Tại sao bất bình đẳng toàn cầu lại quan trọng

Tại sao bất bình đẳng toàn cầu lại quan trọng

(Tác giả: Branko Milanovic – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Tôi sẽ bắt đầu bằng việc xem xét tầm quan trọng của bất bình đẳng trong các cuộc tranh luận công khai những năm gần đây. Như chúng ta đã biết, bất bình đẳng đã bị xem nhẹ trong cả giới học thuật lẫn chính trị – đặc biệt là ở cánh tả – nơi đáng lẽ phải nhạy cảm nhất đối với những vấn đề xã hội. Sau đó, cùng với sự bùng nổ của khủng hoảng, bất bình đẳng lại bất ngờ chiếm một vai trò trung tâm, mà cho đến tận gần đây là không thể đoán trước được. Báo chí bắt đầu nói về nó, thậm chí nó còn là một vấn đề được bàn luận giữa các ứng cử viên Đảng Dân chủ chạy đua vào Nhà Trắng. Bạn nghĩ điều gì đã thay đổi?

Với nội dung của câu hỏi này, tôi sẽ phải phân chia câu trả lời thành hai phần. Tôi sẽ bắt đầu từ việc tại sao bất bình đẳng đột nhiên lại trở thành một chủ đề được bàn luận nhiều đến vậy. Rõ ràng nguồn gốc của sự thay đổi này, đối với tôi, là khủng hoảng kinh tế. Chính những yếu tố vật chất đã ảnh hưởng đến cuộc sống của con người và cách suy nghĩ của họ: bất bình đẳng chắc chắn không phải một hiện tượng mới, nhưng trong 25 năm qua, tầng lớp trung lưu đã có thể che giấu sự vắng mặt của gia tăng thu nhập thông qua tín dụng, đó là vay mượn. Tuy nhiên khi khủng hoảng xảy ra, bong bóng này đã bị vỡ, hàng triệu người dân thường bị ảnh hưởng nặng nề, họ rơi vào thế bất lợi vì kinh tế suy thoái và tiền lương giảm; không thể trả những khoản nợ, đặc biệt là nợ trong thị trường bất động sản. Đừng quên rằng nợ tư nhân của Mỹ còn cao hơn cả GDP quốc gia.

Và sau đó họ sớm nhận ra tình hình thực sự của mình là gì và rằng họ đã không nhìn thấy bất kỳ sự tăng trưởng kinh tế nào trong 25 năm qua. Cùng lúc đó, có một tầng lớp, 1% những người giàu nhất, hoặc là 5% nếu bạn muốn, lại thành công. Vì vậy, điều dấy lên mối quan tâm đến bất bình đẳng là sự thiếu vắng của tăng trưởng kinh tế và việc nhận ra rằng tình trạng này không xảy ra với tất cả mọi người – trong quá khứ một vài người đã trở nên rất giàu có trong khi nền kinh tế trì trệ với rất nhiều người khác. “Phát hiện” này có một ảnh hưởng rất lớn lên nhận thức của cộng đồng và đó là lý do tại sao bất bình đẳng trở thành một chủ đề được quan tâm. Tôi nghĩ vai trò quan trọng của phong trào Occupy[1]ở Mỹ, phong trào Indignados[2] ở Tây Ban Nha và Đảng Syriza[3] tại Hy Lạp cũng là kết quả của cú sốc này.

Margaret Thatcher (1925-2013)

Phần thứ hai của câu hỏi là tại sao trước khủng hoảng bất bình đẳng lại không phải là vấn đề chính trị chủ yếu, đặc biệt là đối với cánh tả. Câu trả lời rất đơn giản: không còn cánh tả thực sự nào để giải quyết vấn đề này. Cánh tả đã biến mất. Trong những thập kỷ qua, cánh tả đã chuyển sang trung dung, trong một số trường hợp trở thành trung hữu, và tôi đặc biệt nghĩ đến Tây Ban Nha. Về mặt kỹ thuật, nếu bạn định vẽ một đường thẳng bằng những thông số chính trị của những năm 1970, PSOE[4] hiện tại sẽ là một đảng trung hữu. Cũng có thể nói như thế về những chính sách của đảng Xã hội Pháp, và tất nhiên là cả Italia, nơi mà đảng viên đảng Dân chủ trước đây là những người cộng sản và thực tế bây giờ lại đứng vững trên lập trường cánh hữu. Các đảng này không đưa ra bất kỳ câu hỏi vào về bất bình đẳng, họ chỉ đơn giản tuân theo cách tiếp cận tân cổ điển, một phiên bản bị pha loãng của chủ nghĩa Thatcher[5] tất nhiên tránh những chủ đề như vậy.

Đây là lý do tại sao một chủ đề chính trị nhạy cảm như vậy lại bị bỏ qua. Sau đó, khi khủng hoảng diễn ra, người ta hoàn toàn bị vỡ mộng, đặc biệt là những người trẻ, cả về mô hình kinh tế lẫn các đảng phái đại diện cho các xu hướng chính trị và đó là nguyên nhân chúng ta thấy sự phát triển đáng chú ý này trong những năm gần đây.

Hãy cùng đi sâu vào vấn đề chính trị này. Bạn nói rằng cánh tả từ lâu đã không còn là cánh tả nữa, và sau cuộc khủng hoảng chúng ta đã thấy những sự dịch chuyển mới ở Tây Ban Nha và Hy Lạp. Nhưng ở những nơi khác không hẳn cũng như thế. Ở Ý, Phong trào Năm Sao[6] có vẻ quan tâm đến tham nhũng chính trị hơn là bất bình đẳng. Nói chung, ở gần như tất cả các quốc gia châu Âu, những gì đã từng là cánh tả cũ dường như không thực sự suy nghĩ lại về vai trò của nó. Theo tôi, rủi ro là những trường hợp mới liên quan đến cú sốc hậu khủng hoảng không có được đại diện.

Trong thực tế, lập luận này là sai lầm – nó cho rằng tính đại diện cho các tầng lớp xã hội bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng chỉ liên quan đến cánh tả. Ngược lại, những người bị thiệt hại trong cuộc khủng hoảng có thể an toàn tìm thấy đại diện chính trị ở cánh hữu. Và đó là những gì đã xảy ra. Ngoại trừ Địa Trung Hải – nơi có sự dịch chuyển sang cánh tả, với chính phủ xã hội chủ nghĩa ở Bồ Đào Nha và Syriza (Hy Lạp) và sự nổi lên của đảng Podemos[7] ở Tây Ban Nha – phần còn lại của châu Âu đang chuyển dịch sang cánh hữu. Tuy nhiên, đó là cánh hữu khác với của Margeret Thatcher, đó là chủ nghĩa bảo hộ, bài ngoại, và ở một mức độ nào đó còn chống toàn cầu hóa. Bất bình đẳng đang củng cố cho cả cánh tả và cánh hữu cực đoan, trong khi các đảng theo chủ nghĩa ôn hòa lại đang dần bị chèn ép.

François Hollande (1954-)
Nicolas Sarkozy (1955-)

Thành thật mà nói, tôi thực sự không thể hiểu được tại sao bất kỳ người trẻ hay trung niên nào ở Pháp cũng bỏ phiếu cho Hollande[8]. Những người theo Chủ nghĩa xã hội đấu tranh cho cái gì ở Pháp? Họ theo các chính sách cánh hữu trong nước, họ làm chủ nghĩa đế quốc tự do ở nước ngoài. Vì vậy người ta cũng có thể bỏ phiếu cho Sarkozy[9], ít nhất ông ta cũng là nguyên bản, không phải bản sao. Tiếp theo, về phía Đông Âu, không chỉ có một đảng cánh tả duy nhất. Tất nhiên, một phần đây là phản ứng với các hoàn cảnh lịch sử: ở Hy Lạp hay Tây Ban Nha, có một sự dịch chuyển mạnh mẽ sang cánh tả sau nhiều thập niên dưới chế độ độc tài bán phát-xít, và hiện nay ở Đông Âu, có một sự phản ứng lại các chế độ cộng sản từng nắm quyền kể từ khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ II đến năm 1989. Nhìn vào các cuộc bầu cử gần đây nhất ở Hungary và Ba Lan, chúng ta sẽ thấy chỉ có cánh hữu. Tại Vác-sa-va, sau cuộc bầu cử cuối cùng, cánh tả đã không còn đại diện thể chế nào.

Bernie Sanders (1941-)
Marine Le Pen (1968-)

Do đó tầm quan trọng ngày càng gia tăng của vấn đề bất bình đẳng không chắc chắn dẫn tới sự chuyển hướng sang cánh tả, nó cũng có thể củng cố cho cánh hữu. Chúng ta có thể nhìn thấy quá trình này ngay cả ở Mỹ: chắc hẳn sự không hài lòng với cuộc khủng hoảng không chỉ giúp ích cho Bernie Sanders mà còn cho cả Donald Trump. Và ở châu Âu, cuối cùng thì chính Marine Le Pen là người hưởng lợi từ xu hướng chính trị mới này.

Song song với những thay đổi trong diễn ngôn chính trị mà chúng ta đã đề cập đến, vấn đề bất bình đẳng đã trở thành một phần quan trọng trong những cuộc tranh luận học thuật, đặc biệt là giữa các nhà kinh tế học. Cách đây không lâu, bất bình đẳng vẫn là một chủ đề nghiên cứu gần như bị tẩy chay: tư duy tân cổ điển giữ độc quyền nghiên cứu về kinh tế học đã thẳng thừng bỏ qua vấn đề này mà tập trung vào thị trường hiệu quả, và nghi ngờ rằng bất kỳ nỗ lực nào nhằm giảm thiểu bất bình đẳng về kinh tế sẽ chỉ làm hiệu quả của nó tồi tệ thêm. Thực chất, nghèo đói, chứ không phải tự thân bất bình đẳng, đã được giải quyết bằng tư tưởng thẩm thấu: tức là tăng trưởng kinh tế làm giàu cho tầng lớp thượng lưu – những nhà tư bản – nhưng sau đó sẽ chảy nhỏ giọt xuống [cho những người ở tầng lớp dưới] thông qua bậc thang xã hội. Kết quả là không có nhiều người nghiên cứu về bất bình đẳng. Giờ đây mọi thứ đã thay đổi và đặc biệt là sau khi cuốn sách “Capital in the XXI Century” (Tư bản thế kỷ XXI) của Piketty được phát hành, ngày càng nhiều nhà kinh tế học nói đến bất bình đẳng, nó cũng đã trở thành một chủ đề trong chính sách kinh tế. Vậy chuyện gì đã xảy ra?

Thomas Piketty (1971-)

Chúng ta hãy bắt đầu từ đầu – tại sao lý thuyết tân cổ điển lại chưa từng, và hiện tại vẫn không nghiên cứu bất bình đẳng kinh tế. Lý do rất rõ ràng: bất bình đẳng xuất phát từ các giả định của mô hình kinh tế, do đó nó không cần được nghiên cứu thêm. Trong mô hình cạnh tranh hoàn hảo, giá cả được quyết định bởi thị trường – không có biến số nào như quyền lực trong các mô hình tân cổ điển; và sự bất bình đẳng trong thu nhập phát sinh chỉ đơn giản là từ sự khác biệt trong các nguồn lực ban đầu mà mỗi tác nhân trong thị trường nhận được – rõ ràng rằng, đối với mô hình chúng là ngoại sinh.

Hơn nữa, về thực nghiệm chúng ta biết rằng sự phân phối sản phẩm quốc gia giữa tư bản và lao động ít nhiều đã ổn định và không cần nghiên cứu thêm.

Vì vậy, người ta vẫn đang nghiên cứu sự phân bổ thu nhập cá nhân, nhưng chỉ có một số rất ít các học giả tham gia vào nghiên cứu đó và thậm chí họ còn không hiểu nó nên được gắn vào đâu, nó nằm ở đâu trong kinh tế học: nếu lý thuyết sản xuất và tăng trưởng không phù hợp; phân phối thu nhập chức năng là ổn định; thì chúng ta có thể nghiên cứu phân phối thu nhập cá nhân, nhưng nó vẫn có một khoảng trống – nhiều năm trước, khi tôi bắt đầu làm việc về vấn đề này, không có sự phân loại các tài liệu trong Journal of Economic Literature[10], rất khó tìm nơi để đặt bài báo của bạn. Ở đây, Piketty có vai trò rất quan trọng vì ông đã phân tích rất rõ: chúng ta bắt đầu từ lý thuyết về sản xuất và tăng trưởng, phân tích phân phối thu nhập theo chức năng và từ đó chuyển sang phân phối thu nhập cá nhân.

Tuy nhiên, bên cạnh lý do kỹ thuật, cũng có một lý do chính trị cho sự xem nhẹ này. Dĩ nhiên, mọi nghiên cứu về bất bình đẳng thách thức các cấu trúc không chỉ của nền kinh tế mà còn của thế giới chúng ta đang sống, và những câu hỏi này không phải lúc nào cũng được hoan nghênh. Như tôi đã viết trong cuốn sách “Haves and Have-Nots” (tạm dịch: Kẻ có người không), rất khó để có được bất cứ khoản tài trợ nào cho nghiên cứu về bất bình đẳng.

Khi mới bắt đầu sự nghiệp tại Nam Tư, tôi cũng trong tình huống tương tự như sẽ phải gặp sau này ở Ngân hàng Thế giới và phương Tây. Trong cả hai trường hợp, ý tưởng chính là chúng ta có một hệ thống hoàn hảo và không nên đặt câu hỏi – trong tâm lý học nó được gọi là “biện minh cho hệ thống”, tức là sự cần thiết bảo vệ những cách tiếp cận biện minh cho sự tồn tại và tính đúng đắn của hệ thống.

Nhưng giờ đây dường như có một sự thay đổi. Có rất nhiều nghiên cứu và cuộc tranh luận trên các phương tiện truyền thông chính thống. Chuyện gì đã xảy ra? Phải chăng đã có một sự thay đổi chính trị tạo ra thay đổi này? Tất cả đều gắn liền với sự thành công của Piketty?

Đó là sự kết hợp của nhiều yếu tố. Thứ nhất, đã có một bước đột phá đáng kể trong khoa học của kinh tế học. Như tôi đã nói ở trên, kinh tế học hầu như không quan tâm đến mối liên hệ quyền lực và sử dụng “tác nhân tiêu biểu” làm trung tâm của khung lý thuyết – về cơ bản loại bỏ mọi hình thái không đồng nhất, và thay vào đó tập trung vào giá trị trung bình của biến chúng ta muốn nghiên cứu. Thế mà theo định nghĩa bất bình đẳng là không có tính đồng nhất, nên bạn sẽ không có bất bình đẳng nếu không có sự khác biệt. Tuy nhiên, bây giờ, chúng ta có được sự truy cập chưa có tiền lệ vào các dữ liệu, và điều này cho phép tiến hành cả những nghiên cứu rộng hơn, chi tiết hơn mà rõ ràng cũng liên quan đến việc nghiên cứu về bất bình đẳng.

Phần thứ hai của câu trả lời, tất nhiên, là yếu tố chính trị – ở đây có sự can dự của những mối quan tâm chính trị và xã hội mạnh mẽ. Piketty không phải là một nhân tố ngoại sinh, ông đi theo trào lưu những phản kháng đó – nhận thức của hàng triệu người rằng phân phối thu nhập là có vấn đề. Hai yếu tố này, lý thuyết kinh tế và phong trào mạnh mẽ của dư luận, đang cùng nhau dẫn đến một sự thay đổi lớn. Vì vậy, ngay cả dòng chính cũng phải phản ứng với tình hình mới này, các thể chế và các tổ chức tư vấn không thể đứng yên trước một hiện tượng quá quan trọng, họ không thể bỏ qua nó. Thậm chí Viện nghiên cứu kinh tế quốc tế Peterson (Peterson Institute for International Economics), được tài trợ bởi các ngân hàng thương mại ở Washington, đã bắt đầu nghiên cứu, và khá nghiêm túc, về vấn đề bất bình đẳng. Ngay cả Ngân hàng Thế giới cũng vậy – cách đây 5 năm, bất bình đẳng không được quan tâm, trong khi hiện nay đang có ngày càng nhiều nghiên cứu đề cập đến vấn đề này.

Chúng ta vừa nói về bất bình đẳng ở các nước phương Tây, nhưng hãy mở rộng bối cảnh ra một chút. Cuốn sách mới của bạn viết về toàn cầu hóa, và tôi thấy rằng có một cuộc thảo luận mở rộng về dữ liệu của bạn cho thấy trong 30 năm qua, sự gia tăng thu nhập gần như thuộc về 1% những người giàu nhất và cái gọi là tầng lớp trung lưu toàn cầu, bao gồm chủ yếu là người lao động Trung Quốc và Ấn Độ – những người có sự tăng vọt về thu nhập; trong khi người bị thiệt hại bởi toàn cầu hóa chủ yếu là tầng lớp trung lưu và công nhân phương Tây. Chúng ta có thể rút ra những gì từ dữ liệu này?

Không có điều gì là hoàn toàn tích cực hay hoàn toàn tiêu cực, luôn có sự đánh đổi, người này được và người kia mất. Trong bối cảnh toàn cầu, có thể những người được nhiều hơn những người mất; hoặc những gì người thắng được nhiều hơn những gì người thua mất, và do đó chúng ta có thể có một kết quả tích cực tổng thể, ở đó thu nhập trung bình tăng lên.

Dữ liệu cho thấy rằng toàn cầu hóa chắc chắn là yếu tố chính trong sự thay đổi phân phối thu nhập. Rõ ràng, đó không phải là yếu tố duy nhất, còn có sự thay đổi về công nghệ và chính sách. Nhưng cả hai điều này cũng không thể tách rời khỏi toàn cầu hóa. Thay đổi công nghệ – nhìn qua đã thấy là một sự đổi mới trung tính – sẽ không thể phát huy hết hiệu quả nếu không có toàn cầu hóa. Dĩ nhiên, cũng có thể nói về chính sách: Nếu quay trở lại những gì chúng ta thảo luận trước đó, rằng những người theo chủ nghĩa xã hội đã thay đổi các chính sách của mình, chúng ta sẽ nhận thấy áp lực của toàn cầu hoá lớn thế nào. Thử nghĩ về một chủ đề như thuế: vì sự dễ dàng luân chuyển của tư bản, không thể giữ được mức thuế cao và chính trị phải thích ứng với những thay đổi cấu trúc này. Tương tự, các chính sách về lao động ở Đức đã chủ yếu được ban hành bởi tư bản Đức, dưới sự đe doạ di chuyển hoạt động sang Cộng hòa Séc hoặc Ba Lan.

Những khía cạnh thú vị nhất mà chúng ta thấy trên toàn cầu là ba yếu tố mà bạn đã đề cập: sự phát triển của tầng lớp gọi là trung lưu toàn cầu, đặc biệt ở Trung Quốc; sự tăng trưởng bằng không của tầng lớp trung lưu ở các nước phát triển; và cuối cùng là lợi ích đáng kể thuộc về những người giàu có hơn. Đây có phải là một điều tích cực? Bạn chắc chắn có thể nói như vậy, hàng trăm triệu người nghèo bây giờ đã đỡ nghèo hơn, trong khi những người bị tổn thất nhiều nhất – tầng lớp trung lưu phương tây – đã từng tương đối khá giả. Nhưng đây chưa phải là một câu trả lời thỏa đáng cho các nhà hoạch định chính sách phương Tây, cũng như cho những người lao động đã thiệt hại rất nhiều trong những năm gần đây.

Những gì bạn nói rất đúng và thú vị nhưng nó cũng có thể được sử dụng, và nó đã được sử dụng, như là một sự thừa nhận tính đúng đắn và chính xác của các chính sách tân tự do; một trong những câu thần chú thường được nhắc lại là, cuối cùng thì các chính sách của Đồng thuận Washington[11] đã có hiệu quả và góp phần vào sự phát triển của các nước Nam. Ví dụ, trên thực tế, những thành tựu trong tầng lớp được gọi là trung lưu toàn cầu đã được ghi nhận ở Trung Quốc và Ấn Độ, và người ta nghi ngờ rằng thành công này là sản phẩm phụ từ các chính sách của phương Tây, chứ không phải của chính phủ Trung Quốc.

Ronald Reagan (1911-2004)

Bạn có thể thử sử dụng dữ liệu này để tuyên bố thành công của các chính sách tân tự do, nhưng trên thực tế, khó có thể phân loại Trung Quốc là một quốc gia tân tự do. Ngược lại, sự thật là: hệ thống pháp luật về căn bản là không minh bạch; tham nhũng; độc quyền; quyền sở hữu không được xác định rõ; khu vực công vẫn chiếm phần lớn; và tồn tại những giới hạn đối với quyền tự do di chuyển của người lao động. Điểm chung duy nhất giữa các chính sách của Trung Quốc và tân tự do là sự mở cửa ra thương mại quốc tế, tuy nhiên sự sắp xếp thể chế là hoàn toàn khác nhau. Dĩ nhiên, những khía cạnh này thường bị giữ kín, bởi vì đối với tầng lớp thượng lưu đã thu được rất nhiều từ toàn cầu hóa, gửi một thông điệp về việc những chính sách này đã giúp những người nghèo nhất như thế nào sẽ rất có ích cho họ. Mặc dù vậy, như tôi đã nói, điều này có thể chưa đủ ở cấp độ chính trị, vì tầng lớp thượng lưu nay phải đối mặt với một sự bất mãn ngày càng gia tăng. Khi Reagan[12] hay Thatcher xây dựng sự đồng thuận cho khuynh hướng tân tự do, họ không giải thích rằng những chính sách này sẽ làm giàu thêm cho người nghèo Trung Quốc trong khi các công nhân Anh và Mỹ sẽ mất việc.

Theo bạn, triển vọng trong tương lai sẽ là gì? Có một số yếu tố cơ cấu và mâu thuẫn nhau đáng chú ý. Một mặt, sự gia tăng tiền lương ở Trung Quốc có thể làm cho việc di dời tư bản bất tiện hơn, làm chậm tiến trình toàn cầu hóa. Hơn nữa, theo Giáo sư (Charles) Goodhart của LSE (Trường Kinh tế và Khoa học chính trị London – ND), sự khác biệt chính là trong xu hướng dân số, Trong 50 năm qua, dân số đã phát triển rất mạnh và điều này dẫn đến tình trạng cung lao động dư thừa làm giảm tiền lương. Với sự ổn định của dân số, xu hướng trong tỷ lệ tư bản-lao động dự kiến sẽ tự đảo ngược và bất bình đẳng cũng sẽ như vậy. Tuy nhiên, đồng thời, chúng ta cũng chứng kiến một làn sóng mới của tiến bộ công nghệ và với sự tự động hóa của nhiều ngành công nghiệp, nhu cầu lao động sẽ ngày càng giảm đi. Điều gì đang chờ đợi chúng ta trong tương lai gần?

Đây là một câu hỏi khó. Đúng là ở Trung Quốc đang có một sự chuyển đổi về mặt nhân khẩu học, dân số sẽ đạt đỉnh điểm trong thập kỷ tới; dù vậy, xu hướng ở Ấn Độ lại khác, và sự tăng trưởng sẽ đạt đến đỉnh trong ít nhất nửa thế kỷ nữa. Đồng thời chúng ta có thể thấy một sự gia tăng dân số rất nhanh ở châu Phi. Theo một số ước tính, đỉnh điểm của dân số sẽ là 11 tỷ người. Trong mọi trường hợp, đó là một vấn đề rất phức tạp. Hai thế kỷ tiếp theo, dân số có lẽ sẽ ổn định, và với sự dồi dào của tư bản, chúng ta có thể lật ngược tình thế về bất bình đẳng hiện tại. Đó là một giả định hợp lý, nhưng là một viễn cảnh trong dài hạn.

Đối với cuộc cách mạng công nghệ, tôi không bi quan như nhiều người khác. Mỗi lần có một sự thay đổi về công nghệ, người ta luôn lo sợ về thất nghiệp hàng loạt, nhưng điều này chưa bao giờ xảy ra. Vấn đề là khả năng tưởng tượng của chúng ta – chúng ta chỉ biết các loại công việc đã tồn tại, nhưng đó chưa chắc sẽ là những việc trong tương lai. Chúng ta thấy robot tham gia vào các công việc hiện tại và lo lắng cho tương lai của mình, nhưng chúng ta không biết được sau này sẽ ra sao. Ví dụ, khi tôi đến Mỹ vài năm trước, mẹ tôi đã đi cùng tôi, cụ thể là trong thời tranh chiến tại Nam Tư, bà không thể hiểu được công việc của những người tôi quen. Bà biết thợ đóng giày và bác sĩ là gì, nhưng một người quản lý quỹ phòng hộ là điều mà bà không thể hiểu ngay được. Bây giờ chúng ta có tất cả các loại công việc trong ngành công nghệ thông tin và khởi nghiệp – những thứ thậm chí chưa từng tồn tại một vài năm trước đây.

Vậy bạn thấy những xu hướng nào về toàn cầu hóa và bất bình đẳng?

Đó là chủ đề tôi đã đề cập trong phần cuối cùng của cuốn sách – tôi không nghĩ rằng thực sự có thể đưa ra dự đoán chính xác. Nói chung, khi đưa ra dự báo, chúng ta chỉ cần lấy một con số và coi nó ổn định trong 20 năm tới, nhưng dĩ nhiên mọi thứ sẽ thay đổi, và các dự báo trở nên vô dụng. Tuy nhiên, nhìn chung, những gì tôi thấy là vai trò của Trung Quốc có lẽ sẽ bị các nước khác chiếm mất (những nước có tăng trưởng dân số mạnh hơn), và điều này có nghĩa sẽ có một sự hội tụ tiền lương giữa các nước giàu và nghèo, ít nhất là trong vòng 50 năm tới. Tuy thế, ở phương Tây, sự hội tụ tiền lương này sẽ là một vấn đề chính trị bởi nó sẽ dẫn đến việc không có sự gia tăng tiền lương thực sự ở các nước phát triển. Bất bình đẳng trên toàn cầu sẽ giảm đi, như hiện tại đang diễn ra, đặc biệt là do sự tăng trưởng của một số nước châu Á và châu Phi – thành phần các nước ở giữa sẽ giảm xuống.

Tuy nhiên, thành phần bên trong, hay thành phần giai cấp, nếu bạn muốn, về bất bình đẳng, chắc chắn sẽ tăng lên. Trong vòng hai hoặc ba thập kỷ tới, có thể sẽ có thêm nhiều xung đột quốc gia về vấn đề toàn cầu hoá và phân phối thu nhập.

Và điều này tất nhiên dẫn chúng ta tới chủ đề mối quan hệ giữa bất bình đẳng và dân chủ. Như bạn nói, những gì chúng ta nhìn thấy ở phương Tây là sự đình trệ tiền lương và điều này có thể gây ra tình trạng bất ổn và xung đột giai cấp. Thậm chí bạn có thể nghĩ rằng chính chế độ dân chủ sẽ gặp rủi ro: chế độ dân chủ có nghĩa là các quyền chính trị như nhau và thu nhập không giống nhau, nhưng chúng ta biết quyền lực kinh tế có thể bóp méo cơ chế đại diện như thế nào. Bạn có nghĩ rằng sự bất bình đẳng về kinh tế ngày càng tăng này có thể làm suy yếu nền dân chủ phương Tây?

Những gì tôi cho là ấn tượng nhất về tình hình hiện nay là, bất chấp khủng hoảng kinh tế với độ cứng bất thường, chúng ta vẫn chưa thấy bất kỳ sự tăng trưởng thực sự và đáng kể nào của các phong trào chống hệ thống. Ngay cả Đảng Mặt trận Quốc gia[13](FN) cũng hoạt động trong một khuôn khổ dân chủ. Có lẽ là Tổng thống Erdogan của Thổ Nhĩ Kỳ và Putin đang tiến gần đến một mô hình chính trị vượt qua được chế độ dân chủ, nhưng hiện tại điều này không xảy ra ở Tây Âu. Và tôi cũng hoài nghi về khả năng thực hiện những điều đã hứa trong cuộc vận động của các đảng như FN, ví dụ bắt đầu từ việc phá vỡ Liên minh Châu Âu. Tất nhiên, mọi thứ có thể thay đổi – vì một lý do nào đó, Brexit có thể mở ra một kịch bản hoàn toàn mới.

Tôi nghĩ rằng trong những năm tới sẽ có nhiều căng thẳng hơn giữa, một mặt, những người muốn có một phản ứng theo chủ nghĩa dân túy đối với cuộc khủng hoảng – như Trump ở Mỹ – và phản đối các làn sóng di cư, toàn cầu hoá nói chung, ủng hộ việc bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước và chính sách phá giá “lợi mình hại người” (tức là chính sách có lợi cho nước mình nhưng có hại cho các nước láng giềng, ví dụ điển hình là phá giá đồng nội tệ – ND). Và mặt khác, hơn bao giờ hết, là những người giàu có chủ trương cần phải lật đổ sức mạnh của những khu vực dân cư nghèo nhất đang tăng nhanh về số lượng – và điều này sẽ dẫn đến vai trò ngày càng quan trọng của tiền tệ trong việc xác định các lựa chọn chính sách.

Những gì đang xảy ra ở Mỹ rất thú vị: một mặt chúng ta có Trump, người đã dùng sức nặng của tài sản cá nhân trong hoạt động chính trị, một đầu sỏ chính trị hoàn hảo; mặt khác, ứng cử viên lý tưởng của tầng lớp thượng lưu là Hillary Clinton, người bảo vệ giới quyền uy thực sự. Vậy điều sẽ xảy ra là họ sẽ làm mọi thứ có thể để người lao động, người da đen, hoặc ít nhất là những người kém may mắn về kinh tế, đừng bỏ phiếu.

Antonio Gramsci (1891-1937)

Vì vậy, hiện tại chúng ta đang có hai phong trào, một là ủng hộ toàn cầu hoá và bảo vệ lợi ích của nó, đặc biệt là với 5% người giàu nhất, có thể dẫn đến sự chuyển đổi từ từ chế độ dân chủ sang chế độ tài phiệt, và dẫn lời Gramsci[14], để tái lập quyền bá chủ của những tư duy và lợi ích này; và mặt khác là sự gia tăng của các phong trào chống toàn cầu hóa của cánh hữu.

Điều này đúng cả ở châu Âu và phương Tây, trong khi ở những nơi khác thì tình hình lại khác. Ở Mỹ Latinh có sự trở lại của cánh hữu, nhưng tôi tin rằng điều này chỉ là một chu kỳ chính trị bình thường; chúng ta không biết điều gì sẽ xảy ra ở châu Á – ở Ấn Độ giờ đây đã có một chính phủ cánh hữu công khai, trong khi ở các nước như Trung Quốc, Indonesia hay Thái Lan, sự phân chia cổ điển giữa cánh tả và cánh hữu không sâu đậm bằng ở phương Tây.

Robert Reich (1946-)

Tuy nhiên, rủi ro không chỉ về chính trị. Theo nhiều nhà kinh tế học, bao gồm Robert Reich[15], cuộc khủng hoảng kinh tế được gây ra bởi sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập. Nhìn chung, có một rủi ro là mức cầu quá yếu do sự tập trung thu nhập quá mức.

Có nhiều giải pháp, mặc dù không dễ để làm được. Ví dụ, bởi vì toàn cầu hóa, như tôi đã nói, việc đánh thuế cao vào người giàu hay thu nhập vốn rất khó thực hiện – ngay cả khi một quốc gia quyết định tăng thuế, thậm chí nếu hàng chục quốc gia cùng làm như vậy, thì sẽ luôn có những nước khác vui mừng đưa ra mức thuế thấp hơn để đáp ứng sự tháo chạy vốn.

Các chính sách trong tương lai, theo quan điểm của tôi, sẽ đi theo một hướng khác, hướng tới việc phân bổ công bằng hơn các nguồn lực. Nếu đúng là quyền sở hữu vốn quyết định mức thu nhập cao hơn, như Piketty nói, thì chúng ta phải can thiệp vào lĩnh vực đó. Tôi đặc biệt đề cập đến vấn đề giáo dục, vốn đảm bảo lợi ích kinh tế công bằng giữa những người có bằng cấp như nhau – khác với ngày nay, trong giáo dục đại học, những người tốt nghiệp Harvard dự kiến có thu nhập cao hơn ít nhất mười lần so với sinh viên tốt nghiệp các trường đại học ít uy tín hơn. Cân bằng chất lượng giáo dục sẽ có tác động tương tự đến việc giảm sự tập trung quyền sở hữu vốn.

Branko Milanovic (1953-)

Đồng thời, việc giảm sự tập trung vốn vật chất cũng rất quan trọng, điều này chắc chắn là khó khăn hơn, nhưng không phải là không thể. Trong quá khứ, chúng ta đã có những ví dụ về: kế hoạch nhân viên được sở hữu cổ phần; đồng quyết định ở Đức (tức là công nhân cùng tham gia vào quá trình đưa ra quyết định chính sách trong các công ty – ND), tăng cường vai trò của công đoàn trong các hội đồng; và quyền sở hữu công đoàn ở Thụy Điển. Tất nhiên, điều này không hề dễ dàng, nhưng dường như nó khả thi hơn nhiều so với những lựa chọn khác hiện nay.

Về Branko Milanovic:

Branko Milanovic là một nhà kinh tế học người Mỹ gốc Serbia, một chuyên gia về phát triển và bất bình đẳng. Ông là Giáo sư Thỉnh giảng tại Graduate Center thuộc Đại học New York (CUNY) và một học giả cao cấp thuộc Chương trình Nghiên cứu Thu nhập Luxembourg (LIS). Ông từng là nhà kinh tế học hàng đầu tại bộ phận nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới.

Nguyễn Mai Hạ dịch

Nguồn: Why Global Inequality MattersSocialEurope.Eu, 18 March 2016

[1] Phong trào Occupy (phong trào Chiếm Phố Wall – Occupy Wall Street): mục tiêu là thay đổi luật lệ ảnh hưởng tới việc phân bố lợi tức trong nền kinh tế, nói cách khác là thay đổi luật về thuế khóa. – ND

[2] Phong trào Indignados (theo tiếng Tây Ban Nha là “Những người phẫn nộ”): phiên bản “Chiếm Brussels” của phong trào “Chiếm Phố Wall”, phản đối tình trạng bất bình đẳng trong xã hội châu Âu. – ND

[3] Đảng Syriza: một đảng chính trị cánh tả ở Hy Lạp, phản đối chính sách thắt lưng buộc bụng. – ND

[4] PSOE: đảng Xã hội cánh tả Tây Ban Nha – ND

[5] Thatcher: Margeret Thatcher – nữ Thủ tướng đầu tiên của Anh, được ca ngợi là một nhà cải cách đã thay đổi toàn bộ đất nước, nhưng bà cũng bị không ít người chỉ trích vì làm rộng thêm vực sâu ngăn cách giữa người giàu và người nghèo. – ND

[6] Phong trào Năm Sao: vốn là một phong trào xã hội dân sự, được thành lập vào năm 2009 bởi Beppe Grillo – một diễn viên hài và Gianroberto Casaleggio – một chuyên gia IT. Cốt lõi triết lý của phong trào là loại bỏ các đảng phái, thứ mà nhiều người ở Ý xem như là nguồn gốc của chủ nghĩa bảo trợ và tham nhũng. – ND

[7] Podemos: một đảng dân túy vô chính phủ – xã hội chủ nghĩa của Tây Ban Nha. – ND

[8] Hollande: (Francois Hollande) cựu Tổng thống Pháp, chính trị gia thuộc Đảng Xã hội. Ông đã được bầu làm Tổng thống Pháp ngày 6 tháng 5 năm 2012, đánh bại đương kim Tổng thống Nicolas Sarkozy. – ND

[9] Sarkozy: (Nicolas Sarkozy) cựu tổng thống Pháp, kế nhiệm Jacques Chirac vào ngày 16 tháng 5 năm 2007. Trước đó, ông là lãnh tụ đảng UMP (Union pour un Mouvement Populaire) cánh hữu. – ND

[10] Journal of Literature Economics: hệ thống được thiết lập và phát triển bởi Hiệp hội Kinh tế học Hoa Kỳ, giúp phân loại theo chủ đề các bài báo, luận văn được xuất bản. – ND

[11] Đồng thuận Washington: một thuật ngữ do John Williamson đưa ra tại Viện Kinh tế Quốc tế năm 1990, đề xuất một loạt các chính sách để giải quyết các vấn đề kinh tế của Mỹ Latinh, bao gồm cải cách thuế, tự do hóa lãi suất, một cơ chế tỉ giá hối đoái cạnh tranh, tự do hóa thương mại, tự do hóa đầu tư trực tiếp nước ngoài, và phi điều tiết hóa. Kể từ đó Đồng thuận Washington đã trở nên đồng nghĩa với các chính sách “tân tự do” phản ánh quan điểm của Hoa Kỳ, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, … – ND

[12] Reagan: (Ronald Reagan) Tổng thống thứ 40 của Mỹ, với những chính sách chủ trương giảm tỉ lệ thuế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát nguồn tiền để giảm lạm phát, bãi bỏ kiểm soát kinh tế, và giảm chi tiêu của chính phủ. – ND

[13] Đảng Mặt trận Quốc gia: một đảng chính trị ở Pháp theo chủ nghĩa dân túy cánh hữu và chủ nghĩa dân tộc. – ND

[14] Gramsci: (Antonio Gramsci) nhà triết học, nhà văn, chính trị gia và là lý thuyết chính trị người Ý. Ông là một trong những thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Ý. – ND

[15] Robert Reich: nhà kinh tế học, đồng thời là cựu Bộ trưởng Bộ Lao động Mỹ, phục vụ dưới thời các Tổng thống Gerald Ford, Jimmy Carter, and Bill Clinton. – ND 

———————–&&&——————–

Các trường đại học Mỹ muốn có nhiều SV nông thôn hơn

American Colleges Want More Rural Students

(Nguồn: https://learningenglish.voanews.com)

Nhiều cơ sở giáo dục bậc cao của Mỹ đã đồng ý về nguyên tắc đảm bảo sự cân bằng của tỷ lệ sinh viên theo màu da, sắc tộc hay sự pha trộn các nền văn hóa.

Link: https://learningenglish.voanews.com/a/american-colleges-want-more-rural-students/4367680.html

————————-&&&———————

 

Các chiều bất bình đẳng ở Việt Nam

Các chiều bất bình đẳng ở Việt Nam

(Tác giả: Oxfam – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com/)

BỐI CẢNH
Việt Nam có tốc độ tăng trưởng nhanh trong 30 năm qua, với thu nhập bình quân tăng và số người nghèo giảm đều và đáng kể. Trên thực tế, gần 30 triệu người đã vượt chuẩn nghèo chính thức từ thập niên 1990[1] khi thu nhập GDP tính theo đầu người tăng từ 100 USD vào năm 1990 lên 2.300 USD vào năm 2015. Tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam bình quân đạt 5-6% trong ba thập kỷ qua, với tỷ lệ tăng trưởng bình quân khoảng 6,4% trong thập niên 2000. Mặc dù tăng trưởng nhanh như vậy nhưng so với một số nước, bất bình đẳng ở Việt Nam đã không tăng nhiều. Điều này một phần do những chính sách tích cực của Việt Nam về giảm bất bình đẳng. Mặc dù vậy, hiện nay Việt Nam vẫn phải đương đầu với một thách thức lớn: với sự tăng trưởng chậm lại và tình trạng bất bình đẳng về kinh tế cũng như bất bình đẳng về tiếng nói và cơ hội gia tăng, làm thế nào để Việt Nam có thể tăng trưởng toàn diện và bền vững để tất cả người nghèo cùng hưởng lợi?
Cuộc cải cách Đổi mới, khởi đầu năm 1986, đã dẫn tới những thay đổi chính sách đáng kể. Doanh nghiệp tư nhân phát triển, gồm đầu tư của các công ty nước ngoài. Với việc trở thành thành viên ASEAN và WTO, Việt Nam đã hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu. Vào năm 2009, Việt Nam đạt vị thế nước có thu nhập trung bình thấp, và gần đây đạt hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam tăng từ 0,476 vào năm 1990 lên nhóm trung bình với mức 0,666 vào năm 2014[2]. Tiến bộ ghi nhận đáng kể ở các chiều phúc lợi khác, gồm tỷ lệ nhập học tiểu học cao, đạt 98,96% trong năm học 2013-2014[3], và các cải thiện tình trạng sức khỏe, giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong[4].
 BẤT BÌNH ĐẲNG KINH TẾ
Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và các chính sách theo đuổi trong ba thập kỷ qua đã giúp giảm tỷ lệ nghèo trên cả nước. Nhưng khoảng cách giàu nghèo đang ngày càng tăng, đòi hỏi những chính sách mới để đảm bảo không tăng bất bình đẳng lẫn nghèo.
Trong khi Việt Nam tiếp tục duy trì chuyển đổi cơ cấu và giảm nghèo, mức tăng trưởng có xu hướng có lợi cho người giàu, với thu nhập từ nông nghiệp và sản xuất công nghiệp chỉ tăng đối với nhóm từ 10% tới 20% giàu nhất[5]. Điều này có nghĩa bất bình đẳng về kinh tế đã tăng lên trong hai thập kỷ qua.
Dù hàng chục triệu hộ gia đình Việt Nam đã vượt chuẩn nghèo chính thức, nhiều hộ có thu nhập chỉ nhỉnh hơn chuẩn nghèo và vẫn có thể coi là nghèo theo định nghĩa đa chiều. Ở một cực khác của đường phân bố tài sản, khoảng một phần triệu dân số Việt Nam được coi là “siêu giàu”, được định nghĩa là có tài sản[6] trị giá trên 30 triệu USD. Năm 2014, 210 người siêu giàu (có trên 30 triệu USD) ở Việt Nam có tổng tài sản khoảng 20 tỷ USD[7], tương đương 12% GDP cả nước. Knight Frank, một trong những công ty tư vấn tài sản toàn cầu lớn nhất thế giới, ước tính số người siêu giàu sẽ tăng đáng kể ở Việt Nam, sẽ lên đến con số 403 người vào năm 2025[8]. Tính toán của Oxfam cho thấy tại Việt Nam người giàu nhất có thu nhập trong một ngày cao hơn thu nhập của người nghèo nhất trong 10 năm[9]. Tài sản của người này, trị giá 2,3 tỷ USD, có thể giúp tất cả người nghèo ở Việt Nam (khoảng 13 triệu người theo tính toán năm 2014) thoát nghèo[10].
Theo NHTG, chỉ số Gini tăng từ 35,7% lên 38,7% trong 20 năm qua từ 1992 đến 2012, cho thấy bất bình đẳng thu nhập đã tăng trong giai đoạn này[11]. Số liệu từ các nguồn này có thể không phản ánh hết thực trạng bất bình đẳng ở Việt Nam vì các lý do khác nhau. Chẳng hạn, thu nhập hay chi tiêu của nhóm giàu không được khai báo và thu thập đầy đủ trong các kỳ điều tra mức sống hộ gia đình; do đó, số liệu đo bất bình đẳng có thể bị giảm[12]. Các thước đo, khung thời gian và mật độ đo khác nhau có thể đưa ra những bức tranh khác nhau về bất bình đẳng ở Việt Nam.
Khi xem kỹ hơn tình trạng phân bố thu nhập và diễn biến của các nhóm thu nhập khác nhau trong thập kỷ vừa qua, chúng ta có thể nhận thấy các nhóm nghèo nhất không được hưởng lợi như các nhóm khác. Trong giai đoạn từ 1992 đến 2012, tỷ lệ Palma (đo tỷ lệ giữa phần thu nhập của nhóm 10% thu nhập cao nhất và nhóm 40% có thu nhập thấp nhất) tăng 17%, từ 1,48 lên 1,74. Xu hướng này chủ yếu là do phần thu nhập của nhóm 40% có thu nhập thấp nhất giảm, từ 19,33% xuống 17,28% (Hình 1).
Hình 1: Diễn biến tăng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam, từ 1992 đến 2012[13]
Bên cạnh đó, hình 2 cho thấy, trong giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2012, tăng chi tiêu bình quân của bốn nhóm 10% đầu tiên trong mô hình phân bố luôn thấp hơn các nhóm dân khác. Đặc biệt, trong khi chi tiêu của nhóm 10% nghèo nhất tăng 4,8 % mỗi năm, chi tiêu của nhóm 10% giàu nhất tăng 6,3%.
Hình 2: Tăng chi tiêu trung bình hàng năm theo thập phân vị, 1992 đến 2012
Nguồn: PovcalNet (http://iresearch.worldbank.org/PovcalNet/index.htm?0, truy cập ngày 06/09/2016)
Hàm ý của các tốc độ tăng trưởng này có thể thấy rõ hơn ở giá trị chi tiêu tuyệt đối (Hình 3). Trong 20 năm (từ 1992 đến 2012), chi tiêu hàng ngày của nhóm 10% nghèo nhất tăng từ 0,8 USD lên 2,1 USD, trong khi chi tiêu của nhóm 10% giàu nhất tăng từ 7,2 USD lên 24,3 USD.
Hình 3: Chi tiêu trung bình hàng ngày của một số nhóm thập phân vị (1992, 2002, 2012)
Nguồn: PovcalNet (http://iresearch.worldbank.org/PovcalNet/index.htm?0, truy cập ngày06/09/2016)
Hình 4: Thu nhập bình quân đầu người theo ngũ phân vị
Nguồn: Nguyễn Việt Cường, ước tính từ KSMSDC[14]
Hơn nữa, phân bố lợi ích của tăng trưởng kinh tế có xu hướng bất bình đẳng hơn trong những năm gần đây. Nói cách khác, phân bố thu nhập ngày càng phân cực theo thời gian. Hình 4 cho thấy, trong khi chỉ có sự chênh lệch thu nhập nhỏ giữa bốn nhóm ngũ phân vị đầu tiên trong mô hình phân bố (nhóm 80% có thu nhập thấp nhất), có khoảng cách lớn giữa nhóm này và nhóm 20% có thu nhập cao nhất, và khoảng cách này ngày càng rộng ra từ năm 2004.
Xu hướng này nhất quán với kết quả nghiên cứu thực địa về dịch chuyển xã hội do Oxfam tiến hành năm 2016, với sự tham gia của 600 người được hỏi từ 12 xã thuộc ba tỉnh (Lào Cai, Nghệ An, Đắk Nông). Khảo sát này cho thấy mức chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% hộ giàu nhất và nhóm 20% hộ nghèo nhất là 21 lần, cao hơn nhiều so với mức chênh lệch do KSMSDC năm 2010 (8,5 lần) và năm 2012 (9,4 lần) xác định. Các kết quả khác nhau này có thể giải thích một phần là do mẫu của hai cuộc khảo sát khác nhau. Nhưng các kết quả cũng cho thấy bất bình đẳng thu nhập ở cấp thôn khá lớn và tăng theo thời gian, đặc biệt ở các vùng nghèo và xa, nơi nông nghiệp vẫn là nguồn thu nhập chính[15]. Các cuộc phỏng vấn sâu trong khảo sát thu nhập hộ ở ba tỉnh cũng khẳng định tình hình này[16].

Wealth effect

Wealth effect

(Tác giả: Lê Hồng Giang)

Mặc dù khái niệm wealth (của cải/tài sản) có mặt trong quyển sách nổi tiếng nhất của giới kinh tế học (The Wealth of Nations) nhưng sau này wealth lại ít xuất hiện trong các lý thuyết kinh tế. Trong microeconomics, không kể các nghiên cứu định lượng (empirical), tôi chỉ biết Permanent Income Hypothesis và Life Cycle Hypothesis là có nhắc đến weatlh thông qua income. Thực tế income quan trọng hơn nhiều, hành vi của người tiêu dùng được định hình trực tiếp từ income chứ không phải wealth dù 2 khái niệm này có liên quan chặt chẽ với nhau. Đây có lẽ là hệ quả của cuộc cách mạng marginalism trong thế kỷ 19, tiền đề của lý thuyết microeconomics hiện đại, dịch chuyển các phân tích kinh tế về hướng relative/marginal thay vì absolute. Do đó các flow variable dần trở nên quan trọng hơn stock.

Vấn đề flow vs stock cũng có sự dịch chuyển tương tự trong macroeconomics. Trường phái neo-classical đánh đồng wealth với capital ở phía cung trong khi vắn bóng hoàn toàn ở phía cầu. Wealth/capital ở đây là input của quá trình sản xuất cho nên chủ sở hữu sẽ nhận được rent/yield từ nó trong tương lai. Giá trị của wealth/capital về lý thuyết là tổng của (discounted) future income, giá tăng phản ánh đóng góp của wealth/capital vào quá trình sản xuất sẽ tăng (vì thay đổi công nghệ/cung-cầu). Điều này sẽ ảnh hưởng vào tiêu dùng/tiết kiệm/đầu tư của toàn nền kinh tế.

Trường phái Keynes chủ yếu quan tâm đến biến động macro trong ngắn hạn nên vai trò của wealth gần như vắng bóng cả phía cung lẫn phía cầu. Ở phía cung investment có vai trò của flow variable được quan tâm nhiều hơn wealth/capital. Giá trị của wealth/capital chủ yếu được quyết định bởi quá trình tích tụ investment hàng năm. Dù Keynes đề cập đến animal spirit ảnh hưởng đến giá chứng khoán, điều này không được cho là yếu tố quyết định với AD hay AS trong lý thuyết của ông.

Có lẽ weatlh được quan tâm nhiều nhất trong development economics hay political economy khi phân tích về inequality. Marx đã đề cập đến vấn đề sở hữu công cụ sản xuất, một hình thức của wealth, đến dynamics của nền kinh tế. Sự phân bổ không đều wealth là mầm mống bất ổn của xã hội tư bản. Thomas Piketty sau hơn 1 thế kỷ cũng có nhận định tương tự. Các development economists khác có quan điểm hơi khác một chút, phân bổ wealth/income sẽ thay đổi theo hình chữ U ngược. Nền kinh tế cần phải có một mức độ bất bình đẳng giầu-nghèo nhất định thì mới phát triển được, nhưng nếu vượt qua đỉnh của chữ U ngược thì bất bình đẳng (về wealth/income) sẽ tác động xấu đến kinh tế/xã hội.

Gần đây những trường phái mới như modern monetarism bắt đầu quan tâm hơn đến wealth. Chí ít wealth có vai trò quan trọng với liquidity, là yếu tố chính gây ra các cuộc khủng hoảng gần đây. Vai trò của thị trường tài chính và nhà đất cũng được quan tâm nhiều hơn, asset/property price được đưa vào một số mô hình macro. Có lẽ trong tương lai ảnh hưởng của wealth vào nền kinh tế sẽ được mô hình hóa trực tiếp chứ không cần thông qua income/investment như hiện tại. Kinh tế học là một ngành phát triển liên tục và có nhiều nhánh, nhiều khi trái ngược nhau, nên quan điểm của giới kinh tế học về vấn đề này sẽ còn thay đổi.

——————–&&&——————

Thời kinh tế học mang tính cấp tiến

Thời kinh tế học mang tính cấp tiến

(Tác giả: Marshall Steinbaum và Bernard Weisberger – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Vào ngày 1 tháng 5 năm 1886 – cùng ngày với việc tổ chức Knights of Labor [Các Hiệp sĩ lao động] kêu gọi cuộc tổng đình công dẫn đến cuộc bạo loạn Haymarket ở Chicago, một trong những ví dụ nổi tiếng nhất về bạo lực lao động trong lịch sử nước Mỹ – một giáo sư trẻ về kinh tế chính trị tại Đại học Yale tên là Arthur Hadley đã gửi một lá thư cho đồng nghiệp Henry Carter Adams tại Đại học Michigan để bày tỏ sự miễn cưỡng gia nhập Hiệp hội Kinh tế nước Mỹ (AEA, American Economic Association) vừa mới được sáng lập, trong đó Adams là thành viên của ủy ban chấp hành.
AEA đã được quan niệm như là một thách thức mới nổi đối với giới kinh tế chính thống cổ điển. Cương lĩnh sáng lập của nó tuyên bố rằng, “Chúng tôi coi nhà nước là một cơ quan giáo dục và đạo đức mà sự hỗ trợ tích cực là một điều kiện không thể thiếu của sự tiến bộ của con người” – một quan điểm gây tranh cãi làm cho Hadley lo lắng. Ông viết cho Adams:
Việc cho rằng các nguyên lý là đúng, chỉ làm cho nguy cơ hiểu sai càng nghiêm trọng hơn. … Sự thông cảm của tôi đã thể hiện rất mạnh mẽ ở nhiều khía cạnh với phong trào. Những khuynh hướng của tôi đã dẫn tôi đến việc tham gia phong trào ngay từ đầu. Nhưng tôi sợ, và vẫn còn sợ, việc vướng vào một quan điểm có thể gây hại cho tôi và cả cho người khác, khi mà tôi có vẻ như bênh vực những biện pháp và châm ngôn mà tôi không thể không coi là cực đoan nguy hiểm.
Nói cách khác, sẽ không thành vấn đề nếu một mệnh đề là đúng đắn. Điều phải được xem xét là những hàm ý triệt để không hay có thể có – và cách thức mà chủ nghĩa cấp tiến đó có thể làm hoen ố phần còn lại của giới kinh tế khi tập hợp lại thành hiệp hội.

Hadley cuối cùng đã vượt qua được sự lo lắng và tham gia AEA. Ông thậm chí còn trở thành chủ tịch của hội vào năm 1898 (cũng như chủ tịch của Đại học Yale). Nhưng đến lúc đó, AEA đã chuyển hướng khỏi những khởi đầu cấp tiến của mình, để trở thành một tổ chức ít gây tranh cãi hơn cho các nhà kinh tế học chuyên nghiệp.

Các nhà kinh tế học dòng chính đã đạt được sự chấp thuận của giới tinh hoa, bằng cách hiến tế việc tìm câu trả lời cho những câu hỏi gây tranh cãi nhiều nhất.
Rất ít người, ngay cả trong số các thành viên hiện tại, biết rằng AEA được sáng lập trên các cơ sở cấp tiến. Nhưng ngay sau khi thành lập, nó đã rút lui an toàn theo hướng trung lập phi đảng phái, như là một dấu ấn của sự chuyên nghiệp. Việc tránh xa chủ nghĩa cấp tiến đảm bảo rằng một số câu hỏi gây tranh cãi nhiều nhất trong bộ môn sẽ không bao giờ có được một giải đáp thuyết phục, ít nhất là không phải bởi các nhà kinh tế học. Thật vậy, tư thế khách quan về mặt học thuật đã làm suy yếu hơn là thúc đẩy kiến thức sâu sắc – một thực tế mà giờ đây đã trở nên hiển nhiên khi những chỉ trích về cách mà kinh tế học đã được thực hành hàng thập niên qua đã trở nên nổi bật hơn.
Được thành lập vào năm 1885, AEA được sáng lập để tiến hành nghiên cứu khoa học và vận động cho cải cách, cả bên trong giới hàn lâm lẫn trong lĩnh vực công. Ngay từ đầu, hai nhiệm vụ này đã được liên kết chặt chẽ.
Kinh tế học cũ tuyên bố đã phát hiện ra các quy luật không thay đổi đang chi phối sự phân phối của cải, có nguồn gốc từ một kiến tạo lý thuyết về một nền kinh tế phi thực tế, được lý tưởng hóa. Mặt khác, những người sáng lập AEA trước tiên nghiên cứu các kết quả kinh tế như họ thấy. Xử lý vấn đề của cải, việc làm, tiền lương, suy thoái, thương mại, vân vân… như là những thực tế ngẫu nhiên, đối lập với những thực tế trừu tượng, một cách tự nhiên sẽ dẫn đến kết luận cho rằng chúng có thể bị các chính sách làm thay đổi. Hàm ý đó xung đột với tâm trạng bao trùm chống lại cái gọi là pháp chế giai cấp, cụ thể là mọi nỗ lực làm thay đổi hệ thống thứ bậc xã hội thông qua các hành động tập thể hoặc các chính sách công. Do đó, ở tất cả các cấp độ, cách tiếp cận ban đầu của AEA đã thách thức các nền tảng tri thức của kinh tế học cổ điển.
Bản thảo ban đầu của cương lĩnh sáng lập tổ chức cho biết mục tiêu của tổ chức là khuyến khích nghiên cứu kinh tế và “quyền tự do hoàn toàn trong các cuộc thảo luận về kinh tế”. Bản thảo viết tiếp:
Trong khi chúng tôi thừa nhận sự cần thiết của sáng kiến cá nhân trong cuộc sống công nghiệp, thì chúng tôi lại cho rằng học thuyết tự do kinh tế [laissez-faire] là không an toàn về mặt chính trị và không lành mạnh về mặt đạo đức; và rằng nó gợi ý một sự giải thích không đầy đủ về mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. …
Chúng tôi không chấp nhận những tuyên ngôn sau cùng đặc trưng cho kinh tế học chính trị của thế hệ trước… Chúng tôi cho rằng cuộc xung đột giữa lao động và tư bản đã đưa lên mặt tiền một loạt các vấn đề xã hội mà giải pháp là điều bất khả nếu không có nỗ lực thống nhất của Giáo hội, nhà nước và khoa học.
Bản tuyên ngôn về cuộc nổi dậy chống lại sự chính thống kinh tế của Kỉ nguyên Vàng đã gây nên sự khó chịu của những nhà thuyết giảng lâu năm về “kinh tế học chính trị”. Nhà nước như là một “cơ quan đạo đức” mà sự hỗ trợ là “điều không thể thiếu”? “Xung đột giữa lao động và tư bản”? Ngay cả sau khi tố giác tự do kinh tế là “điều không an toàn về mặt chính trị và không lành mạnh về mặt đạo đức” đã được loại bỏ khỏi văn kiện cuối cùng, vì sợ rằng có vẻ như hiệp hội mới có mọi động lực ngoài sự tiến bộ khoa học, thì AEA vẫn được coi là một thách thức đối với hiện trạng.

 

Charles Dunbar (1830-1900)
Richard T. Ely (1854-1943)
Nhưng chủ nghĩa cấp tiến của AEA sẽ sớm bị bóp chết sau khi AEA ra đời. Vào tháng 12 năm 1887, ban chấp hành, trong đó có Henry Carter Adams, đã đồng ý từ bỏ hoàn toàn cương lĩnh đã được thông qua hai năm trước đó, với lý do là mọi cương lĩnh đều làm suy yếu quyền tự do nghiên cứu. Năm 1890, một ủy ban được chỉ định để thẩm định các bài viết cho các ấn phẩm của hiệp hội, thế chỗ của Richard Ely, người sáng lập cuộc vận động và là người có tầm ảnh hưởng lớn. Năm 1892, Ely đã cố nắm lại quyền kiểm soát tổ chức mà ông đã giúp sáng lập, nhưng ông đã thất bại; sau đó ông đã đồng ý từ chức. Charles Dunbar thuộc Đại học Harvard, một nhà kinh tế học của trường phái truyền thống, nhận chức chủ tịch. Từ đó, AEA không còn là cái mà Ely đã hy vọng từ ngày đầu sáng lập ra nó: Đó không còn là một lực lượng có ý thức hệ thống nhất chống lại tự do kinh tế, cũng không phải là một hiệp hội trên thực tế của các nhà kinh tế học yêu cầu các nhà tuyển dụng ở đại học hoặc chính phủ phải tôn trọng quyền tự do tri thức của các thành viên của mình. Thay vào đó, hiệp hội đã trở thành một hiệp hội học thuật chuyên nghiệp theo phương thức hiện đại: tài trợ các hội nghị và các ấn phẩm, tập hợp dữ liệu, áp đặt các tiêu chuẩn về tư cách thành viên của hội, và thúc đẩy sự phát triển nghề nghiệp.
Ban đầu, khi AEA được sáng lập, những người sáng lập coi sự bất bình đẳng là một chủ đề đáng để nghiên cứu nghiêm túc và là một vấn đề chính sách, thậm chí là một cuộc khủng hoảng, đòi hỏi phải có một giải pháp. Tuy nhiên, khi hiệp hội theo hướng ôn hòa, thì quan điểm đó dần dần biến mất. Vào giữa thế kỷ 20, quan điểm khách quan đang thống trị kinh tế học đã nói lên một câu chuyện đặc biệt về sự bất bình đẳng – đó không phải là vấn đề lớn, vì nó sẽ biến mất theo thời gian. Và thậm chí nếu đó là một vấn đề, thì không thể làm được gì nhiều mà không làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của nền kinh tế.
Emmanuel Saez (1972-)
Simon Kuznets (1901-1985)
Trọng tâm của sự nổi lên những ý tưởng này là công trình mang tính đột phá của Simon Kuznets vào năm 1953, “Shares of Upper Income Groups in Income and Savings [Tỉ phần của các nhóm có thu nhập cao trong tổng thu nhập và tiết kiệm]”, nghiên cứu sự giảm bớt bất bình đẳng trong nửa đầu của thế kỷ 20. Kuznets đã sử dụng các dữ liệu thuế tương tự như các dữ liệu được Thomas Piketty và Emmanuel Saez sử dụng gần đây, và diễn giải những phát hiện này trong bài diễn văn của ông vào năm 1954 với tư cách chủ tịch AEA, hàm ý rằng sự bất bình đẳng đầu tiên sẽ tăng lên, rồi giảm xuống khi nền kinh tế phát triển. Điều này vạch ra cái được gọi là đường cong Kuznets, được ông gợi ý là do sự biến đổi “tự nhiên” từ khu vực nông nghiệp sang chế tạo sản xuất, và là do sự đô thị hóa đi kèm theo đó. Ông lập luận rằng sự biến đổi này có thể được lặp lại ở các nước khác khi các nước ấy phát triển. Lý thuyết của ông đưa ra một dự báo lạc quan đặc biệt đối với các nền kinh tế thuộc địa và hậu thuộc địa vẫn còn bị sa lầy trong cảnh nghèo đói. Có vẻ như ông gợi ý rằng chắc chắn, họ có thể là người thua cuộc trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay, nhưng cuối cùng họ sẽ trở nên giàu hơn, miễn là họ tiếp tục đi theo con đường chủ nghĩa tư bản.
Thomas Piketty (1971-)
Diễn giải lạc quan của Kuznets về mối quan hệ giữa sự bất bình đẳng và sự phát triển kinh tế xung đột với chính kinh nghiệm sống của ông – hai cuộc chiến tranh thế giới và cuộc Đại suy thoái đã gây thiệt hại cho các di sản thừa kế trong nửa đầu của thế kỷ 20, chứ không phải là sự biến đổi liên ngành. Trong cuốn Capital in the Twenty-First Century [Tư bản trong thế kỷ XXI] (Harvard University Press, 2014), bản thân Piketty đã có những lời lẻ nghiêm khắc dành cho Kuznets, về động lực của ông ta, và thái độ đối với sự bất bình đẳng mà ông ta đã sản sinh ra trong giới kinh tế học:
Khi trình bày một lý thuyết lạc quan như vậy trong bối cảnh của một “bài diễn văn với tư cách là chủ tịch” trước một hiệp hội chuyên nghiệp lớn của các nhà kinh tế học Hoa Kỳ, một cử tọa có xu hướng tin tưởng và phổ biến những tin tức tốt lành được phát biểu từ nhà lãnh đạo uy tín của họ, [Kuznets] biết rằng ông sẽ có sức ảnh hưởng đáng kể… Để đảm bảo mọi người hiểu rõ đâu là những được mất, ông cẩn thận nhắc nhở người nghe rằng những dự đoán lạc quan của ông chỉ đơn giản là duy trì các nước kém phát triển “trong quỹ đạo của thế giới tự do”. Sau đó, phần lớn lý thuyết về đường cong Kuznets là một sản phẩm của cuộc Chiến tranh Lạnh.
Kết luận của Kuznets có vẻ như biện minh cho việc loại bỏ chủ đề bất bình đẳng khỏi nghị trình nghiên cứu kinh tế học, như là một vấn đề sẽ tự thân giải quyết – và như thế ngày càng như vậy. Không có thách thức nghiêm trọng nào đối với dự đoán của đường cong Kuznets về việc sự bất bình đẳng nói chung đã đạt đến một mức tối thiểu vĩnh viễn. Tệ hơn nữa, nếu một lý thuyết như vậy nổi lên và hàm ý những hành động khả thi để đảo ngược sự bất bình đẳng, thì những người ủng hộ nó có nhiều khả năng đã sợ hãi và xa lánh nó, như Hadley, người đã khôn ngoan nhận ra điều đó khi ông kìm nén việc gia nhập AEA ngay từ đầu.
Hơn 125 năm kể từ khi AEA được thành lập, các cơ sở cấp tiến của nó dường như đang hồi sinh. Việc đánh giá lại kinh tế học cổ điển được tiến hành trong những năm gần đây, đã được nhấn mạnh trong tác phẩm của Piketty, Capital in the Twenty-First Century [Tư bản trong thế kỷ XXI], trong đó có nhiều lời khắc nghiệt đối với tính bảo thủ hạn hẹp về mặt phương pháp luận và tính tự hấp thu của kinh tế học và chi phí của chúng: sự thiếu vắng một lý thuyết có tính thuyết phục về sự bất bình đẳng đang gia tăng, tính cơ động xã hội theo chiều đi xuống và các bệnh lý phát sinh – và, khi thiếu một lý thuyết như vậy, thì người ta sẽ khăng khăng nhấn mạnh rằng những hiện tượng này hoặc không tồn tại hoặc không quan trọng.
Adam Smith (1723-1790)
Cuốn sách của Piketty chỉ là tác phẩm gây nhiều tranh cãi nhất của sự dịch chuyển gần đây của kinh tế học khỏi những hạn chế và thành kiến được chấp nhận rộng rãi của lý thuyết. Xu hướng trí thức chung hơn trong lĩnh vực này là hướng tới thường nghiệm, với suy luận có tính thuyết phục về nhân quả, điều kiện thiết yếu của một nghiên cứu độc đáo và tốt. Cái gọi là cuộc cách mạng dữ liệu (hoặc, như hai môn đồ nổi tiếng nhất của nó, Joshua D. Angrist và Jörn-Steffen Pischke, đã gọi nó, “cuộc cách mạng đáng tin cậy”) được thực hiện bởi sự tính toán phức tạp và tính sẵn có của dữ liệu. Nhưng nó cũng được thúc đẩy bởi sự không tin ngày càng tăng vào cách làm cũ – bắt đầu từ cân bằng cạnh tranh, toán học hoá bàn tay vô hình của Adam Smith bằng cách tổng gộp sự ích kỷ cá nhân thành phúc lợi xã hội và tìm kiếm thực tế nhằm tìm ra những câu chuyện phù hợp làm bằng chứng cho thao tác hiền lành này của lý thuyết. Bước ngoặt mới trong kinh tế học cho thấy các nhà nghiên cứu tìm ra các thử nghiệm tự nhiên (hoặc tiến hành những thí nghiệm riêng của họ) như là những kiểm định của một lý thuyết này so với một lý thuyết khác.
Trường hợp đáng chú ý của phương pháp mới này bao gồm nghiên cứu mới về tiền lương tối thiểu, gieo sự ngờ vực đối với sự đồng thuận cũ cho rằng các mức lương tối thiểu sẽ làm giảm việc làm; các cuộc điều tra về hiệu ứng của tự do hóa thương mại, đặt trọng tâm vào các tác động của việc tự do hoá này trên thị trường lao động; và các cân nhắc thận trọng về những thay đổi trong chính sách thuế để ước tính hiệu ứng trên tổng sản phẩm, cung lao động, tích luỹ tài sản và đầu tư. Bằng nhiều cách, cuộc cách mạng dữ liệu lặp lại thách thức về tri thức mà thế hệ của AEA đã mang lại cho kinh tế học suy diễn như đã từng được thực hành: Các công cụ và cách tiếp cận mới dựa trên dữ liệu đã gieo sự ngờ vực đối với các cách làm cũ. Chính thực tế cho rằng một cuộc cách mạng tương tự về nhận thức luận đang được tiến hành tự thân nó là bằng chứng cho rằng thời kì đứt quãng là một thoái trào; hơn nữa, nó thách thức quan niệm bản thân của phần lớn các nhà kinh tế học cho rằng lĩnh vực kinh tế học đã có một tiến trình tiến bộ.
Việc những ý tưởng cấp tiến của Richard Ely bị đẩy ra ngoài lề là do những đồng nghiệp của ông, và cũng chính các nhà kinh tế học mới có thể đảo ngược sự đẩy ra ngoài lề các quan điểm thách thức của cải của những người đương nhiệm. Trái với các ngành khoa học xã hội khác, có thể nói là thiên về cánh tả, các nhà kinh tế học nổi tiếng về tính đa dạng của ý thức hệ, nếu không muốn nói là thiên về chủ nghĩa bảo thủ, khi chính xác là cách thức mà các nghiên cứu của họ được tài trợ một cách hào phóng tại các trường kinh doanh có uy tín và tại các phòng khoa hàng đầu. Thật khó để không thể kết luận rằng khi xua đuổi chủ nghĩa cấp tiến khỏi AEA và khỏi kinh tế học dòng chính, những ai làm việc này đã đạt được uy thế to lớn về tri thức và sự tán thành của giới tinh hoa bằng việc từ bỏ công cuộc tìm kiếm vô tư nhằm tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi gây tranh cãi nhiều nhất trong kinh tế học.
Việc họ từ bỏ “sự biện hộ” dưới chiêu bài “tính khách quan” chỉ đặt ra câu hỏi về sự khác biệt này thực sự có ý nghĩa gì trong thực tế. Có lẽ tính khách quan hiện tại không đòi hỏi giới học giả phải phủ nhận sự biện hộ một cách ồn ào. Trên thực tế, nó có thể đòi hỏi sự ngược lại.
Marshall Steinbaum
Bernard Weisberger (1922-)
Marshall Steinbaum là một nhà kinh tế học cao cấp và nghiên cứu sinh tại Viện Roosevelt. Ông là đồng biên tập viên của cuốn sách sắp ra mắt After Piketty: The Agenda for Economics and Inequality [Thời kỳ hậu Piketty: Nghị trình cho kinh tế học và bất bình đẳng] (Harvard University Press).
Bernard Weisberger là một nhà sử học đã tham gia giảng dạy tại Đại học Rochester và Đại học Chicago. Ông có nhiều công trình được xuất bản, trong đó có cuốn The La Follettes of Wisconsin: Love and Politics in Progressive America [La Follettes Wisconsin: Tình yêu và Chính trị trong một nước Mỹ tiến bộ] (Đại học Wisconsin Press, 1994). Các phần của tiểu luận này đã được đăng trước đó trong tờ Democracy: A Journal of Ideas [Dân chủ: Nhật báo của các ý tưởng].
Một phiên bản của bài viết này đã được đăng trong số ra ngày 09 tháng 12 năm 2016.

 

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

 

Nguồn: When Economics Was Radical, THE CHRONICLE of HIGHER EDUCATION, December 04, 2016.

——————–&&&——————-

Bất bình đẳng và tăng trưởng: sự nổi lên của một hệ tư tưởng toàn cầu từ năm 1990 đến năm 2010

Bất bình đẳng và tăng trưởng: sự nổi lên của một hệ tư tưởng toàn cầu từ năm 1990 đến năm 2010

(Tác giả: François Bourguignon[*] – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Kể từ những năm 1950 cho đến nay, quan hệ bất bình đẳng-tăng trưởng-nghèo đói đã nuôi dưỡng nhiều cuộc tranh luận hàn lâm sôi nổi, các cuộc tranh luận này đã định hình chính sách của các Nhà nước và định chế quốc tế. Lịch sử tư tưởng của các khoa học kinh tế cho thấy là có những chuyển đổi của hệ ý tăng trưởng và việc ưu tiên dần dần cho sự tích luỹ các tài sản sản xuất của những nhóm chịu thiệt thòi nhất. Điều này được cụ thể hoá trong các công cụ đo lường, các chương trình xã hội và những phương thức điều hành chính sách công.
Bình đẳng về cơ hội, mở rộng hệ ý về phát triển
Trước khi Ngân hàng thế giới, vào đầu những năm 2000, nắm lấy các ý niệm bất bình đẳng và bình đẳng, một cuộc tranh luận náo nhiệt diễn ra trong cộng đồng hàn lâm về tính đa chiều của nghèo đói lẫn mối liên hệ giữa nghèo đói và tăng trưởng, hay giữa nghèo đói và hiệu quả kinh tế. Phác hoạ lại lịch sử các ý tưởng cho phép đặt các cuộc tranh luận này trên những nền tảng lí thuyết trước khi tìm hiểu bằng cách nào các ý tưởng trên được phổ biến trong các giới thực hành.

Do phần lớn việc giảm nghèo đói dựa vào sự tăng trưởng của một nền kinh tế, trong một thời gian dài cuộc tranh luận về nghèo đói trong kinh tế học phát triển trước hết là một cuộc tranh luận về sự tăng trưởng. Trong thực tế, người ta chứng kiến trong những năm 1990 một sự trở chiều kép: tăng trưởng đã quay trở lại trong các nền kinh tế phát triển và trong kinh văn là sự trở lại của chủ đề tăng trưởng, do đó của chủ đề phát triển. Dấu ấn của những năm 1980 là một sự điều chỉnh kinh tế vĩ mô chính: sự thay đổi chính sách tiền tệ của Hoa Kì đã khắc phục được lạm phát nảy sinh từ các cuộc khủng hoảng dầu lửa trong thập niên trước, nhưng với hậu quả sau đó là sự khan hiếm cung tiền và gia tăng của lãi suất cũng đã làm cho tăng trưởng chậm lại trên toàn thế giới. Bước vào những năm 1980, có vẻ như thế giới bắt đầu lại có tăng trưởng bền vững. Như thế chủ đề tăng trưởng xuất hiện trở lại trong kinh văn: trước tiên là những bài viết tạo lập lí thuyết “tăng trưởng nội sinh” [Romer, 1986; Lucas, 1988], rồi bài viết thực nghiệm nổi tiếng của Robert J. Barro [1983] thử xác định những nhân tố giải thích sự tăng trưởng từ một phân tích kinh trắc trên các dữ liệu quốc tế. Từ đó, cả một kinh văn được phát triển, với dự án là nhận diện những nhân tố của tăng trưởng.

 

Paul Romer (1955-)
Robert Lucas (1937-)
Lí thuyết tăng trưởng nội sinh có một tầm quan trọng đáng kể. Nó đối lập với tầm nhìn về tăng trưởng kinh tế trong những năm 1950 [Solow, 1956], theo đó, trong dài hạn, tăng trưởng là ngoại sinh, chủ yếu được giải thích bằng sự tiến bộ kĩ thuật hay cải tiến năng suất nhờ những đổi mới quản lí hay tổ chức. Robert E. Lucas và Paul Romer có đóng góp chính khi chỉ ra rằng thật ra các tỉ suất tăng trưởng trong dài hạn là kết quả của những sở thích của các tác nhân và của những đặc điểm riêng cho một nền kinh tế nhất định. Như thế, họ mở đường cho việc nghiên cứu sau này về những nhân tố quyết định sự tăng trưởng đặc thù của các nước khác nhau.

 

Nicholas Kaldor (1908-1986)
Robert Solow (1924-)
Nhưng giảm nghèo đói không chỉ quy về việc tăng trưởng; nó còn đòi hỏi phải là một sự tăng trưởng “cho mọi người”. Do đó có một mảng thứ hai trong cuộc tranh luận về việc giảm thiểu nghèo đói là mảng về quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng. Vượt lên những hiệu ứng của tăng trưởng trên sự bất bình đẳng và khái niệm “tăng trưởng vì người nghèo”, nhiều nhà kinh tế đã quan tâm đến những kênh thông qua đó sự bất bình đẳng có thể xác định chế độ tăng trưởng trong dài hạn của một nền kinh tế. Trong số họ, có người đã chỉ ra bằng những mô hình lí thuyết cách mà sự bất bình đẳng về của cải, việc tiếp cận tín dụng hay giáo dục có thể ràng buộc tăng trưởng, một điều đối lập với quan hệ tích cực được một số nhà kinh tế trước đây gợi ý, đặc biệt là nhà kinh tế keynesian Nicholas Kaldor[1]. Mệnh đề cuối này bị kinh văn gần đây lật nhào hoàn toàn. Trong một tình thế bất bình đẳng cao, những dự án kinh tế, có lợi cho cả khu vực tư nhân lẫn công cộng, không được tiến hành do thiếu vắng sự bảo đảm cho những người khởi xướng và do đó không tiếp cận được tín dụng.
Ngược lại, doanh nghiệp nào có được tài sản thế chấp hay tiếp cận được quỹ đầu tư sẽ tiến hành dự án của họ, cho dù có thể đó là những dự án xoàng. Cuối cùng, một xã hội bất bình đẳng tăng trưởng chậm hơn và do đó làm giảm chậm hơn sự nghèo đói, vì nó có rủi ro bỏ qua những đầu tư có lời.
Kiểu phân tích này là điểm xuất phát của một suy tư và kinh văn dồi dào về mối quan hệ “nghèo đói-bất bình đẳng-tăng trưởng”. Một loại phong trào hồ hởi ra đời khi người ta tưởng đã có bằng chứng thực nghiệm của một quan hệ bổ sung nhau giữa bình đẳng và tăng trưởng. Hai bài viết rất thường được trích dẫn [Persson và Tabellini, 1994; Alesina và Rodrik, 1994] cho thấy dường như là có một tương quan âm giữa tỉ suất tăng trưởng của một mẫu những nước và mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập của những nước này. Chỉ bấy nhiêu cũng đủ để một cộng đồng nhất định tự thuyết phục rằng nuôi dưỡng các bất bình đẳng đi ngược lại với tăng trưởng và việc giảm nghèo khó và, trái lại, giảm thiểu các bất bình đẳng sẽ tạo điều kiện cho phát triển. Tuy nhiên sau đó người ta đành phải nhận thức là sự việc phức tạp hơn nhiều và các yếu tố thực nghiệm đầu tiên này không vững chắc và thực ra được thiết kế không tốt.

 

Amartya Sen (1933-)
Còn chính xác hơn vấn đề nghèo đói, phân tích truyền thống bằng khái niệm thu nhập, và do đó mối quan hệ với những vấn đề bất bình đẳng và tăng trưởng, cũng là đối tượng của cuộc tranh luận. Một quan niệm nhiều chiều kích về sự bất bình đẳng và niềm tin rằng tăng trưởng kinh tế, cho dù là bình đẳng, không tất yếu cho phép triệt tiêu tất cả mọi chiều kích của sự nghèo đói, dần dần được khẳng định. Diễn tiến này là nhờ công sức của Amartya Sen và khái niệm “capability” (năng lực) của ông, theo đó điều quan trọng không chỉ là tiềm năng tiêu dùng của một cá nhân mà còn có cả tiềm năng phát triển của cá nhân ấy. Như thế nghèo đói được xem như sự thiếu vắng những cơ hội tiếp cận các lĩnh vực giáo dục, y tế, pháp lý chẳng kém gì việc thiếu thốn về mặt vật chất. Một cách khá nhanh chóng, người ta nhận ra là những tương quan giữa những khía cạnh khác nhau của sự nghèo đói, được định nghĩa như trên, và thu nhập còn xa mới là hoàn hảo.
Hai trục suy tưởng này, quan hệ bất bình đẳng-tăng trưởng và tính đa chiều của nghèo đói dẫn đến một sự mở rộng nhất định của hệ ý phát triển khi nêu bật vai trò sự bất bình đẳng về cơ hội và của việc tiếp cận giáo dục, tín dụng, nền tư pháp hay quyết định công. Một minh hoạ tốt cho diễn tiến này là báo cáo phát triển thế giới của Ngân hàng thế giới năm 2006, có tựa là Bình đẳng và Phát triển, một văn bản mà trong nội bộ của định chế này tượng trưng cho một bước tiến lớn trong việc thiết kế những chính sách và chiến lược phát triển[2].
Tăng trưởng và bất bình đẳng: mô hình nào cho an sinh xã hội?

Ngăn chặn sự bất bình đẳng

Ngăn chặn sự bất bình đẳng

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Ngày: 24/10/2016
Các khu vực: Mỹ La tinh, Thế giới, Chile
Thế giới đã trở nên giàu có hơn bao giờ hết, nhưng sự bất bình đẳng cũng trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết ở rất nhiều quốc gia tại phương Nam cũng như phương Bắc. Làm thế nào để lí giải xu hướng này? Những phương hướng hành động sắp tới là gì?
Nếu ta đo lường sự giàu có bằng hàng hoá và dịch vụ được tiêu thụ và sản xuất[1], thì thế giới đạt đỉnh điểm của sự giàu có vào năm 2015. Mặt khác, chưa bao giờ sự giàu có này lại được phân phối bất bình đẳng đến thế. Ở những quốc gia có đầy đủ dữ liệu về thuế, tỉ lệ tài sản được thành phần 1% hoặc 10% giàu nhất nắm giữ đã một lần nữa quay lại mức kỉ lục của hồi đầu thế kỉ trước [thế kỉ XX]. Cứ 10 người thì có 7 người đang sống trong một quốc gia có khoảng cách giàu nghèo đã nới rộng hơn so với 30 năm trước (Oxfam, 2014 theo Milanovic, 2013). Ở các quốc gia OECD [Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế], khoảng cách giàu nghèo chưa bao giờ rộng như vậy: thu nhập của nhóm 10% giàu nhất gấp 9,5 lần nhóm 10% nghèo nhất (OECD 2015); vào thập niên 80 của thế kỉ XX, tỉ lệ này là 7 trên 1. Tại các quốc gia hiếm hoi ở Mỹ La tinh đã giảm bất bình đẳng thì hệ số Gini, đo lường sự bất bình đẳng về thu nhập, vẫn cao. Ở Nam Phi, hệ số Gini vào năm 1995 (0,56) tức cuối thời kì phân biệt chủng tộc arpartheid còn thấp hơn năm 2009 (0,63) (Oxfam, 2014). Những bất bình đẳng về thu nhập này nuôi dưỡng và củng cố sự bất bình đẳng về sức khoẻ, giáo dục và giới tính (70% người nghèo là nữ giới – Cortinovis và Rivière, 2015), về khu vực (giữa cộng đồng thành thị và nông thôn) và trong một số trường hợp là về sắc tộc (ở New Caledonia, cơ hội hoàn thành chương trình giáo dục bậc cao [đại học, cao đẳng] của người Kanak thấp hơn 7 lần so với những người thuộc sắc tộc khác, theo Ris, 2013). Sự gia tăng bất bình đẳng mà ta có thể quan sát được ở các quốc gia cũng có thể thấy trên quy mô toàn cầu. Vào năm 2016, một nửa của cải trên thế giới sẽ thuộc sở hữu của nhóm 1% dân số (Global Wealth Report 2015). Tuy nhiên, đây cũng là lần đầu tiên việc giảm bất bình đẳng về thu nhập quốc nội được lên chương trình nghị sự quốc tế. Điều này được thể hiện một cách rõ ràng trong các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỉ (SDGs) được Liên hợp quốc thông qua vào tháng 9 năm 2015. Hãy nhớ rằng [trước đó] các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỉ định hướng hợp tác quốc tế bắt đầu từ năm 2001 không đề cập đến bất bình đẳng về thu nhập mà tập trung vào đói nghèo và tiếp cận với các dịch vụ cơ bản. Hơn nữa, các mục tiêu lúc đó chỉ dành cho các quốc gia đang phát triển, khác với các SDG áp dụng cho tất cả quốc gia.
Sự bất bình đẳng kinh tế đã trở thành một vấn đề phổ biến (universal problem) đòi hỏi một giải pháp chính trị phối hợp như thế nào? Tại sao việc bất bình đẳng gia tăng là không bền vững? Tại sao sự bất bình đẳng ngày càng mở rộng và làm thế nào để giảm bất bình đẳng theo quan điểm thực chứng? Hợp tác quốc tế có khả năng sẽ đóng vai trò cụ thể nào cho sự phát triển?
Sự nổi lên của vấn đề bất bình đẳng như một vấn đề chính trị toàn cầu
Thomas Piketty (1971-)
Trong 10 năm qua, sự gia tăng bất bình đẳng trong thu nhập đã đạt được tầm quan trọng chưa từng có trong cuộc tranh luận công khai. Ngay cả khi có ít người nhớ đến công trình của Piketty và Saez được trích dẫn trong bài phát biểu nhậm chức của ông Barack Obama năm 2009 – trước khi Piketty xuất bản cuốn Capital (Tư bản), gần như không ai có thể làm ngơ sự thật rằng chủ nghĩa tư bản về cơ bản là không công bằng, và Thomas Piketty[2] là một trong những tác giả có sách bán chạy nhất được biết đến trong lĩnh vực khoa học nhân văn (human science). Chủ đề đầu tiên khiến kinh tế học trở nên phổ biến trong thế kỉ XXI chính là vấn đề bất bình đẳng.
Các tổ chức kinh tế quốc tế cũng đã nắm bắt cơ hội này để nhấn mạnh rằng bất bình đẳng đang tăng lên chưa từng thấy, mặc dù những tổ chức này được coi là “tự do” và các khuyến nghị của họ thường tập trung vào việc tạo ra của cải thông qua cạnh tranh hơn là vào những tác động có thể có của việc phân phối mà việc tạo ra của cải thông qua cạnh tranh chính là ngòi nổ [đối với việc phân phối của cải]. Các tổ chức của Bretton Woods [gồm World Bank và IMF] đã cảnh báo về tác động của sự bất bình đẳng đang gia tăng đối với sự phát triển thông qua báo cáo thường niên đầu tiên của Ngân hàng Thế giới (WB) về chủ đề này trong năm 2006 (World Bank, 2006); tại những nước giàu, hồi chuông cảnh báo cũng được gióng lên qua các tài liệu của OECD vài năm sau đó (OECD 2011, 2012). Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tổ chức mà người bình thường cũng biết là không theo cánh tả, cũng không chậm chân lắm khi xuất bản một tài liệu vào năm 2015 nhấn mạnh một số tác hại nhất định của trường phái tự do chính thống (liberal orthodoxy) (IMF, 2015) trước khi xuất bản một báo cáo vào tháng 6 năm 2016 với tiêu đề hùng hồn – ngay cả khi có dấu chấm hỏi: Chủ nghĩa tân tự do: liệu có bị đề cao quá mức? Thông điệp được đưa ra là giống nhau: “thay vì tạo ra sự tăng trưởng, một số chính sách tân tự do nhất định đã làm gia tăng sự bất bình đẳng và đe dọa sự phát triển kinh tế bền vững” (IMF, 2016).
Tất cả cuốn sách và báo cáo này thống nhất rằng bất bình đẳng thu nhập gia tăng là một sự thật không thể chối cãi. Dù sử dụng chỉ số nào (hệ số Gini, tỉ lệ phần trăm thu nhập quốc nội của nhóm 1% dân số, hay tỉ lệ Palma)[3] thì lịch sử 30 năm qua là sự bất bình đẳng trong nội bộ các quốc gia tăng lên trong khi sự bất bình đẳng giữa các quốc gia với nhau lại giảm xuống: nếu coi Trái Đất như một quốc gia thì đất nước “Trái Đất” và hàng tỉ công dân của nó càng ngày càng bất bình đẳng. Mặt khác, nếu ta giả sử rằng Trái Đất là nơi sinh sống của những cá nhân “trung bình” của mỗi quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc – nghĩa là khoảng gần 200 người – thì nó càng ngày càng bình đẳng. Sự bất bình đẳng toàn cầu đang gia tăng, nhưng sự bất bình đẳng giữa các quốc gia lại có xu hướng giảm. Về mặt lô-gích, để 2 hiện tượng này tương thích với nhau thì sự bất bình đẳng trong nội bộ các quốc gia phải gia tăng theo thời gian (Hình 1 | Đo lường bất bình đẳng toàn cầu).
Đo lường sự bất bình đẳng toàn cầu