Giải Nobel kinh tế 2016: Lý thuyết Hợp đồng – Oliver Hart & Bengt Holmström

Nobel kinh tế: Oliver Hart và Bengt Holmstörm, hai nhà kinh tế học sát với doanh nghiệp

(Tác giả: Antoine Reverchon – Nguồn: phantichkinhte123.com)

“Giải kinh tế học của Ngân hàng Thụy Điển để tưởng nhớ Alfred Nobel” được trao cho các nhà kinh tế Oliver Hart (Mĩ-Anh) và Bengt Holmstörm (Phần Lan) để thưởng những công trình lí thuyết của họ về hoạt động của doanh nghiệp, được xem như một tập những hợp đồng, rõ ràng hoặc ngầm ẩn, giữa các bên có liên quan (người lao động và người sử dụng lao động, người gọi thầu và người trúng thầu, cộng tác viên và nhà quản lí, cổ đông và lãnh đạo doanh nghiệp, v.v.).

Phần chủ yếu của các công trình này được tiến hành vào cuối những năm 1970 và 1980 nhưng “chúng đã mở đường cho 40 năm nghiên cứu trong kinh tế học vi mô”, theo đánh giá của Thomas-Olivier Leautier, nhà nghiên cứu tại Trường kinh tế Toulouse mà một trong những người hướng dẫn luận án là Holmstörm. Đồng khôi nguyên năm nay là đồng tác giả với Jean Tirole của nhiều công trình và cũng là một trong số ít khách mời danh dự của nhà kinh tế Pháp này nhân lễ trao giải Nobel ở Stockholm vào năm 2014.

Cả hai đều xuất phát từ các công trình của các nhà kinh tế Mĩ George Akerlof và Joseph Stiglitz trong những năm 1970, làm rõ tính không đối xứng của thông tin mà các tác nhân trong nền kinh tế có được khi giao dịch với nhau. Việc làm rõ điều hiển nhiên này đã kết thúc giáo điều về thông tin “hoàn hảo” mà cho tới lúc bấy giờ được lí thuyết mô tả.

Một mạng những giao dịch

Nhận định trên cũng đúng cho cấp độ doanh nghiệp, như Philippe Askenazy, thuộc trường đại học Paris giải thích. Doanh nghiệp có thể được xem như một mạng những giao dịch, những “hợp đồng” có tính đến thông tin không đối xứng chứ không như là kết quả của một “cân bằng tối ưu” giữa các bên liên quan. Ví dụ, người sử dụng lao động khi tuyển dụng nhân viên không biết người lao động sẽ nỗ lực như thế nào để đảm bảo công việc được giao, cũng như người lao động không biết những phương tiện nào người sử dụng lao động sẽ thật sự trao cho mình để hoàn thành công việc. Tương tự, cả hai đều không thể dự báo những biến cố ngoại sinh có khả năng tác động đến quan hệ hai bên như bệnh tật (của nhân viên) hay khó khăn kinh tế (của doanh nghiệp).

Các “hợp đồng” phản ánh những bất trắc mà hai khôi nguyên, mỗi người mỗi hướng, đã tìm cách mô hình hóa. Như vậy, các công trình của họ có những hệ quả cụ thể trong quản lí nhân sự, và chung hơn về quản lí kinh tế và tài chính, trong mức độ là các mô hình của họ cũng có thể ứng dụng cho nhiều giao dịch của doanh nghiệp (với nhà điều tiết, chính quyền, ngân hàng, bảo hiểm nhà đầu tư, nhà cung ứng, v.v.).

Chẳng hạn, Holmstörm đã nghiên cứu về thù lao các cổ đông trả cho các lãnh đạo doanh nghiệp; Hart nghiên cứu quan hệ đối tác công-tư, mô hình hóa những tình thế trong đó, ví dụ, sẽ hiệu quả hơn cho cộng đồng khi có hai đơn vị khác nhau để xây dựng rồi quản lí một bệnh viện hay một nhà tù, hoặc ngược lại khi chỉ có cùng một đơn vị duy nhất đảm nhiệm việc này.

Những biện pháp động viên lẫn nhau

Theo Philippe Gagnepaim, giáo sư đại học Paris I và thành viên Trường kinh tế Paris, “các công trình này đã cung cấp những công cụ cho phép khuyến khích các doanh nghiệp bộc lộ năng lực sản xuất thật sự của mình và như vậy giảm thiểu thông tin không đối xứng giữa khu vực công và khu vực tư và do đó để đạt đến một hợp đồng tối ưu cho cả đôi bên”.

 
Bengt Holmstörm tại Helsinki ngày 2.11.2015. Jussi Nukari/AFP

Đối với Bengt Holmstörm, sinh năm 1949 và kể từ 1994 là giáo sư MIT, một hợp đồng do đó về bản chất có những biện pháp động viên hỗ tương cho hai bên nhằm giới hạn sự bất trắc mà cả hai bên đều gánh chịu. Ví dụ, ông chỉ ra rằng để đảm bảo là người lao động thật sự có những nỗ lực cần thiết thì người sử dụng lao động vận dụng hoặc việc tăng lương hoặc việc thăng chức song hiệu ứng của hai biện pháp này khác nhau tùy theo tình huống. Lấy cảm hứng từ lí thuyết trò chơi để mô hình hóa “hợp đồng tối ưu”, ông chỉ ra rằng hợp đồng này có thể cải thiện, nhờ các biện pháp động viên, hành vi của các tác nhân thì nó cũng không thể hình dung được tất cả các nhân tố ngoại sinh.

Vai trò của sự tin tưởng

Còn Oliver Hart, sinh năm 1948 và giáo sư Harvard, cố gắng mô hình hóa những “hợp đồng không đầy đủ”. Vượt qua quan niệm cổ điển, cũng là cách nhìn của Ronald Coase, nhìn nhận doanh nghiệp như một nút thắt những chi phí giao dịch sản sinh ra cân bằng giữa các bên, Oliver Hart xem doanh nghiệp như là định chế cho phép “cùng nhau kết nối” khi không thể biết trước và hình dung được tất cả các yếu tố và biến cố của những quan hệ giữa các bên.Như vậy ông sẽ nhấn mạnh đến vai trò của sự tin tưởng, quyền uy của bên này trên bên khác hay sự có mặt có thể của một bên thứ ba ảnh hưởng đến bản chất của hợp đồng. Ông cố gắng mô hình hoá những hình thức hợp đồng “vững chắc” nhất và thừa nhận là không thể đưa vào đó toàn bộ những khả thể.

 
Oliver Hart, tại nhà riêng ở Massachussets, ngày 10.10. Jon Chase/AFP

Đối với cả hai khôi nguyên, các hợp đồng phản ánh thế giới như nó tồn tại chứ không như lí thuyết kinh tế muốn nó phải là. Tất nhiên, là những nhà lí thuyết giỏi, họ đều đề xuất những mô hình đơn giản nhằm tối ưu hóa các hợp đồng.

Jean-Marc Daniel, giáo sư Trường cao đẳng thương mại Paris (ESCP), nhận định là “họ viết những phương trình vô cùng đơn giản, chính xác và vững chắc nhưng biết giữ mình để không đề xuất những trị số chính xác cho các biến được họ làm rõ”. Do đó các mô hình này đã mở đường cho vô số công trình kinh tế học vi mô cho phép đối chiếu mô hình với dữ liệu sẵn có. Ví dụ, Philippe Gagnepain giải thích: “tôi kiểm định các giả thuyết của họ trong lĩnh vực giao thông công cộng, một lĩnh vực mà ta có những cơ sở dữ liệu mênh mông”.

Nguyễn Đôn Phước dịch

Nguồn: “Nobel d’économie: Oliver Hat et Bengt Holmstör, deux économistes au plus près de l’entreprise”, Le Monde, 10.10.2016



Giải Nobel Kinh tế 2016: Khoa học về hợp đồng

(Tác giả: Huỳnh Hoa – Nguồn: http://www.thesaigontimes.vn)

(TBKTSG) – Giải Nobel Kinh tế học năm nay được trao cho công trình nghiên cứu cải tiến sự hiểu biết của chúng ta về lý do và cách thức mà hợp đồng vận hành, cũng như cách thiết kế hợp đồng sao cho nó vận hành tốt hơn.

Giả sử anh và tôi hợp tác mở một quầy bán nước chanh. Tôi góp toàn bộ trang thiết bị (ly cốc, quầy kệ…), anh lo pha nước chanh; tôi chạy bàn còn anh thu tiền rồi chúng ta sẽ phân chia tiền lời một cách công bằng. Dù vậy, vẫn có điều phiền toái: tôi ngờ anh có thể lấy bớt tiền trong két chẳng hạn. Vì vậy chúng ta lập một hợp đồng, trong đó quy định tiền lời được chia đôi, mỗi người một nửa. Nhưng rồi anh lại lo lắng: phần lớn thành công của quầy tùy thuộc vào phẩm chất nước chanh do anh pha mà tôi không kiểm soát được. Nếu tôi chây lười và ỷ lại vào tài năng pha chế của anh thì sao? Tiền lời có tiếp tục chia 50-50 hay không? Thế là chúng ta phải bàn bạc sao cho bản hợp đồng phải quy định rõ cách thức mà hai bên phải thực hiện công việc của mình. Đấy là một dạng hợp đồng đơn giản làm cơ sở cho quan hệ hợp tác kinh doanh giữa hai cá nhân; trong xã hội còn có vô số loại hợp đồng phức tạp hơn nhiều.

Hợp đồng đóng vai trò thiết yếu trong sự vận hành của nền kinh tế hiện đại. Hợp đồng quy định ai được phép làm gì với đất đai mà mình sở hữu, nhân viên mà mình thuê mướn và cả những bản nhạc tải về điện thoại của mình. Hợp đồng là nền tảng của tất cả các hoạt động ngân hàng và bảo hiểm, là phần không thể thiếu giữa người lao động và chủ doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp và khách hàng… Cá nhân luôn làm điều có lợi cho mình, nhưng để tận dụng các cơ hội kinh tế, con người phải làm việc cùng nhau và tìm cách kết hợp quyền lợi với nhau, giảm thiểu xung đột về lợi ích.

Giải Nobel Kinh tế học năm nay được trao cho ông Oliver Hart – nhà kinh tế học Anh của trường Đại học Harvard – và ông Bengt Holmstrom – nhà kinh tế học Phần Lan tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) – vì công trình nghiên cứu cải tiến sự hiểu biết của chúng ta về lý do và cách thức mà hợp đồng vận hành, cũng như cách thiết kế hợp đồng sao cho nó vận hành tốt hơn.

Công trình của hai nhà khoa học này tập trung vào sự cần thiết phải cân bằng các yếu tố khác nhau (trade-offs) khi xác lập những điều khoản hợp đồng; khám phá những khiếm khuyết không thể tránh được của nhiều thị trường thiết yếu. Việc phân tích các hợp đồng bảo hiểm y tế của ông Holmstrom chẳng hạn miêu tả tính cân bằng tất yếu giữa sự hoàn chỉnh của bản hợp đồng với yếu tố rủi ro về đạo đức. Từ quan điểm bảo hiểm, việc bệnh nhân phải cùng chi trả (co-payment) chi phí điều trị là một sự lãng phí; nếu bệnh nhân được chi trả toàn bộ thì tốt hơn. Nhưng vì nhà bảo hiểm không thể nào biết được, liệu có phải tất cả bệnh nhân đều chỉ được khám và điều trị đúng với nhu cầu hay không cho nên điều khoản cùng chi trả được coi như một cách ngăn chặn rủi ro đạo đức: ngăn ngừa việc lạm dụng bảo hiểm y tế dẫn tới nguy cơ vỡ quỹ bảo hiểm.

Ông Holmstrom phân tích sâu hơn vào vấn đề trả lương theo hiệu quả công việc và chỉ ra rằng, trả lương thưởng theo hiệu quả công việc (performance-based pay) cần phải được kết nối càng nhiều càng tốt với các thước đo về hiệu quả quản trị. Nhưng càng khó tìm ra những thước đo tốt để đo lường hiệu quả thì tiền lương càng được cố định một cách đơn giản. Việc tăng lương, thưởng cho viên chức quản lý khi công việc trôi chảy và ngược lại trừng phạt họ khi giá cổ phiếu sụt giảm chẳng hạn thường có rất ít ý nghĩa vì công việc tăng tiến hay không phụ thuộc nhiều vào các yếu tố kinh tế rộng lớn khác; (chính vì vậy, theo ông Holmstrom, giá cổ phiếu của công ty phải được xem xét trong quan hệ đối sánh với các công ty khác cùng ngành thay vì chỉ chú ý tới sự tăng giảm của riêng cổ phiếu đó).

Giáo sư Holmstrom cũng lưu ý rằng, trả lương theo hiệu quả cũng có thể gây ra vấn đề khi khuyến khích người lao động chỉ tập trung vào một số phần nào đó trong công việc của họ. Nếu lấy kết quả thi cử của học sinh làm cơ sở tính toán tiền lương, thưởng của giáo viên chẳng hạn thì giáo viên có thể dành nhiều công sức để “luyện thi” cho học trò thay vì giáo dục những kỹ năng khác. Chính vì thế, người sử dụng lao động cần tìm cách cân bằng việc trả tiền lương theo mức cố định với tiền thưởng theo hiệu quả công việc.

• Tiến sĩ Oliver Hart, 68 tuổi, sinh ra ở London. Ông học Đại học London, Đại học Cambridge và Đại học Warwick ở Vương quốc Anh trước khi nhận bằng tiến sĩ năm 1974 tại Đại học Princeton, Mỹ. Ông là giáo sư kinh tế học của Đại học Harvard từ năm 1993.

• Tiến sĩ Bengt Holmstrom, 67 tuổi, sinh ra ở Helsinki, Phần Lan. Ông nhận bằng tiến sĩ năm 1978 tại Đại học Stanford, là giáo sư kinh tế học và quản trị của Viện MIT từ năm 1994. Trước đó, ông giảng dạy tại Đại học Northwestern và Đại học Yale.

Công trình nghiên cứu bổ sung của ông Hart phát hiện những trường hợp mà sự phân bổ quyền quyết định có vai trò hết sức quan trọng. Trong ví dụ về quầy bán nước chanh nói trên, chúng ta không thể xác định điều gì sẽ xảy ra nếu như có một đối thủ cạnh tranh tới mở một quầy như vậy ở bên kia đường. Nhưng chúng ta có thể đồng ý rằng, cần có một “giám đốc điều hành” đủ quyền lực để quyết định cần phải làm gì trong trường hợp như vậy và phải chọn một trong hai người đứng ra đảm nhiệm vị trí đó.

Quyền quyết định thường đi cùng với quyền sở hữu. Công trình của ông Hart lưu ý rằng, người nắm quyền sở hữu không chỉ rất quan trọng trong việc quyết định sẽ làm gì trong các trường hợp bất ngờ mà cũng rất quan trọng trong công việc hàng ngày. Một nhà khoa học làm việc ở bộ phận nghiên cứu và phát triển (R&D) sẽ sử dụng thời gian và công sức của mình theo cách khác nếu như được chủ công ty cam kết trong hợp đồng sẽ chia cho anh/chị ta phần sở hữu xứng đáng trong tài sản trí tuệ mà anh/chị ta góp phần tạo ra, thay vì quy định toàn bộ bản quyền công nghệ thuộc về công ty.

Nghiên cứu của hai nhà khoa học này có nhiều ứng dụng quan trọng. Một công trình mà ông Hart là đồng tác giả chẳng hạn đã so sánh nhà tù công và nhà tù tư. Ở các nhà tù do tư nhân làm chủ thì các ông chủ tìm mọi cách cắt giảm chi phí, làm cho điều kiện sống của tù nhân trở nên tệ hại so với nhà tù công. Nghiên cứu này đã làm dấy lên những cuộc tranh luận gần đây về hệ thống nhà tù tư nhân ở nước Mỹ. Nói rộng ra, ứng dụng này đòi hỏi phải cân nhắc chính sách của các chính phủ thuê các công ty tư nhân cung cấp các dịch vụ công cho người dân.

Một ý tưởng chung và quan trọng trong nghiên cứu của ông Hart và ông Holmstrom là vai trò của quyền lực trong các doanh nghiệp hợp tác (co-operative ventures). Những cá nhân hoặc công ty có khả năng làm “đóng băng” các thỏa thuận – bằng cách từ chối cung cấp dịch vụ hoặc không cho phép sử dụng các nguồn lực mà họ sở hữu – thường có quyền lực kinh tế đáng kể. Quyền lực đó cho phép họ giành được nhiều hơn phần giá trị mà doanh nghiệp hợp tác tạo ra, và họ cũng có khả năng triệt tiêu toàn bộ sự hợp tác ngay cả khi doanh nghiệp đó mang lại những lợi ích lớn lao cho các thành viên và cho xã hội. Hợp đồng ra đời và tồn tại để định hình mối quan hệ quyền lực đó. Trong một số trường hợp, hợp đồng sẽ hạn chế quyền bãi bỏ sự hợp tác; trong một số trường hợp khác, hợp đồng tạo ra hoặc bảo vệ các mối quan hệ quyền lực nhằm khuyến khích lối ứng xử tốt: nếu người lao động và doanh nghiệp đều có quyền chấm dứt hợp đồng chẳng hạn, thì hai bên buộc phải quan tâm tới quyền lợi của nhau.

Bài học rộng lớn hơn – vấn đề quyền lực – là một lĩnh vực kinh tế học thường xuyên bị lãng quên; giải Nobel Kinh tế năm nay có ý nghĩa lớn ở chỗ lần đầu tiên đưa vấn đề động cơ quyền lực lên trước, lên trung tâm và phơi bày nhiều cách thức – thường không được chú ý – mà quyền lực tác động đến cuộc sống của mỗi chúng ta.

(Theo The Economist)

—————&&————–

Giải Nobel kinh tế 2015: Phân tích về tiêu dùng, nghèo đói và thịnh vượng – Angus Deaton

Ba đóng góp mang đến giải Nobel cho Deaton

(Tác giả: Phạm Trần Lê – Nguồn: tiasang.com.vn)

Angus Deaton

Vài thập kỷ trở lại đây, những nghiên cứu về phân phối tiêu dùng giữa các cá nhân – chủ đề có ảnh hưởng lớn tới nhiều vấn đề chính trị – kinh tế – xã hội quan trọng, trong đó có nghèo đói và bất bình đẳng – đã đạt nhiều tiến bộ do sự đóng góp đáng kể của các nhà kinh tế, mà nổi bật nhất là Angus Deaton. Ba cống hiến quan trọng nhất sau đây đã mang về cho ông giải Nobel Kinh tế năm nay.

Tạo công cụ nền tảng để phân tích nhu cầu tiêu dùng

Trước tiên là cống hiến của Deaton trong việc đưa ra phương pháp nghiên cứu định lượng về các lựa chọn tiêu dùng của con người đối với các hàng hóa khác nhau, giúp cải thiện năng lực ước tính của kinh tế học về nhu cầu của người tiêu dùng. Từ lâu, một vấn đề cơ bản vẫn luôn thu hút sự quan tâm của các nhà kinh tế là mức ảnh hưởng từ những biến động của các loại giá cả, thu nhập, đối với nhu cầu tiêu dùng – những mức độ ảnh hưởng này nếu được dự đoán chính xác sẽ vô cùng hữu ích cho những người xây dựng các chính sách liên quan tới giá cả, thu nhập, thuế, v.v.

Với bài toán cho một cá nhân/gia đình thì việc xây dựng mô hình phân tích sẽ khá đơn giản, nhưng với tổng cầu của tất cả người tiêu dùng thì câu chuyện trở nên phức tạp hơn nhiều. Do đó, để thuận tiện tính toán và phân tích, trước Deaton, người ta thường mặc định rằng tất cả các cá nhân đều có khẩu vị, sở thích tương tự nhau, theo đó bài toán về tổng cầu của tất cả người tiêu dùng thực chất là bài toán về nhu cầu một cá nhân “đại diện”. Nhưng tới thập kỷ 1970 người ta nhận thấy mô hình giản lược này không phản ánh đúng thực tế những dữ liệu tổng thể tiêu dùng: nó cho thấy người tiêu dùng hành xử một cách phi lý, hoặc là mô hình có sai sót đâu đó chưa ai lý giải được.

Đứng trước vấn đề này, cùng với John Muellbauer, năm 1980 Deaton đã đưa ra mô hình Hệ thống Nhu cầu Hầu như Hoàn hảo (Almost Ideal Demand System, viết tắt là AIDS), với một hệ phương trình có tính linh động cao hơn các mô hình trước đây. Đến nay, nó trở thành công cụ nền tảng để đa số các chính phủ phân tích đánh giá tác động kinh tế từ các chính sách, với lợi thế cơ bản là cho phép tính đến những dị biệt đa dạng giữa các cá nhân, mặt khác vẫn đảm bảo được tính căn bản và khái quát cao, cho phép ứng dụng rộng rãi ở các nền kinh tế khác nhau.

Khởi phát một cuộc cách mạng kinh tế lượng

Đóng góp quan trọng thứ hai của Deaton là những nghiên cứu của ông về tổng tiêu dùng (aggregate consumption), đã giúp mở đường cho cuộc cách mạng kinh tế lượng vi mô trong nghiên cứu về tiêu dùng và tiết kiệm qua chuỗi thời gian. Trước đây, người ta cho rằng theo thời gian, tiêu dùng không dao động mạnh như thu nhập, bởi người tiêu dùng luôn kỳ vọng thu nhập về lâu dài của mình sẽ bình ổn, và rằng người tiêu dùng luôn có khả năng vay mượn theo cùng một lãi suất để duy trì tiêu dùng ở mức ổn định mong muốn. Nhưng Deaton đã chỉ ra thực tế là dữ liệu về mức biến thiên của tổng tiêu dùng không ủng hộ cho quan điểm này, qua đó cho thấy để nghiên cứu về tổng tiêu dùng, người ta cần tiếp cận theo cách khác, phải thay đổi giả định về thu nhập tự bình ổn trong lâu dài, cũng như giả định rằng mọi người đều có thể vay mượn với lãi suất cố định như nhau.

Deaton đưa ra mô hình mới trong thống kê và phân tích kinh tế, giúp phản ánh sự điều chỉnh trong hành vi tiêu dùng của các nhóm người khác nhau khi các điều kiện kinh tế thay đổi, cho thấy nếu chỉ phân tích dựa trên dữ liệu vĩ mô thì sẽ không thể nhận ra tác động riêng đối với từng nhóm cụ thể, nhất là khi những tác động này bù trừ lẫn nhau nên không thể hiện ra trên bình diện tổng thể. Như vậy, việc quá mức dựa dẫm vào bộ dữ liệu thống kê vĩ mô ở tầm quốc gia, dù rất phổ biến và thuận tiện, sẽ dẫn tới những phân tích sai lệch, trong đó có việc không thấy được tình hình bất bình đẳng giữa các nhóm trong xã hội.

Tuy nhiên, việc liên tục điều tra và dõi theo lựa chọn của một nhóm lớn các hộ gia đình trong khoảng thời gian vài thập kỷ là điều hết sức khó khăn và tốn kém. Bởi vậy, Deaton đã tạo một bước đột phá về thống kê, khi chỉ cần tiến hành những cuộc điều tra ngẫu nhiên, với mức độ thường xuyên vừa phải. Ông đã thiết kế phương pháp lập bảng cho dữ liệu chéo (cross-section data), cho phép tiến hành nghiên cứu hành vi cá nhân qua chuỗi thời gian ngay cả khi không có dữ liệu bảng đầy đủ.

Thay đổi cách tiếp cận trong nghiên cứu về nghèo đói và phát triển

Đóng góp thứ ba của Deaton là tiên phong trong việc sử dụng dữ liệu khảo sát các hộ gia đình ở các nước đang phát triển, đặc biệt là dữ liệu về tiêu dùng, nhằm đo lường mức sống và đói nghèo. Theo nhận xét của Ủy ban trao giải Nobel Kinh tế 2015, Deaton đã giúp thay đổi diện mạo kinh tế phát triển, từ một ngành thiên về lý thuyết chuyên sử dụng dữ liệu vĩ mô, trở thành một ngành thiên về thực nghiệm dựa trên dữ liệu kinh tế vi mô chất lượng cao1. Ông cho thấy giá trị của việc sử dụng dữ liệu về mức tiêu dùng để phân tích tình trạng phúc lợi xã hội của người nghèo, đồng thời chỉ ra những khiếm khuyết của các nhà kinh tế khi so sánh mức sống ở những bối cảnh thời gian, địa điểm khác nhau.

Đơn cử như trong thập kỷ 1990, Deaton hợp tác với Shankar Subramanian cùng thẩm định kết quả các cuộc khảo sát thực đơn thường ngày của các hộ gia đình Ấn Độ. Nghiên cứu của hai ông đã chứng minh rằng những gia đình nghèo khổ nhất ở Ấn Độ vẫn hoàn toàn có khả năng kiếm đủ lương thực-thực phẩm cần thiết hằng ngày. Kết quả nghiên cứu này đã bác bỏ giả thuyết bấy lâu nay trong kinh tế học, rằng suy dinh dưỡng là một trong những nguyên nhân chính gây ra sự nghèo khổ. Kết quả trên cũng mở ra một xu hướng nghiên cứu mới để trả lời câu hỏi: vì sao vẫn có nhiều gia đình nghèo ở trong tình trạng suy dinh dưỡng.

Những công trình công phu của Deaton, cách tiếp cận nghiêm khắc, kỹ lưỡng của ông trong khảo sát và sử dụng dữ liệu giành được sự ngưỡng mộ đặc biệt từ các nhà kinh tế khác. Christina Paxson, từng là đồng tác giả với Deaton trong nhiều nghiên cứu, hiện là Chủ tịch Đại học Brown, nhận xét, các nghiên cứu của Deaton góp phần xác lập “quan điểm rằng nghiên cứu về kinh tế phát triển là công việc có thể được tiến hành một cách nghiêm khắc, ở chuẩn mực rất, rất cao.” 2 Từ MIT, Abhijit Banerjee, nhà tiên phong mới trên lĩnh vực nghiên cứu về đói nghèo, ca ngợi công lao của Deaton trong việc vận dụng sức mạnh của dữ liệu: “Ông đã cho chúng ta thấy rằng những bằng chứng đầy chi tiết, được tập hợp công phu, và trình bày một cách thuyết phục, có thể là liều thuốc mạnh mẽ giúp chống lại những tư duy duy ý chí, định kiến, và lười biếng“3

Những năm gần đây, với tư duy sắc sảo và tâm tư trăn trở dành cho chủ đề chống đói nghèo, Deaton thường xuyên lên tiếng phản đối trợ cấp nước ngoài dành cho các nước đang phát triển. Ông cho rằng trợ cấp nước ngoài làm méo mó các thị trường bản địa, tạo môi trường tham nhũng, và kéo dài sự trì trệ, chậm cải tổ ở các chính quyền.

Các nghiên cứu của Deaton trải trên một diện rộng, giải quyết nhiều vấn đề có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, với nhiều đóng góp ảnh hưởng tới các nhà hoạch định chính sách phát triển ở các nước đã phát triển cũng như đang phát triển. Thành tựu nghiên cứu của ông bao gồm từ những lý thuyết sâu sắc, cho tới những đo lường chi tiết tỉ mỉ nhất. Tinh thần chung là sự kết nối giữa lý thuyết và đo lường, kết nối dữ liệu vi mô với vĩ mô bằng những phương pháp thống kê thích hợp. (Trích đánh giá của Ủy ban trao giải Nobel kinh tế 2015)

Chú thích:

1: http://www.nobelprize.org/nobel_prizes/economic-sciences/laureates/2015/advanced-economicsciences2015.pdf

2, 3: http://www.washingtonpost.com/news/wonkblog/wp/2015/10/12/princeton-professor-angus-deaton-wins-nobel-prize-in-economics/


Nobel Kinh tế 2015 Angus Deaton: Thân thế và sự nghiệp

——————-&&———————

Giải Nobel kinh tế 2014: Phân tích về quyền lực thị trường và pháp chế – Jean Tirole

Jean Tirole (TSE), Nobel kinh tế 2014

(Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng – Nguồn: vcreme.edu.vn)

Jean Tirole

Gii Nobel kinh tế năm 2014 va được trao cho Jean Tirole, giáo sư trường Trường Kinh tế Toulouse (Toulouse School of Economics, TSE) cho nhng đóng góp ca ông v phân tích th trường không hoàn ho và cách thc qun lý-điu tiết loi th trường này. Đóng góp ca Jean Tirole đã có nh hưởng ln cho s phát trin lý thuyết và ng dng v môn t chc ngành (industrial organization), mt chuyên ngành hp ca kinh tế vi mô. Trong bn tin này, VCREME xin trân trng gii thiu sơlược v sự nghiệp mt s kết qu chính trong nghiên cu ca ông.

Thành phố Toulouse tổ chức lễ mừng giáo sư Jean Tirole được trao Nobel Kinh tế - Quảng trường Capitole, Toulouse
Thành phố Toulouse tổ chức lễ mừng giáo sư Jean Tirole được trao Nobel Kinh tế – Quảng trường Capitole, Toulouse

Jean Tirole sinh năm 1953 ở Troyes (Aube) trong một gia đình có bố là bác sỹ sản khoa và mẹ là giáo viên văn học. Đam mê khám phá  những điều mới mẽ và trìu tượng đã đưa ông đến Nancy theo học lớp dự bị về Toán (classe préparatoire).  Năm 21 tuổi, ông tiệp tục mài dũa kiến thức Toán học của mình  ở Trường Bách khoa Paris (École Polytechnique) nơi có  những người thầy nổi tiếng, ví dụ như nhà Toán học Laurent Schwartz (đạt giải thưởng Fields năm 1950). Lúc đấy, Tirole đã phát hiện ra sự hấp dẫn của Kinh tế học, với ông đó là sự tương tác của Toán học và  khoa học xã hội nhân văn. Ông nói:  “Tôi đã thực sự  bị cuốn hút bởi chuyên ngành này bởi vì nó là môn khoa học vừa là  thực chứng (positive) vừa là chuẩn tắc (normative): nó cho phép phân tích  hành vi để từ đó đưa ra các khuyến nghị  chính sách, mục tiêu cuối cùng là để làm cho thế giới tốt đẹp hơn” .  Vì vậy, quyết định đã được lựa chọn, nhận bằng kỹ sư Trường bách khoa Paris năm 1976, ông liền gia nhập  Trường cầu-đường quốc gia (École Nationale des Ponts et Chaussées), ngôi trường tự hào đã tạo nên nhiều kinh tế gia xuất sắc của Pháp, từ  Roland Bénabou và Bernard Caillaud (hai đồng nghiệp sau này thường xuyên viết bài chung với  JeanTirole) đến Roger Guesnerie và Jean-Michel Grandmont (cả hai đều dành huy chương bạc của trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp, CNRS).  Năm 1978 sau khi tốt nghiệp trường cầu-đường, ông lên đường du học tại Hoa Kỳ, nơi ông lấy bằng tiến sĩ Kinh tế tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) vào năm 1981  dưới sự hướng dẫn của giáo sư Eric Maskin(Nobel kinh tế năm 2007).

Trong thời gian đó, ông đã  chia sẽ niềm đam mê về Lý thuyết trò chơi (Game theory) với người bạn học, Drew Fudenberg (hiện đang là giáo sư của đại học Harvard), hai người đã có rất nhiều nghiên cứu chung sau này. Khi nói về vai trò của  môi trường nghiên cứu, ông nói: “ Môi trường làm việc trí tuệ đóng một vai trò vô cùng quan trọng không chỉ cho việc kiến ​​thức được cập nhật mà nó còn là  động lực (motivation) “.

Nhanh chóng nắm bắt thành công sau khi tốt nghiệp, từ năm 1984 đến năm 1992, ông giảng dạy  và trở thành giáo sư ở MIT. Tại đây, ông được trao đổi và làm việc với những nhà kinh tế hàng đầu thế giới trong đó có Paul Samuelson, Franco Modigliani, Bob Solow và Peter Diamond (bốn giải thưởng Nobel kinh tế, tương ứng vào năm 1970, 1985 và 1987, 2010). Trong thời gian này, những nghiên cứu  về bong bóng hợp lý (rational bubbles) được Tirole phát triển dựa trên những nền tảng nghiên cứu trước đó của Samuelson và Diamond.

Ngoài  môi trường nghiên cứu tuyệt vời ở MIT, có một giáo sư người Pháp đã ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp của Jean Tirole. Năm 1980, trong thời gian đang làm PhD, ông đã gặp giáo sư Jean-Jacques Laffont của Đại học Toulouse 1 ( University of Toulouse 1)  trong một hội nghị của Hiệp hội Kinh tế lượng ( Econometric Society) ở Rio de Janeiro.  Giáo sư Jean-Jacques Laffont sinh năm 1947, tốt nghiệp ngành Toán ở Toulouse, lấy bằng Tiến sỹ Kinh tế ở Đại học Harvard năm 1975, lúc đấy đã là một giáo sư hàng đầu về lý thuyết lựa chọn công (public choice theory) và lý thuyết thông tin (information theory). Từ năm 1981,  họ đã hợp tác với nhau để nghiên cứu những cải cách trong một số ngành công nghiệp trọng điểm như viễn thông, điện lực, bưu điện, đường sắt. Năm 1990, Jean-Jacques Laffont thành lập Viện kinh tế ngành (IDEI) (l’Institut d’économie industrielle) chủ yếu do các xí nghiệp và tư nhân tài trợ.

Năm 1991, trong một kỳ nghỉ quan trọng, Jean Tirole đã đến Toulouse để hoàn thành một cuốn sách cùng với Jean-Jacques Laffont. Ở Toulouse, được làm việc cùng Laffont và cảm phục trước tinh thần vì tập thể của Laffont về ước muốn nâng cao chất lượng các trường Đại học kinh tế của nước nhà, năm 1992, Tirole, cùng vợ là Nathalie, đã quyết định vượt Đại Tây Dương để trở về lập nghiệp ở thành phố màu hồng. Ông vẫn giữ một vị trí giáo sư  thỉnh giảng ở MIT. Ông nói : ‘’ Tôi đã đặt niềm tin hoàn toàn vào Jean-Jacques. Vượt lên tất cả, ngoài  trí tuệ và sự sáng tạo tuyệt vời trong nghiên cứu, Jean-Jacques mang trong mình một phẩm chất nhân văn cao quí và  một nhà quản lý tài năng’’. Cùng với Jean-Jacques Laffont, họ lập nên một nhóm nghiên cứu  Toán học và Kinh tế định lượng (Research Group in Mathematical and Quantitative Economics, GREMAQ) trong một đơn vị nghiên cứu thuộc Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp và trường Đại học Toulouse I.  Năm 2004, Jean-Jacques Laffont  qua đời, Jean Tirole và các đồng nghiệp đã kêu gọi đầu tư thành lập Qũy Jean-Jacques Laffont (Foundation Jean-Jacques Laffont). Đây chính là cơ sở cho sự ra đời trường TSE năm 2006. Hiện tại TSE trở thành  một trung tâm nghiên cứu và giảng dạy kinh tế hàng đầu ở Châu Âu, nơi  Jean Tirole đang nắm giữ vị trí chủ tịch. Jean Tirole hiện cũng đang là chủ tịch Viện nghiên cứu cao cấp Toulouse (IAST) được thành lập vào năm 2011. Ngoài nhiều giải thưởng danh giá trong sự nghiệp, năm 2007, ông được nhận huy vàng của Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp. Tính đến nay, Jean Tirole là kinh tế gia người Pháp thứ 3, (sau Gérard Debreu năm 1983 và Maurice Allais năm 1988), dành được giải thưởng Nobel kinh tế. Jean-Charles Rochet, một giáo sư có tiếng của TSE đã đánh giá về Jean Tirole như sau ” …một trí thông minh hiếm có, không những khả năng phát minh, mà còn để duy trì và cấu tạo nên một số lượng đáng kinh ngạc các công trình khoa học… “.

Thật vậy, Jean Tirole là tác giả của khoảng 200 bài báo trên những tạp chí hàng đầu về Kinh tế và Tài chính (xem CV Tirole). Năm 2013, tạp chí danh tiếng  Review of Economic Studies đã bầu chọn một bài báo của ông: Intrinsic and Extrinsic Motivation, đồng tác giả với Roland Bénabou, là một trong 11 bài báo có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử 80 năm hình thành của tạp chí. Jean Tirole là tác giả của 11 cuốn sách  tham khảo, bao gồm nhiều cuốn kinh điển như: The Theory of Industrial Organization (1988), A Theory of Incentives in Regulation and Procurement (1993) với Jean-Jacques Laffont, Game Theory (1991) với Drew Fudenberg, Theory of Corporate Finance (2006). Jean Tirole từng là chủ tịch hội kinh tế lượng  năm 1988 và chủ tịch hiệp hội kinh tế Châu Âu năm 2001.

Jean Tirole đã có nhiều đóng góp quan trọng trong các nghiên cứu  về khoa học kinh tế, khoa học chính trị, xã hội học và tâm lý học. Lãnh vực đóng góp chính mà Ủy ban xem xét Nobel đã trao giải thưởng cho ông là về quyền lực thị trường và cách thức quản lý của nhà nước (Market power and Regulation). Cùng với Jean-Jacques Laffont, ông nghiên cứu về những thị trường quyền lực, thông thường là những công ty công nghiệp tài chính  lớn mạnh, nơi họ có thị trường độc quyền hoặc độc quyền nhóm (oligopoly).  Nếu không có sự quản lý của nhà nước (regulator) để chống độc quyền, công ty này  có thể tạo ra những kết quả không mong muốn về mặt xã hội, chẳng hạn như định giá sản phẩm/dịch vụ một cách quá cao, hoặc hình thành những doanh nghiệp  chỉ tồn tại bằng việc ngăn chặn sự tham gia thị trường của các doanh nghiệp mới, hiệu quả hơn. Trong các khu vực này, ông nói “đc quyn có th by người tiêu dùng mc giá cao hơn hoc dch vkém”.

Vấn đề phức tạp của những mô hình này chủ yếu là do sự hiện diện của thông tin phi đối xứng (asymmetric information). Các công ty nắm rõ thông tin về điều kiện và chi phí sản xuất hơn các cơ quan giám sát nhà nước. Tình hình còn phức tạp hơn khi một số các công ty muốn thông đồng độc quyền nắm giữ thị trường trong khi đó cơ quan quản lý nhà nước cần phải ngăn chặn thỏa thuận ngầm giữa chúng.  Yếu tố tâm lý của các bên tham gia cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong kiểu mô hình này, nó giống như trò chơi “mèo vờn chuột” . Thêm vào đó, mô hình của ông còn chứa rất nhiều vấn đề khác của nền kinh tế, ví dụ như chính sách quản lý cạnh tranh (competition policy) và vai trò của các cuộc chạy đua nghiên cứu và phát triển (R&D) trong việc duy trì vị thế, chiếm lĩnh thị phần, và ngăn chặn đối thủ tiềm năng tham gia chiếm lĩnh thị trường ngành. Jean Tirole cũng đã quan tâm đến mô hình kinh doanh  “hai mặt” của doanh nghiệp cho  hai loại khách hàng khác nhau và đề xuất biện pháp quản lý đối phó với độc quyền nhóm.  Sử dụng chủ yếu công cụ Toán học, lý thuyết trò chơi và lý thuyết thông tin, Jean Tirole đề xuất các mô hình để xác định và phân tích  những tình huống này.

Thông thường, công trình của các giải Nobel kinh tế rất khó áp  dụng trực tiếp vào những vấn đề đời sống xã hội hàng ngày. Tuy nhiên, các công trình của Jean Tirole có tính ứng dụng rất cao. Năm 2003, cùng với Olivier Blanchard, Jean Tirole đã có một  nghiên cứu  về bảo vệ việc làm và thủ tục sa thải. Họ đã đề xuất mức thuế  dựa trên tỷ lệ sa thải nhân viên của công ty để điều chỉnh các khoản đóng góp bảo hiểm thất nghiệp. Hiện nay ở Pháp việc sa thải người có hợp đồng dài hạn CDI (contrat à durée indéterminée)  rất phức tạp. Với hợp đồng ngắn hạn CDD (contrat à durée déterminée) thì các công ty sẽ không gặp trở ngại trong vấn đề sa thải, nhưng người làm việc sống trong một hoàn cảnh bất an. Nghiên cứu của Blanchard/Tirole đề xuất để loại bỏ hai loại hình thức hợp đồng CDD và CDI và thay thế bằng một hợp đồng lao động dài hạn duy nhất với việc tăng dần các quyền của người lao động dựa theo thâm niên nhưng thủ tục sa thải đơn giản hơn nhằm mục đích trao quyền cho doanh nghiệp. Ngày 24/10/2014, thủ tướng Pháp ông Manuel Valls đã công khai ủng hộ  đề xuất này của Jean Tirole.

Từ năm 2008, ông thường xuyên viết về  khủng hoảng tài chính và điều tiết  ngân hàng. Những công trình nghiên cứu của Jean Tirole  đã có ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách điều tiết của nhà nước. Thống đốc Ngân hàng trung ương Pháp, Christian Noyer, cho biết các công trình của Tirole là một công cụ hữu ích trong suốt thời gian chống chọi với khủng hoảng tài chính, giúp tìm ra giải pháp điều tiết các tập đoàn tài chính.

Trong phương pháp tiếp cận nghiên cứu, Jean Tirole sử dụng nhiều cộng cụ lý thuyết mới, đặc biệt là trong thiết kế thể chế (mechanism design), lý thuyết hợp đồng (contract theory), lý thuyết thông tin (information theory) và lý thuyết trò chơi (game theory). Cuốn sách Lý thuyết trò chơi (1991) của Fudenberg và  Tirole  hiện nay vẫn được xem là cuốn  giáo khoa toàn diện nhất về game theory cho chương trình đào tạo sau đại học. Cùng với Bengt Holmström, Jean Tirole đã có một số đóng góp trong việc phân tích những ảnh hưởng của thanh khoản trên thị trường tài chính trung gian. Tirole cũng đã có những đóng góp cơ bản cho lý thuyết về bong bóng tài sản (Asset Bubbles). Ông  chứng minh rằng bong bóng đầu cơ hoàn toàn không thể tồn tại nếu thị trường là  hoàn hảo và lựa chọn của khách hàng là duy lý. Hơn nữa, nếu thị trường là không hoàn hảo, thì bong bóng hợp lý không những  có thể tồn tại, mà còn thực hiện một chức năng hữu ích. Trong lãnh vực tài chính doanh nghiệp, ngoài các bài báo xuất bản trên các tạp chí,  ông đã xuất bản cuốn sách Tài chính doanh nghip (2006) một tài liệu tham khảo  chuẩn  được sử dụng trong các khóa học của công ty tài chính và chương trình  sau đại học của các trường đại học trên thế giới. Trong lãnh vực Kinh tế hành vi (Behavioral economics), Jean Tirole đã mở rộng những hành vi cơ bản về động cơ và niềm tin. Chẳng hạn ngoài sự duy lý (rational) và ích kỷ (selfish), ông nghiên cứu tính bao dung vị tha (altruism) và động cơ xây dựng hình ảnh (image motives). Trong lãnh vực Kinh tế môi trường, Tirole cũng đã đóng góp những nghiên cứu quan trọng về mức ô nhiễm cho phép và thuế Pigou.
Tóm lại, Jean Tirole đã làm nên một cuộc cách mạng trên lĩnh vực phân tích kinh tế cho việc quản lý, điều tiết  một số thị trường lớn như công nghiệp mạng, viễn thông, điện, đường sắt, khí đốt,tài chính và  ngân hàng. Nghiên cứu Jean Tirole được đặc trưng bởi sự tôn trọng đặc thù của các thị trường khác nhau và sử dụng khéo léo các phương pháp phân tích mới trong khoa học kinh tế. Ông  đưa ra những phân tích sâu sắc về bản chất của đối thủ cạnh tranh không hoàn hảo dựa trên hợp đồng  trong điều kiện thông tin phi đối xứng. Kết quả nghiên cứu đã được ông cấu trúc trong một khuôn khổ thống nhất phục vụ cho giảng dạy, tư vấn chính sách, và phát triển nghiên cứu.

——————&&———————

Giải Nobel kinh tế 2013: Phân tích thực nghiệm về giá tài sản – Eugene F. Fama, Lars Peter Hansen & Robert J. Shiller

Nobel prize 2013

(Tác giả: Lê Hồng Giang – Nguồn: kinhtetaichinh.blogspot.com)

Năm 2009 trong khi cả thế giới còn đang loay hoay không biết cuộc khủng hoảng tài chính đã chấm dứt hay chưa, Ủy ban Giải thưởng Nobel có một mối đau đầu khác. Eugene Fama, cha đẻ của lý thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market Hypothesis – EMH), được cả giới kinh tế lẫn tài chính cho rằng rất xứng đáng nhận giải Nobel kinh tế năm đó. Tuy nhiên chính cuộc khủng hoảng mà ngòi nổ là sự sụp đổ của bong bóng bất động sản Mỹ được đa số các nhà bình luận lúc đó cho là bằng chứng không thể chối cãi EMH không đúng trong thực tế. Cuối cùng Ủy ban Giải thưởng Nobel đã trao giải năm 2009 cho  Elinor Ostrom và Oliver Williamson, hai nhà kinh tế trong lĩnh vực thể chế xã hội. Có lẽ họ không muốn hứng búa rừu dư luận.

Năm nay, dường như ủy ban này đã tìm được cách “lách dư luận” bằng cách trao giải đồng thời cho Eugene Fama và Robert Shiller, một trong những người đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu tài chính hành vi (Behavioural Finance – BF) và có thể nói là đối thủ trực tiếp của trường phái EMH. Người thứ ba được trao giải Nobel kinh tế năm nay, Lars Hansen, cũng là một điểm rất thú vị bởi công cụ kinh tế lượng mà ông phát minh ra được cả hai phe sử dụng để chứng minh mình đúng. Vậy cụ thể những nghiên cứu và đóng góp của ba nhà kinh tế này là gì và nhất là tại sao dù EMH bị dư luận chê bai dè bửu rất nhiều nhưng Fama vẫn rất xứng đáng nhận giải Nobel?

Có lẽ nhiều bạn đã biết câu nói đùa nhưng vô cùng chính xác: “Kinh tế học là ngành khoa học duy nhất mà giải Nobel có thể trao cho 2 người có quan điểm hoàn toàn trái ngược nhau”. Năm 1974 Nobel Prize Committee đã làm nhiều người gãi đầu vì trao giải đồng thời cho Friedrich Hayek và Gunnar Myrdal. Giải năm đó tương tự như trao đồng thời cho Hayek và Keynes nếu Keynes còn sống (giải Nobel qui định chỉ trao cho những nhà khoa học còn sống). Gunnar Myrdal, một nhà kinh tế Thuỵ điển có quan điểm thiên tả, cổ suý cho những biện pháp can thiệp của nhà nước để thúc đẩy phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo. Trong khi Hayek, lãnh tụ của trường phái kinh tế Áo trong thế kỷ 20, tin tưởng tuyệt đối vào thị trường tự do và từng là cảm hứng cho Thatcher và Reagan thực hiện những chính sách cải tổ kinh tế rất mạnh theo hướng thị trường. Khi Nobel Committee quyết định trao giải cho Hayek và Friedman 2 năm sau đó, chính Myrdal, một người rất có uy tín và ảnh hưởng ở Stockholm lúc đó, đã đòi huỷ bỏ giải thưởng này vì ông không muốn cổ suý cho tư tưởng thị trường tự do của 2 đối thủ của ông.

Trường hợp của Fama và Shiller năm nay có điểm tương đồng với giải năm 1974 vì hai nhà kinh tế này phát triển lý thuyết tài chính theo hai hướng trái ngược nhau. Sự tương đồng còn ở chỗ cả Hayek và Fama đều là những “đại thụ” trong làng kinh tế học và việc được trao giải Nobel kinh tế chỉ còn là “when, not if” (John Cochrane, giáo sư kinh tế của Chicago đồng thời là con rể của Fama đã chuẩn bị một bài về sự nghiệp của Fama từ mấy năm trước để chuẩn bị cho sự kiện Fama được giải Nobel). Có ý kiến cho rằng Nobel Committee năm 1974 đã phải trao giải đồng thời cho Myrdal để xoa dịu dư luận Thụy điển lúc đó, Paul Krugman cũng giải thích vị trí của Shiller bên cạnh Fama năm nay cũng có ý nghĩa tương tự. Nói như vậy không có nghĩa là Myrdal và Shiller chỉ là “chân gỗ”, họ cũng rất xứng đáng nhưng sẽ có ít lời “bàn ra tán vào” hơn về giải 1974 và 2013 nếu Myrdal được trao cùng với một Keynesian nào đó, còn Shiller với Thaler hay một behavioral finance khác. Không ít thì nhiều “dư luận” đã có ảnh hưởng nhất định đến quyết định của Nobel Committee trong hai trường hợp này.

Năm 1974 đã quá xa nên tôi chỉ phỏng đoán, còn năm 2009 là lúc blog kinhtetaichinh đã ra đời nên tôi còn nhớ khá rõ sức ép của “dư luận” lúc đó với trường hợp của Fama như thế nào. Tuy EMH của Fama đã bị đem ra bêu riếu từ trước đó rất lâu, sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008 tên tuổi của Fama và cả … Alan Greenspan bị lôi ra liên tục vì tội “bubble denial”. Không chỉ giới tài chính và báo chí chỉ trích niềm tin mù quáng vào EMH, giới academic mà điển hình là Krugman cũng công kích liên tục trường phái Chicago của Lucas, Fama, Cochrane, Mulligan. Nói cho công bằng không hẳn Krugman và phe leftish công kích Fama vì EMH mà chủ yếu nhắm vào quan điểm khá hawkish lúc đó của trường phái Chicago, i.e. chống lại QE và fiscal stimulus. Nhưng tôi có cảm giác Krugman đã lợi dụng dư luận đang bất mãn với EMH để gây ảnh hưởng lên giới policy maker ép họ mạnh tay với stimulus đồng thời siết lại banking regulation.

Tuy nhiên vẫn còn một câu hỏi nữa cần đặt ra là tại sao năm 2009 Nobel Prize Committee không trao giải đồng thời cho Fama và Shiller mà phải đợi thêm 4 năm nữa? Ý tưởng trao giải đồng thời cho 2 trường phái ngược nhau như vậy đã có người nêu ra, bạn Đỗ Quốc Anh đã comment ý tưởng này trong bài tôi viết năm 2009. Một lý do khá hiển nhiên là lúc đó dấu ấn của cuộc khủng hoảng còn quá đậm nên Nobel Committee chưa/không muốn đối đầu với dư luận nếu họ trao giải cho Fama năm đó. Nhưng còn thể còn một lý do khác nữa cũng quan trọng không kém là Nobel Prize Committee ở thời điểm 2009 không muốn PR cho trường phái Chicago đang lớn tiếng chống lại fiscal stimulus và banking rescue/banking re-regulation. Như tôi đã nghi ngờ về giải Nobel kinh tế năm 2008 (trao cho Krugman) có hơi hướng chính trị, Fama không được trao giải 2009 có thể cũng vì lý do này.

Một điểm cần lưu ý là Ủy ban Giải thưởng Nobel đã không hề nhắc đến thuật ngữ EMH trong thông cáo báo chí mà tuyên bố rằng giải năm nay trao cho các công trình về lý thuyết xác định giá chứng khoán (Asset Pricing Theory – APT[*]). Mặc dù cái tên của Fama gắn liền với EMH, thực ra rất nhiều nghiên cứu của ông khơi mào cho một cuộc cách mạng trong lý thuyết tài chính từ thập kỷ 1970. Trước đó các mô hình giá chứng khoán chỉ được xây dựng từ một số giả định thiếu tính hệ thống, hoàn tòa tách biệt khỏi những lý thuyết kinh tế vi mô và vĩ mô đã được phát triển trước. Kể từ Fama nhánh APT dựa vào một số hệ quả của EMH dịch chuyển sang những mô hình có cơ sở vĩ mô rất vững chắc, điển hình như mô hình định giá chứng khoán dựa trên tiêu dùng (CCAPM). Lớp mô hình này đã giải quyết được rất nhiều vấn đề lý thuyết và lần đầu tiên đưa ra được một phương pháp định giá tất cả các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, derivatives…) trong một khuôn khổ thống nhất. Các mô hình xác định đường cong lãi suất hay giá options đều bắt nguồn từ đây, đã và đang là những công cụ phổ biến của giới tài chính và nhiều ngân hàng trung ương.

[*] Lưu ý trong bài này tôi dùng acronym APT cho asset pricing theory, nghĩa là các lý thuyết nói chung về asset pricing, chứ không phải cho Arbitrage Pricing Theory là một lý thuyết cụ thể.

Trước hết cần phân biệt giữa EMH và APT. Như tên gọi của nó EMH là một giả thuyết, hay một “tiên đề”, về asset price behavior. Trong khi đó APT là một (số) lý thuyết về cách định giá asset, có thể sử dụng EMH hoặc không cần hypothesis này. Nobel Prize Committe trao giải cho Fama vì ông có công khai phá một hướng mới cho APT chứ không phải vì Fama là cha đẻ của EMH mặc dù nhiều APT hiện đại trực tiếp hoặc gián tiếp thừa nhận hoặc giả định EMH đúng. Vậy cụ thể EMH là gì và tại sao giới tài chính lại “dị ứng” với thuật ngữ này như vậy?

Khái niệm market efficient về cơ bản có nghĩa là giá của một loại chứng khoán ở một thời điểm bất kỳ phản ánh hết tất cả các thông tin liên quan đến nó, cả trong quá khứ, hiện tại, lẫn tương lai. Ít nhất từ đầu thế kỷ 20 một nhà toán học người Pháp (Louis Bachelier) đã phân tích như vậy, rồi Paul Samuelson và Benoit Mandelbrot cũng từng đề cập đến random walk stock price trước Fama. Tuy nhiên Fama là người đã đưa ra ba khái niệm EMH (strong, semi-strong, weak) với định nghĩa cụ thể và chỉ ra những empirical tests có thể kiểm định (falsify) các khái niệm này. Nói cách khác Fama là người đã formulate khái niệm market efficiency thành “information efficiency” với các testable hypothesis. Bản thân Fama đã thực hiện nhiều empirical test để chứng minh EMH đứng vững với giá chứng khoán (cổ phiếu) trong một khoảng thời gian ngắn (vd ngày hay tuần).

Weak-form EMH được hiểu là giá chứng khoán hiện tại đã phản ánh hết những thông tin liên quan đến nó, do vậy một chuỗi số liệu giá sẽ có dạng random walk theo thời gian. Điều đó có nghĩa là bạn không thể dự đoán được diễn biến giá “trong tương lai” dựa vào giá hiện tại và quá khứ. Nói cách khác technical analysis (TA), một trường phái dự báo giá chứng khoán bằng cách phân tích đồ thị giá hiện tại, không có tác dụng. Nếu coi TA là một dạng phân tích time series “informal” thì weak-form EMH cũng phủ nhận khả năng bất kỳ một mô hình time series (không có biến exogenous) nào có khả năng dự báo giá chứng khoán. Những test đầu tiên cho EMH được thực hiện đều nhắm đến auto-correlation structure của time series, cụ thể là serial correlation test. Sau này “run test” và “variance ratio test” được sử dụng rộng rãi hơn, thực tế cũng là các time series technique. Hầu hết các empirical test đều không thể phủ nhận được weak-form EMH, nghĩa là không có bằng chứng gì cho thấy stock price có diễn biến khác với random walk.

Cho đến thời điểm này hầu hết các nhà kinh tế đều tin vào weak-form EMH. Không kể những empirical test sử dụng các kỹ thuật time series như tôi đã liệt kê bên trên, một số lượng lớn test cho các trading rules dựa vào TA đã được giới academic và finance thực hiện. Kết quả khả quan nhất cũng chỉ là một mức lợi nhuận gross of transaction cost rất khiêm tốn, nếu tính đến transaction cost thì không còn một trading rule nào profitable nữa. Nhưng điều đó không ngăn cản những tín đồ của TA tiếp tục đốt tiền trên các thị trường chứng khoán, họ còn bỏ ra những khoản tiền khá lớn để được theo học những khoá TA của các “chuyên gia” nổi tiếng. Đa số những người tin vào TA cho rằng họ thất bại vì họ thiếu discipline, bị các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến quyết định trading. Một số khác phản bác lại các nghiên cứu của giới academic cho rằng các trading rule của họ rất phức tạp nên không thể test được một cách chính xác. Nhiều người lập luận rằng các empirical research có kết quả negative đối với các TA rules vì những nghiên cứu có positive result sẽ không bao giờ được publish, người khám phá ra nó sẽ âm thầm sử dụng để kiếm tiền chứ không dại gì công bố cho mọi người biết. Một thực tế là rất nhiều brokerage firm/investment banks có những TA team lớn và họ luôn profitable, nếu TA vô giá trị thì tại sao những team đó vẫn tồn tại?

Cuộc tranh luận giữa giới academic (tin vào weak-form EMH) và giới tín đồ TA (tin vào khả năng dự báo giá chứng khoán chỉ dựa vào giá trong quá khứ) chưa ngã ngũ. Cá nhân tôi cho rằng cả hai phe đều quá bảo thủ. Giới academic quá tự tin vào các phương pháp test “khoa học” của mình để rồi thỉnh thoảng lại phát hiện ra một số phương pháp test thực ra không chính xác. Lấy ví dụ phương pháp serial correlation test sau này đã bị cho là có “testing power” thấp, do vậy kết quả có thể bị nhiễu bởi các loại noise ngoại lai. Một số unit root test chứng minh giá chứng khoán biến đổi theo qui luật random walk cũng bị phê phán là không chính xác, thực tế có thể là một dạng near-unit-root process, nghĩa là rất gần với random walk nhưng vẫn có thể xác định được qui luật. Ngược lại những tín đồ TA, đặc biệt các nhà đầu tư nhỏ lẻ không biết rằng những brokerage/IB kiếm tiền được với TA trading rules vì họ lớn. Với những market makers phần chênh lệch bid-ask chiếm tỷ lệ lớn trong profit của họ. Ngay cả nếu không tính phần doanh thu này, market makers được market “trả công” vì họ là liquidity provider, nói theo thuật ngữ chuyên môn là những nhà đầu tư lớn kiếm tiền được từ TA vì họ là “liquidity pump”. Hầu hết các HFT hiện tại đều có thu nhập từ nguồn “liquidity pump” này.

Khái niệm EMH thứ hai, semi-strong form, cho rằng giá chứng khoán hiện tại đã phản ánh tất cả các publicly available information, nghĩa là cả giá và các loại fundamental information khác như PE, PB, Dividend yield… Những người tin vào semi-strong form EMH cho rằng không chỉ TA mà cả fundamental analysis đều vô nghĩa, trừ khi analyst có insider information. Trong khi weak-form chỉ bị một số ít các tín đồ TA phản đối, semi-strong form gần như bác bỏ hoàn toàn giới analyst Wall Street. Có lẽ vì vậy version này của EMH là điều mà những huyền thoại đầu tư như Warren Buffet hay George Soros đã đem ra chế diễu. Tuy nhiên đa số giới Wall Street hiểu sai khái niệm EMH, cho rằng (semi-strong form) EMH tương đương với thị trường luôn luôn đúng và không ai có thể đánh bại được thị trường (outperform market). Nhiều người còn dẫn chứng chính Fama đã tham gia sáng lập một quĩ đầu tư và quĩ này đã “outperform market” trong một thời gian dài, chứng tỏ (semi-strong form) EMH không đúng. Trước khi phán xét đúng sai các bạn cần hiểu chính xác thế nào là semi-strong form EMH.

Một khái niệm vô cùng quan trọng trong lý thuyết xác suất (được sử dụng trong kinh tế tài chính) là conditional value. Nếu một đại lượng/biến số ngẫu nhiên nào đó có giá trị xác định sau khi một sự kiện đã xảy ra thì giá trị đó là conditional value. Lấy ví dụ số vụ tai nạn giao thông trung bình trong một ngày mưa ở SG là 1000, con số này conditioned với sự kiện trời mưa. Tương tự như vậy khi nói cổ phiếu của một công ty tăng 10% một năm nếu năm đó thị trường tăng 15%, con số đầu cũng là conditional value. Semi-strong form EMH cho rằng conditional expectation của giá cổ phiếu một công ty trong tương lai (gần), conditioned với tất cả publicly available information liên quan đến công ty đó, là một random walk. Nói cách khác, tất cả publicly available information (current information set) liên quan đến một công ty đã được phản ánh hết vào giá hiện tại, do đó những thông tin này không còn giá trị gì cho tương lai.

Các bạn sinh viên đã học qua CAPM có thể bắt bẻ rằng vậy tại sao CAPM lại cho rằng expected return của một cổ phiếu bằng risk-free return cộng với beta nhân với equity risk premium (ERM) là một số khác không? Ở đây cần nói lại cho chính xác rằng conditional expectation của giá chứng khoán là một random walk with drift, phần drift không phụ thuộc vào information set của từng công ty cụ thể mà bao gồm những thông tin chung của cả thị trường như risk-free rate và ERM. Như vậy EMH và CAPM hoàn toàn phù hợp với nhau, expected return của một cổ phiếu chỉ được xác định bởi expected market return (và môt parameter là beta) chứ những thông tin liên quan cụ thể đến cổ phiếu đó không có tác động gì trong tương lai. Cần lưu ý rằng CAPM, và nhiều mô hình APT khác, đưa ra mối liên hệ giữa risk và expected return trong khi EMH không hề đả động gì đến risk. Nhưng EMH chính là nền tảng của quan hệ high risk high return, chỉ có take risk mới có thể có positive (excess) return trong tương lai bởi vì giá đã phản ánh hết information set của thời điểm hiện tại nên nó không còn tác động lên expected return. Nhiều APT không đề cập đến EMH trực tiếp nhưng gián tiếp sử dụng nó qua giả định no-arbitrage opportunity.

Cũng giống như weak form, sau khi đưa ra định nghĩa cụ thể cho semi-strong form EMH, Fama đề xuất cách thức kiểm định giả thuyết này một cách khoa học. Phương pháp mà Fama và một số nhà kinh tế khác đưa ra sau này có tên gọi là event study, theo đó Fama nghiên cứu giá cổ phiếu ngay trước và ngay sau khi công ty có một fundamental event có thể ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của họ. Về mặt lý thuyết đây là một kiểm định conditional stock price trước và sau khi information set thay đổi để xem có phải nó là một random walk hay không. Event mà Fama chọn để kiểm chứng là stock split, sau này các nhà kinh tế khác kiểm chứng nhiều loại event khác nhau như earning announcement, IPO, M&A hay các sự kiện liên quan đến toàn thị trường như economic data release, khủng bố, sự kiện chính trị… Kết quả nghiên cứu của Fama và Fisher, Jensen, Roll (1969) về stock split cho thấy không có thể phủ nhận[**] semi-strong form EMH. Tuy nhiên nhiều event studies khác có kết quả ngược lại, nghĩa là semi-strong form không đứng vững với các số liệu thực tế.

[**]: Trong kinh tế học (và nhiều ngành khoa học khác), việc kiểm chứng một giả thuyết được thực hiện theo nguyên tắc falsification. Nghĩa là các nhà kinh tế đi tìm bằng chứng (số liệu thực tế) trái ngược với giả thuyết lý thuyết ban đầu ở một mức độ (xác suất) tin cậy nhất định. Nếu họ thành công tìm được bằng chứng chống lại giả thuyết thì giả thuyết đó bị bác bỏ. Người ta không bao giờ có thể chứng minh một giả thuyết đúng (bằng số liệu thực tế) mà chỉ có thể không tìm được bằng chứng là nó sai.

Trong khoảng 1 thập kỷ sau khi Fama đưa ra khái niệm semi-strong form EMH và kiểm định bằng event study, một làn sóng kiểm định theo một hướng khác nở rộ mà bản thân Fama cũng có đóng góp không nhỏ. Phương pháp này là cross-section return study, nghĩa là so sánh return của các loại chứng khoán có các đặc tính fundamental khác nhau xem liệu những đặc tính đó có giúp việc dự báo return tốt hơn hay không. Về cơ bản các kiểm định này xoay quanh CAPM, như đã nói bên trên, nếu CAMP đúng (nghĩa là các empirical test không thể phủ nhận nó) thì semi-strong form EMH cũng đúng. Hay nói cách khác đây là cách chứng minh trực tiếp liệu fundamental analysis có thể dự báo được giá chứng khoán hay không.

Rất nhiều kiểm định loại này cho thấy CAPM không đứng vững trước số liệu thực tế và đã có những đề xuất thay thế được đưa ra (như Arbitrage Pricing Theory của Stephen Ross). Bản thân Fama (và Kenneth French) đã đề xuất một mô hình có ba factor: beta, size, và value nhằm khắc phục khiếm khuyết của mô hình CAPM một factor (beta). Tôi đoán có thể ban đầu Fama-French cho rằng conditional return sau khi loại trừ tác động của cả 3 factor sẽ không thể dự đoán được, do đó semi-strong form đúng. Tuy nhiên vì size và value là 2 yếu tố fundamental quan trọng của một cổ phiếu (khác với ERP), do đó nếu 2 yếu tố này ảnh hưởng lên future return thì fundamental analysis có thể dự báo được giá chứng khoán. Nói cách khác nếu mô hình 3 factor của Fama-French đúng thì CAPM sai, mà CAPM là hiện thân của semi-strong form nên suy ra semi-strong form sai. Hầu hết giới academic sau này cho rằng chính mô hình Fama-French là bằng chứng chống lại semi-strong form EMH cho dù Fama chưa bao giờ công nhận điều này[***]. Dẫu sao không ai phủ nhận tinh thần khoa học và công lao mở đường của Fama trong lĩnh vực này. Thật trớ trêu là mặc dù luôn phản đối semi-strong form EMH, giới finance lại sử dụng 3-factor Fama-French rất phổ biến.

[***] Ở đây cần nói thêm là Fama lập luận rằng các kiểm định khả năng dự báo future return thực ra là một joint test của 2 giả thuyết cùng lúc. Giả thuyết thứ nhất là tính dự báo được còn giả thuyết thứ hai là tính đúng đắn của mô hình APT. Ví dụ một kiểm định cho thấy CAPM sai có thể đồng nghĩa với EMH sai nhưng cũng có thể mô hình CAPM sai về mặt lý thuyết. Do đó chỉ có thể kết luận EMH sai nếu chắc chắn CAPM đúng.

Khái niệm EMH thứ ba, strong form, cho rằng giá chứng khoán không chỉ phản ánh tất cả publicly available information liên quan đến một công ty mà cả những thông tin chưa được công bố (private information). Có hai loại kiểm định liên quan đến hai loại private information. Thứ nhất là insider information, nghĩa là các thông tin trong nội bộ công ty chưa được công bố ra ngoài. Nếu strong-form EMH đúng thì ngay cả các insider, bất kể luật có cấm họ trade sử dụng insider information hay không, cũng không thể có lợi nhuận cao hơn thị trường. Một nhóm người khác cũng thường có insider information là những analyst/specialist trên sàn chứng khoán. Nếu những người này cũng có trading profit cao hơn thị trường thì chứng tỏ strong-form EMH sai. Hầu hết các kiểm định theo hướng này phủ nhận strong-form EMH, nghĩa là insider có avantage so với outsider khi trade cổ phiếu một công ty. Loại private information thứ hai là proprietary information của các quĩ đầu tư/hedge fund liên quan đến một loại cổ phiếu. Giả sử một quĩ đầu tư tổng hợp và phân tích nhiều nguồn tin khác nhau hoặc họ phát minh ra một mô hình APT nào đó tốt hơn những gì mọi người biết, trên nguyên tắc đó là private information của họ và họ có thể sử dụng chúng cho trading. Nếu có thể tìm ra được một/vài quĩ đầu tư như vậy thì strong-form EMH cũng bị reject. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu theo hướng này không tìm ra được một quĩ đầu tư nào có thể outperform thị trường trong một thời gian dài, tương đương với không thể phủ nhận strong-form EMH.

Tóm lại với những gì giới nghiên cứu từ sau Fama đã tìm hiểu về EMH, có thể nói weak-form EMH được đa số xác nhận (chính xác là hiếm có ai phủ nhận được nó). Semi-strong và strong-form có kết quả không rõ ràng, nhìn chung có nhiều bằng chứng chống lại 2 dạng EMH này. Đến đây cần lưu ý hai hiểu nhầm thường gặp về khái niệm EMH. Thứ nhất nhiều người nhầm tưởng EMH đồng nghĩa với việc giá chứng khoán phản ánh tất cả information hiện tại lẫn tương lai (xem comment của Duy Linh-Oct 29 bên dưới). Xin nhắc lại, chí ít theo định nghĩa của Fama, EMH cho rằng conditional expectation của giá chứng khoán không dự đoán được chứ không phải unconditional value. Có 2 điểm khác biệt giữa conditional vs unconditional. Như đã giải thích bên trên về CAPM, giá chứng khoán chỉ không dự đoán được sau khi được conditioned với market risk (cụ thể hơn là ERP). Câu nói high risk, high return nghĩa là unconditional average return phụ thuộc vào rủi ro của từng loại chứng khoán nên có thể dự đoán được ở một mức độ nào đó. Ngoài ra EMH không có nghĩa giá chứng khoán hiện tại phản ánh tất cả unexpected shock trong tương lai (cái này trong kinh tế học gọi là perfect foresight[#]). Vụ 9/11 là unexpected, cho nên giá chứng khoán trước ngày đó không nhất thiết phải phản ánh được future event để có thể coi là EMH đúng mặc dù sự kiện này có tác động rất lớn lên giá ngay sau đó.

[#]: Các bạn cần phân biệt EMH, rational expectation, và perfect foresight. Khái niệm cuối cùng (perfect foresight) đồng nghĩa với giá chứng khoán hiện tại phản ánh tất cả thông tin hiện tại lẫn tương lai. Khái niệm EMH, cả 3 form, đều chỉ cần giá phản ánh tất cả thông tin ở thời điểm hiện tại. EMH thường ngầm định rational expectation, nghĩa là tất cả các player trên thị trường đều hành xử theo đúng qui luật kinh tế.

Nhầm lẫn thứ hai cũng rất phổ biến là đánh đồng EMH với quan điểm cho rằng asset price không bao giờ bị bubble (thực ra điều này cũng do lỗi của chính Fama). Định nghĩa của EMH như đã nói bên trên yêu cầu giá chứng khoán phản ánh tất cả thông tin hiện tại, hoàn toàn không đả động gì đến việc liệu giá ở thời điểm hiện tại có phải là fair value hay không. Nên nhớ khái niệm bubble đồng nghĩa với một loại chứng khoán nào đó có giá khác rất xa fair value trong một thời gian dài. Nếu EMH không đả động gì đến fair value thì bản thân lý thuyết EMH không có định nghĩa cho bubble, đúng như Fama đã trả lời phỏng vấn của một số báo chí (Fama nói không hiểu bubble là gì vì không ai đưa ra định nghĩa chính xác cho khái niệm này). Nhưng một khi đã chấp nhận một APT nào đó thì quan điểm của Fama cho rằng không có định nghĩa bubble chính xác không còn đứng vững nữa. Rất tiếc giới phóng viên phỏng vấn Fama không truy ông đến cùng, vd hỏi nếu giá một cổ phiếu khác xa fair value do 3-factor Fama-French model dự đoán thì đó có phải là bubble hay không.

Ở điểm này Shiller đã chỉ ra một điều vô cùng quan trọng. Shiller lập luận rằng sở dĩ Fama nói không ai đưa ra được định nghĩa chính xác thế nào là bubble vì Fama chỉ nhìn nhận định nghĩa ở dạng một mathematical equation. Đây lâ một góc nhìn rất hẹp, có lẽ chỉ phù hợp với các nghiên cứu empirical của Fama và các finance researchers khác nhìn thế giới dưới lăng kính statistics/econometrics. Chính Fama khẳng định điều này khi cho rằng Shiller dự báo được bubble tech stock năm 1999 và subprime mortgage năm 2007 mới chỉ là 2 observations, như vậy chưa thể nói gì về statistical significance cả. Tuy nhiên nhìn thế giới qua lăng kính statistics chỉ là một cách, nhiều ngành khoa học xã hội khác chấp nhận những phương pháp nghiên cứu (methodology) không gắn quá chặt vào statistics hay mathematics. Shiller lấy ví dụ trong ngành psychology người ta không dùng một định nghĩa cứng nhắc mà dùng một check-list để xác định tình trạng bệnh tâm thần của một cá nhân. Theo Shiller bubble cũng hoàn toàn có thể “định nghĩa” bằng một check-list chứ không nhất thiết bằng một equation như Fama đòi hỏi.

Nhưng chính cái nhìn rất hẹp của Fama như vậy lại là một đóng góp vô cùng lớn của ông cho khoa học kinh tế nói chung và APT nói riêng. Mặc dù được gọi là cha đẻ của EMH, chính Fama thừa nhận rằng ý tưởng EMH không phải của ông mà đã có trước đó khá lâu. Quan trọng là, cùng với một số nhà nghiên cứu khác, Fama đã đặt nền móng cho các empirical research trong lĩnh vực finance, là điều không thể thiếu trong các APT sau này. Vì lý do này mà một số người nhận xét rằng giải Nobel kinh tế năm nay thực ra được trao cho empirical finance nói chung. Trước Fama và trào lưu EMH, khoa học finance hầu như chỉ là những phương pháp stock picking rất ad-hoc, vd fundamental analysis dựa vào PE hay PB ratio. Hầu như toàn bộ ngành finance hiện đại được xây dựng trên cơ sở micro-based và market equilibrium.

Một điều thú vị là cả sự nghiệp của Fama gắn liền với Chicago, nơi mà micro-based macroeconomics được phát triển với những tên tuổi như Lucas. Micro-based macroeconomics ra đời để đối trọng lại với Keynesian IS-LM, một mô hình macro cũng rất ad-hoc. Về cơ bản tất cả các mô hình micro-based đều suất phát từ việc mô hình hành vi của từng cá nhân riêng rẽ trong nền kinh tế rồi aggregate lại cho toàn bộ thị trường. Một mô hình micro-based nền tảng cho nhiều APT sau này là CCAPM, trong đó từng cá nhân maximize lifetime utility thông qua việc điều chỉnh hành vi tiêu dùng và tiết kiệm ở từng thời điểm, do đó ảnh hưởng lên giá chứng khoán. Trong khi CAPM là một mô hình ad-hoc, nghĩa là chỉ tổng kết mối quan hệ giữa giá chứng khoán với một vài biến số của thị trường mà không quan tâm gốc rễ của mối quan hệ đó, CCAPM lần đến tận cùng của khái niệm utility maximization.

Từ cơ sở micro-based này, các mô hình APT sau này dù áp dụng cho những thị trường rất khác nhau, vd Black-Scholes cho options hay term structure cho trái phiếu, đều có cùng gốc gác utility maximization, đều ngầm định EMH thông qua no-arbitrage condition.

Sẽ rất oan cho Fama nếu cho rằng ông quá giáo điều chỉ tin vào EMH và sổ toẹt những gì các nhà đầu tư quan tâm. Trên thực tế sau này Fama đã cùng Kenneth French phát triển một mô hình định giá chứng khoán mới (Three Factor CAPM) chỉ ra vai trò của những yếu tố rủi ro khác bên cạnh rủi ro thị trường có thể ảnh hưởng lên giá cổ phiếu. Tuy nhiên người thứ hai nhận giải Nobel kinh tế năm nay, Rober Shiller, mới thực sự là một nhà kinh tế tiên phong mở ra một hướng mới cho lý thuyết APT hoàn toàn tách biệt khỏi EMH, nếu không muốn nói là trái ngược với EMH.. Xuất phát từ những nghiên cứu thực nghiệm (empirical studies) của mình, Shiller xây dựng một lý thuyết APT trong đó những chủ thể đầu tư không còn duy lý (rational) nữa mà tuân theo một số hành vi có nguồn gốc từ tâm lý học (psychology). Tính không duy lý đó kết hợp với những hạn chế và qui tắc tài chính trên thực tế, ví dụ qui định cấm bán khống, là lý do Shiller và các nhiều nhà nghiên cứu sau này chỉ ra rằng giá chứng khoán không nhất thiêt tuân thủ theo EMH. Kết luận quan trọng nhất của Shiller là với một quảng thời gian đủ dài (vài năm) mức sinh lợi của một cổ phiếu có thể dự đoán được ở một mức độ tương đối chứ không hoàn toàn ngẫu nhiên như Fama kết luận năm 1970.

Khác với những tuyên bố khá giáo điều (vd không tin vào bubble), nhiều nghiên cứu sau này của Fama rất thực tế. Điển hình là 3-factor Fama-French đã trở thành một kinh điển trong giới finance. Như đã nói bên trên, mô hình này cho thấy mô hình CAPM truyền thống không chính xác, và như vậy gián tiếp phủ nhận semi-strong form EMH. Trên thực tế Fama đã tham gia sáng lập một quĩ đầu tư có investment strategy dựa vào mô hình này chứ không phải dựa vào nguyên lý EMH (index fund). Bản thân Fama sau này cũng không còn quan tâm và nghiên cứu nhiều với EMH, ông bị chết tên “cha đẻ của EMH” chỉ vì một số nghiên cứu quá đình đám thời những năm 60-70. Giới academic không ai phủ nhận công lao và đóng góp của ông về methodology trong empirical finance nhưng thế giới chỉ biết đến EMH. Nếu không vì EMH có khi Fama đã được giải Nobel kinh tế sớm hơn và ít controversial hơn.

Nói theo một blogger (sẽ tìm lại reference) chính nhờ có Shiller mà Fama đã vượt qua được cái bóng EMH để được giải Nobel. Các công trình nghiên cứu ban đầu của Shiller về APT đều là empirical và ad-hoc, theo nghĩa không quan tâm đến microeconomic utility maximization. Tất nhiên khi không đi theo lối mòn của các micro-based APT khác, Shiller phải tìm cách giải thích những bằng chứng chống lại EHM mà ông đã tìm ra. Đó là khởi nguồn của behavioral finance/economics, nhánh kinh tế học mới trong đó agent không còn tuân thủ theo những qui luật utility maximization dựa trên rational expectation. Như vậy về mặt methodology, Shiller giống Fama và trường phái micro-based của Chicago ở chỗ từ những kết quả của empirical study ông đã xây dựng một lý thuyết APT mới.

Giới finance industry biết đến Shiller chủ yếu với khái niệm CAPE (cyclical adjusted PE) và phần nào đó qua Case-Shiller index. Shiller là một người cực kỳ thực dụng (pragmatic), không chỉ luôn đi đầu trong empirical finance mà còn rất tích cực hiện thực hóa các ý tưởng academic vào thị trường (mở find, tạo ra sản phẩm tài chính mới). Nhưng Nobel Committee trao giải cho ông lại vì những đóng góp quan trọng về APT từ góc độ behavioral finance.

(còn tiếp)

———————————————————

Nobel Kinh tế 2013: Từ xung khắc đến Bộ tam hợp

(Nguồn: gafin.vn)

[Trích]

Người đầu tiên dễ dàng nhận ra nhất là Robert Shiller, cái tên đã quá quen thuộc trong giới tài chính với chỉ số mang tên chính nhà kinh tế học này. Đó là chỉ số giá nhà đấtS&P/Case-Shiller mà ông đã cùng xây dựng nên cùng Karl Case và Allan Weiss.

Nhờ nắm trong tay chỉ số này, Robert Shiller là người duy nhất trong số ba chủ nhân giải thưởng Nobel kinh tế năm nay dự đoán được bong bóng trên thị trường chứng khoán vào năm 2000 với sụp đổ của bong bóng Dot-com và sau đó đến năm 2008, Shiller tiếp tục đưa ra dự báo không thể nghi ngờ về bong bóng nhà đất mà sau đó đã dẫn đến cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn tồi tệ nhất trong lịch sử kinh tế Mỹ và kinh tế thế giới kể từ cuộc Đại khủng hoảng 1929-1933.
Shiller

Robert Shiller – tác giả của chỉ số S&P/Case-Shiller
Nhưng cũng từ những bài học có được từ cuộc khủng hoảng năm 2008 mà Shiller đã trở thành người phản ứng gay gắt nhất người đồng nghiệp cùng nghiên cứu với mình là Eugene Fama.
Chính vì vậy mà Robert Solow, người chiến thắng của giải thưởng Nobel Kinh tế năm 1987 gọi giải thưởng năm nay là “sự tuyển chọn thú vị”.
Xung đột trong quan điểm giữa Shiller và Fama nằm ở Lý thuyết thị trường hiệu quả(efficient markets hypothesis) của Fama. Lý thuyết này đã chứng minh được rằng giá cổ phiếu cực kỳ khó dự đoán trước trong một thời gian ngắn vì thị trường là hiệu quả khiến cho mọi thông tin phục vụ dự báo sẽ nhanh chóng ẩn vào trong giá. Hay đơn giản, giá cổ phiếu đã bao gồm mọi thông tin trên thị trường nên mọi quyết định mua bán dù có hợp lý (tức là dựa trên phân tích thông tin, dự báo) trong ngắn hạn đều chẳng khác gì trò chơi đỏ đen đầy may rủi.
Fama

Eugene Fama người gây ra nhiều tranh cãi với Lý thuyết thị trường hiệu quả
Và lý thuyết của Fama đã chịu nhiều phản bác quyết liệt trong giai đoạn khủng hoảng tài chính vừa qua, giữa luồng cơn giận dữ của những nhà đầu tư bị các quỹ “nướng chín” tiền vào những loại giấy nợ mà phút chốc đã trở thành giấy lộn. Chính Shiller đã chỉ trích lý thuyết thị trường hiệu quả là “một trong những sai lầm đáng kể nhất trong lịch sử tư duy kinh tế học”.
Không chỉ xung đột tư tưởng về tính hiệu quả của thị trường, quan điểm về thị trường tài chính trong cuộc khủng hoảng 2008 giữa Fama và Shiller cũng hoàn toàn đối lập. Trong khi Fama với lý thuyết của mình cho rằng, thị trường tài chính là nạn nhân của khủng hoảng kinh tế chứ không phải điều ngược lại, như Shiller vẫn khẳng định.
Bất chấp tất cả những phản đối và chỉ trích, nhà kinh tế học Tim Harford (tác giả cuốn tác giả cuốn “Thám tử kinh tế” – The Undercover Economist) vẫn cho rằng, Fama được coi là cha đẻ của lý thuyết tài chính hiện đại và xứng đang đạt giải Nobel với lý thuyết thị trường hiệu quả. Bởi sự ra đời của lý thuyết thị trường hiệu quả vào những năm 1960 chính là lời nhắc nhở cần thận trọng, thay vì sự dựa dẫm để đầu cơ như các nhà đầu tư đang làm và góp phần quyết định cho sự ra đời của các quỹ đầu tư chỉ số ETF trên thị trường chứng khoán khắp. Đặc biệt, nghiên cứu của Fama đã đặt nền móng đầu tiên cho những nghiên cứu sau này của Shiller và Hansen về định giá tài sản trong dài hạn.
Shiller, người chỉ trích gay gắt Fama lại cùng ông đoạt giải Nobel năm nay cũng nhờ nghiên cứu về định giá tài sản. Nhưng lần này Shiller đêm đến một bổ sung thú vị cho lý thuyết mà ông từng phản bác. Bỏ qua tranh cãi về ngắn hạn, vào những năm 1980, Shiller đã mà phát hiện ra dự báo giá tài sản trong dài hạn còn dễ dàng hơn.
Khảo sát giá cổ phiếu, Shiller thấy rằng việc dự báo trong dài hạn còn dễ thực hiện hơn trong ngắn hạn. Bên cạnh đó, giá cổ phiếu dao động nhiều hơn cổ tức và tỷ lệ giá cổ phiếu trên cổ tức có xu hướng giảm xuống khi ở đang ở mức cao và ngược lại, có xu hướng tăng lên khi đang ở mức thấp. Quy luật này không chỉ đúng cho cổ phiếu mà còn cho trái phiếu và các tài sản khác. Về mặt lập luận, điều này có vẻ cũng phù hợp khi mà trong dài hạn, các tác động bền vững mới có đủ thời gian để tạo thành khuynh hướng chính.
Và cuối cùng là người trẻ nhất trong “bộ tam hợp” và cũng là cái tên “xa lạ” nhất, Lars Peter Hansen. Khác với hai người còn lại, Hansen không phải nhà tư tưởng hay lý thuyết gia mà là nhà nghiên cứu về các mô hình kinh tê lượng (econometrics) và kiểm chứng các lý thuyết trên trong thực tế. Vì mang nặng tính kỹ thuật, nên giống như hai nhà kinh tế học đoạt giải Nobel năm 2003 (Engle và Granger), tên tuổi của Hansen cũng ít được biết đến trước khi giải Nobel năm nay gọi tên ông.
Hansen

Lars Peter Hansen – sự bổ sung cân bằng giữa hai thái cực thị trường hiệu quả và phi hiệu quả
Nhưng chính giáo sư đến từ Đại học Chicago là người xây dựng mô hình kiểm định thống kê cho lý thuyết về giá tài sản. Andrew Lo, giáo sư tài chính tại Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) nhấn mạnh vai trò quan trọng của Hansen khi cho rằng: “Công việc của Hansen là bổ sung cho cả thị trường hiệu quả và thị trường phi hiệu quả, một sự cân bằng hoàn hảo giữa hai thái cực”.
————–&&————–

Giải Nobel kinh tế 1975: Lý luận phân bổ tối ưu nguồn lực kinh tế – Leonid Vitaliyevich Kantorovich & Tjalling C. Koopmans

Leonid Vitaliyevich Kantorovich

Leonid Vitaliyevich Kantorovich (tiếng Nga: Леонид Витальевич Канторович) (19 tháng 1 năm 1912, Saint Petersburg – 07 tháng 4 năm 1986, Moscow) là một nhà toán học và kinh tế Liên Xô, nổi tiếng với lý thuyết phát triển kỹ thuật cho việc phân bổ tối ưu các nguồn tài nguyên. Ông được trao Giải Nobel Kinh tế năm 1975 và người Liên Xô duy nhất được trao giải Nobel Kinh tế. Kantorovich làm việc cho chính phủ Liên Xô. Ông được giao nhiệm vụ tối ưu hóa sản xuất trong một ngành công nghiệp gỗ dán. Ông đã đưa ra (1939) với các kỹ thuật toán học được gọi là lập trình tuyến tính, một vài năm trước khi nó được tái phát minh và nhiều ứng trước của George Dantzig. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách bao gồm Phương pháp Toán học Kế hoạch sản xuất và Tổ chức và sử dụng nguồn tài nguyên kinh tế. Đối với công việc của mình, Kantorovich được trao tặng giải thưởng Stalin (1949).

Sau năm 1939, ông trở thành giáo sư của trường đại học kỹ thuật kỹ thuật quân sự (tiếng Nga: Военный инженерно-технический университет). Trong thời gian vây hãm Leningrad, Kantorovich là giáo sư của VITU của Hải quân và phụ trách an toàn trên con đường sống. Ông tính toán khoảng cách tối ưu giữa các xe ô tô trên băng, tùy thuộc vào độ dày của băng và nhiệt độ của không khí. Trong tháng 12 năm 1941 và tháng Giêng năm 1942, Kantorovich tự mình đi bộ trên các xe ô tô đang chạy trên băng hồ Ladoga, trên con đường sống, để đảm bảo những chiếc xe đã không chìm. Tuy nhiên, nhiều xe ô tô chứa thức ăn cho những người sống sót của cuộc bao vây đã bị phá hủy bởi các vụ oanh tạc của không quân Đức Quốc xã. Vì hành động và lòng can đảm , Kantorovich đã được trao trao Huân chương chiến tranh yêu nước, và được trao Huy chương Vì quốc phòng Leningrad.

Tjalling Koopmans

Tjalling Charles Koopmans (28 tháng tám năm 1910 – 26 tháng 2 năm 1985) là người đoạt giải Nobel Kinh Tế năm 1975, cùng với Leonid Kantorovich.

Koopmans sinh ra ở ‘s-GravelandNoord-HollandHà Lan. Năm 17 tuổi, ông theo học toán tại đại học Utrecht . Ba năm sau, vào năm 1930, ông chuyển sang vật lý lý thuyết. Năm 1933, ông chuyển đến Amsterdam để nghiên cứu toán kinh tế dưới sự hướng dẫn của Jan Tinbergen. Ngoài toán kinh tế, Koopmans còn nghiên cứu thêm kinh tế học và thống kê.

Koopmans chuyển đến Hoa Kỳ vào năm 1940. Tại đó ông làm việc trong một thời gian cho một cơ quan chính phủ ở Washington DC, nơi ông xuất bản các bài báo về vận tải, chủ yếu tập trung vào tối ưu hóa, sau đó chuyển đến Chicago, nơi ông tham gia cơ quan nghiên cứu Cowles, một Ủy ban Nghiên cứu Kinh tế liên kết với Đại học Chicago. Năm 1946, ông trở thành công dân của Hoa Kỳ và vào năm 1948 là Giám đốc của Ủy ban Cowles. Sự mâu thuẫn từ các bộ phận của kinh tế tại Đại học Chicago với Ủy ban Cowles những năm 1950 đã khiến Koopmans cố gắng thuyết phục toàn bộ Ủy ban Cowles di chuyển đến Đại học Yale vào năm 1955 (nơi nó được đổi tên thành Quỹ Cowles). Ông tiếp tục xuất bản về kinh tế tăng trưởng tối ưu và phân tích hoạt động.

Công trình đầu tiên của ông về lý thuyết Hartree-Fock được liên kết với các định lý Koopmans, được biết đến rộng rãi trong hóa học lượng tử. Koopmans đã được trao giải thưởng Nobel Kinh tế (cùng với Leonid Kantorovich) cho đóng góp của ông cho lĩnh vực phân bổ nguồn lực, đặc biệt là lý thuyết về sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên. Công việc mà giải thưởng trao tập trung vào phân tích hoạt động, nghiên cứu các tương tác giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất, và mối quan hệ của chúng đối với hiệu quả kinh tế và giá cả.

—————-&&————–

Giải Nobel kinh tế 1973: Mô hình Input Output – Wassily Leontief

Wassily Leontief

(Nguồn: hn-ams.org)

Wassily Leontief được biết đến nhiều nhất nhờ việc xây dựng phép phân tích đầu vào – đầu ra. Kỹ thuật này miêu tả được mối tưng quan giữa những lĩnh vực khác nhau hoặc những ngành sản xuất khác nhau của nền kinh tế, có nhiều ứng dụng quan trọng và cung cấp cái nhìn bao quát về hoạt động của nền kinh tế. Sử dụng kỹ thuật trên để tìm hiểu vì sao những điều cn trở sn xuất có thể gia tăng khi nền kinh tế phát triển, và làm sao quá trình lạm phát có thể phân bổ và tràn lan khắp toàn bộ nền kinh tế. Kỹ thuật này còn sử dụng trong kinh tế xã hội học và kinh tế phát triển sau Đại chiến II phục vụ xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế trong 5 năm.
Leontief sinh trưởng trong một gia đình trí thức giàu có ở thành phố St. Petersburg nước Nga năm 1906. Bố ông dạy môn kinh tế lao động tại trường đại học St. Petersburg, mẹ ông là giáo viên môn lịch sử nghệ thuật. Là một đứa trẻ thần đồng, Leontief vào đại học khi 15 tuổi. ở đây, ông nghiên cứu Triết học, Xã hội học và Kinh tế học. Leontief thường xuyên gặp rắc rối đến mức phi vào tù vài lần do chỉ trích chính quyền thực dân mới trong khi theo học tại trường đại học.
Năm 1925, ở tuổi 18, Leontief bo vệ Thạc sĩ khoa học xã hội với luận án “Nhà kinh tế thông thái”. Sau đó, gia đình Leontief rời khỏi nước Nga tới định cư tại Đức do những bất đồng với chính quyền thực dân. Leontief đăng ký theo học đại học Berlin tiếp tục nghiên cứu kinh tế, đến năm 1928, ông chạm trán với một vị khách Trung Quốc trong một quán cà phê và ngay sau đó lao vào cuộc thử sức mới với tư cách cố vấn của Bộ trưởng Bộ Đường sắt Trung Quốc. ở cưng vị này, Leontief dành một năm đi khắp đất nước Trung Quốc thu thập tư liệu nhằm hoạch định kế hoạch phát triển mạng lưới đường sắt Trung Quốc. Công việc cung cấp cho Leontief một tầm nhìn về mối tưng quan kinh tế cùng một c hội để vạch ra những mối quan hệ đó qua những dữ kiện sống thu thập được.
Năm 1931, Leontief đến Mỹ. Đầu tiên, ông làm việc cho Cục nghiên cứu kinh tế quốc gia ở NewYork, sau đó ging dạy ở đại học Harvard, ni mà ông xây dựng mô hình đầu vào – đầu ra cho kinh tế Mỹ. Trong nhiều thập kỷ tiếp theo, Leontief không ngừng ci tiến và mở rộng mô hình trên cũng như tìm ra cách áp dụng mô hình này trong việc nghiên cứu những vấn đề kinh tế thế giới. Leontief rời đại học Harvard năm 1975 tham gia làm việc tại Viện Nghiên cứu Kinh tế thuộc đại học NewYork.
Trong những năm sau này, Leontief nhận được nhiều sự cổ vũ và phần thưởng lớn. Vào năm 1970, ông là Chủ tịch Hiệp hội kinh tế Mỹ. Ông nhận gii thưởng Nobel Kinh tế năm 1973 với những đóng góp xây dựng phép phân tích đầu vào – đầu ra. Không nghi ngờ một điều rằng lý thuyết trên là đóng góp lớn nhất của ông đối với kinh tế học.
Toàn bộ nền kinh tế được coi là tập hợp những lĩnh vực có quan hệ mật thiết với nhau, vì lĩnh vực này sử dụng sn phẩm của lĩnh vực khác và vì tiền cũng được lưu thông giữa các lĩnh vực trước khi quay trở lại. Lý thuyết này được khởi xướng bởi Cantillon và Quesnay, Leontief đã kế thừa và đưa những mối quan hệ đó vào thuật ngữ toán học, tập hợp dữ liệu cần thiết để xây dựng bng đầu vào – đầu ra. Cũng chính Leontief là người tho ra chính sách thực hiện từ những biểu diễn toán học về kinh tế mà ông đã xây dựng. Công cụ này cho phép một nhà phân tích lý gii vì sao thay đổi của một hay nhiều ngành sn xuất lại nh hưởng đến những ngành còn lại của nền kinh tế. Hn nữa, phép phân tích đầu vào – đầu ra còn tính đến những kế hoạch toàn diện của chính phủ, cái mà Leontief coi là giai đoạn tiếp theo của phát triển tư bản.
Điều chính yếu của phép phân tích đầu vào – đầu ra là: nếu nền kinh tế sn xuất nhiều hn một loại hàng, như ô tô chẳng hạn, chắc chắn sẽ cần có thêm “đầu vào” hoặc các phần để làm những chiếc xe khác. Thí dụ như lốp xe, nắp tròn đậy trục bánh xe, trục xe, kính xe, v. v…phi cần đến. Kế tiếp, sản xuất một bộ phận sẽ kéo theo những bộ phận khác. Sn xuất lốp cần cao su, máy móc. Hiểu phức tạp hn, làm thêm bộ phận máy, nắp tròn đậy trục bánh xe hoặc trục xe, nền kinh tế sẽ sn xuất thêm nhiều ô tô hn, vì xe cần nguyên liệu. Để làm những chiếc ô tô truyền thống, dĩ nhiên, sẽ đòi hỏi thêm nhiều “đầu vào” cần thiết cho công nghiệp ô tô.
Đầu vào về lao động dễ dàng điều chỉnh hn trong c cấu này. Người công nhân lắp ráp ô tô được coi là một đầu vào đòi hỏi nhiều đầu vào khác. Có ông nhân, do đó sẽ cần thức ăn, quần áo, một chỗ để trú ẩn và vâng, những chiếc ô tô đưa đón họ đến ni làm việc, nếu như họ giúp cho việc chế tạo ra ô tô. Và tất c những gì áp dụng cho công nhân lắp ráp đều đúng với công nhân ngành khác của toàn bộ nền kinh tế.
Qua việc mở rộng nghiên cứu sn xuất và nhu cầu kỹ thuật của một số ngành công nghiệp Mỹ, năm 1941, Leontief có thể biểu diễn được mối quan hệ giữa kỹ thuật và sn xuất cho những ngành công nghiệp quan trọng bằng Toán học. Sự gii thích này, như c cấu sn xuất, chỉ rõ tất c những hàng hoá khác của nền kinh tế đều để sn xuất những hàng hoá riêng biệt. Điều này đem đến cho Leontief một tập hợp phưng trình Toán học, trong đó mỗi một phưng trình biểu thị một loại hàng hoá. Với sự giúp đỡ của máy tính, Leontief đã gii được tập hợp phưng trình này. Kết qu gii phưng trình cho ông biết cần sn xuất thêm bao nhiêu hàng hoá khác để tạo thêm một chiếc ô tô. Nếu những hàng hoá không đủ, “nút cổ chai” của sn xuất sẽ xuất hiện, ví dụ như sn xuất thiếu lốp xe, máy móc, kính xe thì không làm thêm được xe đáp ứng nhu cầu. Nói cách khác, nếu tất c những “đầu vào” được sn xuất đủ số lượng, sẽ có đủ các phần nguyên liệu sn xuất thêm những chiếc xe khác.
Mô hình đầu vào – đầu ra không đn thuần chỉ mối quan hệ kỹ thuật, chúng còn cho phép các nhà hoạch định chính sách xác định những hậu qu của việc thay đổi chính sách. Ví dụ, việc chính phủ gim chi đối với quốc phòng sẽ nh hưởng xấu tới ngành công nghiệp sn xuất quân trang, những nhà cung cấp nguyên liệu cho ngành sn xuất quân trang và c những người cung cấp cho các nhà cung cấp này. Ngược lại, việc chi nhiều cho c sở hạ tầng (như đường sá, cầu, tàu) sẽ hậu thuẫn cho ngành công nghiệp xây dựng phát triển, và c các nhà cung cấp. So sánh hai tập hợp những thay đổi này cùng lúc giúp cho chính phủ thâu tóm toàn bộ nh hưởng của những thay đổi quân sự trên từng vùng địa lý và trên những lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế.
Leontief tập trung vào cách sử dụng phép phân tích “đầu vào – đầu ra” để kiểm nghiệm các học thuyết kinh tế khi ông nghiên cứu những mối quan hệ thưng mại giữa Mỹ với các quốc gia khác. Thật bất ngờ, ông phát hiện ra rằng xuất khẩu củaMỹ sử dụng ít vốn và nhiều lao động hn so với nhập khẩu. Điều này trái với học thuyết thưng mại truyền thống, khi cho rằng một đất nước có tiềm lực vốn dồi dào như Mỹ cần xuất khẩu hàng hoá đòi hỏi vốn lớn và nhập hàng hoá đòi hỏi lao động lớn. Những khám phá trên đã làm thành cuốn “Nghịch biện Leontief”, góp thêm nỗ lực sửa đổi thuyết thưng mại nhằm gii thích cho những khám phá mới về thế giới thực.
Một ứng dụng nữa của phép phân tích đầu vào – đầu ra bắt nguồn từ công việc mà Leontief làm cho Mỹ từ năm 1973. Công việc này nhằm phát triển mô hình đầu vào – đầu ra của thế giới mà khi sáp nhập với môi trường, hoàn cnh tạo thành “ khu vực kinh tế”. Có thể hình dung rằng các khu vực kinh tế không chỉ sn xuất ra những “đầu vào” thông thường, như ô tô, mà còn một loạt các chất gây ô nhiễm. Tưng tự, với một khu vực ít ô nhiễm hn thì đầu ra lại gây ô nhiễm đối với khu vực khác. Khu vực này cần thủ tiêu những chất gây ô nhiễm và trở về môi trường có trạng thái ban đầu. Leontief sử dụng mô hình này để nghiên cứu nh hưởng đối với môi trường khi mở rộng sn xuất cũng như cái giá của tăng trưởng kinh tế so với việc hạn chế ô nhiễm môi trường.
Từ những năm 1940 đến 1960, phép phân tích đầu vào – đầu ra thu hút sự quan tâm lớn trên toàn thế giới. Sự phát triển như vũ bão của máy tính cho thấy tính thực tế và phức tạp của mô hình đầu vào – đầu ra cũng tăng theo ở mỗi quốc gia. Trong Đại chiến II, các chính phủ đã sử dụng phép phân tích này để quyết định khu vực nào của nền kinh tế bị cắt gim theo kinh nghiệm, qua đó có chính sách mở rộng sn xuất ở những khu vực trên. V lại, sau Đại chiến II, các quốc gia quan tâm đến trách nhiệm đối với tưng lai nền kinh tế hn là phó mặc nó cho những nh hưởng bất thường của thị trường. Vấn đề quy hoạch các c quan và bộ máy công chức nổi lên ở c quốc gia phát triển lẫn đang phát triển, và mô hình đầu vào – đầu ra đã cung cấp một công cụ đn gin hữu ích để hỗ trợ cho nỗ lực này.
Tuy vậy, trong những năm 70, mối quan tâm đối với phép phân tích đầu vào – đầu ra gim sút. Nguyên nhân thứ nhất là khi có sự thay đổi từ việc hoạch định sang việc cho phép thị trường quyết định tốc độ và định hướng phát triển. Nguyên nhân thứ hai là do nhiều hạn chế của phép phân tích đã bộc lộ. Bởi vì sẽ rất khó khăn và tốn kém để ước tính tất c các mối quan hệ đầu vào – đầu ra thực tế cho toàn bộ nền kinh tế phức tạp, khiến chính quyền nhà nước phi thường xuyên sửa đổi mô hình đầu vào – đầu ra. Vì vậy, phưng pháp phân tích sử dụng công cụ đầu vào – đầu ra tất sẽ dựa nhiều vào những dữ liệu không cập nhật.
Nguyên nhân thứ ba quan trọng nhất, trong thế giới thực, tăng trưởng và phát triển gắn liền với khoa học kỹ thuật và công cụ sn xuất. Những ci tiến về khoa học kỹ thuật cho phép quá trình sn xuất thay thế được một vài đầu vào (đặc biệt là yêu cầu về lao động). Điều này có nghĩa là mối quan hệ đầu vào – đầu ra thường xuyên thay đổi. Tuy thế, phép phân tích này vẫn ấn định mối quan hệ đầu vào – đầu ra.
Bên cạnh phép phân tích trên, Leontief còn quan tâm đến phưng pháp luận của khoa học kinh tế và những thực nghiệm hàng ngày của các kinh tế gia đưng thời. Thật vậy, Leontief đã thay đổi từ một người xây dựng mô hình các quan hệ kinh tế trên c sở thiết lập các mối quan hệ theo kinh nghiệm trở thành một nhà phê bình sắc bén trên nền tng thực tế. Bài phê bình đầu tiên về phưng pháp luận kinh tế công kích phái Keynes về việc xây dựng những mô hình trừu tượng, giáo điều, khi mà những kết luận của họ hoàn toàn dựa trên c sở tiền đề của mô hình. Leontief cho rằng nếu thiếu những ước tính kinh nghiệm khá chính xác về hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, như việc xây dựng mô hình quan hệ kinh tế, sẽ không thể thắp lên ánh sáng soi rọi những vấn đề nền kinh tế phi đối mặt.
Trên cưng vị Chủ tịch Hiệp hội kinh tế Mỹ, năm 1971, Leontief tiếp tục phê phán về cách mà những đồng nghiệp nghiên cứu kinh tế học. Thời gian này, Leontief tập trung phê phán sự thống trị của chủ nghĩa hình thức toán học đối với khoa học kinh tế. Ông chứng minh rằng các nhà kinh tế đang ngấm ngầm xây dựng những mô hình máy móc, sau đó suy diễn ra đặc điểm hoặc thuộc tính của những mô hình này, lờ đi việc cân nhắc, tự hỏi sự suy diễn trên có thực tế hay không. Những kết luận của phép lấy đạo hàm toán học là không thích hợp, Leontief qu quyết, bởi vì họ đã bắt đầu với những gi thuyết sai sự thật.
Leontief cũng chỉ trích những ông bạn kinh tế gia của mình khi biểu diễn phép phân tích thống kê phức tạp trên c sở những dữ liệu có ý nghĩa và giá trị đáng ngờ. Tích cực hn, Leontief khuyên họ nên cống hiến thời gian và sự quan tâm đến việc thu thập dữ liệu và dành ít thời gian hn vào việc xây dựng những kỹ thuật kiểm tra tinh vi. Cuối cùng, Leontief cnh báo rằng những mối quan hệ kinh tế không giống các mối quan hệ của khoa học tự nhiên mà sẽ thay đổi theo thời gian, bởi vì những hành vi cá nhân khiến quan hệ kinh tế phụ thuộc cũng luôn thay đổi. Việc nghiên cứu Toán kinh tế thừa nhận các mối quan hệ kinh tế là bất biến, do vậy mà không chính xác, thậm chí giúp che đậy những yếu kém của các tập hợp dữ kiện và một thực tế rằng quan hệ kinh tế luôn biến đổi. Lý lẽ này của Leontief đã lường trước sự ra đời của cái gọi là “ Nghệ thuật phê bình của Lucas” về mô hình nghiên cứu kinh tế vĩ mô.
Tiếp theo nguồn cm hứng phê phán, Leontief cố thuyết phục các kinh tế gia cam kết một loạt điều như “khám phá thực tế một cách hệ thống, bắt gánh chịu một cách truyền thống và chấp nhận bởi các đồng nghiệp trong khoa học tự nhiên và khoa học lịch sử”. Ông cũng kêu gọi các nhà kinh tế về tính nghiên cứu liên ngành bằng cách làm việc với nhiều nhà xã hội học, kỹ sư, và nhà khoa học qun lý. Những lĩnh vực trên cung cấp thêm giá trị về kinh nghiệm và thực hành, và những người đang hành nghề của họ có nhiều hiểu biết cùng kỹ năng trong thu thập dữ liệu, phân tích. Những “môn học” khác, vì thế, có thể dạy cho các kinh tế gia nhiều điều về công dụng và tầm quan trọng của thu thập dữ liệu cũng như kiểm nghiệm học thuyết.
Trong khi sự chỉ trích tưng tự vẫn không ngừng nhằm vào các kinh tế gia đưng thời, không ai trong số các phê bình gia này có uy tín bằng Leontief, người có bề dày kinh nghiệm từ nhiều năm nghiên cứu kinh tế thực nghiệm. Nhưng thật không may, những chỉ trích này đã ri vào quên lãng. Tệ hn nữa, rất nhiều chuyên gia kinh tế không hề ý thức về những cnh báo của một người đáng kính nể như Leontief.
Chủ đề thống nhất trong các công trình của Leontief là: khoa học kinh tế cần được nghiên cứu trên c sở kiểm nghiệm thực tế và khoa học thực hành. Các nhà kinh tế cần dành thời gian công sức cho việc thu thập dữ liệu và gii quyết những vấn đề gặp phi khi sử dụng các công cụ phân tích xử lý dữ liệu thực. Phép phân tích đầu vào – đầu ra cho biết diễn biến vận hành của c thể kinh tế và vận dụng kết qu đạt được vào ci thiện nền kinh tế. Những phê phán có hệ thống của Leontief không được các nhà kinh tế sau này áp dụng.

————-&&————-

Giải Nobel kinh tế 1971: Xây dựng nền tảng thực nghiệm về lý luận tăng trưởng kinh tế – Simon Kuznets

Smith Kuznets

(Nguồn: hn-ams.org)

Simon Kuznets nổi tiếng vì việc phát triển hệ thống các tài khon thu nhập quốc gia mà tất c các quốc gia áp dụng để đo lường hoạt động kinh tế. Ông cũng đo lường phân phối thu nhập và xem xét phân phối thu nhập ở Mỹ thay đổi như thế nào trong thế kỷ 20. Nhưng tác phẩm của Kuznets không chỉ là việc đo lường hiện tượng kinh tế. Ông cũng đi tìm các nguyên nhân của tăng trưởng kinh tế và thay đổi bất bình đẳng thu nhập, nghiên cứu các chu kỳ tăng trưởng mà nền kinh tế tri qua, và cố gắng tìm hiểu những tác động của tăng trưởng kinh tế lên phân phối thu nhập.
Kuznets sinh năm 1901 ở Pinsk ( khi đó là một vùng thuộc Liên xô và hiện nay thuộc Belarus). Cha ông là một người bán áo lông thú, và đầu thế chiến I ông đã chuyển gia đình đến Kharkov, một thành phố nổi tiếng về tri thức.Sau khi tốt nghiệp một trường trung học phổ thông công lập, ông vào họctại trường Đại học Kharkov. Tại đó ông bắt đầu nghiên cứu kinh tế học và tiếp xúc với lý thuyết đổi mới của Joseph Schumpeter và chu kỳ kinh doanh. Khi cuộc cách mạng Nga dẫn tới đóng cửa trường đại học và gây ra nội chiến ở Nga,gia đình Kuznets rời khỏi Nga, lúc đầu đến Thổ Nhĩ Kỳ và cuối cùng là di cư sang Mỹ.
Kuznets tự học tiếng Anh trong một mùa hè và sau đó vào học trường đại học Columbia. Tại Columbia, Kuznets học Wesley Clair Mitchell, người đã dạy ông các phưng pháp kinh tế học thực nghiệm và khuyến khích ông quan tâm tới nghiên cứu chu kỳ kinh doanh. Ông nhận bằng cử nhân vào năm 1923 và tiến sĩ vào năm 1926. Luận văn tiến sĩ của ông ( về các dao động thưng mại bán buôn và bán lẻ) liên quan đến c các vấn đề đo lường kinh tế và biến động chu kỳ trong hoạt động kinh tế.
Sau khi nhận bằng tiến sĩ, Kuznets làm việc 3 năm tại Viện nghiên cứu kinh tế quốc gia. Sau đó vào năm 1931 ông tham gia ging dạy tại trường Đại học Pennsylvania. Năm 1960 ông sang dạy tại trường Johns Hopkins, và ging dạy tại đây cho tới khi về hưu vào năm 1971. Trong khi tham gia ging dạy như vậy, ông thường xuyên cộng tác cùng Viện nghiên cứu kinh tế quốc gia.
Trong cuộc đời học thuật của mình, Kuznets đã được nhận rất nhiều vinh dự cao quí. Vào năm 1949 ông làm Chủ tịch Hiệp hội thống kê Mỹ; vào năm 1953 ông trở thành Chủ tịch Hiệp hội Kinh tế Mỹ; và vào năm 1971 ông được nhận gii thưởng Nobel Kinh tế.
Trong khi ủy ban gi thưởng Nobel lựa chọn công trình nghiên cứu của ông thuộc lĩnh vực tăng trưởng kinh tế và thay đổi cấu trúc xã hội, nhưng đóng góp quan trọng nhất của ông rất có thể là việc phát triển hệ thống hạch toán thu nhập quốc gia.
Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu hoạt động tổng thể của nền kinh tế quốc gia. Để kiểm định các gi thuyết về các quan hệ kinh tế vĩ mô, hay để tìm ra những nguyên nhân của hoạt động kinh tế vĩ mô lành mạnh thì cần phi có một thước đo hoạt động kinh tế tổng thể nào đó. Vào thế kỷ 17, William Petty đã có những cố gắng ban đầu trong việc tính toán hoạt động kinh tế ở Anh, và những ước lượng thu nhập quốc gia được thực hiện một vài lần trong công trình khởi đầu cua Petty. Tuy nhiên, không ai cố gắng thực hiện các công việc đo lường như vậy trên cở sở hàng năm, và chỉ có rất ít các ước lượng được tiến hành một cách tỷ mỉ và có hệ thống. Cho đến những năm 1920 cũng vậy, nước Anh đã đi trước nước Mỹ rất nhiều trong việc lập ra dữ liệu thu nhập quốc gia. Kuznets đã gánh vác để thực hiện công việc này. Ông đã đưa Mỹ từ vị trí bị tụt hậu trở thành quốc gia đi đầu trong thống kê thu nhập quốc gia. Tại Viện nghiên cứu kinh tế quốc gia, Kuznets đã phụ trách việc phát triển mô hình ước lượng đầu tiên về thu nhập quốc gia của Mỹ từ năm 1929 đến 1932. Sau đó ông tiếp tục phát triển việc ước lượng thu nhập quốc gia trong các năm từ 1919 đến 1938, và đưa ra ước lượng cho hoạt động kinh tế Mỹ giai đoạn từ năm 1869.
Kuznets đã miêu t một cách cẩn thận c phưng pháp luận mà ông sử dụng trong thiết lập các đo lường hoạt động kinh tế cũng như một số vấn đề ông gặp phi trong khi tiến hành ước lượng. Như vậy, Kuznets đã đặt ra các tiêu chuẩn cho việc đo lường hoạt động kinh tế và phát triển cách thức mà vẫn được áp dụng cho đến ngày nay.
Ví dụ, Kuznets nhận thức được rằng việc ước lượng thu nhập quốc gia đã loại trừ các hàng hoá và dịch vụ không được mua bán trên thị trường. Khi các hộ gia đình nấu các bữa ăn của họ, tự cắt cỏ ở vườn, và lau nhà, thì họ đã sn xuất ra hàng hoá và dịch vụ; nhưng những hàng hoá này không được tính trong số liệu hoạt động kinh tế do chính phủ thu thập. Tưng tự như vậy, các hoạt động bất hợp pháp như mại dâm hay buôn bán thuốc phiện là rất khó, nếu không nói là không thể đo lường và cũng không thể được tính vào ước lượng hoạt động kinh tế tổng thể.
Kuznets cũng thận trọng khi phân biệt hàng hoá cuối cùng với hàng hoá trung gian, và dùng cách phân biệt này để tránh vấn đề tính trùng. Một chiêc ôtô, hàng hoá cuối cùng được bán cho người tiêu dùng, được lắp ráp từ các hàng hoá trung gian như lốp, kính, máy móc, và phanh. Tính toán giá trị của lốp xe bán cho người sn xuất ôtô và c giá trị của chiếc xe sẽ dẫn tới tính hai lần giá trị của lốp xe. Để có được một thước đo chính xác hn về hoạt động kinh tế thì cần phi trừ đi giá trị của tất c các thành phần khỏi giá trị cuối cùng của chiếc xe bán cho người tiêu dùng. Lấy phần chênh lệch này, hay tính toán giá trị gia tăng của người sn xuất xe ôtô, sẽ cung cấp một nền tng cho việc đo lường thu nhập quốc gia. Thu nhập quốc gia chỉ đn thuần là tổng của giá trị gia tăng của các hãng kinh doanh trong nền kinh tế trong một khong thời gian nhất định. Nó có thể được rút ra từ giá trị báo cáo hàng kỳ của các hãng kinh doanh về doanh thu bán hàng, chi phí cho các bộ phận, và lợi nhuận hàng quý.
Kuznets hiểu rằng đo lường thu nhập quốc gia có những hạn chế nhất định khi dùng làm chỉ số cho giầu có hay phúc lợi quốc gia. Chỉ đn thuần là vì thu nhập quốc gia tăng không nhất thiết có nghĩa rằng nước đó trở nên tốt hn. Thu nhập có thể được phân phối ngày càng không công bằng, bởi vậy mặc dù tổng thu nhập tăng lên nhưng nhiều hộ gia đình lại trở nên khốn khó hn. Kuznets cũng lưu ý rằng chính quá trình tăng trưởng có thể dẫn tới những kết qu không đáng mong muốn như tình trạng đô thị hoá, tắc ngẽn giao thông, và ô nhiễm môi trường. Cuối cùng, hạch toán thu nhập quốc gia không tính đến có bao nhiêu sn lượng đầu ra đi vào ngân sách chính phủ và bị buộc phi tr thuế.
Công trình của Kuznets về đo lường thu nhập quốc gia đưng nhiên đã đưa đến việc nghiên cứu chu kỳ kinh doanh, hay sự bành trướng và thu hẹp theo chu kỳ của hoạt động kinh tế. Trước khi xuất hiện tác phẩm của Kuznets, Nikolai Kondratieff, một nhà kinh tế học người Nga, đã quan tâm đến sự tồn tại của các chu kỳ kinh tế dài hạn kéo dài trong khong 45 và 60 năm. Xem xét dữ liệu giá c hàng trăm năm của Mỹ, Pháp, và Đức ( cùng với dữ liệu về sn xuất sắt, than, và các sn phẩm khác, khắp thế giới ). Kondratieff nhận thấy rằng có các giai đoạn đều đặn khong 20-30 năm mà trong thời kỳ đó giá c gim xuống. Những thay đổi kinh tế dài hạn này kể từ đó được gọi là “ những làn sóng Kondratieff”. Những chu kỳ ngắn hạn hn, khong 10 năm, đã có liên quan tới những thay đổi đầu tư kinh doanh.
Trong nghiên cứu về các dao động kinh tế của mình, Kuznets phát hiện ra các chu kỳ tăng trưởng và suy thoái kéo dài trong khong thời gian 20 năm. Những chu kỳ này đã được gọi là “ chu kỳ Kuznets”. Kuznets nghĩ rằng những thay đổi dân số có thể gii thích cho những chu kỳ 20 năm này. Dân số tăng có thể xuất phát từ làn sóng nhập cư hoặc tỷ lệ sinh tăng do điều kiện kinh tế thuận lợi. Cho dù bất cứ nguyên nhân nào, tăng trưởng dân số đều dẫn tới cầu về hàng hoá tiêu dùng lớn hn, đặc biệt là đối với nhà ở. Cầu tăng thêm sẽ khuyến khích thêm đầu tư kinh doanh. Điều này, cùng với lợi thế của kinh tế học nhờ qui mô, đã góp phần vào tăng trưởng năng suất nhanh hn. Kết qu là mức sống tăng lên khi dân số tăng. Nhưng ngay sau đó những công dân mới trở thành một bộ phận của lực lượng lao động nhiều hn, và điều này dẫn tới áp lực xuống phía dưới đối với tiền lưng. Khi tiền lưng gim xuống, chi tiêu và đầu tư cũng sẽ gim, và giai đoạn suy gim của chu kỳ kinh tế bắt đầu.
Kuznets mở rộng tác phẩm của ông về chu kỳ kinh tế để nghiên cứu những thay đổi cấu trúc kinh tế do tăng trưởng và suy thoái kinh tế gây ra. Trong đó ông nghiên cứu chu kỳ kinh doanh đã nh hưởng như thế nào tới tỷ lệ tiết kiệm và tiêu dùng, năng suất, phân phối thu nhập và các yếu tố khác ( như luồng vốn, hàng hoá, nhân lực quốc tế).
Kuznets cũng xem xét tác động của tăng trưởng kinh tế lên phân phối thu nhập, và đã đi dầu trong việc đo lường phân phối thu nhập. Sử dụng c số liệu thuế thu nhập và số liệu điều tra của Uỷ ban điều tra dân số Mỹ, ông xem xét tỷ lệ của tổng thu nhập mà mỗi nhóm trong 10 nhóm thu nhập nhận được ( 10% những người có thu nhập cao nhất, 10% tiếp theo, 10% nhóm thứ 3….) hàng năm trong khong thời gian từ 1913 và 1948. Kuznets nhận thấy rằng trong những năm chiến tranh, 1% dân số hàng đầu nhận 15% tổng thu nhập quốc gia và 5% nhóm đầu nhận 25% đến 30% tổng thu nhập. Ông cũng phát hiện thấy bất bình đẳng thu nhập ở Mỹ gim xuống trong và sau thế chiến II, với 1% nhóm đầu chỉ nhận 8,5% tổng thu nhập và 5% nhóm đầu nhận được 18% tổng thu nhập. Kuznets lập luận rằng chu kỳ kinh doanh có thể gii thích cho những thay đổi này. Thất nghiệp thấp trong và sau Thế chiến II làm tăng tỷ phần tổng thu nhập của nhóm có thu nhập thấp hn. Cùng lúc đó, lãi suất thấp hn và thuế thu nhập cao hn đã làm gim tỷ phần thu nhập của nhóm giầu có nhất. Nhìn vào dư liệu trong những khong thời gian dài và ở nhiều quốc gia khác nhau, Kuznets phát hiện ra rằng bình đẳng thu nhập đi theo hình chữ U – nó gim trong những thời kỳ đầu phát triển kinh tế và làm cho người nghèo bị tồi khốn khó hn, nhưng tăng trong những thời kỳ phát triển sau, do đó sẽ mang lại lợi ích cho những người có thu nhập thấp.
Một phát hiện thực tiễn quan trong khác của Kuznets liên quan đến tỷ lệ tiết kiệm ở Mỹ, hay ngược lại là tỷ lệ tiêu dùng trên thu nhập quốc gia. Kuznets nhận thấy tỷ lệ tiết kiệm ở Mỹ khá ổn định và không thay đổi khi nền kinh tế Mỹ tăng trưởng. Điều này ngược với dự đoán trong phưng trình tiêu dùng đn gin của Keynes, C = a + bY, trong đó C là tiêu dùng và Y là thu nhập hiện tại. Nếu gi thuyết này là đúng thì tỷ lệ tiêu dùng sẽ gim khi thu nhập tăng lên. Tỷ lệ tiêu dùng gim có nghĩa là tỷ lệ tiết kiệm tăng lên. Thực chất thì quan điểm đn gin của Keynes chỉ là con người ta sẽ tiết kiệm nhiều hn khi thu nhập tăng lên. Điều mà Kuznets phát hiện ra rằng tỷ lệ tiết kiệm không đổi đã giúp cho Milton Friedman phát triển gi thuyết thu nhập vĩnh cửu và Franco Modigliani phát triển gi thuyết chu kỳ sống nhằm gii thích tỷ lệ tiết kiệm không đổi.
Cuối cùng, Kuznets đã dành nhiều thời gian trong đời để nghiên cứu các yếu tố nh hưởng đến tăng trưởng năng suất. Đây chỉ là việc mở rộng phạm vi tập trung nghiên cứu của ông về tăng trưởng kinh tế, vì tăng trưởng do các nh hưởng kết hợp của tăng năng suất và dân số. Trong hai yếu tố này, tăng trưởng năng suất chắc chắn quan trọng hn, vì như Adam Smith đã chỉ ra rằng tăng năng suất sẽ dẫn tới ci thiện mức sống. Nghiên cứu về tăng trưởng năng suất đã cho phép Kuznets đưa các mối quan tâm nghiên cứu của ông vào trong thay đổi dân số, trong ước lượng thực nghiệm một cách chuẩn xác, và trong việc nâng cao mức sống.
Kuznets nhấn mạnh nhiều vào thay đổi và đổi mới công nghệ để làm phưng tiện cho việc tăng năng suất. Ông đánh giá rằng trong thời kỳ 50 năm thì 3/5 của phần tăng năng suất tại Mỹ là do tiến bộ công nghệ và 2/5 là do phân bố lại lao động từ những khu vực năng suấ thấp hn ( ví dụ như nông nghiệp) sang khu vực năng suất cao hn ( như chế tạo). Vì về mặt lịch sử thì công nghệ là yếu tố quan trọng hn, và vì phân bố lại lao động trở nên ít quan trọng hn qua thời gian khi ít người Mỹ làm trong khu vực nông nghiệp hn nên ông nghĩ rằng nỗ lực nhằm nâng cao năng suất phi tập trung vào những đột phá và tiến bộ công nghệ. Vào cuối thế kỷ 20, hầu hết các tác phẩm kinh tế học mang tính lý thuyết và khá trừu tượng. Các nhà kinh tế học thậm chí coi thường các nghiên cứu thực nghiệm khi tìm cách đo lường các biến số kinh tế và xem các biến số đó thay đổi như thế nào qua thời gian. Kuznets đã đứng vững trong truyền thống thực nghiệm của kinh tế học mà khởi đầu là số học chính trị của Petty. Tác phẩm của Kuznets đã cho phép phát triển một khối lượng kiến thức đồ sộ về tăng trưởng và phát triển kinh tế. Nó cũng tạo ra một lượng lớn dữ liệu cho phép kiểm định các lý thuyết kinh tế. Và nó đã cho phép chính phủ có thể thường xuyên tạo lập và báo cáo dữ liệu kinh tế học vĩ mô. Nếu kinh tế học được coi là nghiên cứu về sự vận hành của các nền kinh tế thực thì Kuznets phi được xem là một trong số ít các hình tượng quan trọng nhất.

—————&&————–