Niết bàn của các nhà kinh tế học (3): Các định lý

Niết bàn của các nhà kinh tế học (3): Các định lý

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Định lý bất khả của Arrow

Kenneth Arrow, nhà kinh tế học người Mỹ (1921-2017), là một thiên tài. Ông có thể nhận mười lần “giải thưởng Nobel về kinh tế” khi mà những đóng góp của ông cho phân tích kinh tế là rất đa dạng và sâu sắc. Nhưng ông chỉ nhận giải thưởng Nobel về kinh tế có một lần, vào năm 1972. Là một nhà kinh tế học tự do (hiểu theo kiểu Mỹ, có nghĩa là có tư tưởng khuynh tả), tân cổ điển nhưng có một số xu hướng theo chủ nghĩa can thiệp, ông rất khó để phân loại. Định lý của ông mang tính chính trị thực sự. Định lý đó dựa nhiều vào những gì được gọi là nghịch lý Condorcet. Đó là việc ba người cùng ăn sáng với nhau. Họ chỉ có một cái thìa để phết một cái gì đó lên lát bánh mì. Ségolène thích mứt dâu tây, không ghét mứt Nutella [mứt sô-cô-la hạt dẻ] và không thể ngửi được mùi mật ong. François rất thích mứt Nutella, không ghét mật ong, nhưng đặc biệt lại không thích mứt dâu tây. Cuối cùng, Nicolas rất thích mật ong, nhưng không thích mứt dâu tây và ghét mứt Nutella. Đầu tiên, bà chủ nhà giới thiệu mứt Nutella: đương nhiên là Nicolas từ chối, nhưng hai người kia thì đồng ý, một người với tất cả sự thích thú, và người kia với tâm trạng tự nhủ “dù sao đi nữa, tại sao không thử? Hãy thử mứt Nutella vậy”. Nhưng bà chủ nhà cũng có thể giới thiệu mứt dâu tây: sẽ có hai người chấp nhận và một người từ chối. Và nếu bà ấy giới thiệu mật ong, thì kịch bản cũng giống vậy, nhưng khác người lựa chọn. Nói tóm lại, do sự đa dạng của sở thích, sự lựa chọn cuối cùng phụ thuộc vào thứ tự mà các đề xuất được giới thiệu để tán thành hay không. Điều mà mọi chủ tọa có tiếp xúc một ít với chuyện điều hành việc công đều phải biết rằng: chương trình nghị sự là điều quan trọng.

Kenneth Arrow (1921-)

Nhưng Arrow rút ra một kết luận khác, không kém phần quan trọng. Do định luật đa số không nhất quán (không thể có một đa số nhất quán khi có hơn hai lựa chọn liên tiếp để chọn) do sở thích riêng của cá nhân, cách duy nhất để đạt được một sự lựa chọn tập thể có tính nhất quán là dựa vào một người độc tài nhân từ. Là người độc tài, ông ta sẽ không cần tranh thủ sự chấp thuận của người dân, nhưng là người nhân từ, ông ta sẽ quan tâm để cho các quyết định của mình tối đa hóa được phúc lợi của toàn xã hội. Chẳng hạn như chế độ độc tài thị trường. Arrow đã mở ra chiếc hộp Pandora: chế độ dân chủ đôi khi không có giá trị bằng thị trường. Ngoại trừ là, trên thị trường, Nicolas, Ségolène và François không cân nặng bằng nhau (Nicolas [Sarkozy], Ségolène [Royale] và François [Hollande] là tên của 3 ứng viên trong cuộc bầu cử tổng thống Pháp năm 2012 – ND).Định lý bất khả, nếu đi đến cùng, chỉ có thể được chấp nhận trong kinh tế nếu tình trạng bất bình đẳng được giảm thiểu.

Định lý Coase

Ronald Coase (1910-2013)
George Stigler (1911-1991)

Ronald Coase (1910-2013), nhà kinh tế học người Anh, được trao “Giải thưởng Nobel về kinh tế” vào năm 1991 nhờ định lý này, định lý đã được một nhà kinh tế khác được “Giải thưởng Nobel” vào năm 1982, George Stigler, đặt tên. Trong một dòng sông cá hương, đó là sự tàn phá: một xưởng thuộc da đe dọa đặt cơ sở chế biến trên thượng nguồn và gây ô nhiễm cho dòng sông. Một thảm kịch đối với những người đam mê câu cá hương. Họ có thể nỗ lực cầu cứu sự can thiệp của các cơ quan chức năng để áp đặt các quy định bảo vệ [môi trường]. Nhưng điều đó sẽ mất nhiều năm và sẽ làm phật lòng một bộ phận dân cư mà đối với họ xưởng thuộc da tượng trưng cho những việc làm mới.

Một giải pháp khác là hiệp hội những người câu cá – bao gồm khoảng một trăm người – sẽ tiến hành đàm phán với người chủ xưởng thuộc da để người này xây dựng một bể xử lý nước thải hiệu quả. Do cuộc đàm phán có thể được tiến hành giữa ​​hai thực thể – doanh nghiệp và hiệp hội – các “chi phí giao dịch” sẽ được giảm thiểu: chẳng hạn như người chủ xưởng không phải đi gặp từng người câu cá một để thương lượng với họ về một sự đóng góp cho kinh phí xây dựng bể xử lý nước thải, do từng người sẽ cố thoái thác trách nhiệm cho các đồng nghiệp của mình. Người ta sẽ nhanh chóng tìm ra một thỏa thuận dân sự: tất cả các bạn sẽ tài trợ cho bể xử lý nước thải và tất cả các bạn có thể tiếp tục đánh bắt cá.

Vì vậy, định lý Coase rất đơn giản: nếu các chi phí giao dịch thấp hoặc bằng không và có các quyền sở hữu rõ ràng, thì người ta có thể đề xuất với những người gây ô nhiễm các giải pháp để ngăn chặn tình trạng ô nhiễm bằng cách đền bù cho họ những chi phí có liên quan. Điều này sẽ rẻ hơn và hiệu quả hơn so với việc viết ra một quy định pháp luật, rồi làm cho nó được tuân thủ. Thay cho các luật, nghị định, tiền bảo vệ, tiền phạt và hàng ngàn sự can thiệpkhác của Nhà nước, thì chỉ cần thiết lập các thủ tục vận hành của thị trường và tư nhân hóa không gian công cộng. Chúng ta đều hiểu rằng định lý này sẽ làm cho các nhà bảo vệ môi trường tức giận và làm những người theo khuynh hướng tự do vui mừng. Nhưng hai bên cần phải bình tĩnh lại: những trường hợp mà chi phí giao dịch thấp hoặc bằng không là những trường hợp khan hiếm đáng kinh ngạc. Một điều đáng tiếc cho những con cá hương.

Định lý Haavelmo

Trygve Haavelmo (1911-1999)
John M. Keynes (1883-1946)

Lại thêm một nhà kinh tế khác được “Giải thưởng Nobel” (1989) vinh danh: Trygve Haavelmo (1911-1999), nhà kinh tế học người Na Uy nghiên cứu gần như mọi thứ, nhưng chịu ảnh hưởng sâu sắc của Keynes. Keynes đã bảo vệ ý tưởng cho rằng, khi cầu hiệu quả không đủ trong một nền kinh tế nhất định, khiến tăng trưởng kinh tế chậm lại (một cuộc suy thoái), thậm chí là suy sụp (hoạt động kinh tế giảm xuống), Nhà nước có thể kích hoạt lại guồng máy bằng cách chi tiêu nhiều tiền hơn so với những gì mà họ thu được. Mứcthâm hụt công phát sinh từ sự việc nói trên chỉ là tạm thời, bởi vì việc thúc đẩy lại hoạt động kinh tế làm tăng nguồn thu thuế, sẽ cho phép làm giảm mức thâm hụt này. Các nhà kinh tế học tân cổ điển đã vặn lại, vào những năm 1980, rằng người dân không điên: khi thấy mức thâm hụt công tăng lên, họ biết rằng, vào một ngày nào đó, họ sẽ phải trả giá cho hiện tượng này; họ ghim tiền lại, một điều làm vô hiệu hiệu ứng kích hoạt lại các chi tiêu công bổ sung (một hiện tượng thường được gọi là “tương đương Ricardo”, do đã được Ricardo nêu lên).

Nhưng đó là không tính đến Haavelmo. Tại sao phải vay tiền để tài trợ cho các chi tiêu công bổ sung nhằm kích hoạt lại nền kinh tế, ông ngạc nhiên thốt lên? Chúng ta cũng có thể đạt được mục tiêu đề ra nếu tăng thuế đánh vào thu nhập hoặc tài sản của những thành phần giàu có nhất trong dân số, mà tầm quan trọng của việc tiết kiệm là nguyên nhân của cầu không đủ. Các mức thuế bổ sung sẽ được dùng để tài trợ cho gói kích thích kinh tế trong khi Nhà nước không cần phải vay tiền. Điều này chỉ khả thi với điều kiện là việc thu thuế bổ sung này không dẫn đến việc các đối tượng nộp thuế cắt giảm những khoản đầu tư (“hiệu ứng lấn thế”, theo cách nói của các nhà kinh tế học). Bởi vì nếu Nhà nước kích hoạt lại nền kinh tế, trong khi những người giàu có (cá thể hoặc doanh nghiệp) cắt giảm các khoản đầu tư của họ cũng chừng mức ấy, thì việc này sẽ vô hiệu việc kia và chúng ta sẽ quay trở lại điểm khởi đầu. Ngoài ra, Haavelmo cũng nhấn mạnh rằng, trong một nền kinh tế mở, hoàn toàn có khả năng là mức thặng dư chi tiêu công sẽ dẫn đến việc nhập khẩu nhiều hơn so với những gì được sản xuất trong nước. Ông là một nhà keynesian thận trọng.

Định lý Modigliani-Miller

F. Modigliani (1918-2003)
M. H. Miller (1923-2000)

Đây không phải là định lý kinh tế nổi tiếng nhất, nhưng nó đã đóng một vai trò to lớn đối với các chuyên gia tài chính.Franco Modigliani (1918-2003) và Merton Miller (1923-2000), hai nhà kinh tế được “Giải thưởng Nobel” vào năm 1985 và năm 1990, đã chỉ ra rằng giá trị trên thị trường chứng khoán của một doanh nghiệp không phụ thuộc vào cách thức doanh nghiệp được tài trợ, bất luận là bằng cách vay nợ, bằng lợi nhuận thu được (tự cung cấp tài chính) hoặc bằng cách kêu gọi cổ đông góp vốn. Nhiều nhà kinh tế cho rằng, khi lãi suất thấp, thì giải pháp đầu tiên là thích hợp hơn: nếu tôi vay với lãi suất 4% và hoạt động đầu tư được tài trợ từ khoản vay này mang lại 6 hoặc 8%, thì tôi là người thắng cuộc và doanh nghiệp của tôi có giá trên thị trường. Đây là điều mà chúng ta thường gọi là hiệu ứng đòn bẩy. Sai, hai nhà tài chính của chúng ta đáp lại, các bạn quên đi một điều: dù trời nắng hay mưa, doanh nghiệp vay nợ sẽ phải trả lãi và trả lại vốn vay. Các chi phí cố định này làm cho doanh nghiệp trở nên bấp bênh hơn trước những diễn biến bất ngờ của đời sống kinh tế, như tất cả những ai đã từng vay nợ mua nhà ở đều biết rất rõ. Một số cổ đông sẽ bán cổ phần của mình, làm cho giá cổ phiếu giảm trên thị trường, điều này sẽ vô hiệu hóa sự tăng giá do hiệu ứng đòn bẩy tạo ra: cuối cùng giá trị của doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán không bị tác động.

Tất nhiên, giống như mọi định lý, định lý này phụ thuộc vào một điều kiện: sự thiếu vắng các chi phí giao dịch và thông tin. Có nghĩa là ý tưởng cho rằng các thị trường tài chính vừa mang tính hữu hiệu (chuyển tải tất cả các thông tin có sẵn và tất cả mọi người biết được thông tin đó) vừa mang tính hoàn hảo (không có bất cứ chi phí gì để mua hoặc bán những chứng khoán có liên quan). Những giả thuyết mạo hiểm, như mọi người đều có thể thấy khi các bong bóng bị vỡ.

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: Les lois, les théorèmes, les courbes…, Les Dossiers d’Alternatives Economiques, Hors-série no 4, septembre 2016.

——————-&&&—————–

Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế – Economic Growth

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

® Giải Nobel: ALLAIS, 1988 – FRISCH, 1969 – HAAVELMO, 1989 – HAYEK, 1974– HICKS, 1972 – KLEIN, 1980 –KOOPMANS, 1975 – LUCAS, 1985 –MODIGLIANI, 1985 – SAMUELSON, 1970– SEN, 1998 – SOLOW, 1987 – TOBIN, 1981

Tăng trưởng thường được định nghĩa như gia tăng liên tục, trong một hay nhiều thời kì dài, của một chỉ báo chiều kích, tổng sản phẩm thực tế. Khái niệm tăng trưởng là hạn hẹp hơn khái niệm phát triển, một khái niệm chỉ toàn bộ những thay đổi kĩ thuật, xã hội và văn hoá đi kèm với tăng trưởng của sản xuất. Hơn nữa, tăng trưởng, một khái niệm không tương đương với sự “tiến bộ” lẫn với việc cải thiện phúc lợi, dường như là một hiện tượng tương đối mới.

Những chỉ báo chính

Chỉ báo thường được chọn là hoặc GDP (tổng sản phẩm trong nước) hoặc là GNP (tổng sản phẩm quốc gia) hay còn có thể là GDP (hay GNP) trên đầu người. GDP danh nghĩa, còn được gọi là theo giá hiện hành, không phải là biến thích đáng; thật thế, ta có được biến này bằng cách nhân những sản lượng của năm hiện hành với những giá cả của năm hiện hành. Do đó một gia tăng của tổng sản phẩm danh nghĩa có thể là do một gia tăng của giá cả cũng như là do một gia tăng của sản xuất. Để phân biệt giữa hai hiệu ứng này, cần phân biệt GDP danh nghĩa với GDP thực tế. Trong lúc GDP danh nghĩa được tính từ những giá bán thật sự thì GDP thực tế lấy những giá quan trắc trong một năm đặc biệt gọi là năm gốc làm giá qui chiếu. Như thế, mọi gia tăng của GDP thực tế tương ứng với một gia tăng khối lượng.

Tuy nhiên chỉ báo còn xa mới là hoàn hảo. Trước hết vì một số hoạt động không được tính đến (đặc biệt là lao động trong gia đình) và sai số còn xa mới là không đổi trong thời gian. Hơn nữa, việc cải tiến những sản phẩm hiện có, sự xuất hiện của những sản phẩm mới đôi lúc gây khó khăn cho việc xác định một số thành phần của sản phẩm thực tế. Phương thức đánh giá nêu trên đây dẫn đến việc xem những sản phẩm được sản xuất trong hai năm được xem xét, năm hiện hành và năm gốc, là tương dương. Có lẽ xấp xỉ hoá này là chấp nhận được dưới hai điều kiện: các sản phẩm không có những cải tiến công nghệ mạnh, khoảng cách giữa hai năm (năm hiện hành và năm gốc) là không quá lớn. Một máy tính năm 1996 và một máy tính năm 1986 phải chăng là cùng một “sản phẩm”? Một số tinh vi hoá nhất định phải được đưa vào để tính đến khó khăn này. Như vậy phải chọn năm gốc một cách thận trọng. Một năm gốc quá gần ngăn cản mọi so sánh; một năm gốc quá xưa cũng làm cho so sánh thành sai lạc vì giá cả của thời kì qui chiếu không còn quan hệ nào với giá cả của năm hiện hành; thế mà giá cả của năm gốc được dùng làm quyền số trong việc ước lượng GDP thực tế hiện hành. Ví dụ, lấy năm 1911 làm năm gốc sẽ không có ý nghĩa gì cả: vào thời đó không chỉ không có máy tính mà ngay cả xe ôtô cũng còn là một sản phẩm xa xỉ.

Do đó những ước lượng trong dài hạn đặt ra những vấn đề gai góc. Thế mà tăng trưởng là một hiện tượng dài hạn, cần phân biệt với sự bành trướng tư bản là một hiện tượng ngắn hạn hơn. Trong cả hai trường hợp này, tỉ suất tăng trưởng của đại lượng tổng gộp được xem xét là một yếu tố trung tâm; thường đó là một tỉ suất tăng trưởng hàng năm. Một tỉ suất tăng trưởng cao không nhất thiết kéo theo một gia tăng của mức sống vì tăng trưởng dân số có thể mạnh hơn tăng trưởng của sản xuất khiến cho mức sống giảm. Như thế, tỉ suất tăng trưởng của GDP trên đầu người, được định nghĩa như tỉ số của GDP trên dân số, là thích đáng hơn.

Jean Fourastié (1907-1990)

Thời kì tăng trưởng sau thế chiến thứ hai, đặc biệt là ở Tây Âu, được xem là một ngoại lệ, do đó có thuật ngữ “ba mươi năm vinh quang”(J. Fourastié). Tỉ suất tăng trưởng trung bình hàng năm của GDP là khoảng 5 % cho toàn bộ các nước của OECD; ở hai cực ta có Nhật Bản với tỉ suất tăng trưởng trung bình hàng năm là 11 % và Vương quốc Anh với tỉ suất này là 3 %, tỉ suất này của Pháp là khoảng 5,5%. Những năm 1970 đánh dấu sự khởi đầu của điều mà ta có thể gọi là, để đối lập với những thập niên trước, “hai mươi năm nhão nhẹt”; trong thế giới tây phương sự đình đốn và lạm phát sống chung với nhau; lạm phát phát triển và những hình thức nghèo khác xuất hiện. Cuối thế XX được đặc trưng bằng một hiện tượng kép: bần cùng hoá trong những nước châu Âu và toàn cầu hoá của tăng trưởng mà minh hoạ hiển nhiên nhất là châu Á với trường hợp của “bốn con rồng”(Hong Kong, Hàn quốc, Singapore, Taiwan); và gần đây hơn, Ấn Độ và Trung Quốc, hai nước đông dân nhất hành tinh, tăng trưởng với những tỉ suất lạ kì từ 7 % đến 10 % năm.

Thất nghiệp và không ổn định

Evsey Domar (1914-1997)
Roy F. Harrod (1900-1978)

Ở cội nguồn của những lí thuyết đương đại về tăng trưởng là những mưu toan của Harrod và Domar, hai tác giả ngay sau thế chiến thứ hai đã thử nối tiếp trong dài hạn những phân tích của Keynes vốn chỉ giới hạn ở những mất cân bằng trong ngắn hạn. Ý chung của những mô hình tạo lập này là xem trường hợp những nền kinh tế thị trường tăng trưởng đều đặn trong tình thế toàn dụng lao động là những ngoại lệ. Cách nhìn của những tác giả này gần với cách nhìn của Keynes; đối với Keynes do thiếu cầu thực tế nên thiểu dụng lao động là qui tắc chung và toàn dụng lao động là ngoại lệ. Đối với hai tác giả trên, đạt được tăng trưởng cân bằng toàn dụng lao động chỉ có thể là một ngoại lệ, một phép lạ. Nhưng còn hơn thế nữa: chế độ tăng trưởng cân bằng toàn dụng lao động không chỉ là ngoại lệ, đó còn là một chế độ không ổn định. Người ta nói đến cân bằng “trong đường tơ kẽ tóc”, mọi khoảng cách với chế độ đặc biệt này có xu hướng tăng lên một cách cộng dồn, dẫn hệ thống kinh tế được xem xét hoặc đến một bành trướng tăng tốc, hoặc đến một suy thoái ngày càng trầm trọng. Những công trình này được những tác giả tự nhận thuộc trường phái Cambridge mới (N. Kaldor, J. Robinson) tiếp nối, đặc biệt làm rõ tầm quan trọng của phân tích về phân phối bằng cách kết hợp những đóng góp của Kalecki và của Keynes: những quan hệ giữa lợi nhuận và tích luỹ tư bản, những cuộc đối đầu giữa những nhóm xã hội (người làm công ăn lương và các nhà tư bản), phân tích lạm phát nằm ở trung tâm của những mối quan tâm của họ.

Robert Solow (1924-)
James Tobin (1918-2002)

Một đổi mới quan trọng trong phân tích tăng trưởng xuất hiện vào giữa những năm 1950. Những cách tiếp cận tạo lập của Harod và Domar kết luận tính chất mất ổn định một cách cơ bản của những nền kinh tế thị trường bị xét lại. Cách đặt vấn đề chung bị thay đổi. Mô hình Solow (1956) –một mô hình có thể xem là tiền thân của những mô hình tăng trưởng đương đại – là một mô hình có một cương vị nhập nhằng: một cách điển hình nó thuộc về điều được gọi một cách qui ước là “tổng hợp cổ điển-keynesian”, cũng còn được minh hoạ bởi tên của những nhà kinh tế như Hicks, Hansen, Patinkin, Tobin, Modigliani, Samuelson, Klein. Trong những năm 1950-1960, toàn thể những tác giả này (và phương pháp của Solow là hoàn toàn đặc trưng cho họ) tìm cách hoà giải những đóng góp của Keynes với những đóng góp của phân tích tân cổ điển.

Alvin Hansen (1887-1975)
Don Patinkin (1922-1995)

So với mô hình Harrod-Domar, có hai thay đổi được đưa vào làm thay đổi hoàn toàn động thái. Trong khi hai tác giả này sử dụng một hàm sản xuất với những nhân tố bổ sung nhau thì Solow, để đặc trưng hàm sản xuất kinh tế vĩ mô, viện đến một hàm sản xuất với những nhân tố thay thế cho nhau được. Hơn nữa, trong lúc mô hình tân keynesian dựa trên giả thiết một hàm đầu tư khác với hàm tiết kiệm thì mô hình của sự tổng hợp giả định rằng đầu tư bắt nguồn từ tiết kiệm. Đây là hai thay đổi duy nhất được đưa vào, những giả thiết khác là giống nhau.

Michal Kalecki (1899-1970)
Nicholas Kaldor (1908-1986)

Nhưng điều này đủ để thay đổi đáng kể logic của mô hình và động thái suy ra từ mô hình này. Những mô hình tân keynesian về cơ bản là những mô hình cầu: tăng trưởng chủ yếu bị chi phối bởi những hành vi tiêu dùng và đầu tư, tổng cung chỉ hiện ra như một giới hạn mà cầu có thể vấp phải. Ngược lại mô hình của tổng hợp có thể được đặc trưng như một mô hình cung trong đó những vấn đề tiêu trường không được đề cập đến; trong khuôn khổ này, qui luật Say theo giả thiết được kiểm chứng, cung không thể nào khác với cầu được. Còn trên thị trường lao động cân bằng được đảm bảo kể từ lúc ta viện đến một hàm sản xuất với những nhân tố thay thế cho nhau được với tính linh hoạt hoàn toàn của những thù lao. Trong những điều kiện này, cân bằng động, một cân bằng có thể được làm rõ, là một chế độ tăng trưởng cân bằng toàn dụng lao động hội tụ về (dưới một số giả thiết) một tình thế ổn định, một chế độ tăng trưởng theo tỉ suất không đổi. Bởi thế cách nhìn chung đã bị thay đổi một cách sâu sắc.

Dự kiến và tối ưu hoá liên thời gian

Maurice Allais (1911-2010)
Edmund Phelps (1933-)

Vấn đề tối ưu hoá, tìm kiếm chế độ tăng trưởng tốt nhất có thể đã được M. Allais, P. Desrousseaux và E. Phelps đề cập gần như đồng thời vào đầu những năm 1960; các tác giả này làm rõ qui tắc vàng của sự tích luỹ. Chế độ thường xuyên tăng trưởng cân bằng toàn dụng lao động được định nghĩa như chế độ cho phép có được mức tiêu dùng trên đầu người cao nhất; để đạt đến chế độ này người ta chứng minh là năng suất cận biên thuần của tư bản, và do đó lãi suất, phải bằng với tỉ suất tăng trưởng; đó là “qui tắc vàng của tích luỹ”, từ đó sinh ra điều kiện bằng nhau của tỉ suất tiết kiệm của cộng đồng với tỉ trọng của những thu nhập không phải là lương trong thu nhập quốc gia. Tầm quan trọng của qui tắc này có vẻ là hạn chế: thật thế qui tắc được xác lập trong khuôn khổ của việc tìm kiếm chế độ thường xuyên tốt nhất có thể, và do đó không tính đến một động thái thật sự. Nhiều nghiên cứu tinh vi hơn được tiến hành kể từ giữa những năm 1960 trong khuôn khổ của một tối ưu hoá liên thời gian, đặt lên hàng đầu việc tính đến những dự kiến.

Frank Ramsey (1903-1930)
Tjalling Koopmans (1910-1985)

Hướng thứ nhất đã được D. Cass và T. Koopmans đồng thời vận dụng vào năm 1965. Hai tác giả này nối tiếp những công trình tạo lập của F. Ramsey (1928) bằng cách sử dụng những công cụ toán học mới với nguyên lí cực đại do Pontryagin làm rõ vài năm trước đó cung cấp. Những tác giả này hình dung một tác nhân tiêu biểu tìm cách tối ưu hoá trên một chân trời xác định (hữu hạn hay vô hạn) tổng hiện tại hoá những lợi ích thu được từ mức tiêu dùng của tác nhân này: do đó, một phần của thu nhập từ nỗ lực sản xuất được tiêu dùng, phần kia được tiết kiệm và do đó được đầu tư. Dưới những giả thiết chuẩn (lợi ích cận biên dương và giảm dần, hàm sản xuất có hành vi tốt, tăng trưởng của dân số theo tỉ suất không đổi), chế độ tăng trưởng được làm rõ có những đặc tính lí thú. Trong khi với những mô hình trước đây (dù cho đó là mô hình Solow hay những mô hình tân keynesian) khuynh hướng tiêu dùng là cố định thì trong trường hợp này khuynh hướng này bắt nguồn từ một lựa chọn liên thời gian xác định tại mỗi thời điểm một lựa chọn tối ưu giữa tiêu dùng và đầu tư.

Lev Pontryagin (1908-1988)
Joan Robinson (1903-1983)

Như thế chế độ động hiện ra là rất đặc biệt: đây là một “cân bằng điểm yên ngựa”, có nghĩa là từ một kho tư bản nhất định, chỉ có một mức tiêu dùng duy nhất cho phép nền kinh tế hội tụ về một tình thế tăng trưởng cân bằng với tỉ suất không đổi. Bất kì lựa chọn nào khác sẽ kéo nền kinh tế trôi dạt hoặc về một tiêu dùng bằng không, hoặc về một kho tư bản bằng không. Do đó tối ưu hoá liên thời gian đã vinh danh trở lại chủ đề mất ổn định động (một chủ đề đã ít nhiều biến mất khỏi những mối quan tâm kể từ khi có mô hình Solow) nhưng trong một bối cảnh khác xa với bối cảnh của Harrod. Mặc dù ở đây có cân bằng trên thị trường sản phẩm lẫn trên thị trường việc làm, thì vẫn có khả năng mất ổn định động trừ khi các tác nhân lựa chọn một cách tự phát quĩ đạo tốt (độc nhất) dẫn họ đến chế độ thường xuyên. Lợi ích của kiểu cân bằng này hiện ra dưới một góc độ mới kể từ lúc giả thiết dự kiến duy lí được đưa vào trong phân tích kinh tế; thật thế, sự hội tụ đến chế độ thường xuyên tăng trưởng cân bằng với tỉ suất không đổi chỉ có thể được biện minh bằng cách giả định là các tác nhân có những dự kiến duy lí khi họ biết (do có những dự kiến duy lí) là mọi chênh lệch với quĩ đạo sẽ đưa họ rời xa khỏi trạng thái tối ưu. Cần thêm rằng trạng thái tối ưu này được đặc trưng bằng “qui tắc vàng mở rộng”, khi mà lãi suất bằng với tổng của tỉ suất tăng trưởng của nền kinh tế và của tỉ suất hiện tại hoá.

Paul Samuelson (1915-2009)
Peter Diamond (1940-)

Một cách nhìn đối chọn là cách nhìn của những “thế hệ đan chéo”, do P. Diamond đề xuất (1965), lấy lại những phân tích trước đó của P. A. Samuelson (1958) và M. Allais (1947). Ta giả định là mỗi tác nhân sống qua hai thời kì (thời kì hoạt động và hưu trí); tác nhân lao động và sản xuất trong thời kì đầu; một phần thu nhập của tác nhân được tiêu dùng, phần còn lại được tiết kiệm và đầu tư; trong thời kì thứ hai, tác nhân tiêu dùng tiết kiệm đã tích luỹ được chi trả theo lãi suất. Tác nhân tối đa hoá tổng hiện tại hoá của những lợi ích thu được từ việc tiêu dùng trên hai thời kì. Lần này chân trời là hữu hạn, bị giới hạn bởi tuổi thọ trung bình của tác nhân tiêu biểu (tác nhân này, trong những phiên bản tinh vi hơn, để lại di sản và thừa hưởng gia tài); tác nhân này san bằng tiêu dùng của bản thân trên hai thời kì, tiết kiệm (nhằm về hưu) và đầu tư tiết kiệm hợp thành kho tư bản. Đây là một mô hình có cân bằng trên thị trường sản phẩm lẫn trên thị trường việc làm. Tên gọi mô hình “thế hệ đan chéo” là do ở mỗi thời kì có sự hiện diện đồng thời của hai loại tác nhân, hai thế hệ, “người trẻ” và “người già”, người hoạt động và người không hoạt động. Và khi một thế hệ trẻ trở nên “già” thì được thay thế bằng một thế hệ “trẻ”mới trong lúc thế hệ “già” trước đó biến mất. Động thái của mô hình là khá đơn giản: dưới những giả thiết “chuẩn”, cũng như trong mô hình của sự tổng hợp, ta hội tụ về một chế độ thường xuyên tăng trưởng cân bằng toàn dụng lao động, với tính ổn định của sản phẩm trên đầu người; nghịch lí là chế độ thường xuyên này, thu được tiếp sau việc tối ưu hoá liên thời gian, đôi lúc được đặt trưng bằng một “tính không hiệu quả động” (đây không tất yếu là một tối ưu Pareto).

Lí thuyết chu kì cân bằng

J. Schumpeter (1883-1950)
Robert Lucas (1937-)

Tối ưu hoá liên thời gian và việc tính đến những dự kiến đã có một vai trò trung tâm trong mưu toan hợp nhất những chu kì với tăng trưởng nảy sinh từ những công trình của Lucas và của trường phái cổ điển mới trong những năm 1970. Tất nhiên những nguồn gốc của cách tiếp cận này đã có từ lâu; năm 1939, J. Schumpeter từng làm rõ tầm quan trọng của những đợt đổi mới lớn trong việc giải thích những chu kì dài, những chu kì “Kondratieff” của hoạt động kinh tế; ngay từ 1933, Frisch đã thử minh hoạ cách giải thích ngoại sinh những chu kì bằng một ngụ ngôn rất đơn giản tuy vô cùng ấn tượng: “Nếu bạn đánh một con ngựa bập bênh bằng một cây gậy đánh golf, thì chuyển động của con ngựa sẽ rất khác với chuyển động của cây gậy”. Những phát triển gần đây lấy lại sự phân biệt nổi tiếng này giữa xung lượng và truyền tải trong cách nhìn của những “chu kì cân bằng” theo đó giá cả có một vai trò tín hiệu trung tâm. Thật thế, trong cách tiếp cận này, những vấn đề tiêu trường, “cầu thực tế” không được đặt ra; những biến động bắt nguồn từ phản ứng của các tác nhân trước những cú sốc ngoại sinh. Việc qui chiếu về thị trường việc làm cho phép minh hoạ việc thay đổi cách tiếp cận: nếu trong cách biểu trưng truyền thống sụt giảm của việc làm dẫn đến một sụt giảm (hay một gia tăng chậm hơn) của lương thì trong cách nhìn của lí thuyết chu kì cân bằng có một sự đổi chiều của tính nhân quả: việc làm giảm vì, khi lương giảm, các tác nhân kinh tế chọn làm việc ít hơn.

Những cú sốc có thể có nguồn gốc tiền tệ: đó là mưu toan của Lucas muốn giải thích các chu kì trên cơ sở của những hiệu ứng bất ngờ và thay thế liên thời gian tiếp sau một cú sốc tiền tệ. Vào đầu những năm 1980, điều được nhấn mạnh là những cú sốc “thực tế”; lí thuyết những “chu kì kinh doanh thực tế” (real business cycles) hình dung một khuôn khổ thống nhất để hiểu hiện tượng tăng trưởng lẫn hiện tượng biến động. Khuôn khổ phân tích này lấy mô hình Solow năm 1956 làm điểm qui chiếu với ba đổi thay. Thứ nhất, tỉ suất tiết kiệm không được ấn định một cách tiên nghiệm như trong mô hình Solow nhưng do tác nhân tiêu biểu chọn từ một qui hoạch tối ưu hoá liên thời gian lợi ích của tác nhân này. Tiếp đến tăng trưởng của cung lao động ở đây cũng phụ thuộc vào lựa chọn của tác nhân; cuối cùng những tiến bộ năng suất, thay vì được thể hiện đều đặn dưới dạng một hàm mũ trong những phân tích truyền thống về tiến bộ kĩ thuật ngoại sinh, nay là không liên tục, ngẫu nhiên.

Một đặc điểm của kiểu mô hình này là thường không thể giải chúng bằng giải tích. Nhiều phần mềm mô phỏng đã được phát triển, vận dụng mạnh mẽ vi tính. Người ta đã triển khai nhiều kiểu mô hình kinh trắc mới vận dụng nhiều việc nghiên cứu những chuỗi thời gian (mô hình VAR, có nghĩa là mô hình “vectơ tự hồi qui”). Có nhiều phát triển và phê phán đương đại có tính kích thích: bên cạnh những cú “sốc năng suất”, còn tính thêm những cú “sốc ngân sách”, “sốc tài chính”, “sốc sở thích”.

Cách hợp nhất những chu kì vào trong lí thuyết tăng trưởng vẫn trung thành với truyền thống thừa hưởng từ Frisch theo đó những chu kì được giải thích bằng những cú sốc ngoại sinh. Một sự đổi mới song song của phân tích chu kì xuất hiện cùng với việc đưa vào những công cụ mới (động thái phi tuyến tính, “hỗn độn”) cho phép tính đến sự tồn tại của những chu kì được gọi là “nội sinh” bắt nguồn, không từ những cú sốc bên ngoài, những cú sốc ngoại sinh, mà từ chính ngay hoạt động của nền kinh tế.

Tăng trưởng: nội sinh hay ngoại sinh?

Sự đối lập giữa cách giải thích “nội sinh” và “ngoại sinh” không chỉ liên quan đến lí thuyết chu kì, mà còn liên quan đến bản thân lí thuyết tăng trưởng. Theo truyền thống người ta phân biệt tăng trưởng theo chiều rộng, kết quả của việc gia tăng lượng nhân tố sản xuất được sử dụng (nhiều tư bản và nhiều người lao động cho phép sản xuất được một số lượng lớn hơn) và tăng trưởng theo chiều sâu, khi sự gia tăng sản xuất bắt nguồn từ việc sử dụng có hiệu quả hơn những nhân tố sản xuất hiện có, nói tóm lại là từ tiến bộ của năng suất. Đương nhiên là hai loại hiện tượng này không loại trừ nhau; ta có thể có vừa nhiều tư bản và lao động hơn được kết hợp với nhau một cách có hiệu quả hơn. Những ước lượng được tiến hành vào cuối những năm 1950, từ những công trình của Denison và Solow, đã thử lượng hoá tầm quan trọng tương đối của hai loại tăng trưởng này. Nhiều nghiên cứu so sánh cũng được tiến hành trên nhiều nước và nhiều thời kì khác nhau. Từ những công trình này nổi lên hai kết luận.

Thứ nhất, những quĩ đạo quốc gia và những lịch sử tăng trưởng hiện ra khá đa dạng. Như thế, trong những năm 1870-1914 và cho toàn thể các nước phát triển, tiến bộ kĩ thuật dường như có một vai trò ít quan trọng hơn những yếu tố của tăng trưởng “theo chiều rộng”, tư bản và lao động. Tương tự như thế, khoảng hai phần ba của tăng trưởng gần đây của Singapore là do tiết kiệm cực lớn mà chính phủ nước này đã huy động để phục vụ cho việc tích luỹ tư bản. Ngược lại, những ước lượng của Solow trong trường hợp của Hoa Kì cho thấy là tăng trưởng ghi nhận được trong thời kì 1909-1949 được qui cho tiến bộ kĩ thuật; cũng chính nhân tố này đóng góp đến khoảng 70 % vào sự tăng trưởng mạnh của Pháp từ 1950 đến 1973.

Thứ hai, những nghiên cứu được tiến hành dường như cho thấy là, trong hầu hết những nước phát triển, gia tăng của năng suất vào cuối những năm 1970 đã chậm lại một cách nghiêm trọng; trong trường hợp của Hoa Kì, đây là một sự sụp đổ thật sự mà phần lớn không giải thích được; trong trường hợp của Pháp, sự chuyển hướng của những tiến bộ của năng suất, vừa ít đậm nét và trễ hơn, chủ yếu đã đi sau, chứ không đi trước như ở Hoa Kì, sự chuyển hướng của tăng trưởng.

Kể từ những năm 1980, những công trình của R. Romer và R. Lucas đã đổi mới những cách tiếp cận; các tác giả này nhấn mạnh thiếu sót của những phân tích trước đây trong đó tăng trưởng được giải thích phần lớn bằng một hiện tượng “ngoại sinh”, tiến bộ kĩ thuật, một nhân tố tất nhiên có tính quyết định nhưng không rõ nguồn gốc. Để đối lập với cách tiếp cận này người ta nói đến tăng trưởng “nội sinh”; các tác giả trên đã thử cung cấp những giải thích khác nhấn mạnh đến khiá cạnh vai trò của những “ngoại ứng”, bị những phân tích trước đây coi nhẹ, vai trò của đổi mới công nghệ, thông qua việc đa dạng hoá sản phẩm cũng như vai trò của “vốn con người”. Vấn đề là giải thích tăng trưởng, và đặc biệt là tính chất tự nuôi dưỡng của tăng trưởng từ những đặc điểm nội bộ của hệ thống (hàm lợi ích, mức độ nóng ruột của các tác nhân, những đặc thù của hàm sản xuất). Một phần những công trình này cho phép tìm lại một số khiá cạnh đặc biệt lí thú của phân tích schumpeterian (“huỷ hoại sáng tạo”) và giải thích vì sao một sự tăng tốc của tăng trưởng không tất yếu kéo theo một sụt giảm của thất nghiệp. Hơn nữa, những phân tích này cung cấp những cách chiếu sáng mới, trong kinh tế học quốc tế, cho việc phân tích những vấn đề “hội tụ” (các nước phương “Nam”đuổi kịp các nước phương “Bắc”) và cung cấp những biện minh mới cho những chính sách công cộng.

▶ ABRAHAM-FROIS G. Dynamique économique, Paris, Dalloz, 6è éd., 1995. – AGHION Ph. & HOWITT,Endogenous Growth Theory, New York, McGraw-Hill, 1998. – BARRO R. J. & SALA I. MARTIN X., Economic Growth, New York, McGraw-Hill, 1995. –GAFFARD J.-L., Croissance et fluctuations économiques, Paris, Montchrestien, 2è éd., 1997. – MUET P. A., Croissance et cycles, Paris, Économica, 1993. – SCHUBERT K.,Macroéconomie contemporaine et croissance, Paris, Vuibert, 1996.

Gilbert ABRAHAM-FROIS

Giáo sư đại học Nanterre (Paris 10)

Nguyễn Đôn Phước dịch

® Cân bằng; Dự kiến; Kinh tế học vĩ mô; Thất nghiệp; Tình thế kinh tế; Toàn cầu hoá và công ti đa quốc gia; Tối ưu hoá và phân tích nhiều mục tiêu; Tổng sản phẩm trong nước (GDP); Tư bản; Vốn con người

Nguồn: Dictionnaire des sciences économiques do Claude Jessua, Christian Labrousse và Daniel Vitry chủ biên, Paris, Presses Universitaires de France, 2001.

——————&&&——————-

Khóa học: Giới Thiệu Về Khoa Học Dữ Liệu. VIASM. 15-17/05/2017

Khóa học: Giới Thiệu Về Khoa Học Dữ Liệu. VIASM. 15-17/05/2017

(Nguồn: http://viasm.edu.vn)

Link các slides bài giảng: http://www.jaist.ac.jp/~bao/DS2017/

Thời gian: 09:00:15/05/2017 đến 11:30:17/05/2017

Địa điểm: VIASM

Tóm tắt:

Các bài giảng này cung cấp một bức tranh tổng thể, các khái niệm cơ bản, ý tưởng các phương pháp, những tiến bộ quan trọng của Khoa học Dữ liệu (KHDL), lĩnh vực thời sự hiện nay của khoa học và công nghệ số, là nền tảng của Cách mạng Công nghiệp 4.0.Các bài giảng này hướng đến giáo viên đại học và sinh viên, những người làm R&D ở các viện, các doanh nghiệp, các cán bộ quản lý KH&CN, và những người muốn tìm hiểu về Khoa học Dữ liệu. Các bài giảng này chia làm hai phần.

Phần 1 (Cơ bản về Khoa học Dữ liệu) cung cấp bức tranh tổng thể, khái niệm và vấn đề của KHDL, thích hợp cho người cần biết chung, quản lý và dùng KHDL.

Phần 2 (Nguyên lý và Phương pháp của Khoa học Dữ liệu) cung cấp ý tưởng cơ bản của các phương pháp của KHDL và chia sẻ kinh nghiệm. Phần này thích hợp cho người làm nghiên cứu, ứng dụng và phát triển KHDL.

Chương trình Hà Nội

Ngày 15.5: Cơ bản về Khoa học Dữ liệu

Sáng 9:00 – 11:30 Tổng quan về Khoa học dữ liệu 

– Bài giảng 1.1: Cách mạng Công nghiệp 4.0 và Khoa học Dữ liệu

Diễn giả: GS Hồ Tú Bảo (90 phút)

  • Bản chất của cách mạng công nghiệp 4.0
  • Khoa học dữ liệu và cách mạng công nghiệp 4.0
  • Nguyên lý của khoa học dữ liệu

– Bài giảng 1.2: Nền tảng Công nghệ của Khoa học Dữ liệu

Diễn giả: GS Phùng Quốc Định (60 phút)

  • Khoa học phân tích dữ liệu lớn
  • Xử lý dàn trải, phân tán và song song
  • Công nghệ Hadoop, Spark và TensorFlow cho dữ liệu lớn và mô hình nhiều tầng (deep learning).

Chiều 1:30 – 4:00Ứng dụng Khoa học Dữ liệu – Toạ đàm

– Bài giảng 1.3: Khoa học Dữ liệu và Y tế điện tử (e-health)

Diễn giả: GS Hồ Tú Bảo (40 phút)

  • Bệnh án điện tử (BADT) và e-health
  • Vấn đề của khoa học dữ liệu trong y tế điện tử (e-health)

– Bài giảng 1.4: Khoa học Dữ liệu trong Công nghiệp

Diễn giả: TS Bùi Hải Hưng (50 phút)

  • Bài toán và bài học về khoa học dữ liệutrong công nghiệp

TOẠ ĐÀM (PANEL DISCUSSION) (60 phút)

—————————————————————————-

Ngày 16.5: Nguyên lý và Phương pháp của Khoa học Dữ liệu  

Sáng 9:00 – 11:30Nguyên lý vàmô hình thống kê

– Bài giảng 2.1: Mô hình suy diễn Bayes và tần suất

Diễn giả: GS Nguyễn Xuân Long (150 phút)

  • Phương pháp Bayes và tần suất trong suy diến thống kê
  • Kết quả mới, thách thức và triển vọng

Chiều 1:30 – 4:00 Mô hình tư vấn và học nhiều tầng

– Bài giảng 2.2: Mô hình tư vắn ra quyết định

Diễn giả: TS Bùi Hải Hưng(60 phút)

  • Hệ tư vấn ra quyết định (recommender systems)
  • Bài học trong ứng dụng

– Bài giảng 2.3Các phương pháp học nhiều tầng

Diễn giả: GS Phùng Quốc Định (90 phút)

  • Các mô hình học nhiều tầng (deep learning)
  • Kinh nghiệm, bài học, hạn chế và xu hướng

—————————————————————————-

Ngày 17.5: Nguyên lý và phương pháp của Khoa học Dữ liệu 

Sáng 9 – 11:30 Giải pháp khi dữ liệu có kích thước lớn

– Bài giảng 3.1: Phương pháp và Công nghệ của Dữ liệu lớn

Diễn giả: GS Phùng Quốc Định & TS  Bùi Hải Hưng (90 phút)

  • Thách thức khi xử lý dữ liệu với kích thước và độ phức tạp cực lớn
  • Các phương pháp tiếp cận

TOẠ ĐÀM (PANEL DISCUSSION) (60 phút)

*****************************

Hạn đăng ký tham dự và gửi CV: 8/5/2017

Đăng kí: link


Chương trình Hồ Chí Minh

————————&&&——————–

Coursera MOOC-Machine Learning Foundations: A Case Study Approach; University of Washington

Coursera MOOC-Machine Learning Foundations: A Case Study Approach; University of Washington

UW_square_180x180.png (72×72)

About this course: Do you have data and wonder what it can tell you? Do you need a deeper understanding of the core ways in which machine learning can improve your business? Do you want to be able to converse with specialists about anything from regression and classification to deep learning and recommender systems?

In this course, you will get hands-on experience with machine learning from a series of practical case-studies. At the end of the first course you will have studied how to predict house prices based on house-level features, analyze sentiment from user reviews, retrieve documents of interest, recommend products, and search for images. Through hands-on practice with these use cases, you will be able to apply machine learning methods in a wide range of domains.

This first course treats the machine learning method as a black box. Using this abstraction, you will focus on understanding tasks of interest, matching these tasks to machine learning tools, and assessing the quality of the output. In subsequent courses, you will delve into the components of this black box by examining models and algorithms. Together, these pieces form the machine learning pipeline, which you will use in developing intelligent applications.

Learning Outcomes: By the end of this course, you will be able to:

  • -Identify potential applications of machine learning in practice.
  • -Describe the core differences in analyses enabled by regression, classification, and clustering.
  • -Select the appropriate machine learning task for a potential application.
  • -Apply regression, classification, clustering, retrieval, recommender systems, and deep learning.
  • -Represent your data as features to serve as input to machine learning models.
  • -Assess the model quality in terms of relevant error metrics for each task.
  • -Utilize a dataset to fit a model to analyze new data.
  • -Build an end-to-end application that uses machine learning at its core.
  • -Implement these techniques in Python.

Syllabus

WEEK 1. Welcome
WEEK 2. Regression: Predicting House Prices (Linear Regression)
WEEK 3. Classification: Analyzing Sentiment (Logistic Regression)
WEEK 4. Clustering and Similarity: Retrieving Documents (k-means, Nearest Neighbors)
WEEK 5. Recommending Products (Matrix factorization)
WEEK 6. Deep Learning: Searching for Images (Neural network, Nearest Neighbors)

*********************

Đăng kí (free): link

———————&&&——————

Những cột mốc quan trọng của Học Máy

Tóm lược lịch sử phát triển của ngành Machine Learning

(Tác giả: Bernard Marr – Nguồn: https://techmaster.vn)

Sẽ là rất thú vị nếu đặt câu hỏi liệu giấc mơ về người máy của con người có thành sự thật, nhưng trên thực tế khoa học đã phát triển đến một điểm mà nó bắt đầu trùng với khoa học viễn tưởng. Không, chúng ta không có những người máy tự động có thể chống lại con người – chưa – nhưng chúng ta đang ngày càng tiến gần hơn với những gì người ta có xu hướng gọi là “trí tuệ nhân tạo.”

Machine Learning là một tập con của trí tuệ nhân tạo, nơi mà các thuật toán máy tính được sử dụng để tự học từ dữ liệu và thông tin. Trong machine learning, các máy tính không cần phải được lập trình một cách rõ ràng nhưng có thể tự thay đổi và cải thiện các thuật toán của chúng.

Hiện nay, các thuật toán machine learning cho phép máy tính có thể giao tiếp với con người, xe hơi tự lái, viết và xuất bản tường thuật các trận đấu thể thao, và tìm thấy kẻ tình nghi khủng bố. Tôi tin chắc rằng machine learning sẽ tác động một cách sâu sắc đến mọi ngành công nghiệp và các công việc liên quan đến chúng, đó là lý do tại sao mọi nhà quản lý cần phải có ít nhất một số kiến thức về machine learning và nó đã phát triển như thế nào.

Trong bài viết này tôi sẽ cung cấp một sơ lược theo thời gian về lịch sự hình thành của machine learning cũng như các sự kiện quan trọng gần đây nhất.

1950 – Nhà bác học Alan Turing đã tạo ra “Turing Test (phép thử Turing)” để xác định xem liệu một máy tính có trí thông minh thực sự hay không. Để vượt qua bài kiểm tra đó, một máy tính phải có khả năng đánh lừa một con người tin rằng nó cũng là con người.

1952 – Arthur Samuel đã viết ra chương trình học máy (computer learning) đầu tiên. Chương trình này là trò chơi cờ đam, và hãng máy tính IBM đã cải tiến trò chơi này để nó có thể tự học và tổ chức những nước đi trong chiến lược để giành chiến thắng.

1957 – Frank Rosenblatt đã thiết kế mạng nơron (neural network) đầu tiên cho máy tính, trong đó mô phỏng quá trình suy nghĩ của bộ não con người.

1967 – Thuật toán “nearest neighbor” đã được viết, cho phép các máy tính bắt đầu sử dụng những mẫu nhận dạng (pattern recognition) rất cơ bản. Nó được sử dụng để vẽ ra lộ trình cho một người bán hàng có thể bắt đầu đi từ một thành phố ngẫu nhiên nhưng đảm bảo anh ta sẽ đi qua tất cả các thành phố khác theo một quãng đường ngắn nhất.

1979 – Sinh viên tại trường đại học Stanford đã phát minh ra giỏ hàng “Stanford Cart” có thể điều hướng để tránh các chướng ngại vật trong một căn phòng.

1981 – Gerald Dejong giới thiệu về khái niệm Explanation Based Learning (EBL), trong đó một máy tính phân tích dữ liệu huấn luyện và tạo ra một quy tắc chung để nó có thể làm theo bằng cách loại bỏ đi những dữ liệu không quan trọng.

1985 – Terry Sejnowski đã phát minh ra NetTalk, nó có thể học cách phát âm các từ giống như cách một đứa trẻ tập nói.

1990s – Machine Learning đã dịch chuyển từ cách tiếp cận hướng kiến thức (knowledge-driven) sang cách tiếp cận hướng dữ liệu (data-driven). Các nhà khoa học bắt đầu tạo ra các chương trình cho máy tính để phân tích một lượng lớn dữ liệu và rút ra các kết luận – hay là “học” từ các kết quả đó.

1997 – Deep Blue của hãng IBM đã đánh bại nhà vô địch cờ vua thế giới.

2006 – Geoffrey Hinton đã đưa ra một thuật ngữ “deep learning” để giải thích các thuật toán mới cho phép máy tính “nhìn thấy” và phân biệt các đối tượng và văn bản trong các hình ảnh và video.

2010 – Microsoft Kinect có thể theo dõi 20 hành vi của con người ở một tốc độ 30 lần mỗi giây, cho phép con người tương tác với máy tính thông qua các hành động và cử chỉ.

2011 – Máy tính Watson của hãng IBM đã đánh bại các đối thủ là con người tại Jeopardy.

2011 – Google Brain đã được phát triển, và mạng deep nơron (deep neural network) của nó có thể học để phát hiện và phân loại nhiều đối tượng theo cách mà một con mèo thực hiện.

2012 – X Lab của Google phát triển một thuật toán machine learning có khả năng tự động duyệt qua các video trên YouTube để xác định xem video nào có chứa những con mèo.

2014 – Facebook phát triển DeepFace, một phần mềm thuật toán có thể nhận dạng hoặc xác minh các cá nhân dựa vào hình ảnh ở mức độ giống như con người có thể.

2015 – Amazon ra mắt nền tảng machine learning riêng của mình.

2015 – Microsoft tạo ra Distributed Machine Learning Toolkit, trong đó cho phép phân phối hiệu quả các vấn đề machine learning trên nhiều máy tính.

2015 – Hơn 3.000 nhà nghiên cứu AI và Robotics, được sự ủng hộ bởi những nhà khoa học nổi tiếng như Stephen Hawking, Elon Musk và Steve Wozniak (và nhiều người khác), đã ký vào một bức thư ngỏ để cảnh báo về sự nguy hiểm của vũ khí tự động trong việc lựa chọn và tham gia vào các mục tiêu mà không có sự can thiệp của con người.

2016 – Thuật toán trí tuệ nhân tạo của Google đã đánh bại nhà vô địch trò chơi Cờ Vây, được cho là trò chơi phức tạp nhất thế giới (khó hơn trò chơi cờ vua rất nhiều). Thuật toán AlphaGo được phát triển bởi Google DeepMind đã giành chiến thắng 4/5 trước nhà vô địch Cờ Vây.

Vậy thì chúng ta đã tiến gần hơn đến trí tuệ nhân tạo? Một số nhà khoa học cho rằng đó thực sự là một câu hỏi sai.

Họ tin rằng một máy tính sẽ chẳng bao giờ “nghĩ” theo cách của bộ não con người, và việc so sánh giữa khả năng phân tích tính toán và thuật toán của một máy tính với tâm trí con người thì cũng giống như việc so sánh quả táo và quả cam vậy.

Bất chấp điều đó, các khả năng của máy tính trong việc xem, hiểu và tương tác với thế giới xung quanh chúng đang phát triển với một tốc độ đáng kể. Và khi lượng dữ liệu chúng ta tạo ra tiếp tục lớn lên theo cấp số nhân, thì khả năng của máy tính trong việc xử lý và phân tích – học từ kết quả đó – cũng ngày càng phát triển và mở rộng.

Bài viết được dịch từ trang web Forbes

———————-&&&——————–

Machine Learning with R

Phương pháp tốt nhất để học Machine Learning là thiết kế và hoàn thiện những dự án nhỏ

Học máy với R

Thuật toán:

  1. Linear Discriminant Analysis (LDA)
  2. Classification and Regression Trees (CART).
  3. k-Nearest Neighbors (kNN).
  4. Support Vector Machines (SVM) with a linear kernel.
  5. Random Forest (RF)

Thuật toán: Random Forest


Thuật toán:

  1. Logistic Regression
  2. Recursive partitioning for classification (Basic and Bayesian)
  3. Random Forest
  4. Conditional Inference Tree
  5. Bayesian Networks
  6. Unbiased Non-parametric methods- Model Based (Logistic)
  7. Support Vector Machine
  8. Neural Network
  9. Lasso Regression

Mô hình: Artificial Neural Network (ANN): Feed-forward neural network


Mô hình:

  1. Feedforward neural network (Use Case: MNIST Digit Classification)
  2. Deep Autoencoders (Use Case: Anomaly Detection)


——————–&&&——————

Niết bàn của các nhà kinh tế học (2): Các định luật

Niết bàn của các nhà kinh tế học (2): Các định luật

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Định luật sắt của tiền lương

Người ta thường gán định luật này cho Marx, trong khi nó được phát biểu (và được sử dụng rộng rãi trong các cuộc mít tinh của những nhà xã hội chủ nghĩa) bởi Ferdinand Lassalle (1825-1864), một chính trị gia người Đức thuộc cánh cực tả. Ông cho rằng, trên thị trường lao động, sự cạnh tranh giữa người lao động với nhau sẽ không tránh khỏi việc kéo tiền lương trở về mức lương tối thiểu, một mức lương chỉ đủ đảm bảo tái tạo sức lao động. Trong thực tế, lập luận này đã được David RicardoThomas Malthus sử dụng, nhưng đã được biện minh bằng các quan điểm nhân khẩu học: dân số, do đó là số lượng người lao động, được cho là sẽ tăng nhanh hơn năng lực sản xuất nông nghiệp, do lợi tức giảm dần của đất khi lần lượt đưa vào canh tác những vùng đất kém mầu mỡ. Về phần mình, Lassalle đặt định luật của ông trên cơ sở ngưỡng của tương quan sức mạnh: các chủ sử dụng lao động có nhiều quyền lực hơn so với người làm công ăn lương, vì vậy người lao động cần phải phối hợp với nhau và lật đổ hệ thống tư bản chủ nghĩa để thay thế nó bằng hệ thống của các nghiệp đoàn lao động.

F. Lassalle (1825-1864)
Karl Marx (1818-1883)

Luận đề này không phải là của Marx. Đối với Marx, thù lao của sức lao động (mức lương) phụ thuộc vào những yếu tố mang tính “đạo đức và lịch sử”, cũng như vào trình độ lao động. Đó là điều không tương thích với “định luật sắt về tiền lương”, một định luật, mà giống như một la bàn, được cho là làm cho mức lương trở lại cùng một điểm cố định một cách tất yếu: mức lương tối thiểu đủ để người lao động và gia đình họ sinh tồn. Lassalle, người muốn qua mặt Marx từ cánh tả, cuối cùng đã qua mặt Marx từ cánh hữu, khi trở thành người sáng lập Đảng Dân chủ Xã hội Đức. Nhưngnhà hoạt động [chính trị] này cũng là một người tình cảm. Phải lòng yêu con gái của một nhà ngoại giao, hơn nữa lại thuộc dòng dõi quý tộc, ông vấp phải sự từ chối của người cha, người có ý định gả con gái mình cho một người quý tộc khác. Điên tiết, Lassalle thách đấu tay đôi với người cha [của cô gái] và đối thủ của mình. Đó là một ý tồi: trận đấu là một thảm bại đối với ông, và ông chết ba ngày sau đó, ở tuổi 39.

Định luật về chi phí so sánh (hay định luật về lợi thế so sánh)

Sẽ là điều đáng tiếc khi Mozart, người dường như nấu ăn rất giỏi, lại dành thời gian của mình để nấu ăn, trong khi ông có khả năng sáng tác âm nhạc tuyệt vời. Ngay cả nếu (đây không phải là trường hợp này) ông là người nấu ăn giỏi nhất thế giới, thì thực tế là ông chỉ hơn các đối thủ nấu ăn của ông có một cái đầu [nhỏ], trong khi trong lĩnh vực âm nhạc không có ai đạt đến trình độ ở mắt cá chân của ông. Và như thế Salieri, mặc dù kém tài nấu ăn hơn Mozart, đã có thể chuyên tâm vào việc nấu ăn, bởi vì, nói cho cùng, ưu thế âm nhạc của Mozart đã bù đắp lớn hơn nhiều mọi phẩm chất nấu ăn của Salieri.

Bertil Ohlin (1899-1979)
Eli Heckscher (1879-1952)

Đó là kiểu lý luận hình thành nên định luật các chi phí so sánh, được David Ricardo (1772-1823) phát triển vào năm 1817: trong giao dịch quốc tế, nếu mỗi quốc gia chuyên sản xuất một hoặc nhiều mặt hàng mà họ có lợi thế so sánh lớn nhất (chớ không phải tuyệt đối) so với các đối thủ cạnh tranh, thì toàn thể thế giới sẽ hưởng lợi nhiều hơn, bởi vì mỗi quốc gia sẽ sản xuất những mặt hàng mà họ có lợi thế nhất (một cách tương đối). Và, cảm ơn trời đất, thương mại tự do giúp phát hiện những lợi thế so sánh của từng quốc gia, nhờ vào sự cạnh tranh giữa các quốc gia: như thế mỗi quốc gia có thể chuyên môn hóa trong những lĩnh vực mà mình có lợi thế nhất một cách tương đối, và từ bỏ những lĩnh vực khác, bởi vì họ có thể nhập khẩu các sản phẩm này với giá rẻ hơn so với việc nếu phải tự thân sản xuất ra. Eli Heckscher, Bertil Ohlin và Paul A. Samuelson đã hiện đại hóa định luật (hai nhà kinh tế học sau đã được trao “Giải thưởng Nobel”, lần lượt vào năm 1977 và năm 1970) bằng cách đưa vào một sự khác biệt giữa người lao động có tay nghề thấp và người lao động có tay nghề cao: khi một nền sản xuất đặc biệt đòi hỏi một công việc chuyên môn thấp, thì tốt hơn nên khu biệt nền sản xuất đó tại một nước thuộc phương “Nam” có rất nhiều lao động có tay nghề thấp, và khu biệt nền sản xuất có chất lượng cao tại các nước thuộc phương “Bắc”, nơi mà lực lượng lao động có tay nghề cao hơn.

Maurice Allais (1911-2010)
Paul Samuelson (1915-2009)

Về mặt lý thuyết, đây là điều không tránh được, nhưng khi phải đóng cửa hoặc di dời các doanh nghiệp, thì cái giá phải trả là rất cao, vì lẽ không bao giờ biết chắc được các hoạt động khác có thể tiếp tục vận hành được không. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi hầu hết các quốc gia đều xem định luật này như là kẻ trộm dòm ngó người hiến binh: tự hỏi làm thế nào để thoát khỏi viên hiến binh đó. Những lợi ích đạt được về mặt kinh tế sẽ được trả giá bằng các tổn thất về mặt xã hội ở phương Bắc và về mặt môi trường ở phương Nam, như lời nhấn mạnh của Maurice Allais (người được trao “Giải thưởng Nobel” vào năm 1988), cho rằng những lợi ích kinh tế từ sự chuyên môn hóa sẽ làm nghèo hơn là làm giàu thêm đất nước.

Friedrich List (1789-1846)
Paul Krugman (1953-)

Paul Krugman, tuy ủng hộ thương mại tự do, cũng phê phán định luật này, định luật mà ông cho là mang tính quá tĩnh: một đất nước khởi động trong một lĩnh vực nào đó không tránh khỏi hoạt động kém hiệu quả so với một đất nước đã làm chủ được lĩnh vực đó trong một thời gian dài và, ngoài ra, còn có thể hưởng lợi từ tính kinh tế theo quy mô. Nhưng một khi đã ổn định tình hình, thì họ có thể làm tốt hơn so với các nhà sản xuất lâu năm và do đó kích thích sự cạnh tranh (ví dụ như Airbus gây khó khăn cho Boeing). Đó là lập luận đã được Friedrich List, một nhà kinh tế học người Đức, người muốn bảo vệ “các ngành công nghiệp non trẻ” sử dụng trong thế kỷ 19. Có quánhiều dấu “giáng” làm suy yếu tầm quan trọng của định luật Ricardo này.

Định luật Engel

Ernst Engel (1821-1896)
Friedrich Engels (1820-1895)

Ernst Engel (1821-1896), không nên nhầm lẫn với người bạn của Marx, Friedrich Engels, là một nhà thống kê người Phổ, người đã tiến hành các đo đạc đầu tiên về tiêu dùng và thu nhập của các hộ gia đình. Ông nhận thấy rằng, khi thu nhập tăng, các khoản chi cho ăn uống chiếm một tỷ lệ giảm dần trong tổng chi của các hộ gia đình, trong khi đó là điều ngược lại đối với những khoản chi mà ông gọi là “xa xỉ” (cho việc di chuyển, mua sách báo, đi chơi…), còn đối với các khoản chi cho quần áo thì tăng dần theo cùng một nhịp với mức thu nhập. Các nhận định thực nghiệm này đã dẫn đến sự ra đời của định luật Engel.

Kể từ một thế kỷ rưỡi nay (định luật được trình bày lần đầu tiên vào năm 1857), bộ ba nhận định trên thực ra đã không bị phủ định, cho dù cần phải diễn đạt nó một cách tinh vi hơn. Như vậy, sự gia tăng thu nhập sẽ khuyến khích một chế độ ăn uống phong phú hơn, thậm chí thay đổi các chế độ ăn uống: chúng ta đi ăn ở nhà hàng nhiều hơn, chúng ta mua các thức ăn đông lạnh, chúng ta uống rượu sâm-banh vào những dịp lễ lạt, và tất cả những điều này sẽ tốn nhiều tiền hơn. Tuy nhiên, các khoản chi cho ăn uống (tất nhiên không bao gồm các bữa ăn ở nhà hàng) đã không ngừng chiếm một tỷ lệ giảm dần trong ngân sách của các hộ gia đình trong vòng một thế kỷ rưỡi qua: từ khoảng 60% vào năm 1860, xuống 33% một thế kỷ sau đó, 17% hiện nay (và 20% với các bữa ăn ở nhà hàng).

Đối với các khoản chi cho nhà ở (tiền thuê nhà, tiền cho hệ thống sưởi ấm, tiền cho trang thiết bị nội thất), thì tỷ lệ của chúng trong tổng chi đã không ngừng tăng dần: khoảng 5% vào năm 1860, đã tăng lên 22% vào năm 1960 và 31% hiện nay. Liệu nhà ở có là một khoản chi xa xỉ? Các hiệp hội của người tiêu dùng ủng hộ Engel trên điểm này.

Định luật Gresham

Thomas Gresham (1519-1579)

Thomas Gresham (1519-1579) là một chủ ngân hàng người Anh sống vào thời điểm mà tiền tệ được đúc hoàn toàn bằng kim loại; vào thời đó người ta sử dụng đồng thời các đồng tiền vàng và đồng tiền bạc (một hệ thống tiền tệ được gọi là “bản vị kép”). Thông thường, một đồng tiền có 31 gram bạc nguyên chất có mệnh giá giống như một đồng tiền có 2 gram vàng nguyên chất (người ta để sang một bên những rắc rối gắn với việc không bao giờ có đồng tiền nào có kim loại nguyên chất). Nhưng có tình trạng là đồng tiền vàng hay đồng tiền bạc được đánh giá thấp một chút so với đồng tiền kia. Ví dụ, việc những người chinh phục châu Mỹ phát hiện ra các mỏ bạc ở Bolivia vào thế kỷ 16 đã làm giảm giá kim loại này so với vàng. Khi đồng tiền vàng trở nên tương đối đắt hơn, thì các chủ ngân hàng thích chi tiền hoặc thanh toán bằng đồng tiền bạc có giá trị tương đối ít đắt hơn. Kết quả tất yếu là các đồng tiền vàng ngày càng trở nên khan hiếm hơn, trong khi đồng tiền bạc thì được lưu hành nhiều hơn: “đồng tiền xấu [đồng tiền bị mất giá, là đồng tiền bạc trong ví dụ này] đuổi đồng tiền tốt”, Gresham khẳng định, và từ đó cho ra đời định luật mang tên ông.

Định luật này có thể đã biến mất cùng với chế độ bản vị kép, nhưng nó lại xuất hiện mỗi khi mà hai hình thức tiền tệ cùng tồn tại có khả năng thấy được sự dao động của các giá trị trao đổi tương ứng của chúng: ví dụ, tại Argentina, vào những năm 1990, một đạo luật đã thiết lập một quy tắc đơn giản: đồng peso trị giá chính thức ngang với một đô-la. Vì vậy, ngườiArgentina không phân biệt việc trả tiền mua hàng bằng đồng peso hay bằng đồng đô-la. Nhưng do lạm phát, đồng peso bị mất giá một chút, đến mức tất cả người Argentina, những người có khả năng [tài chính] sẽ chi trả bằng đồng peso và giữ lại những đồng đô-la quý báu của họ. Chỉ cần mất tám ngày để các đồng đô-la biến mất khỏi lưu thông: đồng tiền xấu đã đuổi đồng tiền tốt và Nhà nước Argentina đã buộc phải phá giá đồng peso. Không phải không có lý do mà Gresham, một chủ ngân hàng, đã trở nên giàu có.

Định luật King

Gregory King (1648-1712), không phát minh ra định định luật nào mang tên ông cả.Nhưng định luật đã được đặt tên như vậy để tưởng nhớ đến công trình của ông. Thực vậy, nhà thống kê học người Anh này đã tiến hành những ước tính nghiêm túc đầu tiên về dân số và mức tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, và đặc biệt đã quan tâm đến các mối quan hệ giữa việc sản xuất lúa mì và giá cả của lúa mì trên thị trường. Ông thấy rằng giá lúa mì tăng cao khi mùa thu hoạch kém, và giảm mạnh khi mùa thu hoạch tốt. Việc giải thích điều này rất đơn giản: vào thời đó, lúa mì là thực phẩm thiết yếu cơ bản. Là một yếu tố then chốt của cuộc sống (và sinh tồn), người ta phải mua lúa mì bằng bất cứ mọi giá. Trong trường hợp mùa thu hoạch kém, cầu chỉ giảm nhẹ, trong khi cung có thể giảm nhiều: từ đó mà giá cả tăng mạnh. Ngược lại, những mùa thu hoạch tốt trôi qua một cách khó khăn, bởi vì dạ dày của người tiêu dùng không mở rộng được: vì vậy giá cả cần phải giảm mạnh để một số người có thể mua nhiều hơn nhằm cho gia cầm ăn chẳng hạn.

Định luật King so sánh điều được gọi là độ co dãn của cầu (khi giá giảm xuống 1%, thì liệu cầu có tăng nhiều hơn hoặc ít hơn 1% không, và khi giá tăng lên 1%, thì liệu cầu có giảm nhiều hơn hoặc ít hơn 1% không?) và độ co dãn của cung (khi giá tăng lên 1%, thì liệu cung có tăng nhiều hơn hoặc ít hơn 1% không?). Lúa mì chính là sản phẩm mà độ co dãn của cung và độ co dãn của cầu đều rất thấp, có nghĩa là cung và cầu biến động rất ít khi giá cả biến động. Như vậy, phải có một biến động giá rất lớn để có thể cân bằng cung và cầu, bởi vì chi phí vận chuyển (để nhập khẩu lúa mì trong trường hợp mùa thu hoạch kém, hoặc xuất khẩu lúa mì trong trường hợp mùa thu hoạch tốt) cao và sản phẩm dễ hư hỏng. Hầu hết các sản phẩm nông nghiệp đều ở trong trường hợp tương tự. Tuy nhiên, định luật King vẫn còn tính thời sự. Tại sao?

Chủ yếu là vì sự chậm chạp của một số quá trình điều chỉnh và chi phí xã hội của các quá trình ấy. Ví dụ, khi giá lợn tăng, báo hiệu một nguồn cung không đủ, thì sẽ có rất nhiều nhà sản xuất phát triển trang trại để tận dụng xu hướng này. Nhưng khi thu hoạch bổ sung này đến với thị trường, thì trong thực tế nó tạo ra một cung mạnh hơn so với cầu, vì vậy giá cả giảm mạnh, loại bỏ những nhà sản xuất nào yếu kém nhất hoặc hoạt động kém hiệu quả nhất. Khi thu hoạch giảm, thì giá cả tăng lên và như vậy chu kỳ (được gọi là chu kỳ “thịt lợn”, nhưng điều này cũng đúng đối với các mặt hàng ngô, củ cải đường, hạt có dầu, v.v.) có thể tái diễn, đến vô tận. Thị trường thường xuyên tạo ra một loạt các biến động theo hướng đi lên hoặc đi xuống. Đó là định luật King, định luật mà trong những năm sau chiến tranh, đã biện minh cho các chính sách nông nghiệp nhằm giảm thiểu sự biến động giá cả. Nhưng hiện nay là thời điểm của toàn cầu hóa và King không còn nằm trong nghị trình. Người nông dân hối tiếc nó, nhưng không biết định luật này.

Định luật cung cầu

John Stuart Mill (1806-1873)

Trong tất cả các định luật, đây là định luật được biết đến nhiều nhất: không có ngày nào mà định luật không được một nhà bình luận đề cập đến, để ca ngợi những phẩm chất của thị trường, hoặc cáo buộc những tệ nạn của nó. Tuy nhiên, thuật ngữ này không được sinh ra dưới ngòi bút của những nhà sáng lập phân tích kinh tế. John Stuart Mill (1806-1873), trong cuốn Principes d’économie politique[Các nguyên lý kinh tế chính trị] (1848) của ông, đã nói đến “phương trình cung cầu.”

F. von Hayek (1899-1992)
Alfred Marshall (1842-1924)

Mãi cho đến Alfred Marshall (1842-1924) và cuốn sách của ông vào năm 1890, có tựa đề giống với tựa đề cuốn sách của Mill và là cuốn sách giáo khoa đầu tiên của kinh tế học tân cổ điển, ta mới tìm thấy thuật ngữ “định luật cung cầu”. Ông đề xuất một đường biểu diễn bằng đồ thị đã trở nên phổ quát: đường cong về cầu giảm khi giá cả tăng, còn đường cong về cung đi theo con đường ngược lại và vì vậy chắc chắn sẽ xảy ra một thời điểm khi mà hai đường cong này sẽ giao nhau, xác định một mức giá và một lượng cân bằng. Há chẳng phải là điều hiển nhiên? Khi mà mặt hàng dâu tây hiếm [trên thị trường], thì giá tăng cao, điều này cho phép loại bỏ những người mua quá nhiều. Như vậy, định luật cung cầu hoạt động như một nam châm (khi giá cả tăng, thì sẽ kích thích sản xuất tăng). Sự thay đổi đồng thời giữa giá cả và số lượng cho phép dẫn đến một tình huống mà, với một mức giá nhất định nào đó, toàn bộ cung sẽ được tiêu thụ và toàn bộ cầu sẽ được thỏa mãn. Phép mầu của thị trường, Hayek thốt lên.

Trừ phi mọi chuyện không phải lúc nào cũng đơn giản như vậy. Đôi khi, khi giá giảm, cầu cũng giảm theo, bởi vì những người mua tiềm tàng diễn giải sự giảm giá này như là một sự suy giảm chất lượng (trong trường hợp của rượu vang, pho mát hoặc ô tô cũ đã qua sử dụng, ví dụ). Trong một số trường hợp, một hàng hóa đắt tiền giúp phân biệt người mua nó với những người khác không có phương tiện [để mua nó], và do đó, hưởng lợi từ mức cầu cao từ phía những người muốn được phân biệt (“hiệu ứng Veblen”, được đặt tên theo tên của nhà kinh tế học người Mỹ đã làm rõ nó).

Nói chung, cơ chế thời trang giúp làm tăng đồng thời giá cả và mức cầu. Trên các thị trường tài chính, một chứng khoán đang tăng giá sẽ thu hút người tìm kiếm một món hời và hy vọng vào một sự tăng giá tiếp theo, trong khi một chứng khoán đang mất giá sẽ khiến một số người sở hữu nó muốn loại bỏ nó: trong cả hai trường hợp, động thái mang tính tự duy trì. Nhưng ngược lại, khi giá của một nhu yếu phẩm hàng đầu (ví dụ như bánh mì) tăng, thì mức tiêu thụ của nó cũng tăng, bởi vì sự tăng giá đó chắc chắn không giới hạn ở mặt hàng bánh mì, mà còn ảnh hưởng đến các mặt hàng thực phẩm khác, đã trở nên quá đắt đỏ, và mức cầu sẽ giảm để giành tiền mua những mặt hàng nào ít tốn kém hơn là bánh mì (“hiệu ứng Giffen”, được đặt tên theo tên của nhà kinh tế học người Scotland, người đã làm rõ nó).

Nói tóm lại, định luật cung cầu thường bị vi phạm. Nhưng điều này không có nghĩa là nó không tồn tại, nhưng bố cục tốt đẹp của nó không phải là điều phổ quát, nó gần hơn với ẩn dụ này của Mill: “ở khắp mọi nơi, đại dương luôn có xu hướng cân chỉnh mực nước biển, nhưng chưa bao giờ giữ được mực nước đó; bề mặt của đại dương luôn gợn sóng và thường bị động bởi những cơn bão.

Định luật Okun

Arthur Okun (1928-1980)

Arthur Okun (1928-1980) là một nhà kinh tế học người Mỹ thuộc trường phái keynesian. “Định luật” của ông không hẳn là một định luật thực sự: nó chỉ đo lường, trong một quốc gia nhất định, diễn tiến của số lượng việc làm khi tăng trưởng tăng hoặc giảm một điểm, từ đó cho phép suy ra một tỷ suất tăng trưởng kinh tế tối thiểu để đẩy lùi tình trạng thất nghiệp, tại quốc gia đó. Vì vậy, đó là một phép đo hơn là một định luật. Ví dụ, tại Pháp, định luật Okun đưa ra một tỷ suất tăng trưởng tối thiểu là 1,3%. Nhưng tỷ suất này có thể thay đổi theo thời gian, bởi vì nó phụ thuộc vào diễn tiến của năng suất, tỷ lệ việc làm bán thời gian, v.v.. Okun đã trở nên nổi tiếng vì một đóng góp khác, dưới hình thức một ẩn dụ: nếu bạn có một khu vườn nằm xa nhà mà bạn chỉ có thể tưới tiêu bằng một cái thùng nước bị rò rỉ, thì bạn sẽ ngưng việc tưới tiêu đó từ một tỷ lệ phần trăm lượng nước bị thất thoát nào trên đường? Diễn dịch: từ những mức thất thoát nào mà chính phủ cần phải loại bỏ một khoản trợ cấp xã hội? Ông trả lời: đó là một vấn đề thuộc về niềm tin cá nhân. Một số người không chấp nhận một sự thất thoát nào dù nhỏ nhất; đối với cá nhân tôi, ông nói, tôi có thể chấp nhận đến mức 50%. Điều không tránh khỏi là sẽ luôn luôn có những kẻ khôn lỏi để được hưởng một cách không chính đáng những trợ giúp, nhưng điều đó không phải là một cái cớ để ngừng cố gắng làm giảm sự bất bình đẳng, đặc biệt đối với những người ở tận cùng của thang thu nhập. Ông không phải là người quá khoan hòa (ông khuyến nghị thắt chặt các quy định và kiểm soát), nhưng thứ bậc hóa các ưu tiên: không được bỏ rơi công bằng xã hội nhân danh cuộc chiến chống gian lận.

Định luật Pareto

Léon Walras (1834-1910)
Vilfredo Pareto (1848-1923)

Là người nối nghiệp Walras tại Đại học Lausanne, hầu tước Vilfredo Pareto(1848-1923) vào năm 1896, khi nghiên cứu về các dữ liệu thống kê thuế vụ, nhận thấy rằng trong hầu hết các nước mà ông có dữ liệu, có 20% những người đóng thuế trả 80% thuế. Tò mò, ông lại tìm ra một sự phân phối tương tự về di sản và thu nhập, và đưa ra kết luận cho rằng sự phân phối này có lẽ tương ứng với một “định luật tự nhiên”, mà ông gọi là “nguyên lý phân phối”, phản ánh sự phân phối không đồng đều về năng lực và trí tuệ thực hành trong một dân số nhất định. Ngụ ý, chỉ có một lượng nhỏ người mới thuộc tầng lớp tinh hoa, điều mà bản thân ông cũng không nghi ngờ. Nhưng phải đến năm 1956 thì Joseph Juran, một chuyên gia người Mỹ về kiểm soát chất lượng trong ngành công nghiệp, mới đặt tên cho nguyên lý phân phối này là “định luật Pareto”, sau khi tìm thấy rằng 80% những hỏng hóc của cùng một họ sản phẩm (một động cơ điện, ví dụ) xuất phát từ 20% các sản phẩm.

Định luật về dân số (hay định luật Malthus)

T. Malthus (1766-1834)

Cuốn sách của Robert Thomas Malthus (1766-1834) được xuất bản lần đầu (vào năm 1798), cuốn sách đã làm cho ông trở nên nổi tiếng, có tiêu đề là An Essay on the Principle of Population, as it affects the future improvement of society with remarks on the speculations of Mr. Godwin, M. Condorcet, and other writers [Tiểu luận về nguyên lý dân số bởi vì nó ảnh hưởng đến sự tiến bộ của xã hội trong tương lai với những nhận xét về các lý thuyết của các ông Godwin, Condorcet và của các tác giả khác] (ouf, tựa quả là khá dài!). Chính những người hâm mộ ông đã biến nguyên lý thành định luật: tỷ lệ sinh đẻ đạt đến mức mà số lượng người sống có xu hướng tăng nhanh hơn số lượng thực phẩm được sản xuất. Đối với Malthus, quy tắc này, áp dụng đối với tất cả các mọi người sống, phải dẫn đến một sự hạn chế sinh đẻ tự nguyện, đặc biệt qua việc lùi tuổi kết hôn và một sự kiêng khem quan hệ tình dục (Malthus là một mục sư). Nếu không, chính việc thiếu thốn thực phẩm nuôi sống sẽ loại bỏ số người dư thừa.

Malthus đã rút ra những kết luận gây sốc, ngay cả vào thời đó: chớ có giúp đỡ người nghèo, bởi vì điều này sẽ khuyến khích họ sinh đẻ, từ đó làm tăng tỷ lệ dân số bị nạn đói và nghèo khổ đe dọa. Malthus đã thổi điệu sáo dễ nghe này ở tất cả mọi nơi mọi lúc vào lỗ tai của người nộp thuế: sẽ là vô ích khi giúp đỡ người nghèo, nếu không muốn làm gia tăng nạn nghèo đói. Nhưng ông đã không tính đến việc con người có thể tự nguyện làm giảm khả năng sinh đẻ bằng các phương thức khác ngoài sự kiêng khem quan hệ tình dục, và khi tỷ lệ tử vong giảm xuống và khi tỷ lệ học thức tăng lên, thì họ lại có xu hướng làm điều đó [giảm tỷ lệ sinh đẻ]. Điều mà ngày nay chúng ta gọi là “sự quá độ dân số”, một thực tế khi mà tỷ lệ sinh đẻ giảm khi tỷ lệ tử vong giảm xuống, nhưng với một độ trễ trong thời gian.

Định luật này lại nổi lên trong cuộc tranh luận công cộng với “sự bùng nổ dân số” của thế giới thứ ba, trong những năm 1950. Với cảnh ngộ tương tự: mức sinh (số lượng con được sinh của một phụ nữ) trong phần lớn các nước thuộc phương Nam từ nay đã giảm xuống dưới 3 [đứa con] và đến gần với ngưỡng sinh mới bảo đảm số dân được giữ nguyên (trung bình cao hơn 2 con một chút cho một phụ nữ). Một lần nữa, sự quá độ dân số đã tiến nhanh trên diện rộng và đã được thực hiện trong 50 năm, trong khi châu Âu phải mất đến một thế kỷ. Và duy chỉ còn Châu Phi Hạ Sahara là vùng mà sự quá độ về dân số mới chỉ vừa bắt đầu.

Định luật về lợi tức giảm dần

David Ricardo (1772-1823)

Chính David Ricardo – lại ông ấy nữa! – là người phát minh ra định luật này. Khi dân số tăng, thì cần phải khai thác những vùng đất mới để nuôi sống con người, ông nói. Những vùng đất [mới] này kém năng suất hơn so với những vùng đất cũ, bởi vì hiển nhiên là người nông dân thích bắt đầu khai thác những vùng đất mầu mỡ nhất, những vùng đất làm cho họ làm việc ít nặng nhọc hơn. Lợi ích nhỏ, hậu quả lớn. Bởi vì, nếu phải mất hai giờ công để sản xuất thêm một ký lúa mì theo mức cầu của dân số, trong khi chỉ cần một giờ công cho những ký lúa mì khác, thì giá lúa mì trong tổng thể sẽ tăng lên, do không thể xem xét đến việc bán một ký lúa mì với một mức giá khác với mức giá của cậu em sinh đôi của mình, với lý do là nó có giá thành sản xuất đắt hơn. Vì vậy lợi tức giảm dần sẽ thúc đẩy giá cả tăng, đặc biệt là giá cả các mặt hàng thực phẩm. Đây là điều rất đáng buồn cho người lao động, Ricardo nói thêm, bởi vì điều đó sẽ làm cho họ càng nghèo thêm (và làm giàu cho các chủ đất, những người sẽ có dịp cho họ thuê lại những vùng đất có năng suất cao nhất với giá đắt hơn: đó là tô chênh lệch). Nhưng sự việc đã rồi.

Ricardo quan tâm đến vấn đề đất đai, các nhà kinh tế học tân cổ điển thì quan tâm đến việc khái quát hóa khái niệm. Trong một doanh nghiệp, khi sản lượng tăng, thì chi phí cận biên (chi phí của việc thêm một đơn vị đầu vào) bắt đầu giảm: bởi vì chúng ta có thể dàn trải các chi phí cố định trên một số lượng đơn vị sản xuất lớn hơn rất nhiều, cũng có thể bởi vì kinh nghiệm cho phép tiết kiệm được thời gian và nâng cao chất lượng (hiệu ứng tập huấn). Kết quả: chi phí trung bình giảm và giá bán cũng có thể dễ dàng giảm, ví dụ nếu người mua đặt mua những đơn hàng với số lượng lớn (những người cho thuê xe ô-tô, ví dụ, sẽ mua với giá rẻ hơn nhiều so với những người mua cá thể). Than ôi, những điều tốt đẹp không bao giờ kéo dài lâu. Đến một lúc nào đó thì chi phí cận biên bắt đầu tăng lên: giờ làm việc phụ trội trở nên đắt hơn, các dây chuyền sản xuất bắt đầu bão hòa, các kỹ sư không còn tìm được cách làm tăng những năng suất khả dĩ mới, v.v.. Theo các nhà kinh tế học tân cổ điển, định luật về lợi tức giảm dần có một giá trị phổ quát và việc sản xuất nhiều hơn cuối cùng cũng dẫn đến một chi phí cao hơn đối với một đơn vị sản xuất, từ đó thúc đẩy giá tăng lên.

Cần lưu ý rằng định luật này là khá thuận tiện: nó cho phép giải thích đường cong về cung. Khi cầu tăng, đó không chỉ vì tính cơ hội mà các doanh nghiệp tăng giá sản phẩm của mình, mà còn vì tình thế bắt buộc, bởi vì các chi phí cho một đơn vị sản xuất của họ cũng tăng. Những người thực lợi của Ricardo là những người bóc lột, bởi vì họ kiếm lời từ sự tăng giá các mặt hàng thực phẩm theo mức cầu tăng dần, và họ hưởng lợi mà chẳng cần phải làm bất cứ điều gì. Nhưng những doanh nhân của các nhà kinh tế học tân cổ điển là những gã đáng thương: họ chỉ tác động đến giá cả khi nhận thấy các chi phí của họ đã tăng. Nếu không, họ sẽ biến mất. Họ không có lựa chọn.

Joseph Schumpeter (1883-1950)

Tuy nhiên cũng có một nhược điểm. Lợi tức giảm dần không phải là một điều gì rõ ràng. Hầu hết các doanh nghiệp cắt giảm chi phí bằng cách mở rộng quy mô sản xuất-kinh doanh lớn hơn: điều này đúng cho các ngành công nghiệp, ngân hàng, bảo hiểm, các trung tâm mua sắm, quảng cáo, v.v.. Chỉ một nhà máy cán kim loại lớn cũng đã liên tục sản xuất ra nhiều sản phẩm tôn hơn so với nhiều nhà máy cán kim loại nhỏ. Chưa nói đến tính kinh tế theo quy mô (khấu hao các chi phí cố định trên một số lượng lớn các đơn vị sản xuất), các hiệu ứng tập huấn (xem ở phần trên), các cải tiến kỹ thuật (tự động hóa…). Với những công nghệ mới, chi phí cận biên gần bằng không: chi phí sản xuất cận biên của một phần mềm được giảm xuống bằng với chi phí bao bì và vận chuyển. Tất cả các phần còn lại là lợi nhuận. Vả lại Schumpeter đã hiểu được cách thức vận hành của chủ nghĩa tư bản, không phải với những doanh nghiệp chịu phải lợi tức giảm dần. Trong một số trường hợp, sự độc quyền là cách thức để sản xuất với mức chi phí thấp nhất: một mạng lưới đường sắt độc quyền, một mạng lưới điện thoại độc quyền, một mạng lưới cung cấp nước sinh hoạt độc quyền (ở tầm của một thành phố). Điều này được gọi là sự độc quyền tự nhiên.

Jean Tirole (1953-)
J.-J. Laffont (1947-2004)

Nhưng những doanh nghiệp nắm độc quyền, không có đối thủ cạnh tranh, có thể hưởng lợi từ vị thế không chính đáng này. Liệu nên chăng quốc hữu hóa chúng không? Jean Tirole và Jean-Jacques Laffont đã cho thấy rằng điều này không giải quyết được vấn đề, bởi vì Nhà nước (hay thị trấn) không nhất thiết có được tất cả các thông tin cần thiết để xác định một mức giá công bằng; vì thế các nhà quản lý mạng lưới nắm hết các tiền tô do các chi phí sản xuất của họ sẽ cho phép bán sản phẩm với mức giá rẻ hơn. Lợi tức tăng dần vận hành theo kiểu một cơn sóng thần: đặt lại vấn đề hiệu quả của sự cạnh tranh, định luật cung cầu, sự vượt trội về năng suất của doanh nghiệp tư nhân, v.v.. Thật tội cho Ricardo…

Định luật Say (hay định luật tiêu trường)

Adam Smith (1723-1790)
Jean B. Say (1767−1832)

Định luật Say được đặt theo tên của Jean Baptiste Say (1767-1832), nhà kinh tế học người Pháp trở nên nổi tiếng với việc phổ biến các phân tích của Adam Smithtrên lục địa (châu Âu – ND). Định luật của ông được tóm tắt như sau: sản phẩm được trao đổi với sản phẩm, hay là cung sẽ tạo ra chính cầu của nó. Để sản xuất, một doanh nghiệp mới phải mua hàng hóa hoặc dịch vụ và phải thuê nhân viên: làm như vậy, họ phải bỏ tiền ra. Đến lượt những số tiền được chi ra đó sẽ được những người thụ hưởng chi cho các khoản thanh toán. Việc cung tăng thêm là động cơ và tạo ra cầu tăng thêm với tầm quan trọng bằng nhau. Không thể có khủng hoảng thừa, nhưng chỉ có những bất điều chỉnh tạm thời theo khu vực, ví dụ như do sản xuất ra quá nhiều sản phẩm này nhưng không đủ đối với sản phẩm kia.

Các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển tin chắc vào những điều trên, vốn dẫn họ đến việc phủ nhận khả năng xảy ra những cuộc khủng hoảng lâu dài do chính bản thân hệ thống kinh tế gây ra. Các cuộc khủng hoảng chỉ có thể đến từ những nguyên nhân bên ngoài, chẳng hạn như việc ít khám phá ra các mỏ vàng (đã đóng một vai trò tiền tệ then chốt trong thế kỷ XIX), một cú sốc dầu hỏa… hoặc một chính sách kinh tế tồi tệ của Nhà nước (cách giải thích cuộc khủng hoảng vào năm 1929 của Milton Friedman). Keynes đã bác bỏ sự phân tích này, làm nổi bật khả năng của một tình trạng dư thừa tiết kiệm (không được chuyển thành đầu tư), vì vậy sinh ra không đủ cầu.

Béatrice Majnoni Intignano
Milton Friedman (1912-2006)

Những nhà kinh tế học trọng tiền và những nhà kinh tế học tân cổ điển đã tiến hành phục hồi định luật Say, gợi ý rằng phải làm mọi thứ để giải phóng cung, cầu sẽ luôn luôn đi theo sau. Ở Pháp, chúng ta thậm chí đã thấy một nữ kinh tế gia (Béatrice Majnoni Intignano) nhắc đến một “định luật Say về việc làm”: số lượng người lao động tham gia thị trường lao động càng lớn (cung lao động, thường được gọi là cầu việc làm), thì tốc độ tăng trưởng kinh tế càng cao. Bởi vì tất cả những người lao động đó hiển nhiên sẽ tạo ra một cầu lao động (tạo công ăn việc làm) nếu các tham vọng của họ không quá đáng. Vì vậy, chỉ cần một ứng viên lao động xuất hiện trên thị trường thì họ sẽ tìm được việc làm, nhờ vào bàn tay vô hình của thị trường và việc hàng ngàn doanh nhân chỉ chờ có điều đó. Một sự lạc quan đáng ngưỡng mộ hay là một chuyện cổ tích? Những người tìm việc sẽ quyết định.

Định luật về giá trị

Định luật thực ra được Marx phát triển, nó đã trở thành, đối với hầu hết những người công nhận ông, tiêu chí mang tính quyết định để phân biệt các “nhà kinh tế học tư sản” với các “nhà kinh tế học khoa học” (có nghĩa là “mác-xít”). Là một thứ vũ khí chiến đấu đồng thời là công cụ trí tuệ, định luật này khẳng định rằng giá trị của mọi nền sản xuất được xác định bởi lượng lao động xã hội cần thiết để tạo ra nó, cho dù đó là lao động trực tiếp hoặc gián tiếp (để sản xuất các hàng hóa trung gian và các trang thiết bị được sử dụng). Thuật ngữ “xã hội” có nghĩa là không đề cập đến một nhà sản xuất cụ thể nào hết, mà là tất cả những nhà sản xuất cùng một sản phẩm hoặc dịch vụ: những nhà sản xuất nào phát triển được các kỹ thuật tiết kiệm công sức lao động sẽ có cơ hội bán sản phẩm với mức giá thấp hơn giá trị trung bình, sẽ loại bỏ những nhà sản xuất nào, mà để tạo ra sản phẩm, cần đến nhiều công sức lao động hơn so với mức giá trung bình của các nhà sản xuất. Giá thật sự trên thị trường biến động theo cung và cầu, nhưng giá trị lao động, theo một cách nào đó, là trọng tâm của lực hấp dẫn. Vấn đề là khối lượng lao động có thể khỏa lấp vấn đề phẩm chất lao động vốn rất khác nhau, giữa phẩm chất của người kỹ sư và phẩm chất của người công nhân.

Là một loại định luật thiêng liêng đối với hầu hết các nhà kinh tế học mác-xít, “định luật về giá trị” đã tạo ra những cuộc tranh cãi bất tận, khó hiểu đối với hầu hết các nhà kinh tế học đương đại, có phần giống một chút với các cuộc tranh luận về giới tính của các thiên thần vào thời Trung Cổ. Nhưng vẫn luôn còn đó một vài người hoài cổ.

Định luật Wagner

Adolph Wagner (1835-1917)

Khi xã hội càng văn minh, Nhà nước càng phải chi tiêu nhiều hơn,” đó là nhận định của Adolph Wagner (1835-1917), một nhà kinh tế học người Đức, vào năm 1872. Một nhận xét mà ông đã biến thành “định luật” tất yếu vì hai lý do. Một mặt, bởi vì hoạt động của nền kinh tế, để phát triển, cần đến những cơ sở hạ tầng mà chỉ có Nhà nước mới có thể thúc đẩy và tài trợ: đường bộ giao thông, đường sắt, hệ thống nước sinh hoạt và thoát nước (ngày nay chúng ta có thể thêm vào sân bay, hệ thống cung cấp điện, mạng 4G, v.v.). Mặt khác, bởi vì mức sống, khi tăng cao, sẽ tạo ra những nhu cầu mới (về giáo dục, y tế), mà mức độ hài lòng sẽ đồng thời kích thích và tạo điều kiện cho mức độ tăng trưởng kinh tế.

Gần một thế kỷ rưỡi sau đó, định luật này đã bị đưa ra tranh cãi dữ dội, và các nhà kinh tế học tự do vui mừng trước việc các chi tiêu công có xu hướng giảm dần trong cơ cấu của GDP. Nhưng nên lưu ý là mức giảm này đi kèm với sự gia tăng bất bình đẳng và nhiều hình thức loại trừ khác nhau gây thiệt hại cho những tầng lớp dễ bị tổn thương nhất. Trong khi định luật Wagner dựa trên một nền móng chủ yếu có tính kinh tế, thì việc đặt lại vấn đề định luật này sẽ gây ra hoặc làm trầm trọng thêm các vấn đề xã hội.

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: Les lois, les théorèmes, les courbes…, Les Dossiers d’Alternatives Economiques, Hors-série no 4, septembre 2016.

———————–&&&———————