HART S. & MASS-COLELL A., Potential, Value and Consistency, Econometrica, 1989, 57, 589-614. HILDENBRAND W., Existence of Equilibria for Economies with Production and a Measure Space of Consumers, Econometrica, 1970, 38, 608-623. HURWICZ On Informationnally Decentralized Systems trong RADNER R. & MC GUIRE  B., chủ biên, Decisions and Organizations, Amsterdam, North-Holland, 197, p. 297-336. JAYNES J., OKUNO M. & SCHMEILLER D., Efficiency in an Atomless Economy with Fiat Money, International Economic Review, 1976, 124-128. JOUINI E., Structure de l’ensemble des équilibres d’une économie productive, Annales de lIHIP, Analyse non linéaire, 1992.- KALAI E. & LEHRER E., Rational Learning Leads to Nash Equilibrium, Econometrica, 1993, 61n (5), 1019-1045. KARATZAS I., LARNER P., LEHOCZKY J. & SHREVE S., Dynamic Equilibria in a Multi-agent Economy: Construction and Uniqueness, Research Paper, 88-89, Carnegie-Mellon University, 1988. KIRMAN A. & SONDERMANN D., Arrows Theorem, Many Agents and Indivisible Dictators, Journal of Economic Theory, 1972, 5, 567-177. KOHLERGE E. & MERTENS J. F., On the Strategic Stability of Equilibria, Econometrica, 1986, 54, 10003-1037. LAFFONT J. J. & MASKIN E., A Differential Approach to Dominant Strategy Mechanisms, Econometrica, 1997, 64 (4), 875-911. LEFEVRE F., The Shapley value of a perfectly competitive market may not exist, CORE DP 9037, 1992. MASS-COLELL A., An axiomatic approach to the efficiency of Non-Cooperative Equilibrium in Economies with a Continum of Traders, 1978 (polycopié); The Cournotian Foundations of Walrasian Equilibrium theory: an Exposition of Recent Theory, trong HILDENBRAND W., chủ biên, Advances in Economic Theory, Cambridge University Press, 1982; The Theory of General Economic Equilibrium, Econometric Society Monography, 9, Cambridge, Cambridge University Press, 1985. MERTENS J. F., An equivalence theorem for the core of an economy with commodity space Lt(L, L1), trong KHAN A. M. & YANNELIS N. C., chủ biên, Equilibrium Theory in Infinite Dimensional Space, Studies in Economic Theory, vol. 1, New York, Springer, 1991, p. 189-196; The Shapley value in the non-differentiable case, International Journal of Game Theory, 1988, 17 (1), 1-65; CORE as a Macrosm of Game-theoretic Research 1967-1987 by R. J. Aumann a Comment, trong CORNET B. & TULKENS H., chủ biên, Contributions to Operational Research and Economiics: The Twentieth Anniversary of CORE, Cambridge, MIT Press, 1989, p. 18-22; Stable equilibria  a Reformulation (1988), Mathematics of Operational Research, 1999 a,. MERTENS J.-F. & PARTHASARATY T., Equibibria for Discounted Stochastic Games, CORE DP 8750, 1987 MERTENS J. F., SORIN S. & ZAMIR S., Repeated Games, Parts A, B, C, CORE DP 94250-9422, 1994.- MILGROM P. & WEBER R. J., A Theory of Auctions and Competitive Bidding, Econometrica, 1982, 50, 1089-1122. MOORE J., Implementation, Contracts, and Renegociation in Environments with Complete Information, trong LAFFONT J.-J., chủ biên, Advances in Economic Theory, Sixth World Congress, 1992. MOULIN H. & PELLEG B., Cores of effectivity functions and implementation theory, Journal of Mathematical Economics, 1982, 10, 115-145. NASH J. F., The Bargaining Problem, Econometrica,1950, 18, 155-162; Non-cooperative Games, Annals of Mathematics, 1951, 54, 289-295. OSBORNE M. J., Signaling Forward Induction and Stability in Finitely Repeated Games, Journal of Economic Theory, 1990, 50 (1), 22-36. – PELEG B., Double Implementation of the Lindahl Equilibrium by a Continuous Mechanism, THEMA WP 9524, 1995. RADNER R., Rational Expectations Equilibrium: Generic Existence and the Information Revealed by Prices, Econometrica, 1979, 47 (3), 655-678. RITZBEGER K. & WEIBULL J.-W., Evolutionary Selection in Normal-form Games, Econometrica,, 1995, 63 (6), 1371-1399. RUBINSTEIN A., Equilibrium in Supergames with the Overtaking Criterion, Journal of Economic Theory, 1979, 21, 1-9. SATTHERWAITE M. A., Strategy-proofness and Arrow’s Conditions: Existence and Correspondence Theorems for Voting Procedures and Social Welfare Functions, Journal of Economic Theory, 1975, 10, 187-217. SCARF H., The Approximation of Fixed-Points as a Continuous Mapping, SIAM Journal of Applied Mathematics, 1967, 15, 1328-1348. SCARF H., & HANSEN, Computation of Economic Equilibria, New Heaven, CT, Yale University Press, 1973. SCHMEILDER D., Walrasian Analysis via Strategic Outcomes Functions, Econometrica, 1980, 48, 1585-1593; Equilibrium Points of Non-atomic Games, Journal of Statistical Physics, 1973, 7, n. 4, 295-309. SEN A., Quasi-transitivity, Rational Choice and Collective Decision, Review of Economic Studies, 1969, 36, 381-393; Social Choice Theory trong ARROW K. J. & INTRIAGLATOR M. D., chủ biên, Handbook of Mathematical Economics, vol. III, North-Holland, 1986. SEN A. & PATTANIAK P. K., Necessary and Sufficient Condition for Rational Choice under Majority Decision, Journal of Economic Theory, 1969, 1, 178-202. SHAPLEY L. S., An value for n-person games, Annals of Mathematical Studies, 28, Princeton, Princeton University Press, 1953a, 307-317; Stochastic games, Proceedings of the National Academy of Sciences of the USA, 1953b, 39, 1095-1100; Utility Comparisons and the Theory of Games, Paris, La Décision/CNRS, 1969, p. 251-263. – SHAPLEY L. & SHUBIK M., Trade Using One Commodity as a Means of Payment, Journal of Political Economy, 1977, 85, 937-968. VOHRA R., An Existence Theorem for A Bargaining Set, Journal of Mathematical Economics, 1991, 20 (1), 19-34. WERNER J., Arbitrage and Existence of Competitive Equilibrium, Econometrica, 1987, 55, 1403-1418. WILSON C. A., Equilibrium in Dynamic Models With an Infinity of Agents, Journal of Economc Theory, 1981, 24, 95-111. YOUNG P., The Evolution of Conventions, Econometrica, 1993, 61 (1), 57-84. ZAME W., “Competitive Equilibrium in Production Economies with an Infinite Dimensional Commodity Space, Econometrica, 1987, 55 (5), 1075-1108.

Gaël GIRAUD
Trung tâm nghiên cứu quốc gia (CNRS) và Phòng kinh tế học lí thuyết và ừng dụng (BTMA) của Đại học Louis Pasteur (Strasbourg 1)

 

[1] Để cho phần này là ít thiếu sót hơn, một phần “kinh điển” của lí thuyết cân bằng chung, cũng còn phải nêu thêm cách đặt vấn đề của phép tính rõ ràng những cân bằng của một nền kinh tế nhất định (trong rất nhiều công trình khác, xem Scarf, 1967, 1973). Chúng tôi không nhấn mạnh nhiều đến khía cạnh này, cho dù đây là một khía cạnh quan trọng về mặt khái niệm. Tương tự như thế, chúng tôi để sang một bên những vấn đề động thái, do thiếu chỗ (trong rất nhiều công trình khác, xem Smale, 1976b), cũng như những phát triển gắn với lí thuyết ra quyết định trong điều kiện không chắc chắn (nối dài nghịch lí Allais) hay những vấn đề gộp, cho dù những vấn đề này, theo thứ tự, đã có những phát triển rất đẹp chung quanh tích phân Choquetđịnh lí Cartan-Kọhler (xem Chiappori & Ekeland, 1996).

[2] Lần này “tập thương lượng” không chỉ tính đến những phản bác mà một liên minh có thể nêu lên để chống lại một phân bổ nhất định, mà cả những phản bác lại mà một phản bác có thể gây nên. Một phản bác như thế được gọi là “chính đáng” nếu không bị phản bác lại, và “tập thương lượng” là tập những phân bổ tối ưu Pareto không có phản bác chính đáng nào cả.

[3] Còn phải kể thêm nhiều hiện tượng khác: tính không trung lập của tiền tệ, việc xét lại định lí Modigliani-Miller, không có sự nhất trí của các cổ đông về chính sách của một doanh nghiệp, và từ đó không có định nghĩa rõ ràng về mục tiêu của doanh nghiệp … Mặt khác, ta nhận thấy là có những kết quả tương tự trong khuôn khổ của cân bằng chung tạm thời (xem Grandmont, 1977) hay của những thế hệ đan chéo (xem Wilson, 1981).

 ———————–&&&———————–

Lectures on Statistical learning. VIASM: 04 – 08/06/2018

Lectures on Statistical learning. VIASM: 04 – 08/06/2018

(Nguồn: http://viasm.edu.vn/)

Thời gian: 14:00:04/06/2018 đến 17:00:08/06/2018

Địa điểm: VIASM

Mục đích: Statistical learning is a theoretical framework for machine learning, methods massively used by data scientists today. Lectures will be accompanied by some tutorials and computer lab works with R or Pyhton software.

Báo cáo viên: Vincent Lefieux, RTE, France.

Tóm tắt:

Lecture1.jpg

—————–&&&—————–