Tại sao bất bình đẳng toàn cầu lại quan trọng

Tại sao bất bình đẳng toàn cầu lại quan trọng

(Tác giả: Branko Milanovic – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Tôi sẽ bắt đầu bằng việc xem xét tầm quan trọng của bất bình đẳng trong các cuộc tranh luận công khai những năm gần đây. Như chúng ta đã biết, bất bình đẳng đã bị xem nhẹ trong cả giới học thuật lẫn chính trị – đặc biệt là ở cánh tả – nơi đáng lẽ phải nhạy cảm nhất đối với những vấn đề xã hội. Sau đó, cùng với sự bùng nổ của khủng hoảng, bất bình đẳng lại bất ngờ chiếm một vai trò trung tâm, mà cho đến tận gần đây là không thể đoán trước được. Báo chí bắt đầu nói về nó, thậm chí nó còn là một vấn đề được bàn luận giữa các ứng cử viên Đảng Dân chủ chạy đua vào Nhà Trắng. Bạn nghĩ điều gì đã thay đổi?

Với nội dung của câu hỏi này, tôi sẽ phải phân chia câu trả lời thành hai phần. Tôi sẽ bắt đầu từ việc tại sao bất bình đẳng đột nhiên lại trở thành một chủ đề được bàn luận nhiều đến vậy. Rõ ràng nguồn gốc của sự thay đổi này, đối với tôi, là khủng hoảng kinh tế. Chính những yếu tố vật chất đã ảnh hưởng đến cuộc sống của con người và cách suy nghĩ của họ: bất bình đẳng chắc chắn không phải một hiện tượng mới, nhưng trong 25 năm qua, tầng lớp trung lưu đã có thể che giấu sự vắng mặt của gia tăng thu nhập thông qua tín dụng, đó là vay mượn. Tuy nhiên khi khủng hoảng xảy ra, bong bóng này đã bị vỡ, hàng triệu người dân thường bị ảnh hưởng nặng nề, họ rơi vào thế bất lợi vì kinh tế suy thoái và tiền lương giảm; không thể trả những khoản nợ, đặc biệt là nợ trong thị trường bất động sản. Đừng quên rằng nợ tư nhân của Mỹ còn cao hơn cả GDP quốc gia.

Và sau đó họ sớm nhận ra tình hình thực sự của mình là gì và rằng họ đã không nhìn thấy bất kỳ sự tăng trưởng kinh tế nào trong 25 năm qua. Cùng lúc đó, có một tầng lớp, 1% những người giàu nhất, hoặc là 5% nếu bạn muốn, lại thành công. Vì vậy, điều dấy lên mối quan tâm đến bất bình đẳng là sự thiếu vắng của tăng trưởng kinh tế và việc nhận ra rằng tình trạng này không xảy ra với tất cả mọi người – trong quá khứ một vài người đã trở nên rất giàu có trong khi nền kinh tế trì trệ với rất nhiều người khác. “Phát hiện” này có một ảnh hưởng rất lớn lên nhận thức của cộng đồng và đó là lý do tại sao bất bình đẳng trở thành một chủ đề được quan tâm. Tôi nghĩ vai trò quan trọng của phong trào Occupy[1]ở Mỹ, phong trào Indignados[2] ở Tây Ban Nha và Đảng Syriza[3] tại Hy Lạp cũng là kết quả của cú sốc này.

Margaret Thatcher (1925-2013)

Phần thứ hai của câu hỏi là tại sao trước khủng hoảng bất bình đẳng lại không phải là vấn đề chính trị chủ yếu, đặc biệt là đối với cánh tả. Câu trả lời rất đơn giản: không còn cánh tả thực sự nào để giải quyết vấn đề này. Cánh tả đã biến mất. Trong những thập kỷ qua, cánh tả đã chuyển sang trung dung, trong một số trường hợp trở thành trung hữu, và tôi đặc biệt nghĩ đến Tây Ban Nha. Về mặt kỹ thuật, nếu bạn định vẽ một đường thẳng bằng những thông số chính trị của những năm 1970, PSOE[4] hiện tại sẽ là một đảng trung hữu. Cũng có thể nói như thế về những chính sách của đảng Xã hội Pháp, và tất nhiên là cả Italia, nơi mà đảng viên đảng Dân chủ trước đây là những người cộng sản và thực tế bây giờ lại đứng vững trên lập trường cánh hữu. Các đảng này không đưa ra bất kỳ câu hỏi vào về bất bình đẳng, họ chỉ đơn giản tuân theo cách tiếp cận tân cổ điển, một phiên bản bị pha loãng của chủ nghĩa Thatcher[5] tất nhiên tránh những chủ đề như vậy.

Đây là lý do tại sao một chủ đề chính trị nhạy cảm như vậy lại bị bỏ qua. Sau đó, khi khủng hoảng diễn ra, người ta hoàn toàn bị vỡ mộng, đặc biệt là những người trẻ, cả về mô hình kinh tế lẫn các đảng phái đại diện cho các xu hướng chính trị và đó là nguyên nhân chúng ta thấy sự phát triển đáng chú ý này trong những năm gần đây.

Hãy cùng đi sâu vào vấn đề chính trị này. Bạn nói rằng cánh tả từ lâu đã không còn là cánh tả nữa, và sau cuộc khủng hoảng chúng ta đã thấy những sự dịch chuyển mới ở Tây Ban Nha và Hy Lạp. Nhưng ở những nơi khác không hẳn cũng như thế. Ở Ý, Phong trào Năm Sao[6] có vẻ quan tâm đến tham nhũng chính trị hơn là bất bình đẳng. Nói chung, ở gần như tất cả các quốc gia châu Âu, những gì đã từng là cánh tả cũ dường như không thực sự suy nghĩ lại về vai trò của nó. Theo tôi, rủi ro là những trường hợp mới liên quan đến cú sốc hậu khủng hoảng không có được đại diện.

Trong thực tế, lập luận này là sai lầm – nó cho rằng tính đại diện cho các tầng lớp xã hội bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng chỉ liên quan đến cánh tả. Ngược lại, những người bị thiệt hại trong cuộc khủng hoảng có thể an toàn tìm thấy đại diện chính trị ở cánh hữu. Và đó là những gì đã xảy ra. Ngoại trừ Địa Trung Hải – nơi có sự dịch chuyển sang cánh tả, với chính phủ xã hội chủ nghĩa ở Bồ Đào Nha và Syriza (Hy Lạp) và sự nổi lên của đảng Podemos[7] ở Tây Ban Nha – phần còn lại của châu Âu đang chuyển dịch sang cánh hữu. Tuy nhiên, đó là cánh hữu khác với của Margeret Thatcher, đó là chủ nghĩa bảo hộ, bài ngoại, và ở một mức độ nào đó còn chống toàn cầu hóa. Bất bình đẳng đang củng cố cho cả cánh tả và cánh hữu cực đoan, trong khi các đảng theo chủ nghĩa ôn hòa lại đang dần bị chèn ép.

François Hollande (1954-)
Nicolas Sarkozy (1955-)

Thành thật mà nói, tôi thực sự không thể hiểu được tại sao bất kỳ người trẻ hay trung niên nào ở Pháp cũng bỏ phiếu cho Hollande[8]. Những người theo Chủ nghĩa xã hội đấu tranh cho cái gì ở Pháp? Họ theo các chính sách cánh hữu trong nước, họ làm chủ nghĩa đế quốc tự do ở nước ngoài. Vì vậy người ta cũng có thể bỏ phiếu cho Sarkozy[9], ít nhất ông ta cũng là nguyên bản, không phải bản sao. Tiếp theo, về phía Đông Âu, không chỉ có một đảng cánh tả duy nhất. Tất nhiên, một phần đây là phản ứng với các hoàn cảnh lịch sử: ở Hy Lạp hay Tây Ban Nha, có một sự dịch chuyển mạnh mẽ sang cánh tả sau nhiều thập niên dưới chế độ độc tài bán phát-xít, và hiện nay ở Đông Âu, có một sự phản ứng lại các chế độ cộng sản từng nắm quyền kể từ khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ II đến năm 1989. Nhìn vào các cuộc bầu cử gần đây nhất ở Hungary và Ba Lan, chúng ta sẽ thấy chỉ có cánh hữu. Tại Vác-sa-va, sau cuộc bầu cử cuối cùng, cánh tả đã không còn đại diện thể chế nào.

Bernie Sanders (1941-)
Marine Le Pen (1968-)

Do đó tầm quan trọng ngày càng gia tăng của vấn đề bất bình đẳng không chắc chắn dẫn tới sự chuyển hướng sang cánh tả, nó cũng có thể củng cố cho cánh hữu. Chúng ta có thể nhìn thấy quá trình này ngay cả ở Mỹ: chắc hẳn sự không hài lòng với cuộc khủng hoảng không chỉ giúp ích cho Bernie Sanders mà còn cho cả Donald Trump. Và ở châu Âu, cuối cùng thì chính Marine Le Pen là người hưởng lợi từ xu hướng chính trị mới này.

Song song với những thay đổi trong diễn ngôn chính trị mà chúng ta đã đề cập đến, vấn đề bất bình đẳng đã trở thành một phần quan trọng trong những cuộc tranh luận học thuật, đặc biệt là giữa các nhà kinh tế học. Cách đây không lâu, bất bình đẳng vẫn là một chủ đề nghiên cứu gần như bị tẩy chay: tư duy tân cổ điển giữ độc quyền nghiên cứu về kinh tế học đã thẳng thừng bỏ qua vấn đề này mà tập trung vào thị trường hiệu quả, và nghi ngờ rằng bất kỳ nỗ lực nào nhằm giảm thiểu bất bình đẳng về kinh tế sẽ chỉ làm hiệu quả của nó tồi tệ thêm. Thực chất, nghèo đói, chứ không phải tự thân bất bình đẳng, đã được giải quyết bằng tư tưởng thẩm thấu: tức là tăng trưởng kinh tế làm giàu cho tầng lớp thượng lưu – những nhà tư bản – nhưng sau đó sẽ chảy nhỏ giọt xuống [cho những người ở tầng lớp dưới] thông qua bậc thang xã hội. Kết quả là không có nhiều người nghiên cứu về bất bình đẳng. Giờ đây mọi thứ đã thay đổi và đặc biệt là sau khi cuốn sách “Capital in the XXI Century” (Tư bản thế kỷ XXI) của Piketty được phát hành, ngày càng nhiều nhà kinh tế học nói đến bất bình đẳng, nó cũng đã trở thành một chủ đề trong chính sách kinh tế. Vậy chuyện gì đã xảy ra?

Thomas Piketty (1971-)

Chúng ta hãy bắt đầu từ đầu – tại sao lý thuyết tân cổ điển lại chưa từng, và hiện tại vẫn không nghiên cứu bất bình đẳng kinh tế. Lý do rất rõ ràng: bất bình đẳng xuất phát từ các giả định của mô hình kinh tế, do đó nó không cần được nghiên cứu thêm. Trong mô hình cạnh tranh hoàn hảo, giá cả được quyết định bởi thị trường – không có biến số nào như quyền lực trong các mô hình tân cổ điển; và sự bất bình đẳng trong thu nhập phát sinh chỉ đơn giản là từ sự khác biệt trong các nguồn lực ban đầu mà mỗi tác nhân trong thị trường nhận được – rõ ràng rằng, đối với mô hình chúng là ngoại sinh.

Hơn nữa, về thực nghiệm chúng ta biết rằng sự phân phối sản phẩm quốc gia giữa tư bản và lao động ít nhiều đã ổn định và không cần nghiên cứu thêm.

Vì vậy, người ta vẫn đang nghiên cứu sự phân bổ thu nhập cá nhân, nhưng chỉ có một số rất ít các học giả tham gia vào nghiên cứu đó và thậm chí họ còn không hiểu nó nên được gắn vào đâu, nó nằm ở đâu trong kinh tế học: nếu lý thuyết sản xuất và tăng trưởng không phù hợp; phân phối thu nhập chức năng là ổn định; thì chúng ta có thể nghiên cứu phân phối thu nhập cá nhân, nhưng nó vẫn có một khoảng trống – nhiều năm trước, khi tôi bắt đầu làm việc về vấn đề này, không có sự phân loại các tài liệu trong Journal of Economic Literature[10], rất khó tìm nơi để đặt bài báo của bạn. Ở đây, Piketty có vai trò rất quan trọng vì ông đã phân tích rất rõ: chúng ta bắt đầu từ lý thuyết về sản xuất và tăng trưởng, phân tích phân phối thu nhập theo chức năng và từ đó chuyển sang phân phối thu nhập cá nhân.

Tuy nhiên, bên cạnh lý do kỹ thuật, cũng có một lý do chính trị cho sự xem nhẹ này. Dĩ nhiên, mọi nghiên cứu về bất bình đẳng thách thức các cấu trúc không chỉ của nền kinh tế mà còn của thế giới chúng ta đang sống, và những câu hỏi này không phải lúc nào cũng được hoan nghênh. Như tôi đã viết trong cuốn sách “Haves and Have-Nots” (tạm dịch: Kẻ có người không), rất khó để có được bất cứ khoản tài trợ nào cho nghiên cứu về bất bình đẳng.

Khi mới bắt đầu sự nghiệp tại Nam Tư, tôi cũng trong tình huống tương tự như sẽ phải gặp sau này ở Ngân hàng Thế giới và phương Tây. Trong cả hai trường hợp, ý tưởng chính là chúng ta có một hệ thống hoàn hảo và không nên đặt câu hỏi – trong tâm lý học nó được gọi là “biện minh cho hệ thống”, tức là sự cần thiết bảo vệ những cách tiếp cận biện minh cho sự tồn tại và tính đúng đắn của hệ thống.

Nhưng giờ đây dường như có một sự thay đổi. Có rất nhiều nghiên cứu và cuộc tranh luận trên các phương tiện truyền thông chính thống. Chuyện gì đã xảy ra? Phải chăng đã có một sự thay đổi chính trị tạo ra thay đổi này? Tất cả đều gắn liền với sự thành công của Piketty?

Đó là sự kết hợp của nhiều yếu tố. Thứ nhất, đã có một bước đột phá đáng kể trong khoa học của kinh tế học. Như tôi đã nói ở trên, kinh tế học hầu như không quan tâm đến mối liên hệ quyền lực và sử dụng “tác nhân tiêu biểu” làm trung tâm của khung lý thuyết – về cơ bản loại bỏ mọi hình thái không đồng nhất, và thay vào đó tập trung vào giá trị trung bình của biến chúng ta muốn nghiên cứu. Thế mà theo định nghĩa bất bình đẳng là không có tính đồng nhất, nên bạn sẽ không có bất bình đẳng nếu không có sự khác biệt. Tuy nhiên, bây giờ, chúng ta có được sự truy cập chưa có tiền lệ vào các dữ liệu, và điều này cho phép tiến hành cả những nghiên cứu rộng hơn, chi tiết hơn mà rõ ràng cũng liên quan đến việc nghiên cứu về bất bình đẳng.

Phần thứ hai của câu trả lời, tất nhiên, là yếu tố chính trị – ở đây có sự can dự của những mối quan tâm chính trị và xã hội mạnh mẽ. Piketty không phải là một nhân tố ngoại sinh, ông đi theo trào lưu những phản kháng đó – nhận thức của hàng triệu người rằng phân phối thu nhập là có vấn đề. Hai yếu tố này, lý thuyết kinh tế và phong trào mạnh mẽ của dư luận, đang cùng nhau dẫn đến một sự thay đổi lớn. Vì vậy, ngay cả dòng chính cũng phải phản ứng với tình hình mới này, các thể chế và các tổ chức tư vấn không thể đứng yên trước một hiện tượng quá quan trọng, họ không thể bỏ qua nó. Thậm chí Viện nghiên cứu kinh tế quốc tế Peterson (Peterson Institute for International Economics), được tài trợ bởi các ngân hàng thương mại ở Washington, đã bắt đầu nghiên cứu, và khá nghiêm túc, về vấn đề bất bình đẳng. Ngay cả Ngân hàng Thế giới cũng vậy – cách đây 5 năm, bất bình đẳng không được quan tâm, trong khi hiện nay đang có ngày càng nhiều nghiên cứu đề cập đến vấn đề này.

Chúng ta vừa nói về bất bình đẳng ở các nước phương Tây, nhưng hãy mở rộng bối cảnh ra một chút. Cuốn sách mới của bạn viết về toàn cầu hóa, và tôi thấy rằng có một cuộc thảo luận mở rộng về dữ liệu của bạn cho thấy trong 30 năm qua, sự gia tăng thu nhập gần như thuộc về 1% những người giàu nhất và cái gọi là tầng lớp trung lưu toàn cầu, bao gồm chủ yếu là người lao động Trung Quốc và Ấn Độ – những người có sự tăng vọt về thu nhập; trong khi người bị thiệt hại bởi toàn cầu hóa chủ yếu là tầng lớp trung lưu và công nhân phương Tây. Chúng ta có thể rút ra những gì từ dữ liệu này?

Không có điều gì là hoàn toàn tích cực hay hoàn toàn tiêu cực, luôn có sự đánh đổi, người này được và người kia mất. Trong bối cảnh toàn cầu, có thể những người được nhiều hơn những người mất; hoặc những gì người thắng được nhiều hơn những gì người thua mất, và do đó chúng ta có thể có một kết quả tích cực tổng thể, ở đó thu nhập trung bình tăng lên.

Dữ liệu cho thấy rằng toàn cầu hóa chắc chắn là yếu tố chính trong sự thay đổi phân phối thu nhập. Rõ ràng, đó không phải là yếu tố duy nhất, còn có sự thay đổi về công nghệ và chính sách. Nhưng cả hai điều này cũng không thể tách rời khỏi toàn cầu hóa. Thay đổi công nghệ – nhìn qua đã thấy là một sự đổi mới trung tính – sẽ không thể phát huy hết hiệu quả nếu không có toàn cầu hóa. Dĩ nhiên, cũng có thể nói về chính sách: Nếu quay trở lại những gì chúng ta thảo luận trước đó, rằng những người theo chủ nghĩa xã hội đã thay đổi các chính sách của mình, chúng ta sẽ nhận thấy áp lực của toàn cầu hoá lớn thế nào. Thử nghĩ về một chủ đề như thuế: vì sự dễ dàng luân chuyển của tư bản, không thể giữ được mức thuế cao và chính trị phải thích ứng với những thay đổi cấu trúc này. Tương tự, các chính sách về lao động ở Đức đã chủ yếu được ban hành bởi tư bản Đức, dưới sự đe doạ di chuyển hoạt động sang Cộng hòa Séc hoặc Ba Lan.

Những khía cạnh thú vị nhất mà chúng ta thấy trên toàn cầu là ba yếu tố mà bạn đã đề cập: sự phát triển của tầng lớp gọi là trung lưu toàn cầu, đặc biệt ở Trung Quốc; sự tăng trưởng bằng không của tầng lớp trung lưu ở các nước phát triển; và cuối cùng là lợi ích đáng kể thuộc về những người giàu có hơn. Đây có phải là một điều tích cực? Bạn chắc chắn có thể nói như vậy, hàng trăm triệu người nghèo bây giờ đã đỡ nghèo hơn, trong khi những người bị tổn thất nhiều nhất – tầng lớp trung lưu phương tây – đã từng tương đối khá giả. Nhưng đây chưa phải là một câu trả lời thỏa đáng cho các nhà hoạch định chính sách phương Tây, cũng như cho những người lao động đã thiệt hại rất nhiều trong những năm gần đây.

Những gì bạn nói rất đúng và thú vị nhưng nó cũng có thể được sử dụng, và nó đã được sử dụng, như là một sự thừa nhận tính đúng đắn và chính xác của các chính sách tân tự do; một trong những câu thần chú thường được nhắc lại là, cuối cùng thì các chính sách của Đồng thuận Washington[11] đã có hiệu quả và góp phần vào sự phát triển của các nước Nam. Ví dụ, trên thực tế, những thành tựu trong tầng lớp được gọi là trung lưu toàn cầu đã được ghi nhận ở Trung Quốc và Ấn Độ, và người ta nghi ngờ rằng thành công này là sản phẩm phụ từ các chính sách của phương Tây, chứ không phải của chính phủ Trung Quốc.

Ronald Reagan (1911-2004)

Bạn có thể thử sử dụng dữ liệu này để tuyên bố thành công của các chính sách tân tự do, nhưng trên thực tế, khó có thể phân loại Trung Quốc là một quốc gia tân tự do. Ngược lại, sự thật là: hệ thống pháp luật về căn bản là không minh bạch; tham nhũng; độc quyền; quyền sở hữu không được xác định rõ; khu vực công vẫn chiếm phần lớn; và tồn tại những giới hạn đối với quyền tự do di chuyển của người lao động. Điểm chung duy nhất giữa các chính sách của Trung Quốc và tân tự do là sự mở cửa ra thương mại quốc tế, tuy nhiên sự sắp xếp thể chế là hoàn toàn khác nhau. Dĩ nhiên, những khía cạnh này thường bị giữ kín, bởi vì đối với tầng lớp thượng lưu đã thu được rất nhiều từ toàn cầu hóa, gửi một thông điệp về việc những chính sách này đã giúp những người nghèo nhất như thế nào sẽ rất có ích cho họ. Mặc dù vậy, như tôi đã nói, điều này có thể chưa đủ ở cấp độ chính trị, vì tầng lớp thượng lưu nay phải đối mặt với một sự bất mãn ngày càng gia tăng. Khi Reagan[12] hay Thatcher xây dựng sự đồng thuận cho khuynh hướng tân tự do, họ không giải thích rằng những chính sách này sẽ làm giàu thêm cho người nghèo Trung Quốc trong khi các công nhân Anh và Mỹ sẽ mất việc.

Theo bạn, triển vọng trong tương lai sẽ là gì? Có một số yếu tố cơ cấu và mâu thuẫn nhau đáng chú ý. Một mặt, sự gia tăng tiền lương ở Trung Quốc có thể làm cho việc di dời tư bản bất tiện hơn, làm chậm tiến trình toàn cầu hóa. Hơn nữa, theo Giáo sư (Charles) Goodhart của LSE (Trường Kinh tế và Khoa học chính trị London – ND), sự khác biệt chính là trong xu hướng dân số, Trong 50 năm qua, dân số đã phát triển rất mạnh và điều này dẫn đến tình trạng cung lao động dư thừa làm giảm tiền lương. Với sự ổn định của dân số, xu hướng trong tỷ lệ tư bản-lao động dự kiến sẽ tự đảo ngược và bất bình đẳng cũng sẽ như vậy. Tuy nhiên, đồng thời, chúng ta cũng chứng kiến một làn sóng mới của tiến bộ công nghệ và với sự tự động hóa của nhiều ngành công nghiệp, nhu cầu lao động sẽ ngày càng giảm đi. Điều gì đang chờ đợi chúng ta trong tương lai gần?

Đây là một câu hỏi khó. Đúng là ở Trung Quốc đang có một sự chuyển đổi về mặt nhân khẩu học, dân số sẽ đạt đỉnh điểm trong thập kỷ tới; dù vậy, xu hướng ở Ấn Độ lại khác, và sự tăng trưởng sẽ đạt đến đỉnh trong ít nhất nửa thế kỷ nữa. Đồng thời chúng ta có thể thấy một sự gia tăng dân số rất nhanh ở châu Phi. Theo một số ước tính, đỉnh điểm của dân số sẽ là 11 tỷ người. Trong mọi trường hợp, đó là một vấn đề rất phức tạp. Hai thế kỷ tiếp theo, dân số có lẽ sẽ ổn định, và với sự dồi dào của tư bản, chúng ta có thể lật ngược tình thế về bất bình đẳng hiện tại. Đó là một giả định hợp lý, nhưng là một viễn cảnh trong dài hạn.

Đối với cuộc cách mạng công nghệ, tôi không bi quan như nhiều người khác. Mỗi lần có một sự thay đổi về công nghệ, người ta luôn lo sợ về thất nghiệp hàng loạt, nhưng điều này chưa bao giờ xảy ra. Vấn đề là khả năng tưởng tượng của chúng ta – chúng ta chỉ biết các loại công việc đã tồn tại, nhưng đó chưa chắc sẽ là những việc trong tương lai. Chúng ta thấy robot tham gia vào các công việc hiện tại và lo lắng cho tương lai của mình, nhưng chúng ta không biết được sau này sẽ ra sao. Ví dụ, khi tôi đến Mỹ vài năm trước, mẹ tôi đã đi cùng tôi, cụ thể là trong thời tranh chiến tại Nam Tư, bà không thể hiểu được công việc của những người tôi quen. Bà biết thợ đóng giày và bác sĩ là gì, nhưng một người quản lý quỹ phòng hộ là điều mà bà không thể hiểu ngay được. Bây giờ chúng ta có tất cả các loại công việc trong ngành công nghệ thông tin và khởi nghiệp – những thứ thậm chí chưa từng tồn tại một vài năm trước đây.

Vậy bạn thấy những xu hướng nào về toàn cầu hóa và bất bình đẳng?

Đó là chủ đề tôi đã đề cập trong phần cuối cùng của cuốn sách – tôi không nghĩ rằng thực sự có thể đưa ra dự đoán chính xác. Nói chung, khi đưa ra dự báo, chúng ta chỉ cần lấy một con số và coi nó ổn định trong 20 năm tới, nhưng dĩ nhiên mọi thứ sẽ thay đổi, và các dự báo trở nên vô dụng. Tuy nhiên, nhìn chung, những gì tôi thấy là vai trò của Trung Quốc có lẽ sẽ bị các nước khác chiếm mất (những nước có tăng trưởng dân số mạnh hơn), và điều này có nghĩa sẽ có một sự hội tụ tiền lương giữa các nước giàu và nghèo, ít nhất là trong vòng 50 năm tới. Tuy thế, ở phương Tây, sự hội tụ tiền lương này sẽ là một vấn đề chính trị bởi nó sẽ dẫn đến việc không có sự gia tăng tiền lương thực sự ở các nước phát triển. Bất bình đẳng trên toàn cầu sẽ giảm đi, như hiện tại đang diễn ra, đặc biệt là do sự tăng trưởng của một số nước châu Á và châu Phi – thành phần các nước ở giữa sẽ giảm xuống.

Tuy nhiên, thành phần bên trong, hay thành phần giai cấp, nếu bạn muốn, về bất bình đẳng, chắc chắn sẽ tăng lên. Trong vòng hai hoặc ba thập kỷ tới, có thể sẽ có thêm nhiều xung đột quốc gia về vấn đề toàn cầu hoá và phân phối thu nhập.

Và điều này tất nhiên dẫn chúng ta tới chủ đề mối quan hệ giữa bất bình đẳng và dân chủ. Như bạn nói, những gì chúng ta nhìn thấy ở phương Tây là sự đình trệ tiền lương và điều này có thể gây ra tình trạng bất ổn và xung đột giai cấp. Thậm chí bạn có thể nghĩ rằng chính chế độ dân chủ sẽ gặp rủi ro: chế độ dân chủ có nghĩa là các quyền chính trị như nhau và thu nhập không giống nhau, nhưng chúng ta biết quyền lực kinh tế có thể bóp méo cơ chế đại diện như thế nào. Bạn có nghĩ rằng sự bất bình đẳng về kinh tế ngày càng tăng này có thể làm suy yếu nền dân chủ phương Tây?

Những gì tôi cho là ấn tượng nhất về tình hình hiện nay là, bất chấp khủng hoảng kinh tế với độ cứng bất thường, chúng ta vẫn chưa thấy bất kỳ sự tăng trưởng thực sự và đáng kể nào của các phong trào chống hệ thống. Ngay cả Đảng Mặt trận Quốc gia[13](FN) cũng hoạt động trong một khuôn khổ dân chủ. Có lẽ là Tổng thống Erdogan của Thổ Nhĩ Kỳ và Putin đang tiến gần đến một mô hình chính trị vượt qua được chế độ dân chủ, nhưng hiện tại điều này không xảy ra ở Tây Âu. Và tôi cũng hoài nghi về khả năng thực hiện những điều đã hứa trong cuộc vận động của các đảng như FN, ví dụ bắt đầu từ việc phá vỡ Liên minh Châu Âu. Tất nhiên, mọi thứ có thể thay đổi – vì một lý do nào đó, Brexit có thể mở ra một kịch bản hoàn toàn mới.

Tôi nghĩ rằng trong những năm tới sẽ có nhiều căng thẳng hơn giữa, một mặt, những người muốn có một phản ứng theo chủ nghĩa dân túy đối với cuộc khủng hoảng – như Trump ở Mỹ – và phản đối các làn sóng di cư, toàn cầu hoá nói chung, ủng hộ việc bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước và chính sách phá giá “lợi mình hại người” (tức là chính sách có lợi cho nước mình nhưng có hại cho các nước láng giềng, ví dụ điển hình là phá giá đồng nội tệ – ND). Và mặt khác, hơn bao giờ hết, là những người giàu có chủ trương cần phải lật đổ sức mạnh của những khu vực dân cư nghèo nhất đang tăng nhanh về số lượng – và điều này sẽ dẫn đến vai trò ngày càng quan trọng của tiền tệ trong việc xác định các lựa chọn chính sách.

Những gì đang xảy ra ở Mỹ rất thú vị: một mặt chúng ta có Trump, người đã dùng sức nặng của tài sản cá nhân trong hoạt động chính trị, một đầu sỏ chính trị hoàn hảo; mặt khác, ứng cử viên lý tưởng của tầng lớp thượng lưu là Hillary Clinton, người bảo vệ giới quyền uy thực sự. Vậy điều sẽ xảy ra là họ sẽ làm mọi thứ có thể để người lao động, người da đen, hoặc ít nhất là những người kém may mắn về kinh tế, đừng bỏ phiếu.

Antonio Gramsci (1891-1937)

Vì vậy, hiện tại chúng ta đang có hai phong trào, một là ủng hộ toàn cầu hoá và bảo vệ lợi ích của nó, đặc biệt là với 5% người giàu nhất, có thể dẫn đến sự chuyển đổi từ từ chế độ dân chủ sang chế độ tài phiệt, và dẫn lời Gramsci[14], để tái lập quyền bá chủ của những tư duy và lợi ích này; và mặt khác là sự gia tăng của các phong trào chống toàn cầu hóa của cánh hữu.

Điều này đúng cả ở châu Âu và phương Tây, trong khi ở những nơi khác thì tình hình lại khác. Ở Mỹ Latinh có sự trở lại của cánh hữu, nhưng tôi tin rằng điều này chỉ là một chu kỳ chính trị bình thường; chúng ta không biết điều gì sẽ xảy ra ở châu Á – ở Ấn Độ giờ đây đã có một chính phủ cánh hữu công khai, trong khi ở các nước như Trung Quốc, Indonesia hay Thái Lan, sự phân chia cổ điển giữa cánh tả và cánh hữu không sâu đậm bằng ở phương Tây.

Robert Reich (1946-)

Tuy nhiên, rủi ro không chỉ về chính trị. Theo nhiều nhà kinh tế học, bao gồm Robert Reich[15], cuộc khủng hoảng kinh tế được gây ra bởi sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập. Nhìn chung, có một rủi ro là mức cầu quá yếu do sự tập trung thu nhập quá mức.

Có nhiều giải pháp, mặc dù không dễ để làm được. Ví dụ, bởi vì toàn cầu hóa, như tôi đã nói, việc đánh thuế cao vào người giàu hay thu nhập vốn rất khó thực hiện – ngay cả khi một quốc gia quyết định tăng thuế, thậm chí nếu hàng chục quốc gia cùng làm như vậy, thì sẽ luôn có những nước khác vui mừng đưa ra mức thuế thấp hơn để đáp ứng sự tháo chạy vốn.

Các chính sách trong tương lai, theo quan điểm của tôi, sẽ đi theo một hướng khác, hướng tới việc phân bổ công bằng hơn các nguồn lực. Nếu đúng là quyền sở hữu vốn quyết định mức thu nhập cao hơn, như Piketty nói, thì chúng ta phải can thiệp vào lĩnh vực đó. Tôi đặc biệt đề cập đến vấn đề giáo dục, vốn đảm bảo lợi ích kinh tế công bằng giữa những người có bằng cấp như nhau – khác với ngày nay, trong giáo dục đại học, những người tốt nghiệp Harvard dự kiến có thu nhập cao hơn ít nhất mười lần so với sinh viên tốt nghiệp các trường đại học ít uy tín hơn. Cân bằng chất lượng giáo dục sẽ có tác động tương tự đến việc giảm sự tập trung quyền sở hữu vốn.

Branko Milanovic (1953-)

Đồng thời, việc giảm sự tập trung vốn vật chất cũng rất quan trọng, điều này chắc chắn là khó khăn hơn, nhưng không phải là không thể. Trong quá khứ, chúng ta đã có những ví dụ về: kế hoạch nhân viên được sở hữu cổ phần; đồng quyết định ở Đức (tức là công nhân cùng tham gia vào quá trình đưa ra quyết định chính sách trong các công ty – ND), tăng cường vai trò của công đoàn trong các hội đồng; và quyền sở hữu công đoàn ở Thụy Điển. Tất nhiên, điều này không hề dễ dàng, nhưng dường như nó khả thi hơn nhiều so với những lựa chọn khác hiện nay.

Về Branko Milanovic:

Branko Milanovic là một nhà kinh tế học người Mỹ gốc Serbia, một chuyên gia về phát triển và bất bình đẳng. Ông là Giáo sư Thỉnh giảng tại Graduate Center thuộc Đại học New York (CUNY) và một học giả cao cấp thuộc Chương trình Nghiên cứu Thu nhập Luxembourg (LIS). Ông từng là nhà kinh tế học hàng đầu tại bộ phận nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới.

Nguyễn Mai Hạ dịch

Nguồn: Why Global Inequality MattersSocialEurope.Eu, 18 March 2016

[1] Phong trào Occupy (phong trào Chiếm Phố Wall – Occupy Wall Street): mục tiêu là thay đổi luật lệ ảnh hưởng tới việc phân bố lợi tức trong nền kinh tế, nói cách khác là thay đổi luật về thuế khóa. – ND

[2] Phong trào Indignados (theo tiếng Tây Ban Nha là “Những người phẫn nộ”): phiên bản “Chiếm Brussels” của phong trào “Chiếm Phố Wall”, phản đối tình trạng bất bình đẳng trong xã hội châu Âu. – ND

[3] Đảng Syriza: một đảng chính trị cánh tả ở Hy Lạp, phản đối chính sách thắt lưng buộc bụng. – ND

[4] PSOE: đảng Xã hội cánh tả Tây Ban Nha – ND

[5] Thatcher: Margeret Thatcher – nữ Thủ tướng đầu tiên của Anh, được ca ngợi là một nhà cải cách đã thay đổi toàn bộ đất nước, nhưng bà cũng bị không ít người chỉ trích vì làm rộng thêm vực sâu ngăn cách giữa người giàu và người nghèo. – ND

[6] Phong trào Năm Sao: vốn là một phong trào xã hội dân sự, được thành lập vào năm 2009 bởi Beppe Grillo – một diễn viên hài và Gianroberto Casaleggio – một chuyên gia IT. Cốt lõi triết lý của phong trào là loại bỏ các đảng phái, thứ mà nhiều người ở Ý xem như là nguồn gốc của chủ nghĩa bảo trợ và tham nhũng. – ND

[7] Podemos: một đảng dân túy vô chính phủ – xã hội chủ nghĩa của Tây Ban Nha. – ND

[8] Hollande: (Francois Hollande) cựu Tổng thống Pháp, chính trị gia thuộc Đảng Xã hội. Ông đã được bầu làm Tổng thống Pháp ngày 6 tháng 5 năm 2012, đánh bại đương kim Tổng thống Nicolas Sarkozy. – ND

[9] Sarkozy: (Nicolas Sarkozy) cựu tổng thống Pháp, kế nhiệm Jacques Chirac vào ngày 16 tháng 5 năm 2007. Trước đó, ông là lãnh tụ đảng UMP (Union pour un Mouvement Populaire) cánh hữu. – ND

[10] Journal of Literature Economics: hệ thống được thiết lập và phát triển bởi Hiệp hội Kinh tế học Hoa Kỳ, giúp phân loại theo chủ đề các bài báo, luận văn được xuất bản. – ND

[11] Đồng thuận Washington: một thuật ngữ do John Williamson đưa ra tại Viện Kinh tế Quốc tế năm 1990, đề xuất một loạt các chính sách để giải quyết các vấn đề kinh tế của Mỹ Latinh, bao gồm cải cách thuế, tự do hóa lãi suất, một cơ chế tỉ giá hối đoái cạnh tranh, tự do hóa thương mại, tự do hóa đầu tư trực tiếp nước ngoài, và phi điều tiết hóa. Kể từ đó Đồng thuận Washington đã trở nên đồng nghĩa với các chính sách “tân tự do” phản ánh quan điểm của Hoa Kỳ, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, … – ND

[12] Reagan: (Ronald Reagan) Tổng thống thứ 40 của Mỹ, với những chính sách chủ trương giảm tỉ lệ thuế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát nguồn tiền để giảm lạm phát, bãi bỏ kiểm soát kinh tế, và giảm chi tiêu của chính phủ. – ND

[13] Đảng Mặt trận Quốc gia: một đảng chính trị ở Pháp theo chủ nghĩa dân túy cánh hữu và chủ nghĩa dân tộc. – ND

[14] Gramsci: (Antonio Gramsci) nhà triết học, nhà văn, chính trị gia và là lý thuyết chính trị người Ý. Ông là một trong những thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Ý. – ND

[15] Robert Reich: nhà kinh tế học, đồng thời là cựu Bộ trưởng Bộ Lao động Mỹ, phục vụ dưới thời các Tổng thống Gerald Ford, Jimmy Carter, and Bill Clinton. – ND 

———————–&&&——————–

Cạnh tranh (thuần túy và hoàn hảo)

Cạnh tranh (thuần túy và hoàn hảo)

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

02/09/2017 │ Hồ sơ đặc biệt n°006

Sự cạnh tranh “thuần túy và hoàn hảo”[1]được cho là chi phối tất cả các thị trường và cho phép đạt được sự cân bằng chung tốt nhất có thể. Trong thực tế, thậm chí điều đó còn hiếm hơn việc một chuyến tàu hỏa Italia đến ga đúng giờ hay một chương trình bầu cử chân thực và thực tế. Trong một bài viết nổi tiếng, “The Nature of the Firm [Bản chất của doanh nghiệp]” (được đăng vào năm 1937 nhưng đã giúp ông nhận được “giải Nobel” năm mươi bốn năm sau…), Ronald Coase, nhà kinh tế học người Anh tuy theo tư tưởng tự do, bình luận như sau định nghĩa theo đó, trong cạnh tranh hoàn hảo, mọi người đều biết được tất cả các giá cả phù hợp: “Tất nhiên đây là điều không xác đáng trong thế giới thực.” John K. Galbraith, nhà kinh tế học “cao to” người Mỹ (ông cao gần 2 mét), người rất vui khi hăng say tố giác sự phóng đại, sự phù phiếm và sự giả dối của các đồng nghiệp, không phải là người dễ bị đánh lừa. Ví dụ, vào năm 1981, trong Une vie dans son siècle [Một cuộc đời trong thế kỷ của mình] (bản dịch của Daniel Blanchard, La Table ronde, 2006), ông đã viết: “Những ai tin có thể rằng người bán báo ở góc đường và công ty General Motors thuộc cùng một họ, cả hai đều bị chi phối như nhau bởi các tác lực lớn của thị trường, những tác lực mà họ không có quyền gì trên đó cả, cả hai đều [là những tác nhân] thụ động, ngoại trừ với tư cách là cử tri, thì những người đó có thể tin bất cứ điều gì” (trang 485). Tuy nhiên, một phần ba thế kỷ sau, Jean-Marc Daniel gạt sang một bên lời phê phán đó trongL’Etat de connivence [Nhà nước thông đồng] (Odile Jacob, 2014): “Khái niệm thị trường cạnh tranh trong kinh tế học giống như khí hoàn hảo của nhà vật lý học. Không ai có thể thấy được nó, thế nhưng phân tích của nó cho phép rút ra những kết luận vừa đơn giản vừa hiệu quả” (trang 105). Không phải cứ so sánh được là hợp lý, cần phải xem xét kỹ hơn một chút, dưới góc độ mổ xẻ của các nhà kinh tế học, điều tốt và điều xấu của sự cạnh tranh thuần túy, hoàn hảo, lành mạnh, tự do và không bị bóp méo.

Cạnh tranh (thuần túy và hoàn hảo)chúng ta đang nói về cái gì?

Để cho sự cạnh tranh mang tính “thuần túy và hoàn hảo”, các tác nhân phải có tất cả những thông tin cần thiết để đưa ra lựa chọn; không ai trong số họ (người mua hoặc người bán) có một tầm quan trọng quá đáng; mỗi loại sản phẩm, là đối tượng của sự cạnh tranh, sẽ chỉ bao gồm những hàng hoá hoặc dịch vụ giống nhau; việc thâm nhập thị trường không chịu bất kỳ hạn chế nào. Trong những điều kiện ấy, không có người mua hay người bán cá thể nào có thể gây ảnh hưởng đến giá cả từ việc đối chiếu cung với cầu, và mức giá này có tính ràng buộc đối với mọi người. Ngoài ra, nếu nhà sản xuất (hoặc thương nhân) cũng tuân theo các quy tắc tương tự, thì sự cạnh tranh mang tính “công bằng”, và nếu không có ai lừa đảo thì sự cạnh tranh không bị “bóp méo”.

Mặt phải

Kenneth Arrow (1921-2017)
Gérard Debreu (1921-2004)

Vào cuối thế kỷ 19, năm 1874, Léon Walrascông bố ấn bản đầu tiên của ông Eléments d’économie politique pure [Các yếu tố của kinh tế học chính trị thuần túy]. Ông chứng minh, bằng một hệ thống các phương trình, rằng “việc xác định giá cả theo một chế độ mang tính giả thuyết về sự cạnh tranh tự do tuyệt đối” sẽ dẫn đến một cân bằng chung: giá cả sẽ cân bằng mức cung và cầu của tất cả hàng hoá và dịch vụ, kể cả các “dịch vụ sản xuất”, một thuật ngữ mà Walras dùng để chỉ việc làm. Năm 1954,Kenneth Arrow và Gérard Debreu, cả hai đều được trao “giải Nobel” vì việc đó[2], đã chứng minh rằng cân bằng chung này dẫn đến sự toàn dụng lao động và sự sử dụng tối ưu tất cả các nguồn lực khi thị trường bao gồm cả các hợp đồng kỳ hạn (có nghĩa là liên quan đến những giao dịch trong tương lai). Thị trường sẽ định giá tất cả các nguồn lực hiện hữu, không bỏ sót bất cứ thứ gì… với điều kiện là tôn trọng các điều kiện của cạnh tranh hoàn hảo.

Friedrich Hayek (1899-1992)
Milton Friedman (1912-2006)

Ngoài việc đạt được mức sản xuất và phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả nhất có thể, sự cạnh tranh, theo Milton Friedman, cho phép “một sự điều phối không ép buộc […]một xã hội có tổ chức thông qua sự giao dịch tự nguyện […] mà chúng ta đã gọi là chủ nghĩa tư bản cạnh tranh. [Ví dụ:] người lao động được bảo vệ khỏi sự cưỡng ép của người sử dụng lao động bởi người lao động có thể đến làm việc cho nhiều người sử dụng lao động khác[3]. Đối với Friedrich Hayek, “cạnh tranh là cách tốt nhất để hướng dẫn những nỗ lực của cá nhân”, nhờ vào việc hệ thống giá cả, ở mỗi thời điểm, cung cấp một thông tin quý giá cho cả nhà sản xuất lẫn người tiêu dùng.

Jean-Marc Daniel (1954-)

Cuối cùng, theo lời giải thích của Jean-Marc Daniel (trong tác phẩm đã dẫn, trang 100), “điều làm cho sự cạnh tranh mang tính chính đáng hoàn toàn là khả năng làm giảm giá cả và vì vậy làm tăng sức mua của người tiêu dùng”. Trong một hệ thống cạnh tranh hoàn hảo, cuộc đấu tranh của từng nhà sản xuất để cố gắng giữ chân khách hàng sẽ dẫn đến một nỗ lực không ngừng làm giảm chi phí sản xuất, và bản thân lợi nhuận cũng giảm xuống mức tối thiểu, mức mà nếu giảm thêm nữa nhà sản xuất cũng đành buông tay. Từ đó mà có nghịch lý: chủ nghĩa tư bản cạnh tranh, nếu đáp ứng các tiêu chí của sự cạnh tranh hoàn hảo, thì sẽ trả thưởng một cách dè sẻn cho những người cung cấp vốn. Người thắng là người mua, chứ không phải là người sản xuất. Người mua hưởng lợi từ những nỗ lực của người sản xuất, những người, đứng trên miệng núi lửa, luôn bị đe dọa rơi xuống vực thẩm.

Mặt trái

Đây chính là vấn đề nan giải. Phải thừa nhận rằng, sự cạnh tranh hoàn hảo là một động lực thúc đẩy, và là một động lực thúc đẩy mạnh mẽ, bởi chính sự sống còn của doanh nghiệp bị đe doạ. Nhưng, ngay cả khi nhà sản xuất chấp nhận thách thức, thì họ chỉ thu về những lợi ích hạn chế, nhanh chóng bị các đối thủ cạnh tranh thách thức tiếp. Ngoài ra, trên thực tế, mỗi doanh nghiệp đều tìm cách tránh xa nguy cơ rơi xuống vực thẳm để đảm bảo tính bền vững của mình. Thay vì là “người chấp nhận giá” (price taker), có nghĩa là có nghĩa vụ phải chấp nhận giá cả thị trường, bất kỳ nhà sản xuất nào cũng tìm cách thiết lập giá cả một cách tự do, hoặc ít nhất là có thể gây ảnh hưởng [đến giá cả]. Ví dụ bằng cách mua lại các đối thủ cạnh tranh hoặc thỏa hiệp các liên minh ít nhiều mang tính bí ẩn (các “cartels”, “trusts”, “thông đồng”…), hoặc, thậm chí như cách làm của John Rockefeller, nhà sáng lập Standard Oil (viết tắt là “Esso”, sau này đổi thành Exxon), bằng cách đe doạ đốt cháy những xe bồn dầu nào không sử dụng dịch vụ của công ty đường sắt của ông.

Những lợi ích của cạnh tranh…

“Chủ nghĩa tự do dựa trên niềm tin cho rằng sự cạnh tranh là cách tốt nhất để hướng dẫn những nỗ lực của cá nhân. Chủ nghĩa tự do không phủ nhận, nhưng ngược lại nhấn mạnh rằng để sự cạnh tranh đóng một vai trò hữu ích, thì cần tạo lập một khung pháp lý một cách cẩn thận; thừa nhận rằng những luật pháp trong quá khứ và hiện tại có những sai sót nghiêm trọng. Chủ nghĩa tự do cũng không phủ nhận rằng bất cứ nơi nào không thể làm cho sự cạnh tranh trở nên hiệu quả, thì cần phải viện đến những phương pháp khác để hướng dẫn hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, chủ nghĩa tự do kinh tế chống lại việc thay thế sự cạnh tranh bằng những phương pháp kém hơn trong việc phối hợp các nỗ lực của con người. Chủ nghĩa tự do coi sự cạnh tranh là phương pháp vượt trội không chỉ vì đó là phương pháp hiệu quả nhất được biết đến, trong hầu hết các tình huống, mà đó còn là phương pháp duy nhất cho phép điều chỉnh các hoạt động của con người mà không cần đến những can thiệp tuỳ tiện hoặc cưỡng ép của chính quyền”.

… và những giới hạn của nó

“Một thị trường cạnh tranh – tinh tuý của các định chế tư nhân – tự thân nó là một hàng hóa công. Khi một thị trường cạnh tranh được tạo lập, thì mọi người có thể tự do vào hoặc ra, dù có đóng góp hay không vào chi phí vận hành và duy trì thị trường này. Không thị trường nào có thể tồn tại lâu dài mà không có các định chế công ngầm bên dưới để hỗ trợ nó. Trên thực địa, các định chế công và tư thường vận hành khớp với nhau và phụ thuộc vào nhau thay vì phát triển trong những thế giới riêng biệt.”

Sự cạnh tranh hoàn hảo hàm ý những đối thủ cạnh tranh cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ tương tự, hoặc thậm chí giống nhau (“đồng nhất”). Vì thế, người ta chú tâm vào việc tạo sự khác biệt với đối thủ cạnh tranh, qua thương hiệu (Dior), quảng cáo (Danone), bằng sáng chế (Sanofi), khả năng đổi mới (Apple). Sự cạnh tranh hoàn hảo đòi hỏi rằng, trên từng thị trường cụ thể, liệu sự thâm nhập [thị trường] của một đối thủ cạnh tranh mới có diễn ra một cách tự do không? Người ta sẽ cản đường nó [đối thủ cạnh tranh mới] bằng chính những phương tiện tương tự hoặc bằng quy mô của các nguồn vốn được huy động để thâm nhập thị trường, làm cho thị trường nhận diện thương hiệu, đạt đến một thị phần tối thiểu hoặc nhắm được những khách hàng mục tiêu.

Joan Robinson (1903-1983)
Edward Chamberlin (1899-1967)

Nói ngắn gọn, sự cạnh tranh hoàn hảo nhường chỗ cho sự cạnh tranh không hoàn hảo (Joan Robinson) hoặc cạnh tranh độc quyền (Edward Chamberlin), những thứ mà ngày nay là quy luật trên diện rộng: ngay cả những nhà sản xuất nhỏ cũng tạo sự khác biệt bằng cách tham gia vào một hợp đồng nhượng quyền (Dessange, ví dụ, trong ngành làm tóc) hoặc bằng cách tôn trọng bộ quy tắc của một sản phẩm mà tên gọi được bảo hộ (ví dụ, phó mát comté). Điều này không có nghĩa là không có cạnh tranh, nhưng nó bị giới hạn bởi sự khác biệt nhiều ít giữa các sản phẩm thuộc cùng một họ. Bởi thế, nhà kinh tế học người Ba Lan Michal Kalecki, một môn đồ của Keynesgiống như Joan Robinson, đã kết luận: “Sự cạnh tranh hoàn hảo, khi quên đi bản chất thực của nó là một mô hình thuận tiện, trở thành một huyền thoại nguy hiểm”[4].

Liệu sự cạnh tranh không hoàn hảo có lợi không?

Không nghi ngờ gì nữa, sự cạnh tranh không hoàn hảo có lợi cho các nhà sản xuất nào có khả năng nổi lên từ số đông: chỉ cần nhìn vào số tiền lợi nhuận của họ, cách hàng trăm năm ánh sáng với sự gần như biến mất những lợi ích được Walras và những người ca ngợi sự cạnh tranh hoàn hảo công bố cách đây một thế kỷ. Nhưng đối với nền kinh tế nói chung, liệu đó có là một sự cướp đoạt gian ác hay là một động lực có lợi không?

Sự vượt trội không thể tránh né của sự cạnh tranh không hoàn hảo

“Nếu quan sát kỹ hơn các điều kiện […] phải được đáp ứng để đạt được sự cạnh tranh hoàn hảo, thì chúng ta nhận ra ngay lập tức rằng, ngoài ngành sản xuất nông nghiệp thông thường, các trường hợp cạnh tranh là không nhiều. […] Rõ ràng là mọi cửa hàng tạp hóa, mọi trạm xăng, mọi nhà sản xuất găng tay hoặc sản xuất kem cạo râu hoặc sản xuất cưa tay đều có riêng một tiểu thị trường tạm mà họ nỗ lực – phải nỗ lực – tạo lập và duy trì, bằng cách sử dụng chiến lược giá cả, chiến lược chất lượng (“khác biệt hóa sản phẩm”) và quảng cáo. Cùng lúc, chúng ta đối mặt với một “mô hình” hoàn toàn khác […] khi mà sự cạnh tranh “hiệu quả” theo kiểu cổ điển nhường chỗ cho một sự cạnh tranh “hủy diệt”, hay cho một “cuộc đấu tay đôi”, hay đơn thuần cho các cuộc đấu tranh giành quyền kiểm soát, được tiến hành trên mặt trận tài chính. […] Cuối cùng, các nhà kinh tế học bắt đầu vứt bỏ các miếng che mắt để chỉ nhìn thấy không gì khác ngoài sự cạnh tranh về giá. Khi nào sự cạnh tranh về chất lượng và nỗ lực bán hàng được thừa nhận trong tường thành thiêng liêng của lý thuyết, thì biến giá cả mới thôi chiếm vị trí thống trị”.

Joseph Schumpeter (1883-1950)

Trong cuốn Capitalisme, socialisme et démocratie [Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội và thể chế dân chủ]được xuất bản vào năm 1942, Joseph Schumpeter đứng lên chống lại ý tưởng cho rằng sự cạnh tranh hoàn hảo là nguồn gốc của sự tiến bộ: “Sự cạnh tranh hoàn hảo không chỉ là điều không thực hiện được, mà còn là điều thấp kém, và nó không xứng đáng để được giới thiệu như là một mô hình lý tưởng về hiệu quả” (trang 152). Và vài dòng sau ông biện minh cho quan điểm này, phá vỡ “niềm tin chung” tân cổ điển: “Sự tiến bộ kinh tế, theo nghĩa chúng tôi hiểu cụm từ này, phần lớn không tương thích với những điều kiện như vậy. […] Các công ty khổng lồ cuối cùng đã trở thành động lực mạnh nhất của sự tiến bộ này, và đặc biệt của sự mở rộng tổng sản lượng trong dài hạn. Thế nhưng, chúng ta đạt được những kết quả như thế […] vì tuy có chiến lược này, nhưng còn ở một mức độ đáng kể, nhờ chiến lược ấy, mà khi quan sát trong một trường hợp cụ thể và tại một thời điểm nhất định có vẻ có tính giới hạn theo kiểu của Malthus.” Rõ ràng, nếu không có sự bảo vệ chống lại các đối thủ cạnh tranh, thì không có doanh nghiệp nào bắt tay vào cuộc phiêu lưu bất định của sự đổi mới sáng tạo. Mặc kệ! William Baumol, nhà kinh tế học người Mỹ, lập luận rằng điều quan trọng là thị trường phải có tính “tranh chấp được”, có nghĩa là một đối thủ cạnh tranh có thể nhảy vào trong trường hợp các tác nhân trong cạnh tranh không hoàn hảo hành xử quá trớn và thu về những “siêu lợi nhuận” quá không đúng đắn. Ai cũng tự an ủi bản thân theo cách của mình…

Từ nay, hầu hết các nhà kinh tế học đều cho rằng quy mô và siêu lợi nhuận là hai động lực chính của việc chấp nhận rủi ro. Nhưng không vì thế mà cạnh tranh biến mất, nhưng nó được thực hiện giữa một số nhỏ các đối tượng. Vì thế, thật dễ để nhận ra mặt trái của vấn đề trong nền kinh tế của các công ty “độc quyền nhóm” hiện đang thống trị thị trường: quyền lực mà họ nắm được, quyền lực lên người tiêu dùng cũng như lên các chính sách…

Denis Clerc

Nhà sáng lập báo Alternatives Economiques

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

NguồnLa concurrence (pure et parfaite)Alternatives Economiques, 02/09/2017.

——————&&&——————

Thanh khoản (Liquidity)

Thanh khoản (Liquidity)

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

® Giải Nobel: HICKS, 1972 – TOBIN, 1981

Thanh khoản chắc chắn là một trong những thuật ngữ được dùng nhiều nhất trong kinh tế học. Chúng tôi sẽ phân biệt thanh khoản trong số ít (liquidité) với thanh khoản trong số nhiều (liquidités) vốn là đồng nghĩa với tiền tệ hay phương tiện chi trả (ví dụ: les liquidités internationales). Nguồn gốc của thuật ngữ này không hoàn toàn rõ ràng. Đối với Hicks (1962), đây là một khái niệm keynesian, được chính ông ấy sử dụng ngay từ 1935 bằng cách qui chiếu về Chuyên luận về tiền tệ của Keynes (1930). Một số tác giả khác có những cách kiến giải khác và trích dẫn Fisher (1930) hay Menger (1930) nhiều hơn. Tuy nhiên chính Keynes là người đại chúng hoá thuật ngữ này trong Lí thuyết tổng quát (1936) trong đó ông đề xuất khái niệm ưa thích thanh khoản. Cuối những năm 1950 là thời kì khái niệm niệm này lên đến đỉnh điểm, đặc biệt là ở Anh với báo cáo Radcliffe.

Những nghiên cứu này và những nghiên cứu tiếp theo trong những năm 1960 sẽ cho phép mở rộng khái niệm trên. Khái niệm niệm rộng của thanh khoản được xác lập trong hai bước: một bước mà theo tinh thần của lí thuyết lựa chọn danh mục đầu tư sẽ nằm trong lĩnh vực tài chính với khái niệm rủi ro, và một bước khác mở rộng khái niệm này ra cho doanh nghiệp với việc tính đến sự bất trắc.

Thanh khoản tài chính

John M. Keynes (1883-1946)

Quan niệm đơn giản nhất là mô hình lựa chọn danh mục đầu tư trong Lí thuyết tổng quát của Keynes, được Tobin (1958) sửa đổi. Bài viết của Hicks về tính thanh khoản (1958) nằm trong cách nhìn này. Thanh khoản, được đồng hoá với tiền tệ, là đối tượng của một cầu mà ta có thể gọi là có tính tài chính chặt chẽ. Thanh khoản được giải thích bằng động cơ keynesian về đầu cơ hay bằng danh mục tối ưu của Tobin. Như thế Tobin mở rộng những cơ sở của thanh khoản: sự ưa thích thanh khoản trở thành đồng nghĩa với việc ngại rủi ro. Quan niệm này sẽ ảnh hưởng mạnh đến tư tưởng kinh tế hiện đại và sẽ là quan niệm duy nhất của nhiều tác giả.

Một quan điểm tinh vi hơn liên quan đến tính thanh khoản tương đối. Một tài sản được xem là có tính thanh khoản cao hơn một tài sản khác nếu nó được thương thảo một cách chắc chắn hơn, tức thì và không bị thua lỗ. J. M. Keynes viết trong Chuyên luận về tiền tệ (1930): “Phiếu thu và những ứng trước ngắn hạn có tính thanh khoản cao hơn những đầu tư vào trái phiếu, nghĩa là chắc chắn được hoàn thành trong một thời gian rất ngắn và không bị thua lỗ”. Trong tác phẩm này, tính thanh khoản luôn được định nghĩa bằng khoảng cách gần hay xa đối với tiền tệ, nhưng lựa chọn không còn bị giới hạn: ngoài tiền còn có thêm những tài sản thương thảo được nhanh chóng, an toàn và không có rủi ro quan trọng mất vốn, vả lại được người ta gọi là tài sản dễ đổi ra tiền. Như thế nổi lên một lí thuyết đặc biệt về thanh khoản. Người ta chuyển từ tính thanh khoản của một tài sản sang tính thanh khoản của một số tài sản, với tất cả những khả năng lựa chọn tài chính mà điều này mở ra.

Cách nhìn tinh vi nhất là quan điểm của vị thế thanh khoản của R. M. MacKean và trễ hơn của S. C. Kolm (1965), người sử dụng khái niệm “tính thanh khoản của một vị thế tài chính”. Trước tính thanh khoản của những tài sản tài chính ông đối lập tính không thanh khoản của những khoản nợ. Tính không thanh khoản này cũng được xác định nhờ khoảng cách gần hay xa đối với tiền tệ, trong trường hợp này là thời điểm đáo hạn của khoản nợ: một nợ dài hạn có tính thanh khoản thấp hơn là một nợ ngắn hạn. Vị thế thanh khoản của một cá nhân hay của một doanh nghiệp được xác định bởi giá trị bằng tiền và những đặc điểm thanh khoản của những tài sản so với số tiền và cấu trúc đáo hạn của những khoản nợ của tác nhân này. Bước tiến lớn với giai đoạn thứ ba này bắt nguồn từ việc tính đến toàn bộ bảng tổng kết tài sản của tác nhân. Tính thanh khoản được định nghĩa như thế đo khả năng của tác nhân kinh tế trong việc hoàn thành những nghĩa vụ chi trả một khi đến hạn. Việc kiểm soát thanh khoản thuộc về lĩnh vực quản lí tiền mặt (cash management). Bây giờ tính không thanh khoản được phân biệt rõ ràng với việc mất khả năng thanh toán (mất khả năng chi trả hoàn toàn dẫn đến phá sản). Tất cả những điều trên báo hiệu việc khái quát hoá khái niệm thanh khoản ra ngoài lĩnh vực tài chính.

Thanh khoản của doanh nghiệp

John R. Hicks (1904-1989)

Kể từ lúc ta nhấn mạnh đến sự bất trắc liên quan đến những giao dịch tương lai theo một cách nhìn fisherian hơn là keynesian, do đó nhấn mạnh đến đông cơ dự phòng chứ không đến những thu hoạch được dự kiến về vốn, nghĩa là sự bất trắc về giá trị các chứng khoán– động cơ đầu cơ – hay là sự ngại rủi ro – phân biệt hoá danh mục đầu tư –, thì ta sẽ đi đến việc mở rộng khái niệm thanh khoản. Như thế sự ưa thích thanh khoản ít được gắn với động cơ đầu cơ như với Keynes, mà gắn với động cơ dự phòng và động cơ này trở thành tiêu biểu nhất cho cầu thanh khoản. Vấn đề là không chỉ có thể trao tiền đổi lấy chứng khoán mà một cách tổng quát hơn là giữ sự tự do hành động để đối mặt với những bất ngờ, hay nhất là để nắm bắt những cơ hội. Đó là quan điểm của J. R. Hicks trong những bài viết sau này, và điều này làm ông gần với các nhà hậu keynesian vì đối với những tác giả này khiá cạnh dự phòng là thiết yếu. Ông cho rằng lí thuyết keynesian chỉ là một trường hợp đặc biệt áp dụng vào những thị trường tài chính, trong lúc khái niệm tổng quát về tính thanh khoản là rộng hơn. Quan niệm mới này về tính thanh khoản sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tính đến một chỗ dựa mới của tính thanh khoản cho đến lúc bấy giờ được xem nhẹ: khả năng đi vay.

Tính thanh khoản trở thành đồng nghĩa với tính linh hoạt, nó cho phép những lựa chọn bỏ ngỏ. Nó được lồng vào trong một quá trình liên tiếp và có thời gian chờ đợi để nắm giữ thông tin. Tính thanh khoản càng cao thì những lựa chọn càng có thể thay đổi, thậm chí là đảo ngược được. Do đó nó cho phép một sự tập huấn bao gồm quyền được sai lầm. Tính thanh khoản của một doanh nghiệp là một sự đảm bảo tính độc lập, vì sự đồng ý của các nhà tài chính không còn là một điều kiện bao giờ cũng là cần thiết. Được quan niệm như thế thanh khoản là động; trên quan điểm này chắc là R. A. Jones và J. M. Ostroy (1984), hai tác giả xem thanh khoản như một dự trữ tuỳ chọn, có quan niệm thích đáng nhất. Cũng trong cách nhìn này, S. A. Lippman và J. J. MacCall (1986) đề xuất lí thuyết liquidity search model (mô hình tìm kiếm thanh khoản) dẫn đến một cách giải thích mới về sự ưa thích thanh khoản. Đó là việc tìm kiếm tính linh hoạt mà cơ sở duy lí là việc tối ưu hoá dài hạn, trên nhiều thời kì (lựa chọn liên tiếp) chứ không phải là tối ưu hoá ngắn hạn chỉ trên một thời kì (lựa chọn duy nhất).

Trong kinh văn thông dụng, tính thanh khoản, ngay cả trong nghĩa tính linh hoạt, gắn với việc nắm giữ tiền và chứng khoán thương thảo được tức thì và không mất mát (ví dụ, trái phiếu Kho bạc). Chính J. Hicks (1974) là tác giả chỉ ra rằng giải pháp này là đặc biệt và chỉ tương ứng với trường hợp của nền kinh tế vốn tự có (autoeconomy). Thế mà nhiều doanh nghiệp không có tài sản dễ đổi ra tiền mặt và không vì thế mà không có thanh khoản hay là cứng nhắc vì sử dụng một phương thức khác. Trong nền kinh tế thấu chi (overdraft economy), còn có một nguồn thanh khoản khác do các ngân hàng, chứ không còn là các thị trường, cung cấp: khả năng chắc chắn được cho vay. Khác với lí thuyết về nền kinh tế vay nợ nhấn mạnh đến việc tài trợ ex post, nói cách khác là khoản vay được, lí thuyết về nền kinh tế thấu chi nhấn mạnh đến khiá cạnh ex ante: khả năng đi vay. Đây không phải là một tình thế thật sự đã xảy ra, nhưng chỉ là một khả năng, một tiềm năng, do đó có việc qui chiếu về ví dụ thấu chi. Khả năng phải được bảo đảm, và tự động, nghĩa là không có khả năng bị đặt lại thành vấn đề và chính vì lí do này mà có sự tương đương, trên quan điểm của thanh khoản, giữa việc nắm giữ tài sản dễ đổi thành tiền mặt và khả năng thấu chi. Vả lại, còn hơn cả thấu chi chính sự thấu chi được xác nhận là ví dụ tốt nhất của hình thức thanh khoản mới này.

Do đó thanh khoản được các thị trường hoặc các ngân hàng cung cấp. Nhưng cần phải chính xác hơn; chính sự tồn tại một thị trường thứ cấp là cần thiết để cho tài sản là thật sự thương thảo được và dễ đổi ra tiền mặt (thị trường sơ cấp đảm bảo việc tài trợ chứ không đảm bảo tính thanh khoản); còn chính sự can thiệp của các ngân hàng mới là quan trọng. Nếu không có thị trường thứ cấp hoặc thị trường này quá hẹp, thì những tài sản được gọi là dễ đổi ra tiền mặt vẫn chỉ đơn giản là những phương tiện thanh toán và không có bất kì vai trò thanh khoản nào cả. Tương tự như thế, nếu sự hỗ trợ của ngân hàng là tuỳ nghi thì chúng chỉ là một thủ tục tài trợ.

▶ FISHER I., The Theory of Interest (1930), New York, A. M. Kelley, réed. 1961. – HICKS J.,“Liquidity”, Economic Journal, 1962, p. 787-802; The Crisis in Keynesian Economics, Oxford, Basil Blackwell, 1974. – JONES R. A. & OSTROY J. M., “Flexibility and uncertainty”, Review of Economic Studies, 1984, p. 13-32. – KEYNES J. M., A Treatise on Money (1930), London, Macmillan (Collected Writings of Keynes, t. 5 et 6); The General Theory of Employment, Interest and Money (1936), trad. fr., Théorie générale de lemploi, de lintérêt et de la monnaie, Paris, Payot, 1968. – KOLM S. C., Les choix monétaires et financiers, Paris, Dunod, 1965. – LIPMAN S. A. & MACCALL J. J., “An operational measure of liquidity”, American Economic Review, 1986, p. 43-55. – MENGER K., “On the origin of money”, Economic Journal, 1892, vol. 2, p. 239-255. – TOBIN J., “Liquidity preference as behavior towards risk”, Review of Economic Studies, 1958, 25.

Jean-FranVois GOUX

Giáo sư đại học Lumière (Lyon 2)

Nguyễn Đôn Phước dịch

® Đại lượng tổng gộp tiền tệ; Học thuyết Keynes; Học thuyết trọng tiền; Lãi suất; Thị trường tài chính; Thị trường tiền tệ; Tiền mặt thực tếTiền tệ.

Nguồn: Dictionnaire des sciences économiques do Claude Jessua, Christian Labrousse và Daniel Vitry chủ biên, Paris, Presses Universitaires de France, 2001.

———————&&&——————-

Homo oeconomicus [Con người kinh tế]

Homo oeconomicus [Con người kinh tế]

(Tác giả: Denis Clerc – Nguồn: phantichkinhte123.com)

02/09/2017 │ Hồ sơ đặc biệt n°006

Có vẻ như thuật ngữ homo oeconomicus ra đời vào cuối thế kỷ XIX dưới ngòi bút của John Stuart Mill ít lâu trước khi ông mất, để phê phán phân tích của Stanley Jevons, người mà khi xuất bản cuốn The Theory of Political Economy [Lý thuyết kinh tế chính trịvào năm 1871, đã đặt nền tảng cho phân tích “tân cổ điển”. Thật vậy, Mill đã ưu tiên (giống như tất cả các nhà kinh tế học cổ điển) cho cách tiếp cận kinh tế vĩ mô, trong trường hợp của ông có nhuốm màu sắc xã hội, trong cuốn Principes d’économie politique [Các nguyên lý của kinh tế chính trị] (1848) rằng “luật pháp cần đảm bảo trợ giúp người nghèo hợp pháp hơn là dựa vào công tác từ thiện của các tổ chức tư nhân”. Vilfredo Pareto đã lặp lại cụm từ đó trong cuốn Manuel d’économie politique [Chuyên luận kinh tế học chính trị] từ năm 1906 để bảo vệ lập luận nói trên: “Cơ học thuần lý, khi quy giản các vật thể thành những điểm vật chất tầm thường, và kinh tế học thuần túy, khi quy giản con người thực thành con người kinh tế, đều sử dụng những khái niệm trừu tượng hoàn toàn tương tự.” Homo oeconomicus, một sự đơn giản hữu ích hay có tính đánh lừa?

Homo oeconomicus: chúng ta đang nói về cái gì

Bernard Maris

Thuật ngữ này đề cập đến con người duy lý, sử dụng những nguồn lực mà mình có được để tìm kiếm sự hài lòng (hoặc “lợi ích”) cao nhất có thể. Lợi ích này không thể quy giảnthành sự tiêu thụ: lợi ích có thể bao gồm một tặng phẩm, một sự trợ giúp người khác hoặc bất kỳ ứng xử vị tha nào khác mang lại sự hài lòng cho người thực hiện nó. Điều mà Bernard Maris, trong cuốn Plaidoyer(impossible) pour les socialistes [Sự biện hộ (bất khả) cho các nhà xã hội chủ nghĩa](Albin Michel, 2012), diễn giải như sau:homo oeconomicus là “con người của Adam Smith, của Marx; con người của dòng nước băng giá của sự tính toán ích kỷ. Ích kỷ. Ái kỷ. Chỉ nghĩ về bản thân. Thực hiện điều tốt cho xã hội từ sự ích kỷ cá nhân. Thói xấu riêng tư, đức hạnh công cộng. Homo oeconomicus đánh cược canh bạc tự do: con người mang tính xấu, nhưng sự cân bằng các điều độc ác làm nên hạnh phúc công cộng.”

Hôn nhân, gia đình, những tính toán

Một ngày nào đó, nếu có ai thấy cần dựng tượng để vinh danh homo economicus, không có gì phải nghi ngờ: phải tạt tượng đó với khuôn mặt của Gary Becker. Bởi vì theo nhà kinh tế học người Mỹ, giáo sư tại Đại học Chicago, cách tiếp cận đặc trưng cho homo oeconomicus có thểứng dụng cho tất cả các hành vi con người, cho dù các hành vi này liên quan đến […] nhữngquyết định lớn hoặc nhỏ, người giàu hoặc người nghèo, người lớn hoặc trẻ em, người ngu dốt hoặc thông minh, bác sĩ hoặc bệnh nhân, chính trị gia hoặc doanh nhân, giáo viên hoặc sinh viên[1].” Hôn nhân, gia đình, tội phạm, đào tạo huấn luyện…, tất cả mọi thứ đều xuất phát từ những lựa chọn được thực hiện một cách duy lý bởi những cá nhân tìm kiếm lợi ích cao nhất có thể: “Những người kết hôn […] hy vọng sẽ nâng cao mức độ lợi ích của mình cao hơn những lợi ích khi sống độc thân”, ông đã viết như vậy vào năm 1973 trong “Une théorie du mariage[Lý thuyết về hôn nhân]”[2]. Điều được Kenneth Boulding[3], khi bài xích “nỗ lực của khoa học kinh tế để hấp thụ tất cả các khoa học xã hội khác”, gọi bằng “chủ nghĩa đế quốc kinh tế”. Nhưng đó là chính cách tiếp cận đã làm cho Becker được trao “Giải thưởng về khoa học kinh tế để tưởng nhớ Alfred Nobel” năm 1992, vì “đã mở rộng lĩnh vực của phân tích kinh tế vi mô sang một số lớn các hành vi của con người”.[4]

Homo oeconomicus: một hành vi bình thường

Homo oeconomicus có lẽ là một con người huyền thoại, một phát minh của các nhà kinh tế học. Nhưng đó là một phát minh không hơn không kém những định luật vật lý liên quan đến cách thức hoạt động của các nguyên tử hoặc các điện tử. Cũng giống như homo oeconomicus, các định luật này thường là những định luật mang tính thống kê về một cách thức hoạt động “trung bình”, mà không có ý định mô tả cách thức hoạt động thực sự của từng hạt.”

Gary Becker (1930-2014)

Ví dụ, đối với Becker, tội phạm là một lựa chọn duy lý của một người khi so sánh lợi ích được kỳ vọng từ việc phạm tội với xác suất bị kết án với mức độ nặng nhẹ của bản án: mức phạt càng nặng, thì những người bị cám dỗ ít dám hành động [phạm tội]. Tương tự, điều duy lý là phụ nữ nên chăm sóc gia đình và con cái, bởi vì từ bỏ (toàn phần hoặc từng phần) công ăn việc làm là mất mát ít hơn do tiền lương của phụ nữ thấp hơn tiền lương của nam giới. Chúng ta hiểu rằng phần công trình này của Becker, ngày nay, ít được đánh giá cao so với công trình của ông về vốn con người[5] và công tác đào tạo, mà từ nay là một chương quan trọng của cách tiếp cận tân cổ điển: một người theo đuổi việc học khi mà các lợi ích được mong đợi cao hơn các chi phí phải gánh chịu (trong đó có việc mất thu nhập gắn với việc không đi làm).

Homo oeconomicus: một phần (thiểu số?) của con người

“Giám đốc của một trung tâm truyền máu, muốn gia tăng ngân hàng máu của mình, vào một ngày, đã có ý tưởng thưởng tiền cho người hiến máu. Trước sự kinh ngạc của ông, kết quả hoàn toàn trái ngược: số lượng máu hiến giảm sút. Lý do không có gí là bí ẩn. Người hiến máu muốn chứng tỏ tính cao thượng của mình. Họ quen sống với một hành vi có tính đạo đức, quan tâm đến người khác. Việc trả tiền [hiến máu] cho họ làm thay đổi mọi thứ. Nếu không phải vì mục đích giúp đỡ người khác mà là vì mục đích kiếm tiền, thì sự tham gia [hiến máu] của họ đã thay đổi bản chất. Một thùy khác của bán cầu não của họ đã bị đánh động. Con người đạo đức rời khỏi phòng khi con người kinh tế bước vào. Cả hai đều có vai trò của họ, nhưng không thể ngồi cùng bàn với nhau.”

Điều chắc chắn, theo Becker, là “sự lựa chọn duy lý” không hàm ý sự hiểu biết đầy đủ về hậu quả của sự lựa chọn đó. Trong thực tế, việc đánh giá tất cả những chi phí và lợi ích của sự lựa chọn đó đòi hỏi phải thu thập rất nhiều thông tin không nhất thiết có thể truy cập được hoặc biết được. Đến một lúc nào đó việc thu thập các thông tin này sẽ tốn kém hơn những gì nó mang lại. Vì vậy, có một ngưỡng mà nếu vượt qua chúng ta không đáng bõ công nữa để tìm hiểu, đó là “sự ngu dốt duy lý”. Khi lập luận về mặt lợi ích, không phải về mặt thu hoạch,Becker cho rằng nếu một người rất nhạy cảm với những khó khăn của người khác, thì họ sẽ cảm thấy hài lòng khi giúp đỡ người này. Nhưng họ sẽ không đi quá xa đến việc dốc hết của cho người khác. Vì vậy, khả năng giúp đỡ chuyển biến theo thu nhập của họ, cho nên người nghèo có lợi khi người giàu giàu hơn.

Còn các yếu tố quyết định có tính xã hội hoặc bắt chước?

Cách tiếp cận này đã dấy lên nhiều phê phán. Khả năng làm sáng tỏ những hành vi thực tế là vấn đề còn tranh cãi: ví dụ, những nước có mức phạt hình sự nặng nhất (án tử hình) cũng là những nước có tội phạm hình sự nhiều nhất, trong khi sự gia tăng tình trạng bất bình đẳng thường không đi kèm với sự gia tăng lòng từ tâm bác ái. Ngoài ra, sự vận hành của xã hội được cho là có nguồn gốc từ các quyết định kinh tế mang tính cá nhân theo kiểu duy lý (kể cả đối với vấn đề thời trang và phân biệt đối xử), một điều làm loại bỏ tất cả những phân tích ủng hộ các yếu tố quyết định về mặt xã hội (trong quá trình đào tạo, ví dụ) hoặc bắt chước (như sự vận hành của các thị trường tài chính).

Homo oeconomicus: một cá nhân ích kỷ

Homo oeconomicus tượng trưng cho nguyên mẫu của cá nhân ích kỷ: sự ích kỷ, là sự quan tâm đến bản thân, hiểu theo nghĩa quan tâm đến những điều duy nhất ảnh hưởng trực tiếp đến phúc lợi của cá nhân, không thông qua trung gian của những người khác. Trong ngôn ngữ hàng ngày, chúng ta nói rằng homo oeconomicus là con người kiên quyết không quan tâm đến hoàn cảnh của người khác. […] Hành động của người ích kỷ phản ánh sự xem nhẹ những hiệu ứng gián tiếp của những quyết định cá nhân mang tính ích kỷ đối với lợi ích chung. […] Phân tích kinh tế cũng chỉ ra rằng sự hợp tác là một giải pháp có thể cho những thiệt hại gây ra bởi sự thiếu quan tâm đối với lợi ích chung.”

Albert Hirschman (1915-2012)
Tomáš Sedlácek (1977-)

Lập luận về mặt lợi ích rất dễ diễn đạt về mặt toán học (chỉ cần một chữ cái, u chẳng hạn), nhưng nội dung của nó thì, trong trường hợp tốt nhất, mang tính bí ẩn – sự thỏa mãn, phúc lợi, cuộc sống sung túc, sự hài lòng, hạnh phúc?, – hoặc trong trường hợp tồi tệ nhất là quy giản chỉ còn phần đo lường được bằng tiền – thu hoạch, thu nhập, tài sản… Như nhà kinh tế học người Tiệp Tomáš Sedlácek[6] đã viết: “Khi một người mẹ không chăm sóc con mình, thì nhà kinh tế học sẽ nói một cách khéo léo rằngngười mẹ không chăm sóc con mình bởi vì bà ấy có một lợi ích từ việc không chăm sóc con mình.” Như vậy lợi ích đóng vai trò của lá phổi như trong vở hài kịch Le malade imaginaire [Bệnh giả tưởng], một biện minh chưa được kiểm chứng của sự khẳng định dứt khoát của “con người khoa học”. Và Tomáš Sedlácek kết luận: “Niềm tự hào của các nhà kinh tế học, việc cho rằng mô hình homo oeconomicus bao gồm tất cả các khả năng và do đó có thể giải thích tất cả mọi thứ, trên thực tế phải là điều xấu hổ lớn nhất của họ. Nếu chúng ta có thể giải thích mọi thứ bằng một từ ngữ hoặc một nguyên lí mà mình không biết ý nghĩa, thì chúng ta nên tự hỏi chúng ta đang giải thích điều gì trong thực tế.”

Lời phê phán này cũng đã được phát triển trên một lĩnh vực khác: liệu sự lựa chọn có được hướng dẫn bởi sự tính toán duy lý hay bị ảnh hưởng, hoặc thậm chí bị áp đặt bởi nhiều tiêu chí khác, như áp lực xã hội, ghen tị, giáo dục, tín ngưỡng, v.v., như Albert Hirschman đã suy nghĩ: “Những thiệt hại do cách tiếp cận kinh tế”, dựa trên mô hình truyền thống về lợi ích cá nhân, gây ra, […] là vì mô hình quá đơn giản này về hành vi con người nói chung. Điều cần thiết là các nhà kinh tế phải kết hợp trong phân tích của họ, khi cần thiết, những cảm xúc và tính cách cơ bản như sự ham muốn quyền lực và sự hy sinh, nỗi sợ buồn chán, niềm vui của sự dấn thân và sự bất ngờ, sự tìm kiếm ý nghĩa và tình đoàn kết, v.v..[7]

John M. Keynes (1883-1946)

Phê phán này tương tự như phê phán củaKeynes, người mà vào năm 1937, một năm sau khi xuất bản La théorie générale de l’emploi, de l’intérêt et de la monnaie[Lý thuyết tổng quát về việc làm, tiền lãi và tiền tệ], đã viết cho Roy Harrod, cộng tác viên của ông: “Tôi cũng muốn nhấn mạnh đến ý tưởng cho rằng kinh tế học là một khoa học đạo đức. Tôi đã chỉ ra rằng kinh tế học đề cập đến vấn đề nội quan và các giá trị. Tôi có thể nói thêm rằng kinh tế học đề cập đến vấn đề động lực, những kỳ vọng, những bất trắc về tâm lý.”[8] Vì vậy, cuộc tranh luận được Mill khơi mào khó mà kết thúc!

Denis Clerc

Nhà sáng lập báo Alternatives Economiques

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

NguồnL’homo oeconomicusAlternatives Economiques, 02/09/2017.

[1] Trong The Economic Approach to Human Behaviour [Cách tiếp cận kinh tế về hành vi con người], The University of Chicago Press, 1976, bản dịch và trích dẫn của Nicolas Bouzou trong Les mécanismes du marché [Các cơ chế thị trường], Bréal, 2006.

[2] Xem Textes fondateurs en sciences économiques depuis 1970 [Các bài viết nền tảng về khoa học kinh tế từ năm 1970], của Maya Bacache-Beauvallet và Marc Montoussé, Bréal, 2003, trang 24.

[3] Tác giả tiên phong trong việc phân tích các mối quan hệ giữa môi trường và nền kinh tế. Theo John K. Galbraith (xem Une vie dans son siècle. Mémoires [Hồi ký: Một đời người trong thế kỷ] (1981), bản dịch của Daniel Blanchard, La Table ronde, 2006), Boulding là “nhà kinh tế học thuộc thế hệ của [John K. Galbraith] mà người ta khó có thể gán cho là dị giáo và là một trong những nhà kinh tế học thú vị nhất”.

[4] Xin chú ý sự khác biệt tinh tế: Becker đã viết “tất cả các hành vi” trong khi ban giám khảo của Ngân hàng Thụy Điển dùng cụm từ “một số lớn”. Chủ nghĩa đế quốc, là điều chắc chắn, nhưng được làm dịu bớt.

[5] Không có cuốn sách nào của Becker được dịch sang tiếng Pháp. Tuy nhiên, trong Dictionnaire des grandes oeuvres économiques [Từ điển các tác phẩm kinh tế vĩ đại] (Dalloz, 2002), Louis Lévy-Garboua viết một bài dành cho cuốn sách Human Capital [Vốn con người] của Becker (1964).

[6] Trong L’économie du bien et du mal [Kinh tế học của điều tốt và điều ác], bản dịch của Michel Le Séach, Eyrolles, 2013, trang 229.

[7] Trong L’économie comme science morale et politique [Kinh tế học như một khoa học đạo đức và chính trị], bản dịch của Pierre Andler et al., Gallimard/Le Seuil, 1984, trang 107.

[8] Thư được Gilles Dostaler trích dẫn trong Keynes et ses combats [Keynes và các cuộc chiến của ông], Albin Michel, 2009, trang 153.

———————–&&&———————-

Robot 5 bậc tự do của Việt Nam phục vụ đào tạo

Robot 5 bậc tự do của Việt Nam phục vụ đào tạo

(Nguồn: https://vnexpress.net)

So với robot nhập, sản phẩm của Việt Nam có giá bằng một nửa nhưng đáp ứng đầy đủ các chức năng trong đào tạo về robotics.

Trong dây chuyền sản xuất công nghiệp, các tay máy và robot đã được sử dụng rộng rãi nhằm thay thế sức lao động con người, nâng cao năng suất và tính cạnh tranh của sản phẩm. Tại Việt Nam, việc sử dụng robot còn hạn chế, do giá thành đắt và đòi hỏi người sử dụng phải nắm vững kỹ thuật cần thiết. Vì vậy, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực phát triển và sử dụng là nhiệm vụ cấp thiết.

Nhiều đại học, cao đẳng và dạy nghề về công nghệ – kỹ thuật đã có chương trình đào tạo về robot, nhưng sinh viên chủ yếu được học lý thuyết, mô phỏng và ít có điều kiện thực hành. Một số trường có ít robot thực hành nhập từ nước ngoài cũng gặp khó khăn trong sửa chữa, bảo hành do phụ thuộc vào nhà cung cấp.

Từ thực tế trên, nhóm nghiên cứu thuộc Công ty Robotics Việt Nam đã thực hiện công trình “Hoàn thiện công nghệ chế tạo robot phục vụ đào tạo”. Dự án nằm trong Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020 của Bộ Khoa học và Công nghệ.

Sau hai năm thực hiện, nhóm đã tạo ra robot 5 bậc tự do VNR -T1 kiểu khớp xoay dạng đứng trọng lượng 15 kg, có kích thước để bàn, làm việc trong bán kính tối đa 610 m. Các khớp xoay của robot được dẫn động bằng các động cơ và bộ điều khiển có tính chính xác cao.

Robot đáp ứng các kiểu thực hành như một robot công nghiệp hoạt động độc lập, hoặc được điều khiển từ máy tính, đào tạo qua mạng.

Robot 5 bậc tự do.

Robot 5 bậc tự do.

Kỹ sư Lê Anh Kiệt, Giám đốc công ty Robotics Việt Nam cho biết, khác với robot đào tạo của các hãng tiên tiên trên thế giới, cấu hình của robot VNR-T1 cho phép học viên can thiệp vào cả hệ cơ khí (tháo lắp) và hệ điều khiển thông qua giao diện người dùng (hệ thống mở). Tùy vào mục đích hay nhiệm vụ, học viên sẽ tương tác với hệ thống thông qua phím điều khiển, nhập dữ liệu hoặc lập trình điều khiển, khảo sát các giải thuật và giám sát kết quả trên màn hình máy tính.

Người dùng có thể điều khiển từ xa robot “made in Vietnam” từ máy tính bảng hoặc điện thoại thông minh qua công nghệ bluetooth. Hệ thống xây dựng nhiều bài thực hành giúp sinh viên tiếp thu tốt hơn các môn học. Robot được cấu tạo từ nhiều phụ kiện có khả năng thay thế ngay ở trong nước để phục vụ hiệu quả công tác bảo trì, sửa chữa trong quá trình sử dụng.

Theo nhiều chuyên gia trong lĩnh vực tự động hóa, robot này có khả năng kết nối dây chuyển sản xuất linh hoạt, khả năng phát triển thành robot công nghiệp, trong khi giá thành rẻ chỉ bằng 40% thiết bị ngoại nhập.

Dự án đã chế tạo và chuyển giao cho hơn 10 trường ở TP HCM, Hà Nội, Huế, Bình Dương, Nam Định như Đại học Việt Đức, Đại học Bách khoa Hà Nội, Cao đẳng Công nghiệp Huế… và cung cấp cho một số công ty về thiết bị đào tạo.

Ông Kiệt cho biết, công ty đang tiếp tục hoàn thiện sản phẩm robot VNR-T1 theo hướng chọn vật liệu và gia công để giảm trọng lượng và giá thành, mở rộng thêm các bài thực hành trên hệ thống robot 5 bậc tự do.

Nhóm cũng thực hiện các nghiên cứu phát triển sản phẩm robot 6 bậc tự do có độ chính xác cao, cho phép xử lý đối tượng một cách tự do trong không gian ba chiều, mô phỏng đầy đủ hoạt động của cánh tay người.

Từ nền tảng này, công ty sẽ triển khai các ứng dụng trong công nghiệp như lắp ráp, mài – đánh bóng, hàn sản phẩm và đặc biệt – ứng dụng cho đào tạo.

Phạm Hương

——————-&&&——————

Nửa thế kỷ trí tuệ nhân tạo

Nửa thế kỷ trí tuệ nhân tạo

(Tác giả: Hồ Tú Bảo – Nguồn: http://tiasang.com.vn)

[04/09/2008]

Trí tuệ nhân tạo là một lĩnh vực của khoa học và công nghệ nhằm làm cho máy có những khả năng của trí tuệ và trí thông minh của con người, tiêu biểu như biết suy nghĩ và lập luận để giải quyết vấn đề, biết giao tiếp do hiểu ngôn ngữ và tiếng nói, biết học và tự thích nghi, … Hơn nửa thế kỷ qua, cùng với rất nhiều những thành tựu, ngành TTNT cũng có không ít những dự đoán không thành.

LƯỢC SỬ NGÀNH TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
Mong muốn làm cho máy có những khả năng của trí thông minh con người đã có từ nhiều thế kỷ trước, tuy nhiên TTNT chỉ xuất hiện khi con người sáng tạo ra máy tính điện tử (MTĐT). Alan Turing−nhà toán học lỗi lạc người Anh, người được xem là cha đẻ của Tin học do đưa ra cách hình thức hóa các khái niệm thuật toán và tính toán trên máy Turing−một mô hình máy tính trừu tượng mô tả bản chất việc xử lý các ký hiệu hình thức−có một đóng góp quan trọng và thú vị cho TTNT vào năm 1950, gọi là phép thử Turing.
Phép thử Turing là một cách để trả lời câu hỏi ‘máy tính có biết nghĩ không?’, được phát biểu dưới dạng một trò chơi. Hình dung có ba người tham gia trò chơi, một người đàn ông (A), một người đàn bà (B) và một người chơi (C). Người chơi ngồi ở một phòng tách biệt với A và B, không biết gì về A và B (như hai đối tượng ẩn X và Y) và chỉ đặt các câu hỏi cũng như nhận trả lời từ A và B qua một màn hình máy tính. Người chơi cần kết luận trong X và Y ai là đàn ông ai là đàn bà. Trong phép thử này, A luôn tìm cách làm cho C bị nhầm lẫn và B luôn tìm cách giúp C tìm được câu trả lời đúng. Phép thử Turing thay A bằng một máy tính, và bài toán trở thành liệu C có thể phân biệt được trong X và Y đâu là máy tính đâu là người đàn bà. Phép thử Turing cho rằng máy tính là thông minh (qua được phép thử) nếu như biết cách làm sao cho C không thể chắc chắn kết luận của mình là đúng. Tuy phép thử Turing đến nay vẫn được xem có tầm quan trọng lịch sử và triết học hơn là giá trị thực tế (vì con người vẫn chưa làm được máy hiểu ngôn ngữ và biết lập luận như vậy), ý nghĩa rất lớn của nó nằm ở chỗ đã nhấn mạnh rằng khả năng giao tiếp thành công của máy với con người trong một cuộc đối thoại tự do và không hạn chế là một biểu hiện chính yếu của trí thông minh nhân tạo.

Trăn trở về những chiếc máy tính thông minh đã thôi thúc nhiều nhà khoa học trong nhiều năm tiếp theo, để rồi TTNT−với tư cách là một khoa học độc lập−đã ra đời chỉ chừng 10 năm sau khi những chiếc máy tính đầu tiên được tạo ra để dùng chính vào việc tính toán (thực hiện các phép tính số học cộng trừ nhân chia và so sánh bằng nhau khác nhau).

Người ta vẫn lấy hội nghị mùa hè năm 1956 tại trường Dartmouth ở Mỹ làm sự kiện ra đời của ngành TTNT. Hội nghị đầu tiên này do Marvin Minsky và John McCarthy tổ chức với sự tham dự của vài chục nhà khoa học, trong đó có Allen Newell và Herbert Simon. Bốn người này luôn được coi là những người sáng lập của ngành TTNT. Nhiều người tham gia hội nghị Dartmouth sau này đã trở thành những thủ lĩnh về nghiên cứu TTNT trong nhiều thập kỷ, trong đó có giáo sư Donald Michie, một người tiên phong về TTNT ở châu Âu, người đã lập ra phòng thí nghiệm TTNT nổi tiếng tại đại học Edinburgh ở Anh. Chính tại hội nghị Dartmouth, McCarthy đã đề nghị tên gọi ‘artificial intelligence’. Mặc dù còn tranh cãi trong một thời gian, tên này vẫn được thừa nhận và dùng cho đến nay.
Ba trong bốn người sáng lập ngành TTNT đều ở tuổi 29 vào mùa hè 1956 tại Dartmouth (trừ Herbert Simon, người nhận giải Nobel năm 1978 về những đóng góp trong nghiên cứu về quá trình trợ giúp quyết định trong kinh tế, năm đó 40). Những người sáng lập ngành TTNT đều lần lượt được nhận giải Turing của ACM (Hội Tin học lớn nhất thế giới)−được xem là giải Nobel của Tin học, mỗi năm thường chỉ trao cho một người: Minsky (1969), McCarthy (1971), Newell và Simon (1975). Tính đột phá của tuổi trẻ và tài năng đã thôi thúc họ nghĩ đến, đặt ra và đi tìm lời giải cho những vấn đề nền tảng của TTNT, như đề xuất Dartmouth cho những người làm nghiên cứu về TTNT: “mọi khía cạnh của khả năng học tập cũng như mọi tính chất khác của trí thông minh đều có thể mô tả được thật chính xác sao cho có thể làm ra máy để thực hiện chúng”, hoặc giả thuyết của Newell và Simon tiên đoán bản chất của trí thông minh là việc điều khiển ký hiệu: “mọi hệ ký hiệu hình thức đều có các cách cần và đủ để thực hiện các hành động thông minh phổ quát”.

Một chuyện được quan tâm nữa là liệu máy có mô phỏng được bộ não con người? Một số người khi này đã quả quyết rằng về mặt công nghệ hoàn toàn có thể sao chép y chang bộ não người vào phần cứng và phần mềm máy tính, và do vậy bộ não mô phỏng trong máy tính hầu như hoàn toàn giống bộ não thật. Nhiều hệ lập luận tổng quát hay các hệ hiểu ngôn ngữ con người (thường được gọi là ‘ngôn ngữ tự nhiên’) như ELIZA hay SHRDLU (tên này được ghép từ sáu chữ cái xuất hiện nhiều nhất trong tiếng Anh) được phát triển trong thời gian này. Rất lạc quan, năm 1965 Simon tuyên bố: “Máy móc trong vòng hai mươi năm nữa sẽ có khả năng làm tất cả mọi việc con người làm”, hoặc năm 1967 Minsky tiên đoán: “Quãng một thế hệ nữa, việc tạo ra trí thông minh nhân tạo sẽ cơ bản được giải quyết”.
Tuy nhiên nhiều mong đợi đã không đến. Những tiên đoán này và nhiều tiên đoán khác đã không thành sự thật. Các hệ thông minh vạn năng dựa trên lập luận hình thức đã không thành công. Sau hơn một thập kỷ của những hứng khởi và lãng mạn, thập kỷ 70 của thế kỷ trước là những năm thiên hạ thất vọng tràn trề về TTNT. Chính phủ Mỹ và Anh đã cắt bỏ nhiều đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực này.

Nhưng những thất bại ở giai đoạn này cũng giúp giới nghiên cứu hiểu rõ hơn những hạn chế tính toán của các hệ lôgích hình thức, hạn chế về những gì máy có thể làm được như đã chỉ ra bởi định lý Gödel về tính không đầy đủ, phát biểu năm 1931, rằng với mọi hệ hình thức đều có những mệnh đề đúng không thể chứng minh được. Con người cũng hiểu rõ hơn khả năng tính toán bằng máy phụ thuộc rất nhiều vào độ phức tạp tính toán của từng bài toán. Rất nhiều bí ẩn vẫn thách thức ở phía trước. Câu hỏi ‘P = NP?’ về độ phức tạp tính toán do Stephen Cook đặt ra năm 1971 đã trở thành một trong bảy bài toán thách đố của thế kỷ 21 do Viện Toán Clay công bố ngày 24.5.2000. (Nói nôm na, P là tập hợp các bài toán có thể giải trên máy với thời gian là một hàm đa thức của kích thước dữ liệu, còn NP là tập hợp con của tập non-P các bài toán được dự đoán là chỉ giải được với thời gian hàm mũ của kích thước dữ liệu, nhưng có đặc điểm là ta có thể kiểm chứng trong thời gian đa thức xem các nghiệm dự đoán của mỗi bài toán trong NP có thật sự là nghiệm hay không.) Rất nhiều vấn đề của TTNT liên quan đến bài toán này.
Những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước đã chứng kiến sự bắt đầu của một giai đoạn quãng 15 năm của sự hồi sinh, bùng nổ và thi đua quốc tế trong ngành TTNT. Ý tưởng cơ bản để phát triển TTNT khi này là sự thông minh của máy tính không thể chỉ dựa trên việc suy diễn lôgích mà phải dựa cả vào tri thức con người, và dùng khả năng suy diễn của máy để khai thác các tri thức này. Cốt lõi của TTNT có thể diễn giải bởi công thức
TTNT = Tri thức + Suy diễn

Thành quả và nỗ lực tiêu biểu trong giai đoạn này là sự phát triển của các hệ chuyên gia (expert systems). Mỗi hệ chuyên gia về cơ bản gồm hai thành phần: một cơ sở tri thức chứa các tri thức của chuyên gia trong một lĩnh vực và một cơ chế suy diễn logic nhằm vận dụng các hiểu biết này để giải quyết các vấn đề cụ thể, với hiệu quả như chính các chuyên gia giải quyết. Các hệ chuyên gia được nghiên cứu và xây dựng khắp nơi. Hai hệ tiêu biểu là DENDRAL và MYCIN. Hệ DENDRAL nhằm giúp các nhà nghiên cứu hóa học hữu cơ xác định các phân tử hữu cơ chưa biết dựa trên phân tích phổ của chúng và các tri thức hóa học. DENDRAL do Edward Feigenbaum−một học trò của Simon, người được coi là cha đẻ của các hệ chuyên gia và được giải Turing năm 1994−và đồng nghiệp làm tại Đại học Stanford từ cuối những năm 1960. MYCIN là hệ chuyên gia có cơ sở tri thức chừng 600 luật về y học có tính đến yếu tố bất định. Từ quãng những năm đầu của thập kỷ 90, khái niệm hệ chuyên gia được nhìn rộng hơn thành khái niệm các hệ dựa trên tri thức (knowledge-based systems) theo nghĩa cơ sở tri thức không nhất thiết cần hạn chế với tri thức chuyên gia. Ý thức được vai trò của tri thức trong các hành vi thông minh của máy, con người lại phải đối mặt với bài toán làm sao có được tri thức để máy dùng. Trở ngại này vốn luôn luôn là điểm ‘tắc’ trong sự phát triển TTNT.

Quãng 15 năm này là thời phát triển sôi nổi nhiều nội dung của TTNT: về xử lý ngôn ngữ tự nhiên, như việc dịch các văn bản từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác; về sự thăng hoa của các phương pháp mạng neuron, vốn ra đời từ 1957 dưới dạng các perceptron đơn giản nhưng bị thờ ơ khi con người nhận ra các hạn chế của chúng; về tính toán tiến hóa, tiêu biểu là các giải thuật di truyền; về các tác tử tự trị và thông minh, những thứ có vai trò rất lớn với TTNT trong những năm về sau, …
Một chuyện đáng nhớ trong giai đoạn này là cuộc thi đua quốc tế về TTNT, khởi nguồn từ đề án máy tính thế hệ thứ 5 FGCS (Fifth Generation Computer Systems) của Nhật Bản do Bộ Ngoại thương và Công nghiệp (MITI) phát động. FGCS kéo dài trong 10 năm (1982-1992) với kinh phí ban đầu 450 triệu USD vào năm 1982. Đề án FGCS nhằm làm ra các hệ máy tính có khả năng suy diễn và giao tiếp bằng ngôn ngữ tự nhiên trên nền tính toán song song. Mặc dù cuối cùng bị đánh giá là thất bại do không đạt được các mục tiêu, đề án FGCS đã kích thích một cuộc thi đua quốc tế trong giai đoạn hồi sinh của TTNT, đặt ra và thách thức nhiều vấn đề cho giới nghiên cứu trên toàn thế giới. Nước Mỹ đã dành một kinh phí tương đương với FGCS trong các dự án TTNT của DARPA (cơ quan quản lý các đề tài nghiên cứu tiên tiến của quốc phòng). Các cường quốc khoa học ở châu Âu như Anh, Pháp, Đức cũng có những đầu tư rất lớn cho TTNT.
Từ 1956 đến nay đã là chặng đường 50 năm. Ba giai đoạn ta vừa nói trong 40 năm đầu có thể gọi tên là ‘mơ ước’, ‘thất bại’ và ‘hồi sinh’. Vậy hơn mười năm qua TTNT đã ra sao?
Không thể nói đến sự phát triển của bất cứ lĩnh vực nào trong Tin học và CNTT nếu không liên hệ với hai sự kiện ‘đổi đời’: một là sự ra đời của công nghệ vi mạch và máy vi tính vào cuối những năm 1970 và hai là sự ra đời của Internet và sự hòa nhập của CNTT và truyền thông (ICT) vào đầu những năm 1990. Trong một chừng mực nào đấy, từ hơn mười năm qua có thể mở rộng công thức cơ bản của TTNT thành

TTNT = Tri thức + Suy diễn + Môi trường

Ở đây ‘môi trường’ là Internet, là các thiết bị liên lạc không dây, là các thiết bị tính toán và lưu trữ thông tin ngày càng nhỏ hơn và mạnh hơn.

Có thể thấy hai đặc trưng chính của TTNT trong hơn mười năm vừa qua. Thứ nhất là từ những thành bại trong giai đoạn hồi sinh, con người đã thấy rằng TTNT vẫn chỉ ở trong buổi đầu của sự phát triển, và bài học lớn nhất của những năm 1980 là TTNT không thể phát triển một mình, mà ngược lại những khả năng của TTNT cần phải và đã được hợp tác phát triển trong các hệ thống của CNTT và các khoa học khác. Thứ hai là nhiều lĩnh vực mới của TTNT đã ra đời và tiến triển sôi động theo sự thay đổi của môi trường tính toán và tiến bộ khoa học. Chẳng hạn sự xuất hiện của những hệ dữ liệu lớn với quan hệ phức tạp như dữ liệu Web, dữ liệu sinh học, thư viện điện tử, … đã là động lực ra đời các ngành khai phá dữ liệu, Web ngữ nghĩa, tìm kiếm thông tin trên Web. Thêm nữa, TTNT đã thâm nhập từ các khoa học vi mô như góp phần giải các bài toán của sinh học phân tử (tin-sinh học) đến các khoa học vĩ mô như nghiên cứu vũ trụ, rồi cả khoa học xã hội và kinh tế như phát hiện các cộng đồng mạng trong xã hội hay phân tích các nhóm hành vi. Cũng có thể chăng gọi những năm vừa qua của TTNT là giai đoạn ‘hòa nhập’?
Trong các thành công của TTNT giai đoạn này có sự kiện máy tính thông minh tranh tài với các kỳ thủ cờ vua, và đặc biệt máy tính Deep Blue của IBM với trí tuệ nhân tạo đã đánh bại nhà vô địch cờ vua thế giới Garry Kasparov vào năm 1997, và cuối năm 2006 máy tính Deep Fritz lại đánh bại nhà vô địch Kramnik.
Một lĩnh vực tiêu biểu của TTNT trong giai đoạn này là các tác tử thông minh. Tác tử (agent), theo nghĩa chung nhất, là một thực thể có khả năng hành động để thực hiện những nhiệm vụ được giao. Một người đưa hàng, một luật sư hay một điệp viên là những tác tử. Một robot cứu người sau động đất hay một robot hút bụi trong nhà là những tác tử. Một chương trình được cài trên máy tính để lọc thư rác hay một chương trình luôn xục xạo trên Internet để tìm những thông tin mới về một chủ đề là những tác tử. Nói nôm na, tác tử thông minh là những tác tử biết hành động với các phẩm chất của trí thông minh, tiêu biểu là biết nhận thức môi trường xung quanh và biết hướng các hành động tới việc đạt mục đích. Một robot hút bụi sẽ là thông minh nếu biết tìm đến các chỗ bẩn trong phòng để hút bụi và không đi tới những chỗ đã làm.
Nhìn nhận các phương pháp và phát triển TTNT theo quan điểm tác tử thông minh đang trở nên phổ biến trong những năm vừa qua. Nhiều người tin rằng, để thành công các hệ TTNT cần phải có khả năng tự hành động và hành động linh hoạt trong một môi trường thay đổi, không dự đoán được trước, chẳng hạn như Internet (đây chính là các yêu cầu cơ bản của các tác tử thông minh).

VÀI LĨNH VỰC CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
Có nhiều nội dung nghiên cứu và phát triển của TTNT, từ cách để máy có thể suy diễn lôgích và nhận thức, cách ra quyết định và giải quyết vấn đề, cách biểu diễn tri thức con người trong máy, cách lập kế hoạch hành động, hay cách máy biết tự học để tạo ra tri thức mới, … đến dịch tự động các ngôn ngữ, tìm kiếm thông tin trên Internet, robot thông minh. Ta nói về một vài lĩnh vực của TTNT có nhiều thay đổi trong những năm vừa qua.
Xử lý ngôn ngữ tự nhiên
Là việc làm cho máy có thể nhận biết và hiểu tiếng nói và ngôn ngữ của con người.
Liệu máy có thể nói được như người?
Đây là bài toán tổng hợp tiếng nói, tức việc làm cho máy biết đọc các văn bản thành tiếng người. Có thể hình dung nếu ta đưa cho máy các luật phát âm các âm tiết, bài toán này sẽ là việc áp dụng các luật này vào các âm tiết trong một từ để tạo ra cách đọc từ này. Đã có nhiều hệ thống tạo ra được giọng đọc tự nhiên của con người hoặc đọc giống giọng một người nào đấy, nhất là cho các ngôn ngữ được nghiên cứu nhiều như tiếng Anh. Nhưng vẫn cần rất nhiều thời gian để làm được như vậy cho các ngôn ngữ ít được nghiên cứu như tiếng Việt, hoặc làm cho máy thể hiện được buồn vui mừng giận khi nói như người.
Liệu máy có thể nhận biết được tiếng người nói?

Đây là bài toán nhận dạng tiếng nói, tức việc làm cho máy biết chuyển tiếng nói của người từ microphone thành dãy các từ. Dễ thấy đây là bài toán rất khó, vì âm thanh người nói là liên tục và các âm quyện nối vào nhau, vì mỗi người mỗi giọng, vì có các âm thanh khác nhiễu vào microphone, …. Với tiếng nói chuẩn, các hệ hiện đại cũng mới nhận dạng đúng được khoảng 60-70%. Đại thể, máy mới nhận biết tốt tiếng nói của từng người riêng biệt với lượng nhỏ từ vựng và phải ‘tập nghe’ với chính giọng của người đó. Với các phương pháp học thống kê trên các kho ngữ âm tốt, ta có thể sớm hy vọng vào các hệ nhận dạng tiếng nói thông minh và chính xác.
Liệu máy có hiểu được tiếng nói và văn bản của con người?
Hiểu ngôn ngữ là một đặc trưng tiêu biểu của trí tuệ và việc làm cho máy hiểu được ngôn ngữ là một trong vài vấn đề khó nhất của TTNT nói riêng và CNTT nói chung. Ta lấy thí dụ của Marvin Minsky năm 1992 khi lý giải tại sao vấn đề này lại khó và lĩnh vực này tiến chậm: “Xét một từ, chẳng hạn ‘sợi dây’. Ngày nay không một máy tính nào có thể hiểu nghĩa từ này như con người. Ta có thể kéo một vật bằng một sợi dây, nhưng không thể đẩy một vật bằng sợi dây. Ta có thể gói một gói hàng hoặc thả diều bằng một sợi dây, nhưng không thể ăn sợi dây này. Trong vài phút, một đứa trẻ nhỏ có thể chỉ ra hàng trăm cách dùng hoặc không dùng một sợi dây, nhưng không máy tính nào có thể làm việc này”.
Để hiểu nghĩa một câu, máy không chỉ cần biết nghĩa từng từ, mà trước hết phải biết phân tích được câu này về mặt ngữ pháp. Để làm việc này, đại thể máy phải tách câu thành các từ đơn lẻ hay cụm từ, nhận biết chúng là các loại từ gì, rồi xác định cấu trúc của câu, đoán nghĩa của từng từ, và giải nghĩa cả câu. Ngôn ngữ thường nhập nhằng đa nghĩa và điều này trở nên vô cùng khó với máy. Lấy một thí dụ quen thuộc của câu đơn giản ‘ông già đi nhanh quá’. Với hai cách phân tách từ và cụm từ thành (ông già)(đi)(nhanh quá) và (ông)(già đi)(nhanh quá), với các nghĩa khác nhau của động từ ‘đi’, của cụm từ ‘ông già’,… ta cũng có dăm cách hiểu câu nói trên. Làm sao để máy tự động hiểu đúng nghĩa một câu nói bất kỳ còn là một thách thức lâu dài của ngành TTNT.
Dịch tự động
Liên quan đến hiểu ngôn ngữ là việc dịch tự động từ tiếng này sang tiếng khác, chẳng hạn dịch câu ‘ông già đi nhanh quá’ sang tiếng Anh. Việc dịch này đòi hỏi máy không những phải hiểu đúng nghĩa câu tiếng Việt mà còn phải tạo ra được câu tiếng Anh tương ứng. Nhiều dự án dịch tự động đã được theo đuổi từ hàng chục năm qua, và chắc còn phải tiếp tục nhiều chục năm nữa để có được những hệ dịch tốt. Tuy nhiên, những tiến bộ gần đây của các phương pháp dịch thống kê trên các kho ngữ liệu lớn và tốt có thể cho phép đến một ngày ai cũng nhờ máy đọc được sách báo từ hàng chục thứ tiếng.
Tìm kiếm thông tin trên mạng
Đây là lĩnh vực có sự chia sẻ nhiều nhất giữa TTNT và Internet, và ngày càng trở nên hết sức quan trọng. Sẽ sớm đến một ngày, mọi sách báo của con người được số hóa và để lên mạng hay các thư viện số cực lớn. Giả sử ta muốn tìm những tài liệu liên quan đến việc ‘trí tuệ nhân tạo đóng góp vào việc nâng cao thành tích ở thế vận hội’. Nếu dùng Google để tìm với các từ khóa tiếng Anh ‘artificial intelligence’, ‘performance’ và ‘olympic’ hay dùng một hệ nào đó như Xalộ (http://www.xalo.com.vn/) để tìm với từ khóa tiếng Việt ‘trí tuệ nhân tạo’, ‘thành tích’, ‘thế vận hội’, ta sẽ nhận được rất nhiều tài liệu không phải thứ ta muốn tìm, cũng như có nhiều tài liệu liên quan không được tìm ra.
Có ít nhất hai cách để TTNT đóng góp vào việc giải bài toán này. Một là hệ tìm kiếm cho phép đưa vào câu hỏi ở dạng ngôn ngữ tự nhiên, phân tích để hiểu nghĩa câu hỏi và có cơ chế tìm kiếm các văn bản trong thư viện theo nghĩa này. Hai là hệ tìm kiếm sẽ mô hình các từ ‘trí tuệ nhân tạo’, ‘thành tích’, và ‘thế vận hội’, mỗi mô hình là một tập hợp nhiều từ khác kèm theo phân bố xác suất của chúng theo những quy luật thống kê. Thay vì tìm kiếm trên mạng hay trong thư viện với ba từ khóa, hệ sẽ tìm kiếm với ba tập hợp từ. Với các phương pháp ‘thông minh’ này, ta sẽ sống dễ dàng hơn trong không gian Internet mênh mông đầy bí ẩn.
Robot đá bóng và robot lái xe
RoboCup là một đề án nghiên cứu quốc tế từ 1995 nhằm phát triển TTNT, robot thông minh và các lĩnh vực liên quan. Chọn thi đấu bóng đá giữa các đội robot làm chủ đề nghiên cứu, đề án này hướng đến các sáng tạo công nghệ có nhiều ý nghĩa trong xã hội và công nghiệp. Với mục tiêu này, RoboCup đặt ra nhiều bài toán quan trọng đòi hỏi phải tích hợp nhiều công nghệ, như nguyên lý các tác tử tự trị, hợp tác đa tác tử, nhận biết chiến lược, lập luận thời gian thực, công nghệ robot, nhận dạng và xử lý các chuỗi hình ảnh liên tục trong thời gian thực, … Mục tiêu dài hạn của đề án RoboCup là đến năm 2050, sẽ làm được một đội người máy có thể thắng đội bóng đá vô địch thế giới. Một trong các ứng dụng chính của các công nghệ RoboCup là giải thoát nạn nhân trong các thảm họa. Có thể xem tin, hình ảnh và video của RoboCup tại http://www.robocup.org/.
Số người chết hằng năm ở Mỹ do tai nạn ôtô chỉ đứng sau số chết do bệnh tim và ung thư. Chế tạo được ôtô tự lái và an toàn cao là một mục tiêu được DARPA khởi xướng và hỗ trợ dưới dạng một cuộc thi mang tên ‘Thách thức lớn của DARPA’ (DARPA grand challenge). Cuộc thi cũng hướng đến sáng tạo các công nghệ tích hợp của thị giác máy, robot, lập kế hoạch tự động, học máy, lập luận,… để ôtô có thể tự chạy an toàn. Cuộc thi bắt đầu năm 2004 với yêu cầu xe tự đi 150 dặm qua sa mạc Nevada ở Mỹ. Có 106 đội tham gia, nhưng xe đi xa nhất chỉ được 7 dặm. Cuộc thi năm 2005 yêu cầu xe tự đi qua 132 dặm của sa mạc, đường khó hơn với hầm hẹp, dốc núi. Có 195 đội tham gia, và sau 6 giờ đua, hai đội của đại học Stanford và Carnegie Melon đã về nhất và nhì. Tháng 11.2007, cuộc thi chuyển qua lái trong thành phố với các vận động phức tạp như tránh xe khác, đỗ xe trong bãi, qua ngã tư, … tại Victorville, California với sự tham gia của 35 đội, thi qua nhiều vòng trong 8 ngày. Kết thúc cuộc đua, các đội của đại học Pittsburgh, Stanford, và Blackburg lần lượt giành các giải nhất, nhì và ba.
Sẽ đến một ngày, những chiếc ôtô chạy trên đường không cần người lái. Chỉ nói nơi muốn đến, xe sẽ đưa ta đi và đi an toàn.

TRÍ TUỆ NHÂN TẠO SẼ ĐI VỀ ĐÂU? 

Đây là câu hỏi không dễ trả lời, vì 50 năm qua ngành TTNT đã làm được rất nhiều và cũng không làm được rất nhiều những gì đã dự đoán. Dường như những người làm TTNT là những người lãng mạn nhất trong cộng đồng CNTT. Họ hay mơ ước, tưởng tượng và thách thức với những thứ của tương lai xa, và vì vậy cũng thường thất bại. Nhưng có điều to lớn nào khi đạt được lại không cần những con người như vậy?
Những bộ phim viễn tưởng của Hollywood hay tập trung vào người máy. Đấy thường là những người máy do con người trong một tương lai nào đấy tạo ra nhưng lại vượt ra khỏi tầm kiểm soát của con người, thay thế con người và thống trị thế giới. Hoặc như nếu đã xem bộ phim A.I. của Steven Spielberg mấy năm trước, hẳn ta không thể quên chú bé người máy David, tuy có trí tuệ nhân tạo vẫn luôn khát khao về một tình yêu của con người: “Mẹ ơi, hãy làm cho con thành một đứa trẻ thật”.

Những gì TTNT đang tạo ra ở đầu thế kỷ 21 này không làm con người phải sợ hãi, mà ngược lại đang từng bước đi vào cuộc sống hàng ngày của con người. Hiểu rõ về quá khứ, con người đang thiết kế và thực hiện những chương trình nghiên cứu lớn và định hướng, như khoa học về bộ não. Những gì Alan Turing nói năm 1950 vẫn có nghĩa trong thế kỷ 21 này: “Chúng ta chỉ có thể nhìn thấy một quãng đường ngắn trước mắt, nhưng chúng ta có thể thấy rất nhiều việc để làm”. Và với những gì con người đang làm, chúng ta có quyền nghĩ đến một ngày máy sẽ qua được phép thử Turing, trước khi TTNT đi hết chặng đường một thế kỷ.

——————&&&—————–

Điều gì xảy ra nếu toàn bộ thế giới được vận hành bằng blockchain?

Điều gì xảy ra nếu toàn bộ thế giới được vận hành bằng blockchain?

(Nguồn: http://cafef.vn)

Hãy tưởng tượng đến 1 thế giới mà trong đó các danh sách tự vận hành, không cần đến người giữ sổ và người giám sát. Đây cũng chính là thứ mà “blockchain” hứa hẹn, hệ thống làm nền tảng cho đồng tiền ảo bitcoin và những công nghệ phân phối sổ cái (distributed ledger technology) tương tự.

THE WORLD IF (tạm dịch: Thế giới nếu…) là chùm bài viết của tạp chí The Economist về những kịch bản có thể xảy ra trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học công nghệ… sẽ ảnh hưởng đến thế giới. Các giả định được đưa ra dựa trên chính những diễn biến của thế giới ở thời điểm hiện tại.

Thời gian gần đây, thế giới đang chứng kiến sự nổi lên mạnh mẽ của tiền ảo. Tuy nhiên tiền ảo mới chỉ là 1 phần, đằng sau nó là 1 công nghệ mang tính đột phá có thể thay đổi hoàn toàn cuộc sống của chúng ta – công nghệ blockchain.

Thế giới nếu: Ông Trump đắc cử Tổng thống Mỹ lần 2

Thế giới nếu: Toàn bộ người dân ngồi chơi cũng được phát tiền hàng tháng​

Economist: Thế giới sẽ có thêm 78 nghìn tỷ USD nếu các nước mở cửa biên giới

“Chúng ta thích những danh sách bởi vì chúng ta không muốn chết”, Umberto Eco, một tác gia người Italy đã viết như vậy. Nếu không có những danh sách theo dõi mọi thứ từ con người đến đồ vật, có lẽ các tổ chức lớn sẽ sụp đổ.

Danh sách được nhắc đến ở đây bao gồm cả những danh sách đơn giản đến những bảng dữ liệu phức tạp. Tuy nhiên chúng đều có điểm chung là chúng ta phải tin tưởng vào người giữ nó, và ở đây người quản trị sẽ có quyền lực. Kế toán trưởng có thể chỉnh sửa, bóp méo bảng cân đối kế toán hay thêm những cái tên vào bảng lương của công ty. Để tránh tình trạng người quản trị gian lận, chúng ta đang dựa vào nhiều công cụ, từ kiểm toán đến hội đồng giám sát.

Bây giờ hãy tưởng tượng đến 1 thế giới mà trong đó các danh sách tự vận hành, không cần đến người giữ sổ và người giám sát. Đây cũng chính là thứ mà “blockchain” hứa hẹn, hệ thống làm nền tảng cho đồng tiền ảo bitcoin và những công nghệ phân phối sổ cái (distributed ledger technology) tương tự.

Nói thêm về blockchain, một Blockchain là một cuốn sổ cái của nhiều hồ sơ được sắp xếp theo lô dữ liệu, sử dụng các thuật toán mã hoá để liên kết chúng lại với nhau theo thời gian. Điểm đặc biệt là những cái sổ cái không lưu trữ ở một nơi tập trung hoặc bị quản lý bởi bất kỳ một cá nhân cụ thể nào mà được phân phối trên nhiều máy tính. Bất cứ ai tham gia vào blockchain đều có thể tải về bản sao. Quan trọng nhất, bản chất phân tán khiến khả năng bị hack gần như không có. Để bẻ khóa, hacker cần truy cập tất cả phiên bản cùng lúc.

Vì những đặc tính ưu việt của blockchain, có thể tưởng tượng đến 1 ngày công nghệ này thống trị thế giới?

Đây không phải là lần đầu tiên 1 hình thức “lên danh sách” hoàn toàn mới thay đổi thế giới. Hơn 500 năm trước, kỹ thuật kế toán ghi sổ kép ra đời ở miền bắc Italy, đánh dấu 1 bước tiến lớn trong quá trình phát triển của các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế. Nhà xã hội học người Đức Werner Sombart thậm chí cho rằng kỹ thuật ghi sổ kép đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, cho phép mọi người chứ không phải riêng chủ doanh nghiệp theo dõi tình hình tài chính của doanh nghiệp đó.

Nếu như trong lịch sử kỹ thuật ghi sổ kép đã “giải thoát” các thương nhân khỏi nỗi lo về sổ sách kế toán, công nghệ blockchain sẽ “giải thoát” cho các tổ chức. Có lẽ đó không phải là điều mà Satoshi Nakamoto – người được cho là cha đẻ của đồng bitcoin – nghĩ ra từ đầu. Như những gì công bố năm 2008, mục tiêu của anh chỉ là tạo nên một phiên bản tiền điện tử phân phối theo dạng thức peer-to-peer và để làm như vậy người này đã tạo ra một loại cơ sở dữ liệu mới – blockchain.

Cơ sở dữ liệu này có thể cung cấp bằng chứng về sự sở hữu bất cứ lúc nào cũng như thông tin về lịch sử giao dịch của mỗi đồng tiền đã được đưa vào lưu thông. Việc mã hóa khiến gần như toàn bộ thông tin không thể được thay đổi sau khi đã đăng ký, và có nhiều bản sao được phân phối trên nhiều máy tính. Tất cả tạo nên mạng lưới blockchain công khai để bất kỳ ai cũng có thể kiểm tra khi có điều gì sai trái xảy ra. Quá trình mã hóa phức tạp chính là “người gác cổng” thay thế cho “người giữ sổ”, biến blockchain thành 1 thực thể độc lập.

Không chỉ là tiền ảo

Những bộ óc thông minh nhanh chóng cho rằng có thể sử dụng cơ chế tương tự cho nhiều thứ khác chứ không phải chỉ đối với tiền. Ethereum là 1 ví dụ. Hệ thống này cũng có 1 đồng tiền ảo giống như bitcoin với tên gọi ether, nhưng nó đã tiến thêm 1 bước khi cho phép người dùng sử dụng “hợp đồng thông minh”, những hợp đồng được tạo ra bởi hệ thống máy tính cho phép hai bên có thể tự đưa ra các điều khoản và thực thi thỏa thuận bằng công nghệ blockchain, không cần đến bên thứ ba.

Khi thầy tu dòng Francis Luca Pacioli viết cuốn sách giáo khoa đầu tiên về kỹ thuật ghi sổ kép vào cuối thế kỷ 15, ông đã không thể tiên đoán về những lợi ích to lớn mà kỹ thuật này mang lại. Tuy nhiên, ngày nay rất nhiều startup đã khẳng định rằng cuối cùng thì công nghệ blockchain sẽ thay đổi thế giới.

Công ty quản lý tài sản Everledger là 1 ví dụ. Công ty này đã đăng ký thông tin cho hơn 1 triệu viên kim cương để theo dõi chúng tốt hơn bằng công nghệ blockchain.

Một số công ty khác thì muốn sử dụng blockchain để theo dõi con người. Những em bé mới sinh sẽ được ghi vào những cuốn sổ cái trong blockchain, và mã được cấp cho mỗi người sẽ tương đương với giấy khai sinh. Nếu thông tin cá nhân của mọi người đều được đưa vào blockchain, họ sẽ kiểm soát thông tin của mình tốt hơn. Nếu 1 người đi thuê muốn chứng minh với chủ nhà rằng thu nhập của mình đủ cao để trang trải tiền thuê nhà, anh ta chỉ cần tiết lộ một số thông tin cần thiết thay vì phải cho chủ nhà xem toàn bộ lịch sử tín dụng như hiện nay.

Giáo sư Kevin Werbach của trường kinh doanh Wharton (ĐH Pennsylvania) thậm chí cho rằng blockchain còn cho phép con người lập ra những đất nước ảo với những luật lệ của riêng mình. Ra đời từ cuối năm 2014, đến nay, quốc gia ảo Bitnation đã có dân số khoảng 1.500. Bất cứ ai cũng có thể trở thành công dân, được cấp hộ chiếu ảo và còn có thể kết hôn, bất kể quốc tịch ngoài đời của họ. Các “công dân” được mã hóa, các giao dịch được thanh toán bằng tiền ảo.

Những “sổ cái số” có thể trở thành nguồn cung cấp sự thật đáng tin cậy. Ví dụ, 1 chiếc xe tham gia vào chuỗi blockchain sẽ có đầy đủ thông tin về xuất xứ, lịch sử sửa chữa và thậm chí những hành trình mà nó đã trải qua.

Georgia, Thụy Điển và Ukraine là những nước đang thử nghiệm công nghệ blockchain để quản lý đất đai. Bang Delaware của Mỹ, nơi phất lên nhờ thu hút được các công ty trên khắp thế giới đến đăng ký kinh doanh để tận dụng những chính sách ưu đãi hiếm có, cũng đang hướng tới sử dụng công nghệ blockchain.

Các giao dịch trên 1 blockchain có thể được sử dụng làm dữ liệu đầu vào cho những hợp đồng thông minh. Trong tương lai có thể xuất hiện những công ty ảo chỉ tồn tại trên nền tảng blockchain với những hợp đồng thông minh. Nỗ lực đầu tiên cho dạng này đã thất bại. Cách đây hơn năm, “The DAO” ra đời như một quỹ đầu tư mạo hiểm ảo. Nó đã huy động được hơn 160 triệu USD nhưng sau đó bị ăn cắp 60 triệu và phá sản. Tuy nhiên, một dạng đơn giản hơn là ICO – cách huy động vốn giống với IPO nhưng thay vì phát hành cổ phiếu các công ty sẽ phát hành mã token – đã cất cánh, hơn nữa còn làm dấy lên lo ngại về nguy cơ bong bóng.

Theo dạng thức gọi vốn tự động, các startup thiết lập hợp đồng thông minh trong Ethereum và phát hành “white paper” (hiểu nôm na là tài liệu giới thiệu). Sau đó nhà đầu tư có thể gửi tiền ảo ether đến hợp đồng thông minh, mã token sẽ tự động được tạo ra và có thể được giao dịch như các cổ phiếu. Tổng cộng hơn 550 triệu USD đã được huy động qua các vụ ICO. Tuy nhiên một số vụ ICO đã trở thành vụ lừa đảo.

Đến thời phi tập trung?

Albert Wenger, người đang làm việc tại quỹ đầu tư mạo hiểm Union Square Ventures (USV), cho rằng những tổ chức phi tập trung có thể thách thức các ông lớn công nghệ. Theo ông, xét đến cùng thì các ông lớn công nghệ hiện là những cơ sở dữ liệu tập trung khổng lồ. Nếu Amazon có lịch sử mua hàng thì Facebook sở hữu nhiều thông tin về người dùng và bạn bè của họ, trong khi Google có lịch sử duyệt web và tìm kiếm. “Những giá trị của các ông lớn công nghệ xuất phát từ hiện thực là họ kiểm soát gần như toàn bộ dữ liệu”, ông nói.

USV đang đầu tư vào chợ thương mại điện tử OpenBazaar. Thay vì phải truy cập vào website, người dùng sẽ down 1 ứng dụng kết nối trực tiếp họ với những người muốn mua bán hàng hóa dịch vụ. Quỹ còn đầu tư vào những startup xây dựng mạng xã hội dựa trên nền tảng blockchain cho phép người đóng góp nội dung kiếm tiền.

Trong thế giới vận hành bởi blockchain, đồ vật cũng có thể tự đưa ra quyết định. Cách đây vài năm, Mike Hearn, người từng phát triển bitcoin và hiện vẫn đang nghiên cứu về blockchain, đưa ra ý tưởng những chiếc xe tự lái hoàn toàn tự chủ. Với các hợp đồng thông minh, xe tự lái có thể kiếm tiền ảo sau khi trở khách, tự chi tiền sửa chữa hay thay thế linh kiện.

Khi đến cả đồ vật cũng có thể tự quyết định số phận của nó, vai trò của các Chính phủ sẽ là gì? Dù nhiều người mơ về viễn cảnh vô chính phủ, thực tế thì vẫn cần ai đó đảm bảo chắc chắn rằng thông tin được đưa vào blockchain là đúng. Ví dụ, ở Trung Quốc, các cơ quan chức năng cũng phải tham gia vào dự án thử nghiệm do IBM và Walmart thực hiện để đảm bảo mạng lưới cung cấp của Walmart minh bạch hơn.

Công nghệ blockchain sẽ giúp các chính phủ nhàn hạ hơn. Năm ngoái, chính phủ Dubai thông báo kế hoạch đưa tất cả các tài liệu lên blockchain vào năm 2020. Công nghệ sẽ tạo ra 1 hệ thống có chi phí khá rẻ mà các nước nghèo đang thiếu: 1 bộ máy lãnh đạo hoạt động hiệu quả hơn và có độ tin cậy cao hơn.

Dù blockchain đe dọa sẽ thay thế các NHTW, ngay từ đầu các thống đốc đã rất hào hứng với công nghệ này. Khi tất cả các ngân hàng có chung 1 sổ cái thay vì lưu trữ dữ liệu riêng rẽ, các nhà quản lý sẽ dễ dàng quan sát dòng tiền hơn. NHTW Canada và NHTW Trung Quốc đã thử nghiệm ý tưởng phát hành tiền ảo.

Nếu tiền điện tử thực sự thay thế tiền mặt, chính sách tiền tệ cũng sẽ đổi khác. Ví dụ, để kích cầu đối phó với khủng hoảng kinh tế, đồng tiền ảo sẽ được lập trình để giảm giá trị nếu như chúng không được tiêu trong 1 khoảng thời gian nhất định.

Công nghệ ngày nay vẫn chưa đủ phát triển để hỗ trợ cho những giả thiết nói trên. Các blockchain chưa thể nhận rộng (hệ thống bitcoin chỉ cho phép thực hiện 7 giao dịch mỗi giây, trong khi 1 mạng lưới thẻ tín dụng thông thường có thể thực hiện hàng nghìn giao dịch mỗi giây). Tuy nhiên, nếu nhìn vào lịch sử công nghệ, các rào cản này cuối cùng sẽ bị phá vỡ.

Một vấn đề lớn hơn là sự phản kháng của các định chế. Khi mọi thứ tự động vận hành thì một số người, một số bộ phận cũng mất đi quyền lực. Bên cạnh đó là rào cản về chính trị. Sau nhiều năm được đem ra bàn luận, đến nay bitcoin vẫn bị hoài nghi. Tuần trước Ủy ban chứng khoán Mỹ đã tuyên bố rằng hoạt động phát hành tiền ảo ICO nên được áp dụng một số yêu cầu an toàn giống như chứng khoán truyền thống.

Điều này dẫn đến câu hỏi lớn nhất: liệu có nên để blockchain vận hành thế giới? Đã xuất hiện một vài tiếng nói cảnh báo nhiều việc làm sẽ mất đi hoặc xã hội trở nên “điên loạn” vì những hệ thống blockchain lạnh lùng cứng nhắc và những hợp đồng quá đỗi thông minh. Và chắc chắn danh sách những mối lo sẽ ngày càng dài thêm.

Thu Hương

Theo Trí thức trẻ/Economist

———————-&&&————————