Xây dựng mô hình DEA đánh giá hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Xây dựng mô hình DEA đánh giá hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

(Tác giả: Nguyễn Quang Khải – Nguồn: http://tapchitaichinh.vn)

Phương pháp đo lường thông qua mô hình DEA là một phương pháp định hướng dữ liệu phi tham số, phương pháp này rất tốt trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, tính phù hợp của mô hình tùy thuộc vào các biến được lựa chọn.

Ảnh minh họa. Nguồn: internetẢnh minh họa. Nguồn: internet

Thông qua dữ liệu từ 20 ngân hàng thương mại Việt Nam năm 2014, bài viết đề xuất phương pháp lựa chọn các biến đầu ra và đầu vào dựa trên phương pháp thiết kế nhân tố phân đoạn 3 mức độ và khoảng cách Mahanalobis.

Cơ sở lý thuyết

Hiện nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới ứng dụng rất nhiều những phương pháp khác nhau nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng. Một trong số đó là phương pháp đo lường thông qua mô hình DEA (Data envelopment analysis), mô hình này ngày càng phổ biến trong các nghiên cứu liên quan đến việc đánh giá hoạt động của các ngân hàng thương mại. Mô hình này có thể được tóm tắt và giả thích như sau:

Trước tiên, DEA là một phương pháp định hướng dữ liệu phi tham số được xây dựng đầu tiên bởi Charnes et al (1978). Nghiên cứu này được phát triển từ thước đo hiệu quả kỹ thuật của Farrell (1957), mô hình này nhằm đo lường hiệu quả kỹ thuât (TE) dựa trên đánh giá tổng hợp những yếu tố đầu vào và đầu ra của các đơn vị ra quyết định DMU (decision making unit).

Hiện nay, các nghiên cứu thực hiện mô hình DEA thường được lựa chọn một trong hai dạng là hiệu quả kỹ thuật định hướng đầu vào và hiệu quả kỹ thuật định hướng đầu ra. Lời giải cho mỗi đơn vị ra quyết định (DMU) là sử dụng các loại đầu vào (Inputs) ở mức cần thiết tối thiểu để sản xuất ra một tập hợp đầu ra nhất định (Outputs). Còn hiệu quả kỹ thuật định hướng đầu ra là thước đo sản lượng tiềm năng của một DMU từ một tập hợp đầu vào nhất định. Việc lựa chọn mô hình định hướng đầu vào hay định hướng đầu ra phụ thuộc vào khả năng kiểm soát các yếu tố đầu vào của các DMU và việc lựa chọn cũng không có nhiều khác biệt về điểm đánh giá hiệu quả theo như Coelli và Perelman (1996).

Với các biến tiềm năng mà bài viết này xem xét, tác giả lựa chọn mô hình định hướng đầu vào. Bên cạnh đó, mô hình còn được thực hiện dựa trên một trong hai giả định là hiệu quả thay đổi theo quy mô (VRS -variable returns to scale) và không đổi theo quy mô (CRS-constant returns to scale). Việc lựa chọn một trong hai giả định nói trên phụ thuộc vào đặc điểm các DMU đang xem xét. Đối với các ngân hàng thương mại nói chung giả định hiệu quả không đổi theo quy mô rất khó đáp ứng, do đó, bài viết sẽ thực hiện theo giả định VRS. Cuối cùng vấn đề quan trọng nhất là lựa chọn các biến đầu vào và đầu ra phù hợp mà các nghiên cứu trước đây chưa có sự thống nhất.

Mô hình DEA trong nghiên cứu này có thể được thể hiện như sau:

Min(Z)

Điều kiện:

Lj ≥0 (j = 1,2,…, J)

Z: Thước đo hiệu quả được tính cho mỗi DMUj

ujm: Khối lượng đầu ra m được sản xuất bởi DMUj

xjn: Khối lượng đầu vào n được sản xuất bởi DMUj

Lj: Biến cường độ cho DMUj

∑Lj =1 (Giả định VRS)

Đối với mô hình DEA, các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam cũng như trên thế giới chủ yếu dựa trên các mô hình đã được xây dựng sẵn qua các nghiên cứu trước đó. Bài viết thực hiện nhằm mục đích cung cấp một nghiên cứu thực nghiệm làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình DEA nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam.

Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được tác giả thu thập thông qua báo cáo tài chính và báo cáo thường niên cũng như thông tin trên các website của các ngân hàng thương mại. Các chỉ số tài chính và các chỉ số liên quan khác được tính toán bởi chính tác giả.

Với mục đích tìm ra những yếu tố đầu vào và đầu ra phù hợp cho mô hình DEA, bài viết thực hiện theo đề xuất của Hiroshi Morita và K. Avkiran (2009). Tác giả sẽ áp dụng phương pháp thiết kế nhân tố phân đoạn 3 mức độ theo Fisher đề xuất vào năm 1926, và phát triển bởi Plackett và Burman (1946) và khoảng cách Mahalanobis. Trong thiết kế nhân tố phân đoạn 3 mức độ, khi có k các biến tiềm năng, tổng số đầu vào và đầu ra kết hợp có thể tăng lên đến 3k. Với mỗi ba cấp độ, ta có thể xác định một thiết kế phân đoạn 3k-p với k biến tiềm năng, bao gồm 3k-p lần chạy mô hình.

Khoảng cách giữa hai nhóm này được đo bằng khoảng cách Mohalanobis như sau:

Với: , Vh là trung bình và phương sai cho nh ngân hàng có hiệu quả cao,Vl là trung bình và phương sai cho nl ngân hàng có hiệu quả thấp. Một sự kết hợp các biến đầu ra và đầu vào tối ưu khi kết hợp đó tối đa hóa khoảng cách Maholanobis. Trong phân tích phương sai (ANOVA) cho thiết kế nhân tố phân đoạn, giá trị tổng bình phương toàn mẫu quan sát được tính như sau:

Đồng thời, tổng bình phương trung bình riêng cho từng biến tiềm năng Si được cho như sau:

Với d là khoảng cách Maholanobis, k là số lượng biến cần lựa chọn, là giá trị trung bình khoảng cách Maholanobis khi xi = 1. Nếu là tối đa thì biến xi sẽ là một đầu vào, nếu là tối đa thì biến xi là một đầu ra, nếu tối đa thì biến xi không nên chọn như một đầu vào hay một đầu ra.

Việc kiểm tra một biến tiềm năng không được sử dụng như một biến đầu ra được kiểm tra thông qua kiểm định F. Việc lựa chọn các biến đầu ra đầu vào có thể tóm lược thông qua các bước như sau:

Bước 1: Liệt kê các biến đầu ra và đầu vào tiềm năng. Các biến cụ thể là: Tài sản cố định (FA), tổng lượng tiền gởi (MO), tổng lượng cho vay (TL), số lượng nhân viên (EM) Milind Sathye (2001), doanh thu (RV), chi phí lãi vay (LC), chi phí ngoài lãi vay (NC) Xiaogang Chen el al (2005), một số biến khác như: tiền mặt (CA) Haslem et al (1999), lợi nhuận gộp (GP), lợi nhuận ròng (NP), tỷ lệ đòn bẩy(DR), tỷ lệ doanh thu trên lợi nhuận (RP) Hiroshi Morita và K. Avkiran (2009).

Bước 2: Tách biệt hiệu quả thành hai nhóm hiệu quả cao và hiệu quả thấp, tương ứng với mỗi nhóm, tác giả sẽ lựa chọn 10 ngân hàng. Tiêu chí xếp hạng và tách biệt 2 nhóm dựa trên 4 tiêu chí như sau: Quy mô; Khả năng sinh lời; An toàn; Tăng trưởng;

Tương ứng với mỗi tiêu chí, xếp hạng các ngân hàng từ thấp đến cao và điểm xếp hạng cuối cùng là trung bình các điểm xếp hạng. Trong đó 20 ngân hàng nằm trong mẫu nghiên cứu bao gồm: Ngân hàng MB, Sacombank, Vietcombank, Vietinbank, Teachcombank, ACB, SCB, OCB, Maritimebank, MHB, SeaBank, VPBank, VIBank, VietABank, DongABank, HDBank, CB Bank, Nam Á, Phương Nam và PGBank.

Bước 3: Chỉ định 12 yếu tố vào một bố trí trực giao 3 cấp độ và với ít nhất 27 (tức là 312-9) lần chạy cần thiết.

Bước 4: Tính điểm hiệu quả DEA và khoảng cách Mahalanobis giữa hai nhóm.

Bước 5: Xác định các biến đầu ra đầu vào có ý nghĩa về mặt thống kê phù hợp với mô hình DEA dựa trên kết quả phân tích phương sai.

Bước 6: Xác định các phương án tối ưu của các biến có ý nghĩa đáng kể về mặt thống kê bằng cách sử dụng khoảng cách Mahalanobis nhằm xác định biến đó là một đầu ra hay đầu vào.

Kết quả nghiên cứu

Dựa vào các biến tiềm năng đề xuất ban đầu, bài nghiên cứu tiến hành 27 lần chạy mô hình để tính khoảng cách Mahalanobis cho 2 nhóm hiệu quả cao nhất và thấp nhất. Các biến đầu ra, đầu vào lựa chọn và khoảng cách Mahalanobis được thể hiện trong bảng 1.

Tiếp theo, từ dữ liệu có được và Bảng 1, tiến hành phân tích phương sai, để chọn lọc những biến tiềm năng có thể sử dụng như biến đầu ra hoặc đầu vào, các biến không đáng kể được xem như là biến phần dư.

Bảng 2 cho thấy kết quả phân tích phương sai cho các biến nhằm xem xét sự khác biệt giữa 2 nhóm và các biến đều có mức ý nghĩa dưới 5% và đều được chấp cho việc phân tích ở các bước tiếp theo. Đồng thời, thể hiện giá trị trung bình khoản cách Mahalanobis cho mỗi biến, việc lựa chọn một biến là đầu vào, đầu ra hay không được chọn như một đầu vào hoặc đầu ra phụ thuộc vào giá trị khoảng cách Mahalanobis, giá trị cao nhất sẽ được chọn. Dựa vào kết quả trên tìm ra 2 biến đầu vào là tổng lượng tiền gởi và số lượng nhân viên 3 biến đầu ra là doanh thu, lợi nhuận ròng và tỷ lệ đòn bẩy. Với 5 biến được lựa chọn, bài nghiên cứu tiến hành chạy lại mô hình DEA và khoản cách Mahalanobis tương ứng tính được là 6.93. So với 27 lần chạy ban đầu, giá trị khoảng cách Mahalanobis chỉ đạt tối đa 4.67

Dựa trên kết quả đầu ra và đầu vào được lựa chọn, tiến hành đánh giá hiệu quả của mô hình thông qua cấu trúc phân tầng bao gồm nhiều đường biên hiệu quả. Phân tầng thứ 1 là đường biên hiệu quả ban đầu với đầy đủ các DMU. Phân tầng thứ 2 được tạo ra khi loại bỏ các DMU hiệu quả ở phân tầng thứ 1 và chạy lại DEA. Để tạo ra phân tầng thứ 3, DMU hiệu quả ở phân tầng thứ 2 được loại bỏ, và tiếp tục như vậy bài nghiên cứu thực hiện cho 12 phân tầng.

Kết quả cho thấy các ngân hàng trong top 10 hiệu quả cao được phân thành các tầng cao hơn và các công ty top 10 hiệu quả thấp được phân thành các tầng thấp hơn. Do đó, đây là bằng chứng thực nghiệm cho thấy sự kết hợp đầu ra đầu vào với 5 biến được chọn phân biệt được rõ hiệu quả giữa hai nhóm.

Như vậy, với đề xuất sử dụng mô hình DEA, bài viết cung cấp một bằng chứng thực nghiệm và có thể làm cơ sở trong việc xây dựng mô hình DEA khi đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại. Đồng thời, chứng minh tính hiệu quả của phương pháp mới này cho mẫu là các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

1. Charnes et al (1978), Measuring the Efficiency of Decision Making Units, European Journal of Operational Research, 2 (1978), pp. 429–444;

2. Coelli và Perelman (1996), Efficiency Measurement, Multiple-output Technologies and Distance Functions: With Application to European Railways. CREPP Discussion Paper No. 96/05. University of Liege, Liege;

3. Farrell (1957), The Measurement of Productive Efficiency. Journal of the Royal Statistical Society (A, general), 120: 253–281.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 2/2016


Xem thêm: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP DEA TRONG ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ – RỦI RO CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 2008-2011

—————-&&&—————

Mức độ vỡ nợ của các ngân hàng Việt dưới góc nhìn định lượng

Mức độ vỡ nợ của các ngân hàng Việt dưới góc nhìn định lượng

Lê Văn Tuấn

 

Trong lĩnh vực tài chính, việc xác định xác suất vỡ nợ (Probability of Default – PD) cũng như xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp (bao gồm các ngân hàng) là một nghiệp vụ vô cùng quan trọng. Đối với nhà đầu tư, thông tin về mức độ vỡ nợ hoặc xếp hạng tín nhiệm sẽ quyết định mức lãi suất trái phiếu do các doanh nghiệp phát hành. Bên cạnh đó, các thông tin này là những tham số cần thiết để các ngân hàng xác định tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) được quy định trong hiệp ước Basel II (và III).

 

 

Các cách tiếp cận chính để ước tính PD là: Phương pháp tính điểm dựa trên báo cáo tài chính (chẳng hạn Altman Z-score và Ohlson O-score); Phương pháp thống kê lịch sử vỡ nợ theo bảng xếp hạng (mô hình Credit Metrics); và Mô hình định lượng dựa trên giá trị thị trường (tiêu biểu là mô hình Merton). Mô hình Merton (1974) mang tính khai sáng trong định lượng rủi ro tín dụng, và vẫn phổ biến trong thực hành cũng như học thuật. Một mở rộng của mô hình Merton là mô hình KMV (1990), đây là một mô hình chuẩn mực trong thực tiễn và hiện tại thuộc sở hữu của Moody’s KMV. Thông tin từ Moody’s cho thấy hơn 100 tổ chức tài chính lớn nhất trên thế giới sử dụng mô hình này (là khách hàng của Moody’s KMV).

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ trình bày kết quả tính toán xác suất vỡ nợ 1-năm theo mô hình Merton cho các ngân hàng Việt Nam có cổ phiếu được niêm yết trên hai sàn chứng khoán HOSE và HNX. Dữ liệu giá cổ phiếu trong vòng 1 năm, nguồn dữ liệu từ website của Công ty chứng khoán VnDirect. Dữ liệu về nợ của các ngân hàng lấy từ website của CafeF (xem bảng dưới).

 

Mã chứng khoán KLCP đang lưu hành Nợ Quý 1-2016 (ngàn VND)
Ngắn hạn (≤ 1 năm) Dài hạn (bao gồm trung hạn) Điểm vỡ nợ = Ngắn hạn + ½ Dài hạn
ACB 896273898 68948089000 75281254000 106588716000
BID 3418715334 348163268000 275577248000 485951892000
CTG 3723404556 303704921000 249687810000 428548826000
EIB 1229432904 29829997000 52690885000 56175439500
MBB 1631181818 62390617000 60536029000 92658631500
NVB 297669552 6463175000 13657540000 13291945000
SHB 948098275 58631685000 79015289000 98139329500
STB 1803653429 72013317000 118688064000 131357349000
VCB 2665020334 242568002000 169066014000 327101009000

 

Từ kết quả ước tính PD (1 bp = 0.1 %, kỹ thuật tính toán được mô tả chi tiết trong tài liệu [1]), chúng tôi thực hiện việc minh họa xếp hạng các ngân hàng theo thang đo của tổ chức xếp hạng S&P và theo thang đo xếp hạng nội bộ của ngân hàng CIBC. Lưu ý rằng việc xếp hạng này mang tính minh họa vì sự liện hệ giữa PD và xếp hạng được trình bày trong [2] là cho kết quả tính PD của mô hình KMV.

 

Mã chứng khoán Khoảng cách tới vỡ nợ DD Xác suất vỡ nợ PD (1-năm) Xếp hạng (theo S&P) Xếp hạng (theo CIBC)
SHB 0.8550732 196 bp B 8
NVB 1.182737 118 bp BB- 7
BID 1.204251 114 bp BB- 7
STB 1.794815 36 bp BBB- 4
CTG 2.246925 12 bp A- 3
ACB 2.626715 4 bp AA 2
EIB 3.014605 1 bp AAA 1
VCB 3.177691 1 bp AAA 1
MBB 4.029989 1 bp AAA 1

Xác suất vỡ nợ của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

Kết quả tính toán cho thấy trong 3 “ông lớn”, ngân hàng Vietcombank đạt chỉ số an toàn tốt nhất, trong khi ngân hàng BIDV tiềm ẩn khả năng vỡ nợ khá cao, gấp gần 10 lần ngân hàng VietinBank (12 bp). Các ngân hàng có PD cao (BIDV,  TMCP Quốc Dân, TMCP Sài Gòn – Hà Nội) nên có những chính sách nhằm tăng lượng vốn chủ sở hữu, tăng cường việc kiểm soát rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng, nhằm giảm thiểu xác suất vỡ nợ (xác suất phá sản). Mặc dù có thể báo cáo tài chính vẫn rất đẹp, nhưng mô hình Merton (tác giả đã nhận giải Nobel Kinh tế năm 1997), với sức mạnh định lượng từ giá trị thị trường, cho thấy những kết quả không tốt về nguy cơ vỡ nợ của các ngân hàng này.

Tài liệu tham khảo.  

[1]. Tuan. L. V. Khám phá sự thú vị của phần mềm R trong định lượng rủi ro tín dụng (Research)

[2]. Crouhy, M., Galai, D. & Mark, R. Risk Management. Mc Graw-Hill. 2001.



Xem thêm:

Nợ xấu của BIDV lên tới hơn 13.000 tỷ đồng

Năm “hạn” của BIDV

Những nhà băng nào đang ôm đống nợ của HAG-HNG?

Các ngân hàng giải hạn “nợ xấu Vinashin” như thế nào?

———–&&———-

Năng lực ngân hàng Việt đến đâu?

Năng lực ngân hàng Việt đến đâu?

(Tác giả: Linh Lan – Nguồn: http://bizlive.vn/)

BizLIVE – Đến năm 2020, Việt Nam phải “mở cửa” ít nhất 70%  dịch vụ tài chính ngân hàng, tài  khoản vốn trong thị trường ASEAN. Đây là thách thức rất lớn đối với các ngân hàng Việt.

Năng lực ngân hàng Việt đến đâu?

Ảnh minh họa

Câu chuyện hội nhập Cộng đồng kinh tế chung ASEAN (AEC) và Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) của Việt Nam trong lĩnh vực tài chính ngân hàngtrên 4 phương diện: dịch vụ tài chính, tài khoản vốn, thị trường vốn, hạ tầng thanh toán.

So với lĩnh vực thương mại, hội nhập tài chính, ngân hàng đang chậm hơn. Chẳng hạn, các ngân hàng ở Singapore đã áp dụng tiêu chuẩn Basel III nhưng ngân hàng Việt Nam mới chỉ áp dụng Basel II.

Đối với TPP, điều quan trọng đối với các ngân hàng Việt là thách thức về cạnh tranh dịch vụ khi TPP cho phép ngân hàng của 12 nước trong TPP được cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng xuyên biên giới. Nghĩa là ngân hàng ở Mỹ có thể cung cấp dịch vụ về thẻ, chuyển tiền… cho người dân Việt Nam mà không cần có chi nhánh ngân hàng tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, việc cạnh tranh chất xám sẽ rất khốc liệt trong thời gian tới khi TPP quy định không phân biệt quốc tịch đối với nhân sự cấp cao.

 “Độ mở tài chính” mới chỉ 30%

Theo TS. Cấn Văn Lực, hiện Việt Nam đang đàm phán và ký kết khoảng 11 Hiệp định thương mại song phương (FTA) với các nước.

Hội nhập TPP và AEC, Việt Nam sẽ phải mở cửa thị trường tài chính ít nhất 70% trong thời gian tới. Hiện nay, “độ mở tài chính” của Việt Nam chỉ mới ở mức 30%. Các ngân hàng thương mại Việt Nam đã đưa ra nhiều sản phẩm, dịch vụ, nhưng tính tới nay số lượng sản phẩm ngân hàng bán lẻ khoảng 83 sản phẩm và 97 sản phẩm bán buôn.

Quy mô thị trường tài chính Việt Nam (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, trái phiếu) bằng 150% GDP, chỉ cao hơn Lào, Campuchia và Indonesia. Thị trường tài chính Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng để phát triển.

Cơ cấu thị trường tài chính mất cân đối, 75% là hệ thống ngân hàng, còn lại là thị trường chứng khoán, trái phiếu, bảo hiểm. Do vậy, cần phải phát triển thị trường tài chính cân đối hơn, tránh phụ thuộc vốn quá nhiều vào ngân hàng.

Tín dụng ngân hàng dành cho tư nhân của Việt Nam là 100% GDP, cũng không quá cao khi bình quân tỷ lệ này của các ngân hàng trên thế giới khoảng 125% GDP. Nguyên nhân, do thị trường vốn mất cân đối khi quy mô thị trường chứng khoán là 32% GDP, so với Trung Quốc 98% GDP, Indonesia 54%, Ấn Độ 86%… Quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam khá èo uột chỉ chiếm 20% GDP và chủ yếu là trái phiếu Chính phủ.

Quy mô “tí hon”

Hiện tổng tài sản của hệ thống ngân hàng Việt lớn hơn nhiều so với vốn chủ sở hữu của các ngân hàng. Tuy nhiên, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) khá cao ở mức 12% (năm 2014 là 13%) so với quy định là 9%. Nếu tỷ lệ CAR quá cao trên 20% thì lại không tốt vì điều đó cho thấy việc sử dụng vốn có vấn đề. Do vậy, làm sao tỷ lệ này phù hợp để đảm bảo rủi ro vừa đảm bảo sử dụng vốn hiệu quả.

Chi phí trên thu nhập của ngân hàng năm 2013 là 62%, nă 2014 là 57%-58%, cao so thông lệ quốc tế là 43%-45%, do các ngân hàng Việt Nam phải trích lập dự phòng rủi ro lớn để chủ động xử lý nợ xấu. Do vậy, ngân hàng Việt phải tiếp tục giảm chi phí để giảm lãi suất trong thời gian tới.
Nguồn thu chính của ngân hàng Việt hiện nay chủ yếu là tín dụng. Tuy nhiên, hiện tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cũng chiếm tới 26%, ở mức trung bình khá của so với các ngân hàng trên thế giới khoảng 30%-40%. Đối với ngân hàng ở nước phát triển như Singapore có tỷ lệ này rất cao là 63%.
Khả năng sinh lời (ROE) của ngân hàng Việt rất thấp chỉ ở mức 5,5%, vì NIM (chênh lệch lãi suất đầu vào – đầu ra) chỉ 3%, thấp nhất so với ngân hàng khu vực. Bên cạnh đó, ngân hàng Việt đang phải trích lập dự phòng rủi ro lớn để xử lý nợ xấu khiến tỷ lệ sinh lời rất thấp. Nếu không cải thiện tình hình này các ngân hàng Việt sẽ gặp khó khăn so với các ngân hàng khu vực.

Rủi ro thanh khoản của ngân hàng Việt đã qua thời kỳ khó khăn khi tỷ lệ cho vay trên nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng Việt đã giảm nhiều, từ mức 100% (huy động bao nhiêu cho vay bấy nhiêu), đến nay tỷ lệ này đã giảm còn trên 84%.

Trung Quốc quy định trong luật là 75%, nhưng các ngân hàng nước này đang đề nghị dỡ bỏ tỷ lệ này.

Quy mô của các ngân hàng Việt còn bé nhỏ so với khu vực mặc dù thời gian gần đây hệ thống ngân hàng đã tăng vốn nhanh. Chẳng hạn, ngân hàng lớn nhất của Việt Nam hiện nay có quy mô tổng tài sản chỉ 36 tỷ USD, tương đương quy mô ngân hàng của Philippine, còn so với các ngân hàng Ấn Độ, Singappore, Indonesia thì vẫn còn nhỏ. 


Chỉ 31% người lớn có tài khoản ngân hàng

Mặc dù số lượng ngân hàng Việt hiện nay đang bị cho là nhiều, nhưng sự phân bổ không đồng đều khiến tỷ lệ người lớn có tài khoản tại ngân hàng cũng chỉ chiếm 31%, mức trung bình của khu vực khi Indonesia, Laos, Philipines khoảng 20-27%, trong khi đó Thái Lan là 73%, Malaysia là 66%… Tuy vậy, điều này cho thấy tiềm năng phát triển dịch vụ ngân hàng còn rất lớn.

Dư luận gần đây cho rằng số lượng ngân hàng Việt quá nhiều, tuy nhiên chưa chính xác vì các ngân hàng phân bổ không đều, chỉ tập trung ở các thành phố lớn, còn các tỉnh lẻ, vùng nông thôn, vùng xa xôi độ “phủ sóng” của ngân hàng chưa nhiều.

Câu chuyện quản trị của Việt đang được đánh giá ở mức thấp, chỉ bằng ½ Thái Lan. Các ngân hàng Việt phải phấn đấu trong công tác điều hành.

Mức độ tham gia của các ngân hàng nước ngoài còn thấp, hiện có 46 chi nhánh ngân hàng nước ngoài có mặt tại Việt Nam, nhưng chưa có nhiều ngân hàng con 100% vốn nước ngoài hiện diện tại Việt Nam. Khi hội nhập TPP, AEC thì số lượng ngân hàng con 100% vốn nước sẽ xuất hiện nhiều tại Việt Nam, bình đẳng với ngân hàng Việt.

Theo TS. Cấn Văn lực, để hội nhập và phát triển, hệ thống ngân hàng Việt Nam, Chính phủ cần tháo gỡ vướng mắc xử lý nợ xấu, giải quyết dứt điểm nợ đọng xây dựng cơ bản, tăng vốn điều lệ các ngân hàng thương mại đúng lộ trình. Cần có sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ hiệu quả hơn…

————&&———–

Moody’s đánh giá gì về sức khỏe hệ thống ngân hàng Việt Nam?

Moody’s đánh giá gì về sức khỏe hệ thống ngân hàng Việt Nam?

(Tác giả: Lề Phương – Nguồn: http://bizlive.vn)

BizLIVE – Moody’s duy trì triển vọng ổn định đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam được xếp hạng từ tháng 11/2014 trong 12-18 tháng tới.

Moody’s kỳ vọng chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục hỗ trợ các ngân hàng quốc doanh và tư nhân trong lúc cần thiết.

Trong báo cáo mới nhất về triển vọng hệ thống ngân hàng Việt Nam, cơ quan đánh giá tín dụng Moody’s duy trì triển vọng ổn định đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam được xếp hạng từ tháng 11/2014 trong 12-18 tháng tới.

Nguyên nhân được Moody’s đưa ra là do tăng trưởng bùng nổ của nền kinh tế, cũng như chất lượng tài sản ngân hàng ổn định và tính thanh khoản tốt.

Cùng lúc đó, xếp hạng riêng rẽ của từng ngân hàng tại Việt Nam vẫn ở mức thấp, phản ảnh quy mô vốn yếu kém và trích lập dự phòng nợ xấu còn thấp.

Môi trường hoạt động “lành tính”

Cụ thể, Moody’s đánh giá môi trường hoạt động của ngành ngân hàng đã duy trì ở mức ổn định, tích cực trong hai năm qua, sau cú sụt giảm mạnh trong năm 2012 – hệ quả của nhiều năm tăng trưởng tín dụng nóng.

Tăng trưởng kinh tế nhanh chóng cải thiện triển vọng phục hồi các tài sản chất lượng kém và hỗ trợ các ngân hàng Việt Nam mở rộng kinh doanh.

Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tài khoản vãng lai thặng dư dồi dào, chính sách ưu tiên tăng trưởng cũng góp phần cải thiện điều kiện cho các ngân hàng.

Chất lượng tài sản ổn định

Thứ hai, cơ quan dự đoán chất lượng tài sản sẽ được duy trì ổn định trong trung hạn. Các khoản vay có vấn đề – bao gồm nợ không có khả năng thanh toán, nợ bán cho VAMC, các khoản nợ phải thu có vấn đề – chiếm khoảng 9% các ngân hàng đang được xếp hạng tính đến cuối tháng 6/2015.

Giá bất động sản tăng dần dần có thể tăng khả năng thu hồi nợ cho các ngân hàng vì đây được sự dụng như tài sản thế chấp.

Mặc dù tỷ lệ nợ xấu thực sự còn gây nhiều tranh cãi, nhưng sự minh bạch nhìn chung đã được cải thiện nhờ một số tiêu chuẩn xếp loại tài sản và biện pháp điều tiết, chúng đã giám sát quá trình tái cấu trúc nợ.

Tuy nhiên, tỷ lệ đòn bẩy trong doanh nghiệp vẫn còn tương đối cao, tăng trưởng tín dụng đang tăng tốc, đồng nghĩa các vấn đề về tài sản có thể phình to trong tương lai.

Dự đoán tiêu cực về vốn hóa và lợi nhuận
Đặc biệt, Moody’s duy trì dự đoán tiêu cực về khả năng vốn hóa và lợi nhuận của các ngân hàng. Các chỉ số này sẽ tiếp tục bị ghìm thấp bởi trích lập dự phòng nợ xấu. Tăng trưởng tín dụng gấp gáp cũng tạo áp lực lên vốn.

Các nhà băng không có nhiều lựa chọn trong cải thiện nguồn vốn do lợi nhuận thấp và khả năng huy động vốn từ bên ngoài bị hạn chế.

Thanh khoản ổn định

Vốn huy động và tính thanh khoản được dự đoán sẽ duy trì ở mức ổn định. Tăng trưởng tiền gửi tích cực, giảm sự phụ thuộc của ngân hàng và các nguồn huy động vốn nhạy cảm với thị trường, bao gồm vay liên ngân hàng.

Tính đến cuối năm 2014, vốn huy động từ thị trường chiếm 17% tài sản của các ngân hàng, giảm từ 26% trong năm 2012.

Chính phủ tiếp tục hỗ trợ

Ngoài ra, Moody’s kỳ vọng chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục hỗ trợ các ngân hàng quốc doanh và tư nhân trong lúc cần thiết, dưới dạng giảm nợ (forbearance) hoặc hỗ trợ thanh khoản.

Nhờ đó, xếp hạng các ngân hàng quốc doanh được tăng hai hoặc ba bậc, trong khi xếp hạng ngân hàng được tăng một hoặc hai bậc.

Xếp hạng tín dụng cơ sở (BCA) của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện đang là caa1, hai bậc dưới mức xếp hạng tiền gửi B2.

LỀ PHƯƠNG

—————–&&—————

VNCB

VNCB

(Tác giả: Lê Hồng Giang – Nguồn: kinhtetaichinh.blogspot.com)

1. Trước hết cần nói rõ tôi không có thông tin “nội bộ” nào về VNCB cũng như vụ xử lý vừa rồi của NHNN. Tất cả những gì tôi biết đều qua báo chí nên tôi chỉ phân tích dựa vào những thông tin đó trên quan điểm kinh tế và kinh nghiệm thực tế của bản thân. Thực ra nếu bạn đã đọc blog này lâu, bài này cũng không có gì mới vì tôi sẽ lặp lại quan điểm đã từng viết vềbanking reform từ năm 2012. Mới đó mà đã ba năm nhưng nhìn đi nhìn lại công cuộc cải tổ hệ thống ngân hàng của VN vẫn chưa có gì đột phá, cho đến vụ VNCB này.

2. Như tôi đã viết năm 2012 thực trạng của hệ thống ngân hàng VN có thể tóm tắt bằng một câu: nợ xấu (đã công khai + chưa được thừa nhận) quá nhiều sau một giai đoạn tăng trưởng nóng đẩy nhiều ngân hàng đến bờ vực phá sản. Đây là hệ quả của một số nguyên nhân khách quan như sự bùng phát của khu vực kinh tế tư nhân sau khi Luật Doanh nghiệp 2000 ra đời, VN gia nhập WTO và dòng vốn ngoại ào ạt chảy vào, kinh tế thế giới tăng trưởng mạnh. Những lý do chủ quan cũng quan trọng không kém: trình độ quản lý của giới ngân hàng chưa tốt, sự yếu kém của cơ quan quản lý (NHNN), hệ thống pháp luật lỏng lẻo, chính sách kinh tế sai lầm (Vinashin, Vinalines). Trong số các chính sách kinh tế dẫn đến hệ lụy nghiêm trọng cho hệ thống ngân hàng, NHNN có trách nhiệm rất lớn.

Không kể việc buông lỏng quản lý trong giai đoạn trước năm 2006, thời thống đốc Nguyễn Văn Bình còn là Chánh Thanh tra, NHNN đã phạm phải hai sai lầm quan trọng từ thời ông Lê Đức Thúy và Nguyễn Văn Giàu. Thứ nhất là điều hành chính sách tiền tệ sai lầm dẫn đến lạm phát cao, sau đó lạm dụng quá nhiều các biện pháp can thiệp hành chính để chống lạm phát. Một sai lầm nổi bật trong chính sách tiền tệ là NHNN đã không thực hiện tốt chức năng người cho vay cuối cùng, buộc những ngân hàng nhỏ/yếu khi thiếu thanh khoản phải chạy đua lãi suất huy động và/hoặc sử dụng những kênh huy động chui. Sẽ không có vụ ACB cho nhân viên đi gửi tiền vào các tổ chức tín dụng khác nếu thanh khoản trong hệ thống không bị bóp nghẹt.

Sai lầm thứ hai của NHNN là ép các ngân hàng phải tăng vốn điều lệ. Tôi đã viết một bài phân tích rất kỹ về vấn đề này từ năm 2010. Thay vì phải quản lý thật chặt CAR, NHNN chỉ quan tâm đến giá trị tối thiểu của tử số mà không màng gì đến mẫu số. Nói đúng ra NHNN sau này đã quản lý mẫu số (assets) bằng trần tăng trưởng tín dụng, nhưng với mục đích kiểm soát lạm phát chứ không phải vì lý do an toàn hệ thống. Chính vì định hướng sai lầm này và năng lực quản lý yếu kém của NHNN nợ xấu (và lạm phát) đã gia tăng liên tục, chỉ “tam nghỉ” một giai đoạn ngắn khi khủng hoảng tài chính xảy ra. Chỉ sau khi chính phủ chuyển trọng tâm từ “tăng trưởng” sang “ổn định vĩ mô”, nhất là sau vụ Vinashin/Vinalines, nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng mới bắt đầu đi vào quĩ đạo hợp lý. Có điều cái giá phải trả sẽ là vài năm tăng trưởng chậm lại hoặc thậm chí suy thoái, chỉ chưa biết VN có thực hiện triệt để structural reform để không bị rơi vào vòng xoáy tăng trưởng nóng-khủng hoảng một lần nữa không.

3. Quay lại vấn đề cải tổ hệ thống ngân hàng. Trong ba năm qua NHNN vẫn loay hoay với kế hoạch sáp nhập các ngân hàng yếu kém, NHNN và các cơ quan khác đã nhiều lần loại bỏ khả năng để một/vài ngân hàng phá sản, vd phát biểu của ông Vũ Viết Ngoại ở đây. Vụ ép sáp nhập ba ngân hàng Cổ phần Sài Gòn, Việt Nam Tín nghĩa, Cổ phần Đệ nhất thực chất rất gần với việc phá sản theo Chapter 11 của luật Mỹ nhưng NHNN vẫn không dám sử dụng thuật ngữ “phá sản”. NHNN vẫn luôn viện dẫn lý do phải bảo vệ người dân gửi tiền cũng như tránh xảy ra hoảng loạn rút tiền hàng loạt (bank-run) nếu một ngân hàng phá sản. Tôi không đồng ý với cả hai lập luận này và sẽ viết kỹ hơn bên dưới.

Bên cạnh hoạt động sáp nhập, chính sách thứ hai của NHNN nhằm tháo gỡ bế tắc cho hệ thống ngân hàng là việc thành lập VAMC. Cho đến thời điểm này tôi vẫn cho rằng VAMC ra đời vì quan điểm “nợ xấu là một cục máu đông” trong nền kinh tế do ông Trần Du Lịch cổ súy là một chính sách không cần thiết, thậm chí lạc hướng. Tôi đã viết về VAMC nhiều lần, ví dụ ở đây. Nợ xấu nếu đã được thừa nhận và trích lập dự phòng đầy đủ thì không phải là trở ngại lớn cho hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên các ngân hàng luôn có incentive che dấu nợ xấu, cho nên vai trò của cơ quan quản lý phải là giám sát chặt chẽ không để ngân hàng làm điều này, đồng nghĩa với ngầm tích tụ rủi ro. Xét cho cùng vai trò giám sát nhà nước ở đây vẫn là đảm bảo CAR tối thiểu và enforce những ngân hàng nào không đảm bảo điều kiện này phải phá sản để không ảnh hưởng đến hệ thống. Thay vào đó NHNN đưa ra “sáng kiến” VAMC hi vọng làm sạch số sách kế toán cho các ngân hàng, rồi loay hoay với việc có buộc các ngân hàng phải trích lập dự phòng đầy đủ không. Vẫn là cái tâm lý kỵ chữ “phá sản”.

4. Vậy tại sao NHNN không chịu để một vài ngân hàng yếu kém phá sản? Hai lý do chính thường được viện dẫn là khi ngân hàng phá sản những người dân gửi tiền sẽ bị mất (một phần) và điều này có thể tạo ra khủng hoảng dây chuyền khi các ngân hàng lành mạnh khác cũng bị rút tiền hàng loạt. Với lý do thứ nhất, đối với những ngân hàng nhỏ và đã có tai tiếng một thời gian, những cá nhân/doanh nghiệp gửi một khoản tiền lớn vào đó phải hiểu được rủi ro khi gửi tiền. Xét cho cùng gửi tiền tiết kiệm cũng là một hình thức đầu tư, “high return” tất phải đi cùng với “high risk”. Việc một ngân hàng đang rất khó khăn mà vẫn huy động được một lượng tiền gửi lớn còn có một phần lỗi lớn của cơ quan chức năng trong việc giám sát và công bố thông tin. Nếu NHNN kiểm soát chặt không để các ngân hàng che dấu nợ xấu (và không trích lập dự phòng) đồng thời enforce qui định CAR tối thiểu, khó có chuyện một ngân hàng đã trên bờ vực phá sản mà vẫn huy động được tiền tiết kiệm ào ào. Thêm vào đó việc ngăn cản các công ty tư nhân thực hiện việc đánh giá sức khỏe ngân hàng (vụ Vietnam Credit) cũng làm vấn đề asymmetric information tệ hơn. Nếu báo chí và các dịch vụ xếp hạng tín dụng cảnh báo một ngân hàng có rủi ro cao, liệu người dân có liều mạng gửi tiền dù lãi suất cao?

Nhưng dẫu sao quan điểm của tôi vẫn là cá nhân/doanh nghiệp gửi tiền vào một ngân hàng phải tự chịu rủi ro nếu ngân hàng phá sản. NHNN nói riêng và nhà nước nói chung không có trách nhiệm phải bảo vệ số tiền bạn gửi vào ngân hàng, mặc dù họ có trách nhiệm đảm bảo hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn nhất có thể. Thậm chí nếu nhân viên ngân hàng lừa đảo chiếm dụng tiền của bạn, nhà nước chỉ có trách nhiệm truy tố những kẻ phạm tội trước pháp luật chứ không phải đền bù thiệt hại cho nhà đầu tư. Đây là điều chính phủ VN đã làm trong vụ nước hoa Thanh Hương đầu những năm 1990, những người gửi tiền (trong đó có gia đinh tôi) phải chấp nhận bị mất. Gần đây hơn, đầu năm 2013 Cyprus đã buộc các cá nhân gửi tiền phải bị mất một phần tiền gửi (haircut) khi giải cứu hệ thống ngân hàng của họ.

Vậy còn trách nhiệm của bảo hiểm tiền gửi là gì? Tôi đã từng có một bài phân tích rất kỹ chức năng của bảo hiểm tiền gửi ở đây. Về cơ bản nhiệm vụ chính của bảo hiểm tiền gửi là bảo vệ payment system của một quốc gia trong trường hợp ngân hàng trung ương không chống đỡ nổi một cuộc bank-run lớn. Tuy nhiên FDIC, cơ quan bảo hiểm tiền gửi của Mỹ, trong suốt lịch sử của nó chỉ duy nhất một lần vào năm 1933 (khi nó được thành lập) thực hiện chức năng này. Trên thực tế vai trò của FDIC trong hệ thống tài chính hiện tại chủ yếu là giám sát và đứng ra giàn xếp quá trình phá sản/thanh lý/restructuring các ngân hàng thương mại. Đáng tiếc là Bảo hiểm tiền gửi VN chưa làm được điều này. Nhiều nước không có bảo hiểm tiền gửi vì họ tin tưởng ngân hàng trung ương của mình có thể chống lại bank-run, và tất nhiên nhà nước không có trách nhiệm phải bảo vệ tiền của người dân gửi ở ngân hàng.

Lý do thứ hai NHNN thường viện dẫn để biện minh cho quan điểm không để một ngân hàng nào phá sản là nguy cơ xảy ra bank-run hay contagion (khủng hoảng dây chuyền). Như đã đề cập bên trên, chống bank-run là nhiệm vụ của ngân hàng trung ương với chức năng người cho vay cuối cùng. Trên nguyên tắc bảo hiểm tiền gửi cũng trợ giúp ngân hàng trung ương chống lại bank-run, tuy nhiên thực tế là vai trò của bảo hiểm tiền gửi khá mờ nhạt trong thời gian gần đây. Khi cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009 xảy ra ngân hàng trung ương các nước có vai trò chống khủng hoảng quyết định với các gói trợ giúp thanh khoản khẩn cấp như TAF của Mỹ, LTRO của châu Âu hay các gói QE sau này. Một công cụ chống khủng hoảng rất mới và sáng tạo cũng được Fed và ECB đưa ra trong thời gian này là official stress test.

Mặc dù stress test không được báo chí nhắc đến nhiều, công cụ này có vai trò khá quan trọng ngăn chặn khủng hoảng lây lan. Sở dĩ vụ phá sản của Lehman Brothers châm ngòi cho cuộc khủng hoảng vì bản chất bank-run trong thế giới tài chính hiện tại đã khác xa thời những năm 1930. Khi funding của các tổ chức tài chính lớn phụ thuộc vào wholesale market và các sản phẩm tài chính trở nên quá phức tạp (bạn có thể tham khảo bài này) bank-run trở thành vấn đề nội bộ của giới ngân hàng (nói chính xác hơn là giữa banks và shadow banks). Khi đó việc trợ giúp liquidity truyền thống có thể không còn nhiều tác dụng hoặc rất khó thực hiện. Stress test giúp các tổ chức tài chính xác định được (một cách tương đối) rủi ro nằm ở chỗ nào, do vậy giúp phòng chống các nhà đầu tư rút chạy hàng loạt trên thị trường wholesale vì không đủ thông tin.

Nói lòng vòng như vậy để thấy một ngân hàng trung ương có năng lực cộng thêm trợ giúp của cơ quan bảo hiểm tiền gửi sẽ không quá lo ngại việc một ngân hàng phá sản, nhất là một ngân hàng nhỏ không quá interconnected. Trên thực tế hàng năm Mỹ có vài chục ngân hàng phá sản mà thị trường không xuy xuyển gì. Ngay trong giai đoạn khủng hoảng cao trào đầu năm 2009 hàng trăm ngân hàng thương mại Mỹ phá sản nhưng FDIC giải quyết ổn thỏa. Sự kiện Lehman Brothers có bản chất rất khác và sẽ còn rất lâu cho đến khi VN phải lo lắng một điều tương tự xảy ra. Do đó theo tôi việc NHNN cứ lần lữa để một ngân hàng thương mại phá sản chỉ có thể do NHNN không tự tin vào chính năng lực của mình và Bảo hiểm tiền gửi VN, một điều đáng tiếc.

5. Để hiểu rõ hơn vụ VNCB cũng như hoạt động của một ngân hàng thương mại nói chung sau đây tôi sẽ giới thiệu một ví dụ tối giản về balance sheet của một ngân hàng. Giả sử bạn mở một ngân hàng với $10 triệu vốn tự có, huy động thêm $90 triệu tiền gửi của khách hàng (total liabilities = $100 triệu). Giả sử NHNN không yêu cầu minimum reserve, nghĩa là bạn có thể cho vay hết $100 triệu này (total assets = $100 triệu). Trong trường hợp này CAR = 10%, giả sử yêu cầu CAR tối thiểu = 8%.

Nếu vì một lý do nào đó một khoản cho vay trị giá $1 triệu trở thành nợ xấu (không nhất thiết bị mất hoàn toàn mà chỉ cần khả năng thu hồi nợ trở nên khó hơn) bạn phải công bố số nợ xấu đó và trích lập dự phòng (ghi sổ) bằng một con số âm bên cột assets. Nghĩa là total assets chỉ còn $99 triệu, do đó bên cột liabilities cũng phải giảm $1 triệu tương ứng, giảm vào phần vốn tự có (chỉ còn $9 triệu). Như vậy CAR lúc này còn xấp xỉ 9%, vẫn cao hơn yêu cầu tối thiểu nên ngân hàng của bạn vẫn được phép hoạt động nhưng tất nhiên giá trị cổ phiếu của ngân hàng nếu được giao dịch trên thị trường sẽ giảm. Tất cả các shareholders đều phải chia sẻ số lỗ $1 triệu đó.

Bay giờ giả sử khoản nợ xấu là $5 triệu, bạn sẽ phải trích lập dự phòng và ghi lỗ vào phần vốn tự có như trên. Total assets sẽ còn $95 triệu và owners’ capital còn $5 triệu, nghĩa là CAR chỉ còn xấp xỉ 5%, thấp hơn yêu cầu tối thiểu. Đến thời điểm này nếu NHNN giám sát chặt chẽ họ sẽ yêu cầu bạn phải nâng CAR lên ít nhất bằng 8% bằng cách hoặc (i) huy động thêm $2.6 triệu vốn điều lệ, (ii) giảm bớt assets xuống $62.5 triệu. Cách (i) sẽ làm giảm cổ phần của các cổ đông hiện hữu trừ khi họ bỏ thêm tiền của họ, do vậy có thể giảm/mất quyền kiểm soát ngân hàng và phải chia sẻ lợi nhuận trong tương lai. Cách (ii) khó thực hiện trên thực tế (vì các ràng buộc pháp lý) và chắc chắn sẽ làm giá trị của ngân hàng giảm thêm vì tài sản bán vội vàng trong trường hợp như vậy sẽ mất giá.

Trong trường hợp của VNCB, nợ xấu còn tệ hơn, lớn hơn vốn tự có (lớn hơn $10 triệu trong ví dụ này). Do đó cách (ii) không còn ý nghĩa vì dù có bán hết tài sản (giả sử bằng book value) cũng không đủ để trả lại $90 triệu tiền gửi của khách hàng. Cách (i) cũng không thực tế bởi các nhà đầu tư chẳng dại gì bỏ ra một số tiền hơn $10 triệu để mua một ngân hàng có giá trị thấp hơn con số đó, mà đó là tính theo giá trị sổ sách, giá thị trường còn thấp hơn nữa. Có thể hiểu tại sao các cổ đông hiện hữu của VNCB không chịu bỏ thêm tiền vào ngân hàng để tăng vốn tự có lên đủ yêu cầu CAR tối thiểu. Lúc này cơ quan quản lý có hai phương án: (a) cho ngân hàng phá sản, (b) giàn xếp bailout.

Như đã nói bên trên, NHNN vì một lý do nào đó đã tuyên bố loại trừ (a), như vậy chỉ còn giải pháp (b). Bailout, mà tiếng Việt dịch (không đạt lắm) thành “giải cứu”, về cơ bản là can thiệp của nhà nước vào một ngân hàng/tổ chức tài chính nhằm cứu nó ra khỏi tình trạng insolvency (vốn chủ sở hữu âm). Riêng với các ngân hàng ngay cả khi chưa bị insolvent nhưng CAR rơi xuống quá thấp mà không có khả năng phục hồi (theo phương án (i) hoặc (ii) bên trên) thì ngân hàng đó vẫn phải dừng hoạt động (bị tước giấy phép hoạt động ngân hàng do không đủ điều kiện CAR tối thiểu) hoặc cũng cần được bailout. Ở đây tôi gộp chung cả 2 trường hợp bailout do bị insolvent hoặc vẫn solvent nhưng CAR quá thấp.

Thông thường bailout vẫn được hiểu là chính phủ bơm tiền (tax payers’ money) cứu doanh nghiệp, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Trong vụ LTCM Fed và Treasury không bỏ tiền mà giàn xếp để các chủ nợ của LTCM bơm thêm tiền cho công ty này. Tất nhiên để có bailout hoàn toàn bằng tiền tư nhân như vậy cơ quan quản lý nhiều khi phải đưa ra những đảm bảo hay concession, dù là non-cash nhưng nếu tính đúng tính đủ cũng là một dạng “tiền nhà nước”. Trường hợp Bear Stearns ở Mỹ hay Hypo Real Estates ở Đức, bailout thực hiện bằng cả tiền của nhà nước lẫn private money. Tuy nhiên phần lớn các cuộc bailout được thực hiện bằng tiền của nhà nước, như Northern Rock và Lloyd của Anh hay Gotabanken và Nordbanken của Thụy Điển.

Số tiền nhà nước bỏ ra bailout các ngân hàng tư nhân phần lớn dưới hình thức recapitalization, nghĩa là góp vào vốn chủ sở hữu để đảm báo CAR đạt yêu cầu tối thiểu. Tùy vào mức độ thua lỗ của ngân hàng trước đó (tùy vào tỷ lệ nợ xấu cao bao nhiêu), số vốn góp vào của nhà nước có thể chiếm phần lớn tổng số owners’ equity. Trong trường hợp tỷ lệ này áp đảo như trường hợp RBS hay Northern Rock, ngân hàng sẽ bị coi như đã được quốc hữu hóa (nationalization). Như vậy cần phải hiểu quốc hữu hóa là một hình thức bailout mà nhà nước bỏ tiền ra mua phần lớn cổ phần của một ngân hàng (hay một doanh nghiệp nói chung). Sở dĩ nhà nước phải quốc hữu hóa một ngân hàng vì số vốn chủ sở hữu của ngân hàng không còn đủ để hoạt động theo luật (hoặc đã âm) và ngân hàng đó không có khả năng huy động vốn (recapitalize) trên thị trường.

6. Quay lại trường hợp VNCB, vì vốn chủ sở hữu đã âm nên ngân hàng này buộc phải (a) phá sản hay (b) được bailout. Dường như NHNN đã chọn giải pháp (b) khi vẫn khăng khăng không để VNCB phá sản. Vấn đề là đến thời điểm này NHNN không/chưa bỏ thêm một đồng nào để recapitalize VNCB cho nên trên nguyên tắc nó vẫn không đủ điều kiện để hoạt động như một ngân hàng bình thường. Lưu ý rằng NHNN cho vay tái cấp vốn, một hình thức tương đương như discount window của Fed, chỉ có tính chất trợ giúp thanh khoản chứ không phải recapitalization. Nếu NHNN tiếp tục cho VNCB vay tái cấp vốn để trả cho các liability (tiền gửi) đến hạn thì quyền lợi của người dân gửi tiền sẽ được đảm bảo đúng như cam kết của NHNN. Tuy nhiên NHNN sẽ phải chịu lỗ vì tổng số assets của VNCB đã thấp hơn liabilities. Số lỗ này (và số tiền recapitalization nếu có) là cái giá NHNN thực sự phải trả cho vụ bailout chứ không phải NHNN không tốn đồng nào vì mua cổ phiếu giá bằng không. Đáng tiếc là người dân, mà thậm chí cả các đại biểu Quốc hội, sẽ khó có thể biết NHNN đã chấp nhận “lỗ” bao nhiêu. NHNN chưa bao giờ công bố balance sheet của mình cũng như chưa bao giờ có kiểm toán hay thanh tra ở cơ quan này.

Nhưng NHNN cũng không sai khi nói rằng họ có thể lời khi bán VNCB sau này. Vì giá trị liabilities cố định còn giá trị assets thay đổi theo thị trường, hiện tại NHNN lỗ vì total assets < liabilities nhưng nếu bất đẳng thức này đổi chiều thì NHNN sẽ có lời. Vấn đề là làm thế nào để nó đổi chiều? Liệu VCB, đại diện của NHNN quản lý VNCB, có tái cấu trúc thành công hay không và liệu tình hình thị trường lúc bán lại VNCB có tốt lên hay không. Tất nhiên không ai có thể biết trước và nhiệm vụ của NHNN cũng không phải là mua bán ngân hàng để kiếm lời. Điều quan trọng là NHNN đảm bảo được sự an toàn/ổn định cho hệ thống ngân hàng dù có thể phải chịu lỗ (chi phí bailout). Lợi ích của môt hệ thống tài chính lành mạnh lớn hơn nhiều chi phí bailout nếu bailout được làm đúng cách và công bằng.

Công bằng ở đây có nghĩa là những người đã có quyết định sai phải chịu trách nhiệm cho những quyết định đó. Cụ thể shareholders của VNCB phải bị mất hết cổ phần vì đã để ngân hàng làm ăn kém hiệu quả dẫn đến vốn chủ sở hữu bị âm. Đây là điều tôi đã cổ súy trong mấy năm nay, bất kỳ một cuộc cải tổ/bailout nào cũng phải buộc shareholder chịu lỗ đầu tiên. Vụ VNCB là lần đầu tiên NHNN làm được điều này và tôi hi vọng không phải lần cuối cùng. Tôi thực sự chúc mừng NHNN đã vượt qua được rào cản vô hình khi bailout/quốc hữu hóa VNCB. Điều mà tôi không đồng ý là có thông tin cho rằng NHNN đã đem trách nhiệm hình sự ra làm điều kiện trao đổi. Nếu một vài cá nhân ở VNCB phạm tội hình sự, trách nhiệm của NHNN là phải báo cho cơ quan điều tra hoặc viện kiểm sát để khởi tố những hành vi này. Biết mà không báo cho cơ quan chức năng có thể bị qui vào tội che dấu tội phạm. Hơn thế nữa sử dụng thông tin đó để ép các cổ đông phải bán với giá bằng không cũng tương đương như hành vi tống tiền. Cả về mặt luật pháp lẫn đạo đức đều sai kể cả nếu shareholders thực sự phạm tội.

Tóm lại tôi ủng hộ phương án giải quyết VNCB của NHNN dù tôi vẫn prefer để/buộc nó phá sản. Tôi không nghĩ rằng một ngân hàng nhỏ và đã nằm trong diện kiểm soát đặc biệt một thời gian dài như vậy sẽ gây ra phản ứng dây chuyền khi phá sản. Ngược lại để một ngân hàng phá sản sẽ là một bài học tốt cho cả giới ngân hàng lẫn người dân gửi tiền, một biện pháp chống lại moral hazard hữu hiệu. Hơn nữa để VNCB phá sản sẽ công bằng hơn vì những người không được lợi lộc gì từ ngân hàng này (không phải là shareholder hay depositor) không phải chia sẻ chi phí bailout với các depositors. Dẫu sao tôi cũng chúc cho kế hoạch tái cấu trúc và bán lại VNCB thuận buồng xuôi gió.

Update: Tôi có viết một note trên Google Plus năm 2011 về vụ ba ngân hàng SCB, Ficombank, TinNghiaBank hợp nhất, quan điểm cũng không khác mấy so với bên trên:

Từ trước tới giờ tôi vẫn phản đối chủ trương giảm số lượng ngân hàng thương mại và bắt các ngân hàng phình to ra (tăng vốn điều lệ). Tuy nhiên khi NHNN đã kiên quyết theo đuổi chính sách này thì nên làm nhanh và mạnh tay để giải tỏa uncertainty trong hệ thống. Bởi vậy tôi hoan nghênh vụ ép sáp nhập vừa rồi, kể cả nếu nhà nước có phải bỏ tiền recapitalize cho họ.

Điều tôi không tán thành là NHNN cứ chối quanh việc mình ép 3 ngân hàng kia sáp nhập. Tôi nghĩ đây là một chiến thuật sai lầm, đúng ra NHNN nên tuyên bố thẳng thừng 3 ngân hàng kia không đảm bảo mức độ an toàn liquidity và CAR nên NHNN sẽ đứng ra tái cấu trúc lại bằng cách yêu cầu họ phải sáp nhập. Nguyên tắc căn bản của quá trình tài cấu trúc là phần lớn nợ xấu phải được write off hoặc chuyển sang một SIV (giống như vụ Bear Stearns). Tất nhiên shareholders hiện tại sẽ bị mất vốn, thậm chí sẽ trắng tay và không còn cổ phần trong ngân hàng mới.

Để đảm bảo cho ngân hàng mới có đủ vốn hoạt động theo luật định, NHNN sẽ phải rót vốn (recapitalize) vào và trở thành một cổ đông mới. Nếu cơ sở pháp lý không cho phép NHNN trở thành cổ đông thì có thể thông qua một trung gian như BIDV hoặc một quĩ đầu tư nào đó. NHNN sẽ cam kết là sau khi lộ trình tái cấu trúc kết thúc toàn bộ số cổ phần của nhà nước sẽ được bán lại cho tư nhân, có thể qua IPO (như trường hợp General Motors năm 2009) hoặc private placement cho những nhà đầu tư lớn. Đây là phương pháp Thụy Điển đã làm trong những năm 1990 để tái cấu trúc (rất thành công) hệ thống ngân hàng của họ.

NHNN có thể cam kết sẽ hỗ trợ thanh khoản cho ngân hàng mới này, hoặc thông qua BIDV hay các ngân hàng khác hoặc trực tiếp từ discount window của mình. Thực ra sau khi recapitalize thì vấn đề thanh khoản của ngân hàng mới này sẽ không còn quá khó khăn nữa và họ cũng có balance sheet tốt hơn nên sẽ dễ dàng đi vay liên ngân hàng hơn. Một biện pháp khác khá cứng rắn mà NHNN có thể làm, vừa để tránh khó khăn thanh khoản cho ngân hàng mới này ngay sau khi nó được công bố vừa để cảnh cáo những người gửi tiền tham lãi suất cao (chống moral hazard), là freeze toàn bộ withdrawal từ các tài khoản hiện hữu trong vài ngày hoặc vài tuần cho đến khi quá trình thương thuyết recapitalize hoàn tất.

Tóm lại tôi muốn thấy NHNN mạnh tay hơn trong vụ này, vừa để tăng credibility vừa để đồng tiền mà mình bỏ ra (taxpayers’ money) để tái cấu trúc hệ thống ngân hàng có tác dụng mạnh nhất. Tiếc là NHNN có vẻ vừa làm vừa run, lo những việc đâu đâu như … “ném chuột vỡ bình”.

———————-&&———————–

Bloomberg: Giá rẻ sẽ giúp chứng khoán Việt Nam cao nhất 7 năm

Bloomberg: Giá rẻ sẽ giúp chứng khoán Việt Nam cao nhất 7 năm

(Nguồn: cafef.vn)

11 chuyên gia phân tích tham gia khảo sát của Bloomberg đã đưa ra mức dự báo trung bình rằng chỉ số VnIndex sẽ tăng lên mức khoảng 655 điểm vào cuối năm 2015.

Theo Bloomberg, các chuyên gia chứng khoán đang hoạt động ở Việt Nam nhận định chỉ số VnIndex sẽ đạt đỉnh cao nhất 7 năm trong năm nay. Tăng trưởng kinh tế tăng tốc giúp đẩy tăng lợi nhuận và mức giá trị rẻ nhất ở Đông Nam Á sẽ giúp thu hút nhà đầu tư.

11 chuyên gia phân tích tham gia khảo sát của Bloomberg đã đưa ra mức dự báo trung bình rằng chỉ số VnIndex sẽ tăng lên mức khoảng 655 điểm vào cuối năm 2015, tức tăng 15% so với mức điểm đóng cửa phiên hôm qua. Hệ số P/E của chứng khoán Việt Nam đang ở mức 12,5 lần, thấp hơn mức 14,3 lần của chỉ số MSCI châu Á – Thái Bình Dương.

Các chuyên gia phân tích này cũng dự báo lợi nhuận của các công ty trong chỉ số VnIndex sẽ tăng 10% trong 12 tháng tới, vượt trội so với mức giảm 2% của các công ty thuộc chỉ số MSCI châu Á – Thái Bình Dương. Năm 2015, nền kinh tế Việt Nam được dự báo sẽ tăng trưởng hơn 6% lần đầu tiên kể từ năm 2011 vì đầu tư nước ngoài thúc đẩy xuất khẩu, các ngân hàng tăng cường cho vay và lạm phát thấp khuyến khích người tiêu dùng chi tiêu.

“Mức giá và các yếu tố vĩ mô cơ bản tiếp tục hỗ trợ xu hướng tăng điểm”, Patrick Mitchell, trưởng bộ phận khách hàng doanh nghiệp của công ty chứng khoán VinaSecurities, nhận định.

Mitchell dự đoán chỉ số VnIndex có thể tăng lên mức 680 điểm trong năm nay và khuyến khích nhà đầu tư lựa chọn cổ phiếu của các công ty công nghệ và hàng tiêu dùng thiết yếu. Các cổ phiếu ưa thích của ông là Thế giới di động, FPT, Vinamilk và Masan.

Kể từ đầu năm đến nay, chỉ số VN Index đã tăng 4,3%, đóng cửa phiên hôm qua ở mức 569,12 điểm. Trong năm 2014, VnIndex tăng tổng cộng 8,1%.

Triển vọng kinh tế Việt Nam vẫn bị bao phủ bởi nợ xấu của khu vực ngân hàng – yếu tố khiến tăng trưởng kinh tế chạm đáy 13 năm vào năm 2012. Mặc dù Moody’s đã nâng triển vọng ngành ngân hàng từ ổn định lên tích cực hồi tháng 12, tổ chức xếp hạng này cũng cảnh báo lợi nhuận của các ngân hàng vẫn phải chịu nhiều áp lực.

Các nhà đầu tư ngoại cũng phải đối mặt với khối lượng giao dịch thấp và những giới hạn trong tiếp cận cổ phiếu. Quá trình nâng giới hạn cho tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các công ty niêm yết diễn ra khá chậm chạp. Hôm 5/1, Ủy ban chứng khoán cho biết sẽ trình kế hoạch mới nhất lên chính phủ trong quý III.

Năm ngoái, trung bình giá trị các cổ phiếu được giao dịch trên HOSE là 2.200 tỷ đồng mỗi ngày, chưa bằng 1/4 khối lượng giao dịch trên sàn chứng khoán Indonesia (theo số liệu của Bloomberg).

Mặc dù khối ngoại vẫn mua ròng 9 tháng liên tiếp trong năm 2014, tổng cộng 136 triệu USD được rót vào chứng khoán Việt Nam, nhỏ hơn rất nhiều so với mức 3,76 tỷ USD và 1,25 tỷ USD lần lượt được đổ vào chứng khoán Indonesia và Philippines.

Kevin Snowball, CEO của quỹ PXP Vietnam, dự báo trong thời gian tới nhà đầu tư ở Việt Nam sẽ đa dạng hơn (thay vì chủ yếu là nhà đầu tư nhỏ lẻ như hiện nay) nhằm giảm biến động và đạt được mức tăng điểm bền vững trong dài hạn.

Trong khi đó, bà Trần Thị Kim Cương (đến từ quỹ đầu tư Manulife) cho rằng tăng điểm sẽ là xu hướng của chứng khoán Việt trong năm 2015. Bà dự đoán đến tháng 12 VnIndex sẽ chạm mốc 655 điểm, đồng thời nhận định các cổ phiếu ngân hàng “có cơ hội tăng điểm tốt trong ngắn hạn sau khi NHNN tuyên bố sẽ đẩy mạnh hoạt động sáp nhập”. Các cổ phiếu được bà Cương khuyến nghị là Vinamilk và Masan.

Thu Hương

Theo InfoNet/Bloomberg

—————&&—————–

Tại sao trái phiếu quốc tế của Việt Nam “đắt hàng”?

Tại sao trái phiếu quốc tế của Việt Nam “đắt hàng”?

(Nguồn: vietstock.vn)

Phiên đấu thầu trái phiếu quốc tế đầu tháng 11/2014 cho thấy nhu cầu nắm giữ trái phiếu Việt Nam của các nhà đầu tư quốc tế đang cao kỷ lục.

* Bộ Tài chính: Nghiên cứu phát hành thêm trái phiếu quốc tế để tái cơ cấu nợ công

* Vay nợ và việc xếp hạng tín nhiệm quốc gia của S&P, Moody’s và Fitch

* Việt Nam bán hết 1 tỉ đô la Mỹ trái phiếu quốc tế

Đầu tháng 11/2014, Việt Nam đã phát hành thành công 1 tỷ USD trái phiếu quốc tế với lợi suất 4.8%/năm. Đáng lưu ý là nhu cầu nắm giữ trái phiếu Chính phủ Việt Nam của các nhà đầu tư quốc tế đạt mức kỷ lục, thể hiện qua 10.6 tỷ USD khối lượng đặt mua so với chỉ 1 tỷ USD cần huy động.

Trước đó, đợt phát hành trái phiếu quốc tế đầu tiên năm 2005 tại New York có lượng đặt mua 4.5 tỷ USD, cao gấp 6 lần trị giá chào là 750 triệu USD với lợi suất 7.125%/năm. Đợt thứ 2 vào năm 2007, Việt Nam phát hành 1 tỷ USD trái phiếu ra thị trường quốc tế với kỳ hạn mở rộng 10-30 năm. Và đợt phát hành năm 2010 cũng đạt được thành công với mức lãi suất trúng thầu 6.755%/ năm, thấp hơn con số 7% theo yêu cầu của Bộ Tài chính.

Thành công của đợt phát hành trái phiếu quốc tế năm 2014 này cho thấy trái phiếu của Việt Nam đã hấp dẫn giới đầu tư quốc tế nhờ 3 nguyên nhân chính sau:

Thứ nhất, lãi suất hấp dẫn. Lãi suất trúng thầu của đợt phát hành trái phiếu vừa qua chỉ là 4.8%/ năm, con số khá khiêm tốn so với những lần phát hành trong quá khứ, và thấp hơn nhiều so với mức 5.125% dự kiến ban đầu. Tuy nhiên, nếu so với mức lợi suất trái phiếu của các nước khác thì con số 4.8% thực sự là hấp dẫn.

Nguồn: Bloomberg.com

Với những khó khăn chung của các nền kinh tế, lợi tức ngày càng giảm khiến cho việc tìm kiếm lợi tức vẫn đang được các nhà đầu tư ráo riết thực hiện trên toàn thế giới. Trong khi đó, lần phát hành trái phiếu quốc tế gần đây nhất của Việt Nam đã diễn ra cách đây gần 5 năm. Kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều thay đổi, đặc biệt là sự ổn định trong vĩ mô, và chính điều này đã thực sự thu hút sự chú ý của giới đầu tư trên thế giới.

Mức lãi suất vượt trội hơn hẳn so với phần lớn các quốc gia khác đã giúp đợt phát hành trái phiếu quốc tế của Việt Nam thành công.

Thứ hai, mức độ tín nhiệm của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể. Một yếu tố quan trọng đánh giá đối với công cụ nợ là khả năng thanh toán của nhà phát hành. Đối với công cụ nợ như trái phiếu chính phủ, hệ số tín nhiệm quốc gia là thước đo tiêu chuẩn để đánh giá mức độ rủi ro mà nhà đầu tư quan tâm nhất.

Với việc Moody’s nâng hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam lên một bậc từ B2 lên B1 vào cuối tháng 7/2014, và Fitch nâng bậc tín nhiệm của Việt Nam từ B+ lên BB- ngày 3/11/2014 (3 ngày trước phiên đấu thầu trái phiếu quốc tế), đánh giá triển vọng đều ở mức ổn định. Điều này đã củng cố niềm tin của Việt Nam đối với những nhà đầu tư quốc tế.

Mức độ tín nhiệm quốc gia có thể coi là yếu tố quan trọng không khác gì so với lợi suất trái phiếu. Không thiếu những nước có mức lợi suất trái phiếu chính phủ cao hơn Việt Nam rất nhiều, ví dụ như Hy Lạp với mức 7.86%/ năm, nhưng nếu so sánh về mức độ hấp dẫn thì Việt Nam vẫn chiếm ưu thế hơn.

Trong tuyên bố nâng định hạng tín nhiệm cho Việt Nam, cả 2 tổ chức Moody’s và Fitch đánh giá đã đề cập tới sự ổn định kinh tế vĩ mô được cải thiện của Việt Nam, tốc độ tăng trưởng kinh tế khởi sắc, và cán cân tài chính quốc tế tốt lên. Trong tương lai, nếu hệ thống ngân hàng được ổn định, nợ xấu được kiếm soát và đảm bảo an toàn nợ công ở ngưỡng cho phép thì Việt Nam sẽ tiếp tục được nâng hệ số tín nhiệm.

Thứ ba, cơ hội tốt để nhà đầu tư quốc tế đa dạng hóa danh mục. Trong số gần 450 nhà đầu tư tham gia vào phiên đấu thầu, có đến 84% là các quỹ đầu tư, 12% là ngân hàng và 4% là công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí.

Với phần lớn nhà đầu tư tham gia là các quỹ đầu tư, mục đích chính bên cạnh tìm kiếm lợi tức hấp dẫn thì một nguyên nhân khác khiến nhà đầu tư chú ý đến phiên đấu thầu trái phiếu của Việt Nam là tìm kiếm những công cụ tài chính hấp dẫn khác để đa dạng hóa danh mục.

Lượng trái phiếu lưu hành trên thị trường quốc tế của nước ta trước phiên đấu thầu này chỉ từ 1.75 tỷ USD, một con số rất khiêm tốn và đợt đấu thầu gần đây nhất đã diễn ra gần 5 năm. Điều này đã giúp trái phiếu quốc tế Việt Nam thực sự là một công cụ hấp dẫn, đem lại nguồn lợi tức cùng khả năng đa dạng hóa danh mục đối với những quỹ đầu tư.

Đào Minh Tuấn

——————-&&——————