Tăng trưởng kinh tế và ngưỡng lạm phát tối ưu

Tăng trưởng kinh tế và ngưỡng lạm phát tối ưu

(Tác giả: Nguyễn Anh Phong – Nguồn: http://tapchitaichinh.vn)

Bài viết nghiên cứu quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại Việt Nam giai đoạn từ năm 1992 đến 2016. Bằng kỹ thuật Bootstrap, nghiên cứu tìm ra ngưỡng lạm phát tối ưu tại Việt Nam là ở mức 3,22%/năm, nghĩa là muốn có tăng trưởng kinh tế tốt, cần duy trì lạm phát ở mức vừa phải (3,22%/năm). Nếu lạm phát cao hơn mức này, khả năng suy giảm tăng trưởng sẽ xuất hiện. Để giữ cho tăng trưởng đạt mục tiêu, Chính phủ buộc phải nới lỏng các chính sách tài khóa và tiền tệ, việc làm này khiến lạm phát lại tăng lên.

Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu

Nghiên cứu của Keynes cho rằng, trong ngắn hạn, sẽ có sự đánh đổi giữa lạm phát và tăng trưởng, theo đó muốn có tăng trưởng cao thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát nhất định. Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng và lạm phát di chuyển cùng chiều.

Về dài hạn, nếu tiếp tục chấp nhận tăng lạm phát để thúc đẩy tăng trưởng thì GDP cũng không tăng thêm, ngược lại còn có xu hướng giảm đi.

Dựa trên quan điểm của Keynes, một số nghiên cứu cho rằng, lạm phát ở mức vừa phải sẽ thúc đẩy tăng trưởng (Mubarik, 2005). Ngược lại, một số nghiên cứu khác cho thấy, lạm phát lại có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế khi nó vượt qua một ngưỡng nhất định (Ocran 2007, Khan và Senhadji, 2001).

ảnh 2

Các nghiên cứu của Sarel (1996), Shan và Senhadji (2001) và một số nhà nghiên cứu khác, đã lượng hóa mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế thông qua tìm ra ngưỡng lạm phát tối ưu. Sarel tìm ra ngưỡng lạm phát là 8%, còn nghiên cứu của Shan và Senhadji tìm ra ngưỡng lạm phát cho các nước đang phát triển là 11 – 12%, các nước công nghiệp khoảng 1 – 3%.

Nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF, 2006) về mức độ lạm phát ở Việt Nam với các nước Đông Nam Á đã chỉ ra rằng, mức lạm phát tối ưu cho tăng trưởng kinh tế ở các nước vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam khoảng 3,6%.

Trương Minh Tuấn (2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế bằng nghiên cứu thực nghiệm Việt Nam với dữ liệu từ quý I/2001 đến quý IV/2011 cho thấy, tồn tại quan hệ dài hạn giữa lạm phát và tăng trưởng.

Nguyễn Đức Độ (2014) cũng đã nghiên cứu về quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát và tiết kiệm, đầu tư tại Việt Nam với dữ liệu từ 2004 đến 2013. Trong mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng của Việt Nam, đầu tư là biến số quyết định tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát CPI, mức nhập siêu cũng như quy mô thu ngân sách nhà nước.

Mô hình định lượng về mối quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát, tiết kiệm và đầu tư (GISI) tại Việt Nam được đề xuất trong bài viết này cho thấy, để đạt được sự tăng trưởng kinh tế bền vững, tốc độ tăng đầu tư cần tương đương với tốc độ tăng trưởng GDP. Hơn nữa, với mức lạm phát mục tiêu đề ra càng thấp, thì tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế sẽ càng cao.

Mô hình, dữ liệu và kết quả nghiên cứu

Dựa vào tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, để đánh giá mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, tác giả áp dụng mô hình như sau:

Trong đó: Inf là tỷ lệ thay đổi của chỉ số CPI năm t so với năm t-1, Inf=(CPIt-CPIt-1)/CPIt-1; g đo lường cú sốc cầu, là tỷ lệ thay đổi của GDP, g= (GDPt-GDPt-1)/GDPt-1; m2gdp đo lường độ sâu tài chính, đại diện cho tác động của chính sách tiền tệ đến tăng trưởng, m2gdp= M2t/GDPt; gegdp đo lường tác động chính sách tài khóa mà đại diện là chi tiêu chính phủ so với GDP, gegdp= GEt/GDPt; αo là tung độ gốc, các giá trị α là hệ số dốc và u là sai số ngẫu nhiên.

Theo Keynes và các nghiên cứu đã phân tích cho thấy, giữa tăng trưởng với lạm pháp có mối quan hệ phi tuyến (đường cong).

Do đó, tác giả sử dụng hồi quy ngưỡng theo phương pháp của Hansen để xác định ngưỡng lạm phát tối ưu cho Việt Nam, với dữ liệu được thu thập từ năm 1992 cho đến năm 2016 (sử dụng phương pháp bootstrap 1000 lần, nhằm tăng số mẫu và độ tin cậy cho bộ dữ liệu nghiên cứu). Kết quả cho thấy, tồn tại quan hệ ngưỡng giữa tăng trưởng và lạm phát, với ngưỡng lạm phát tối ưu là 3,22%/năm.

Như vậy, nếu mức lạm phát được giữ ở mức dưới ngưỡng này sẽ kích thích cho tăng trưởng kinh tế (lạm phát tăng thêm 1% thì kinh tế tăng trưởng thêm 0,45%).

Ngoài ra, trong ngưỡng này thì tăng độ sâu tài chính cũng giúp tăng trưởng (độ sâu tài chính tăng thêm 1% giúp tăng trưởng kinh tế thêm 0,37%), ngược lại tăng chi tiêu chính phủ nếu không đẩy mạnh tăng thu nhập thì tạo hiệu ứng ngược (tỷ lệ chi tiêu chính phủ so GDP tăng 1% làm tăng trưởng giảm 1,33%).

Với mức lạm phát trên 3,22%/năm sẽ tạo hiệu ứng kiềm chế tăng trưởng, tuy nhiên cũng ở mức thấp (lạm phát tăng 1%, tăng trưởng kinh tế giảm 0,005%).

Ngoài ra, nếu mức lạm phát trên 3,22%, các chỉ số về độ sâu tài chính, hay chi tiêu chính phủ so với GDP đều có quan hệ thuận chiều và kích thích tăng trưởng, đặc biệt ảnh hưởng của chi tiêu chính phủ/GDP lên tăng trưởng rất cao (tỷ lệ này tăng 1%, tăng trưởng kinh tế thêm 0,84%).

Kết quả nghiên cứu này khá tương đồng với nghiên cứu của Khan (2005) tìm ra ngưỡng lạm phát tối ưu ở các nước Trung Đông và Trung Á là khoảng 3,2%/năm, hay nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (2006) về mức độ lạm phát ở Việt Nam với các nước Đông Nam Á.

Một số hàm ý về chính sách

Năm 2017, Chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức 4%. Tuy nhiên, đây vẫn là mức cao hơn mức ngưỡng tối ưu (3,22%) đề cập trong nghiên cứu này.

Bên cạnh đó, tỷ lệ nhập siêu cũng ở mức cao so với dự trữ, mức thâm hụt ngân sách vẫn duy trì mức cao (thâm hụt chủ yếu từ kênh tiêu dùng), chính sách tiền tệ vẫn chưa thật sự linh hoạt, tăng trưởng tín dụng vẫn duy trì ở mức cao nhằm kích tăng trưởng.

Như đã phân tích, khi chỉ số lạm phát vượt ngưỡng tối ưu sẽ tạo hiệu ứng ngược lên tăng trưởng, Chính phủ muốn duy trì tăng trưởng cao buộc phải nới lỏng chính sách tài khóa hay tiền tệ, nhưng khi nới lỏng chính sách lại tạo cú hích cho lạm phát tăng trở lại.

Như vậy, trong năm 2017 và các năm tiếp theo, Chính phủ cần chú trọng các giải pháp tổng hợp, tiếp tục kiềm chế lạm phát đạt dưới 4% và tiến tới tiệm cận ngưỡng lạm phát tối ưu, có như vậy mới thật sự phát triển kinh tế đi kèm với ổn định giá cả và thu nhập cho người dân.

Tài liệu tham khảo:
 1.Friedman, Milton (1970) “A theoretical framework for Monetery Analysis”, Journal of Political Economy 78(2), 193-238;
2.Barnett, Vincent. John Maynard Keynes. London: Routledge, 2013. ISBN 978-0415567695;
3.Phan Lê Trung và Phạm Lê Thông (2014), Các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến lạm phát Việt Nam, Tạp chí Công nghệ ngân hàng, số 102 tháng 9/2014;
4.Nguyễn Đức Độ (2014), Quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát, tiết kiệm và đầu tư tại Việt Nam, Tạp chí Tài chính, số 2/2014.
———————-&&&———————

Các nhân tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng thành thị nông thôn ở Việt Nam từ 1992-2006

Các nhân tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng thành thị nông thôn ở Việt Nam từ 1992-2006

(Tác giả: Rui Takahash – Nguồn: http://vienthongke.vn)

1. Giới thiệu

Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, do vậy các chính sách hiện nay của Việt Nam đang tích cực đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa để đạt được mục tiêu này. Về lý thuyết, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thường kéo theo quá trình đô thị hóa. Thực vậy, theo lý thuyết của mô hình Harris-Torado, quá trình công nghiệp hóa kéo theo quá trình đô thị hóa và cũng là lúc xuất hiện dòng di cư từ nông thôn ra thành phố dẫn tới sự giảm dân số ở nông thôn. Trong một nghiên cứu thực tế ở Việt Nam nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc hiểu rõ khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ở Việt Nam rằng nếu khoảng cách này càng gia tăng thì sẽ càng thúc đẩy hiện tượng di cư từ nông thôn ra thành thị. Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi, dân số ở khu vực nông thôn ở Việt Nam tương đối ổn định trong thời kỳ đô thị hóa. Chúng tôi gọi đây là hiện tượng dân số nông thôn ổn định. Vậy, câu hỏi đặt ra là tại sao điều này lại diễn ra ở Việt Nam?

Bài nghiên cứu của chúng tôi sẽ tập trung đánh giá khoảng cách bất bình đẳng ở thành thị và nông thôn. Đồng thời, chúng tôi cũng sẽ xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khoảng cách bất bình đẳng này.

2. Thực trạng di cư từ nông thôn ra thành phố ở Việt Nam

3. Phương pháp đánh giá bất bình đẳng

4. Các nhân tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng ở thành thị và nông thôn

5. Kết luận

Thứ nhất, khoảng cách bất bình đẳng giữa thành thị nông thị ở Việt Nam gia tăng đến đầu những năm 2000 do quá trình công nghiệp hóa, tuy nhiên khu vực nông thôn không hấp thụ hết dân số nông thôn. Tuy nhiên, khoảng cách này là không lớn ở Việt Nam.

Thứ hai, lạm phát làm gia tăng mức chi tiêu cho đời sống của người dân là một nhân tố cản trở tình hình di cư từ nông thôn ra thành thị.

Thứ ba, sự gia tăng bất bình đẳng trong từng khu vực ở Việt Nam theo thời gian sẽ tạo nhiều cơ hội việc làm mới cho người dân ở nông thôn đặc biệt là ở các làng nghề thủ công mỹ nghệ hoặc trang trại ở khu vực nông thôn.

Trong nghiên cứu sắp tới, chúng tôi sẽ tiến hành tìm hiểu sâu hơn những nhân tố ảnh hưởng đến khoảng cách bất bình đẳng thành thị và nông thôn ở Việt Nam theo phương pháp tiếp cận của Blinder-Oaxaca.

Tài liệu tham khảo:

1. Số liệu thống kê, website Tổng cục Thống kê: http://www.gso.gov.vn, truy cập ngày 5/12/2014;

2. Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương, 2010, trang 278-280;

3. Cơ sở dữ liệu Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam qua các năm.

Biên dịch: Nghiêm Thị Vân – Vụ Thống kê Tổng hợp

Nguyễn Thị Phương – Trung tâm Tin học KV1

download bài viết đầy đủ: link



Ứng dụng của phương pháp phân rã chênh lệch Blinder-Oaxaca trong kinh tế

Mô hình Oaxaca – Blinder trong phân tích kinh tế

Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển

Phân tích sự khác biệt về đầu tư của doanh nghiệp theo hình thức sở hữu bằng phương pháp phân rã Oaxaca-Blinder

Phân rã chênh lệch tiền lương thành thị – nông thôn ở Việt Nam bằng phương pháp hồi quy phân vị

Phân tích chênh lệch thu nhập theo giới tính ở TP. Hồ Chí Minh bằng hồi quy phân vị

————————–&&&—————————

DSGE cho Việt Nam

DSGE cho Việt Nam

(Tác giả: Lê Hồng Giang)

A Macro-Model Approach to Monetary Policy Analysis and Forecasting for Vietnam

Đây có lẽ là mô hình DSGE đầu tiên cho VN do 2 chuyên gia IMF xây dựng. Mô hình rất đơn giản (so với các DSGE khác), chỉ bao gồm 1 equation cho aggregate demand (output gap estimated bằng HP filter), 2 cho Philips curves (food & fuel + core), 1 cho UIP, 1 cho monetary rule (Taylor rule + exchange rate target). Mô hình được estimated bằng Bayesian method.

Mặc dù các tác giả cho rằng mô hình có in-sample fit rất tốt và có một số phân tích thú vị, tôi thấy nó có hai khiếm khuyết quan trọng. Thứ nhất monetary policy của VN trong 5-7 năm gần đây phụ thuộc rất nhiều vào credit control (bằng mệnh lệnh) chứ không phải lãi suất. Vấn đề bad debt (từ real estate sector) và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng cũng có ảnh hưởng rất lớn đến credit growth và lạm phát. Yếu tố lạm phát còn bị ảnh hưởng bởi giá thương phẩm quốc tế. Bởi vậy chỉ mô hình hóa lạm phát ở VN bằng 2 (augmented) Phillips curves sẽ không đầy đủ.

Thứ hai nền kinh tế VN có phân chia rất rạch ròi thành 3 sectors: SOE, domestic private và FDI. Vai trò của FDI rất quan trọng trong toàn bộ sample (2000-2014) cũng như các thất bại của các industrial policies liên quan đến SOEs có ảnh hưởng rất lớn đến output và credit. Bởi vậy bỏ qua các structural equations liên quan đến aggregate supply (riêng lẻ cho các sector nói trên) không phản ánh đúng bản chất nền kinh tế VN trong 10-15 năm qua.

Hi vọng ai đó tiếp tục phát triển mô hình này sẽ có những thay đổi thích hợp. Tuy nhiên với mô hình hiện tại một kết luận rất dễ thấy là policy function của NHNN có phản ứng rất nhỏ so với optimum function (do các tác giả ước lượng) về tỷ giá danh nghĩa. Điều này có nghĩa là NHNN đã giữ tỷ giá “quá ổn định” trong thời gian qua khi nền kinh tế bị internal/external shocks so với phương án tối ưu. Tỷ giá đáng ra phải flexible hơn nhiều để thực hiện chức năng shock absorption như lý thuyết chỉ ra. Ổn định tỷ giá thái quá là một sai lầm theo quan điểm kinh tế nhưng hiện đang được dẫn chứng như một thành công của NHNN.

———–&&————

Việt Nam đang chi 30-70 USD khai thác mỗi thùng dầu

Việt Nam đang chi 30-70 USD khai thác mỗi thùng dầu

(Nguồn: vneconomy.vn)

Crude Oil and Commodity Prices
December, Thursday 18 2014 – 21:27:50

WTI Crude Oil
$54.11 ▼-2.36 -4.36%
2014.12.18 end-of-day
Brent Crude Oil
$59.27 ▼-1.91 -3.22%
2014.12.18 end-of-day

Ngày 17/12, một thông cáo được phát đi từ Ngân hàng Nhà nước cho biết phiên họp lần thứ nhất nhằm triển khai “Quy chế phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô” của cơ quan này với ba bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Công Thương đã được tổ chức.
Bản thông cáo nêu khá cụ thể về mục tiêu và nguyên tắc phối hợp giữa bốn cơ quan nói trên, song không đề cập nội dung được bàn thảo tại phiên họp đầu tiên này.

Tuy nhiên, một nguồn tin của VnEconomy cho biết, một số nội dung phối hợp điều hành vĩ mô trong quý 1/2015 đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư nêu và đề nghị ba bộ còn lại thảo luận thêm.

Dự báo mới là giả định

Tác động của giá dầu đến khai thác dầu thô và tăng trưởng kinh tế là vấn đề quan trọng được đề cập trong phiên họp.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2014 Việt Nam khai thác được trên 15 triệu tấn dầu thô. Chi phí khai thác dầu thô ở Việt Nam dao động từ mức 30 đến 70 USD/thùng.

Câu hỏi được Bộ Kế hoạch và Đầu tư đặt ra là: mức giá dầu thô nêu trên ảnh hưởng như thế nào đến sản lượng khai thác trong thời gian tới và cơ cấu lại các mỏ?

Việc cần bàn và cần làm, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, là rà soát ảnh hưởng của giá dầu hiện tại đến hiệu quả của các mỏ dầu khí đang khai thác, đề xuất các phương án giảm thiểu rủi ro, lựa chọn phương án hợp lý.

Với cơ cấu về tỷ trọng khai khoáng chiếm khoảng 11% GDP, trong đó dầu thô chiếm khoảng 70-80%, Bộ Kế hoạch và Đầu tư giả định nếu ngành khai thác dầu phải cắt giảm 30% sản lượng thì sẽ tác động rất lớn đến nền kinh tế, tăng trưởng GDP có thể suy giảm từ 0,8 điểm phần trăm đến 1,2%.

Còn theo mô hình dự báo, nếu giá xăng dầu trong nước giảm 10% thì chi phí sản xuất giảm 0,57%, CPI giảm 0,55%, kinh tế tăng thêm 0,91%.

Tuy nhiên, những dự báo trên đều là giả định, cần có sự phối hợp của các bộ ngành để xem xét thêm các yếu tố tác động xung quanh giá dầu lên tăng trưởng kinh tế, vẫn theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Ngân sách có thể giảm nhiều

Với tỷ lệ khoảng 11-12% tổng thu ngân sách nhà nước từ dầu thô, giá dầu thô theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư là có ảnh hưởng lớn đến ngân sách cả về xuất khẩu và nhập khẩu.

Năm 2015, dự toán thu ngân sách từ dầu thô là 93 nghìn tỷ đồng với giá dự toán dầu thô là 100 USD/thùng.

Nêu tính toán sơ bộ: nếu giá dầu giảm 1 USD/thùng, ngân sách sẽ hụt thu khoảng 1.000 – 1.200 tỷ đồng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tính toán, nếu giá dầu giảm từ trên 100 USD/thùng đầu năm 2014 xuống còn khoảng bình quân 70 USD/thùng trong năm 2015, thì ngân sách hụt thu khoảng 30.000 tỷ đồng.

Dĩ nhiên, nếu giá dầu giảm xuống bình quân 60 USD/thùng thì ngân sách sẽ giảm nhiều hơn nữa.

Trong vai trò chủ trì phối hợp liên ngành, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị các bộ phối hợp tính toán tác động của giá dầu thô đến nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới, và có phương án để bù đắp lại các khoản thiếu hụt nêu trên.

Quan điểm của Bộ là ngoài việc tăng thuế nhập khẩu xăng dầu, cần tính toán điều phối lợi nhuận của các doanh nghiệp chế biến và kinh doanh xăng dầu…

Bên cạnh giá dầu và tác động của nó, phiên họp còn đề cập một số nội dung quan trọng khác trong điều hành kinh tế vĩ mô, VnEconomy sẽ phản ánh ở bài viết sau.

Vũ Anh

—————————-

  • Chi phí sản xuất dầu thô: Mỹ ~ 60USD, Arap Saudi ~ 20USD

Screen_Shot_2014-12-03_at_2.11.50_PM.0.png (741×631)

  • Chi phí sản xuất dầu từ đá phiến: Mỹ ~ 70USD

FACTBOX-Breakeven oil prices for U.S. shale: analyst estimates

How far do oil prices have to fall to throttle the US shale boom?

—————&&—————-

Big Mac Index

Big Mac Index

(Tác giả: Lê Hồng Giang – Nguồn: kinhtetaichinh.blogspot.com)

1.
Đầu tháng 2/2014 cái tên Vietnam xuất hiện rất nhiều trên báo chí quốc tế nhờ vào … Flappy Bird và McDonald’s. Trái với Flappy Bird đến và đi rất nhanh, franchise McDonald’s đầu tiên của VN đã phải mất gần mười năm mới mở cửa được và chắc sẽ ở lại mảnh đất này lâu dài. Nếu Thomas Friedman đúng, sự hiện diện của McDonald’s biết đâu sẽ giúp VN tránh được đụng độ quân sự với anh láng giềng phương Bắc trong những năm tới(*). Trước mắt sự hiện diện của McDonald’s đã giúp cho VN lọt vào danh sách thành viên của Big Mac Index (BMI) của tạp chí The Economist. Mặc dù ý nghĩa kinh tế và học thuật của BMI không đáng kể (ý tưởng BMI có nguồn gốc từ một lời nói đùa), việc VN được một tạp chí kinh tế tài chính hàng đầu thế giới quan tâm là một tín hiệu đáng mừng (**).

(*) Trong quyển The Lexus and the Olive Tree năm 1999, Thomas Friedman đã đưa ra một giả thuyết gọi là “Golden Arches Theory of Conflict Prevention”, theo đó 2 quốc gia cùng có sự hiện diện của McDonald’s sẽ không gây chiến với nhau. Mặc dù đã có một vài ngoại lệ, thuyết này cho đến nay về cơ bản khá chính xác.

(**): Hiện tại McDonald’s đã có mặt ở 122 quốc gia, tuy nhiên BMI chỉ bao gồm 44 quốc gia và vùng lãnh thổ (thực tế là 55 quốc gia nhưng 12 nước trong EMU đã được gộp chung lại trong một chuỗi index sau khi đồng Euro ra đời).

2.
Khi nói về BMI người ta thường đề cập đến khái niệm Purchasing Power Parity (PPP), ở đây tôi sẽ giải thích kỹ hơn về khái niệm này để tránh nhầm lẫn (bạn nào không quan tâm đến học thuật có thể bỏ qua đoạn này). Trước hết cần phân biệt “lý thuyết” PPP do Gustav Cassel đưa ra năm 1918 với “tỷ giá” PPP do University of Pennsylvania đưa ra từ những năm 1960 và hiện được World Bank quản lý. Hai khái niệm này có cùng gốc gác nhưng hiện được sử dụng độc lập với nhau và rất dễ hiểu nhầm.

Gustav Cassel, nhà kinh tế người Thụy điển cùng thời với Keynes và Hayek, đưa ra ý tưởng xác định tỷ giá giữa 2 đồng tiền dựa vào một qui luật kinh tế khá lâu đời là “law of one price” (LOP), theo đó một loại hàng hóa nhất định sẽ chỉ có thể có một giá dù được mua bán ở các địa điểm khác nhau (nếu không arbitrage sẽ nhanh chóng xảy ra và giá sẽ được quân bình). Cassel cho rằng nếu chi phí vận tải không đáng kể và giữa 2 quốc gia không có hàng rào thuế quan thì LOP sẽ dẫn đến việc tỷ giá giữa hai đồng tiền của hai quốc gia đó phải ở mức đảm bảo giá của một mặt hàng giống nhau ở 2 bên biên giới phải như nhau dù niêm yết bằng đồng tiền nào cũng vậy.

Nói nôm na nếu một chiếc xe hơi ở Mỹ có giá 50000 USD còn ở VN giá 1 tỷ VND thì tỷ giá VNDUSD tuân theo lý thuyết PPP sẽ phải là 20000 VND/USD (giả sử chi phí chuyên chở và thuế quan không đáng kể). Điều này đảm bảo rằng sức mua của 50000 USD ở Mỹ hay ở VN đều như nhau, hay ngược lại sức mua của 1 tỷ VND ở đâu cũng vậy miễn là hai đồng tiền này được tự do chuyển đổi. Đó là lý do của tên gọi Purchasing Power Parity. Khi tỷ giá thực tế không đảm bảo LOP hoặc PPP, một đồng tiền sẽ bị cho là undervalued hoặc overvalued so với đồng tiền kia. Ví dụ nếu giá xe hơi ở Mỹ và VN vẫn giữ như trên nhưng tỷ giá thị trường là 21000 VND/USD thì VND bị cho là undervalued hay USD bị overvalued. Nói cách khác giá của chiếc xe đó ở VN nếu qui đổi sang USD sẽ là 47679 USD, rẻ hơn so với giá ở Mỹ nên LOP không còn đúng nữa và tỷ giá đã không tuân theo PPP.

Giới kinh tế học gọi lý thuyết PPP như trình bày bên trên là absolute PPP, nghĩa là PPP áp dụng cho mặt bằng giá (level) của các loại hàng hóa(#). Mặc dù lý thuyết này rất dễ hiểu và có vẻ chặt chẽ, không cần là chuyên gia kinh tế bạn cũng có thể chỉ ra hàng loạt lý do absolute PPP không thể đúng trên thực tế. Ai cũng có thể thấy giá (tính ra USD) của rất nhiều mặt hàng ở VN khác xa so với giá ở nước ngoài, từ xe hơi, đồ điện tử, cho đến thuốc uống, sữa trẻ em. Trong hàng chục năm qua các nhà kinh tế đã sử dụng rất nhiều kỹ thuật kiểm định từ đơn giản đến hiện đại để tìm cách chứng mình LOP và PPP nhưng đa số đã thất bại (xem thêm entry này). Bởi vậy một phiên bản PPP ít chặt chẽ hơn được đưa ra, gọi là relative PPP. Theo lý thuyết này bất kể LOP hiện tại có đúng hay không tốc độ thay đổi tỷ giá của hai đồng tiền giữa hai thời điểm phải phản ánh tốc độ lạm phát của hai quốc gia.

Quay lại ví dụ giá xe hơi bên trên. Giả sử giá xe năm 2013 là 50000 USD ở Mỹ và 1 tỷ VND ở VN, tỷ giá hiện tại là 21000 VND/USD. Nếu trong năm 2014 lạm phát ở VN là 10%, nghĩa là giá xe sẽ tăng lên 1.1 tỷ VND, trong khi lạm phát ở Mỹ chỉ là 2%, giá xe tăng lên 51000 USD, thì tỷ giá sẽ tăng lên 8% (= chênh lệch lạm pháp) nghĩa là 22680 VND/USD. Trong trường hợp này relative PPP đúng và sức mua giữa hai năm 2013 và 2014 không thay đổi. Hay nói theo ngôn ngữ kinh tế học là tỷ giá thực (real exchange rate) không thay đổi. Đa số các nhà kinh tế cho rằng absolute PPP không đúng trên thực tế, may ra relative PPP có thể đúng dù có cũng có nhiều lý do ảnh hưởng đến đọ chính xác của nó (vd chi phí vận tải, hàng rào thuế quan, có nhiều loại hàng hóa, dịch vụ không vận chuyển được, bản chất nền kinh tế khác nhau).

Tóm lại lý thuyết absolute PPP liên quan đến mặt bằng giá ở một thời điểm, relative PPP liên quan đến tốc độ trượt giá tương đối ở hai thời điểm. Với absolute PPP bạn có thể nói tại một thời điểm tỷ giá của một đồng tiền bị under/overvalued, với relative PPP có thể nói tốc độ devaluation/appreciation của một đồng tiền giữa hai thời điểm có phản ánh đủ chênh lệch lạm phát hay không. Giới báo chí (như trường hợp BMI của The Economist) và đa số người dân thường chỉ hiểu PPP theo nghĩa absolute. Giới finance dù hầu như chỉ quan tâm đến relative PPP cũng hay giả định tỷ giá xuất phát điểm phản ánh đúng absolute PPP nên sau một giai đoạn nếu relative PPP đúng thì absolute PPP cũng đúng. Giới kinh tế học hầu như chỉ quan tâm đến relative PPP, trừ một số nhỏ mà tôi sẽ trình bày dưới đây.

(#) Chữ “absolute” trong toán học chỉ giá trị tuyệt đối, nghĩa là giá trị không tính đến dấu. Tôi không hiểu tại sao trong finance và thỉnh thoảng trong kinh tế học (như trong trường hợp ý thuyết PPP này) chữ “absolute” lại được dùng thay cho “level” để phân biệt với “growth rate”.

3.
Cuối thập kỷ 1960 một số nhà kinh tế ở University of Pennsylvania, cái nôi của hệ thống tài khoản quốc gia SNA sau này, nảy ra ý tưởng so sánh GDP (thời đó phổ biến là GNP) của các nước với nhau. Vì GDP của mỗi nước được thống kê bằng đồng nội tệ của mình, muốn so sánh phải chuyển đổi về một đồng tiền chung. Vấn đề là nếu tỷ giá thị trường tuân thủ theo absolute PPP thì việc chuyển đổi mới có ý nghĩa, bằng không một chiếc xe hơi ở nước này khi định giá bằng đồng tiền khác sẽ có thể nhiều hơn hoặc ít hơn một chiếc xe hơi tương đương ở nước được so sánh. Trong ví dụ xe hơi đầu tiên khi VN chuyển đổi một chiếc xe hơi sản xuất trong nước giá 1 tỷ VND sang USD với tỷ giá 21000 VND/USD, chiếc xe đó sẽ chỉ bằng 0.95 một chiếc xe sản xuất ở Mỹ. Như vậy khi tỷ giá thị trường không phản ánh được sức mua tương đương cần phải xác định một loại tỷ giá cho mục đích chuyển đổi GDP để không bị tình trạng so sánh cam với táo. Tỷ giá hiệu chỉnh này được gọi là tỷ giá PPP còn nghiên cứu ban đầu của UPenn đó được UN tiếp quản và phát triển gọi là International Comparison Program (ICP). ICP sau này được chia cho OECD và WB quản lý mà nhiệm vụ chính là tính tỷ giá PPP cho từng quốc gia để đảm bảo việc so sánh GDP giữa các nước có ý nghĩa.

Nếu nền kinh tế chỉ có một loại hàng hoá duy nhất thì việc tính tỷ giá PPP quá đơn giản. Trong ví dụ xe hơi bên trên tỷ giá thị trường là 21,000 còn tỷ giá PPP là 20,000.  Tạp chí The Economist đã tính “tỷ giá PPP” dựa vào một loại hàng hoá duy nhất là chiếc bánh Big Mac của McDonald’s cho các nước thành viên của BMI. Với VN tỷ giá PPP theo BMI là 12,975 VND/USD đảm bảo sức mua bánh Big Mac ở VN và Mỹ như nhau. Như vậy với tỷ giá thị trường hiện tại xấp xỉ 21,000 VND đang bị undervalued tính theo sức mua Big Mac. Tất nhiên không nền kinh tế nào đơn giản như vậy mà thường phải có hàng triệu mặt hàng khác nhau, tỷ giá PPP phải đảm bảo tính chất ngang bằng sức mua cho một rổ các loại hàng hoá đó. Phức tạp hơn một chiếc xe hơi sản xuất ở VN dù có thể cùng hiệu Toyota nhưng chắc chắn sẽ khác một chiếc Toyota ở Mỹ về nhiều mặt nên dù chỉ cần tính tỷ giá PPP cho xe hơi cũng phải cân nhắc và hiệu chỉnh nhiều thứ. Chưa kể có những loại hàng hoá dịch vụ ở Mỹ có mà VN không có hoặc ngược lại, hoặc những loại hàng hoá không vận chuyển được như bất động sản. Bởi vậy việc tính toán tỷ giá PPP vô cùng phức tạp và tốn kém, bản thân UN, OECD và WB cũng chỉ tổ chức khảo sát và ước tính tỷ giá PPP cho các nước vài năm một lần. Tỷ giá PPP cho dù được tính toán cẩn thận đến đâu cũng không thể chính xác và hầu như chỉ để so sánh GDP giữa các nước.

Năm 2012 GDP đầu người của VN do World Bank công bố nếu tính theo tỷ giá thị trường VNDUSD là 1750 USD, còn tính theo tỷ giá PPP của chương trình ICP là “3787 international dollar” hay “3787 dollar at PPP”. Như vậy tỷ giá PPP chỉ bằng 46% tỷ giá thị trường năm 2012, nghĩa là khoảng 9730 VND/dollar at PPP. Cùng năm đó GDP đầu người của Mỹ là 51,749 và Cambodia là 2454 international dollar, như vậy một người VN có sức mua bằng 7.3% một người Mỹ đồng thời bằng 154.3% một người Cambodia (nếu so sánh theo tỷ giá thị trường thì 2 con số này lần lượt là 3.4% và 185.9%). Như đã nói bên trên tỷ giá PPP chỉ dùng để so sánh GDP/sức mua giữa các nước chứ nếu nói VND undervalued vì số 9730 nhỏ hơn số 21,000 sẽ không chính xác. Tuy nhiên vì international dollar luôn được qui định bằng với USD, nghĩa là GDP của Mỹ tính theo tỷ giá PPP luốn bằng với GDP tính theo “tỷ giá thị trường” nên con số 9787 nói trên có thể hiểu theo nghĩa là tỷ giá VNDUSD tính theo sức mua GDP (do chương trình ICP tính toán, tương tự như BMI tính theo sức mua Big Mac do The Economist tính toán).

Bên cạnh hai loại tỷ giá này WB còn tính theo một loại tỷ giá thứ ba áp dụng lý thuyết relative PPP gọi là “dollar by Atlas method”. Thực tế đây là một cách làm tắt, dễ hơn và rẻ hơn so với absolute PPP của chương trình ICP. Phương pháp này tính tỷ giá Atlas để chuyển đổi GNI từ một đồng nội tệ sang dollar bằng cách lấy trung bình tỷ giá thị trường của 3 năm, trong đó 2 năm đầu được hiệu chỉnh chênh lệch lạm phát như theo relative PPP. Hiện tại WB thống kê và công bố GNI theo Atlat method chứ không công bố GDP. Năm 2012 GNI đầu người của VN sử dụng tỷ giá Atlas là 1550 trong khi tính theo tỷ giá PPP là 3650. Lưu ý tất cả các con số trên đây đều là nominal, nghĩa là không loại trừ ảnh hưởng của lạm phát. GDP/GNI tính theo tỷ giá thị trường, Atlas, hay PPP đều có thể tính theo giá cố định của một năm gốc nào đó (real), tôi sẽ không đi sâu thêm về vấn đề này ở đây.

4.
Quay lại BMI và giá một chiếc Big Mac ở SG khi qui đổi sang USD. Tôi đoán không ít người đã bất ngờ khi The Economist cho biết VND đang undervalued dựa vào cách tính BMI của họ. Từ trước tới nay có không ít người cho rằng VND đã bị overvalued quá nhiều dẫn đến hàng hoá VN bị mất dần sức cạnh tranh, cả ở trong nước lẫn khi xuất khẩu. Bản thân tôi đã không dưới một lần khuyến nghị cần phải phá giá VND, nhiều chuyên gia khác cũng có quan điểm như vậy (cũng có những người có ý kiến ngược lại). Vậy có phải phe ủng hộ phá giá đã sai? Tất nhiên lập luận rằng VND đang bị undervalued dựa vào absolute PPP và chỉ một mặt hàng duy nhất mới hiện diên ở VN được vài ngày thì chưa chắc đã chính xác. Nhưng vấn đề không chỉ có vậy.

Ở VN mỗi khi một vị quan chức nào đó nói giá điện hay giá xăng ở VN tính ra USD vẫn còn rẻ hơn ở nhiều nước trong khu vực người dân ngay lập tức lập luận rằng nhưng thu nhập của họ gấp mấy lần của ta. Các nhà kinh tế cũng lập luận y như vậy, mà cụ thể là những người xây dựng BMI của The Economist. Trên trang web chuyên đề BMI của tạp chí này có đồ thị sau:

Trục hoành của đồ thị là GDP đầu người (nominal) năm 2011 qui đổi ra USD theo tỷ giá thị trường (số liệu do IMF công bố, có hơi khác so với số liệu của WB), còn trục tung là giá một chiếc Big Mac qui đổi ra USD theo cùng tỷ giá. Mỗi điểm tròn trên đồ thị là một nước thành viên của BMI, điểm mầu xanh ở bên cực trái là VN (tôi vẽ thêm vì The Economist chưa cập nhật). Đường mầu đỏ là ước lượng tuyến tính (OLS) giữa 2 đại lượng này, nghĩa là với một mức GDP đầu người nhất định chúng ta có thể dự đoán được giá một cái Big Mac là bao nhiêu. Trong một bài báo năm 2011 tạp chí The Economist lập luận rằng đánh giá mức độ over/undervalued của một đồng tiền dựa vào BMI ít nhất phải hiệu chỉnh cho mức độ chênh lệch GDP đầu người. Cụ thể là không nên so sánh giá một cái Big Mac ở VN là 2.84 USD với một cái ở Mỹ giá 4.62 USD để kết luận VND đang bị undervalued. Chính xác hơn phải so sánh giá 2.84 với mức giá trên đường mầu đỏ có vị trí trục hoành bằng với GDP đầu người của VN (gọi là fitted value hoặc fair value). Ước lượng của tôi sử dụng số liệu GDP đầu người năm 2012 do IMF công bố fitted value cho Big Mac ở VN là 2.84 USD, nghĩa là tỷ giá thị trường VNDUSD gần như chính xác với tỷ giá absolute PPP tính theo BMI. Không rõ Nguyễn Bảo Hoàng có dùng công thức này để tính giá cho Big Mac ở SG hay không.

Như vậy sau khi hiệu chỉnh BMI cho GDP theo đầu người, VND gần như đang ở mức fair value (VN nằm trên đường mầu đỏ). Vậy có cần/nên phá giá VND nữa hay không? Như đã nói bên trên không ai dựa vào BMI để ra quyết định về chính sách tiền tệ/tỷ giá. Nhưng ngay cả nếu chỉ nhìn vào đồ thị này tôi vẫn muốn thấy VN nằm bên dưới chứ không phải bên trên đường mầu đỏ. Điểm có khoảng cách xa đường mầu đỏ nhất ở phía trên là Brazil, còn phía dưới là Hong Kong/Japan. Không biết bạn thế nào chứ tôi prefer Hong Kong/Japan hơn là Brazil (về sức cạnh tranh). Bởi vậy quan điểm của tôi vẫn là nên phá giá VND để tính theo BMI đồng nội tệ của VN undervalued từ 30 đến 40% giống như 2 nước châu Á nói trên.

————–&&————-

GDP chạy đi đâu?

GDP chạy đi đâu?

(Tác giả: Bùi Trinh – Nguồn: thesaigontimes.vn)

(TBKTSG Online) – Sự phát triển về số lượng trong nước như tăng lao động, tăng khai thác tài nguyên sắp bão hòa. Vì vậy, những chính sách khuyến khích tăng cung cần tập trung vào công nghệ và hiệu quả chứ không thể tập trung vào mở rộng sản xuất các ngành sử dụng nguyên liệu và lao động thô như trước.

Những người bán hàng rong như thế này chẳng được lợi gì từ việc tăng trưởng GDP. Ảnh Uyên Viễn

Tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trong giai đoạn 2000 – 2006 của Việt Nam vào khoảng 7,5% và lạm phát khoảng 5%. Đến giai đoạn 2007 – 2012 nền kinh tế chuyển sang chính sách quản lý cầu cuối cùng – hầu hết các chính sách đều can thiệp vào phía cầu cuối cùng (bao gồm tiêu dùng cuối cùng, đầu tư và xuất khẩu) như kích cầu tiêu dùng, đầu tư và hỗ trợ xuất khẩu. Ở giai đoạn này tốc độ tăng trưởng bình quân của cả nước giảm sút còn 5,9% và lạm phát trung bình tăng lên xấp xỉ 13%.

Quan hệ Keynes – Leontief cho rằng khi các nhân tố ở phía cầu tăng lên sẽ kích thích (lan tỏa) đến sản xuất, từ đó lan tỏa tiếp đến thu nhập. Trong các yếu tố của cầu bao gồm nhu cầu cho sản xuất (intermediate demand) và nhu cầu cuối cùng (final demand), những nhu cầu này gồm sản phẩm sản xuất trong nước và sản phẩm nhập khẩu.

Số liệu từ Tổng cục Thống kê từ nhiều năm cho thấy khoảng 60% kim ngạch nhập khẩu là cho sản xuất, 30% cho tích lũy và chỉ khoảng trên dưới 10% nhập khẩu cho tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình. Do đó, để nghiên cứu cấu trúc thực sự của sự lan tỏa từ cầu cuối cùng đến giá trị gia tăng và nhập khẩu cần xem xét nhu cầu cuối cùng nội địa (domestic final demand).

Tổ chức OECD cũng từng đề cập đến vấn đề này và đưa ra phương pháp để lượng hóa hàm lượng giá trị gia tăng được lan tỏa bởi xuất khẩu vào năm 2012. Trong một nghiên cứu của Robert Koopman và các đồng nghiệp về Trung Quốc, nước có lượng xuất khẩu khổng lồ, nhóm tác giả cũng đã lượng hóa hàm lượng giá trị gia tăng của xuất khẩu sản phẩm thô và giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu đã qua chế biến .

Kết quả tính toán từ hai bảng I/O 2000 và 2010 cho thấy mức độ lan tỏa từ nhu cầu cuối cùng nội địa đến sản xuất có sự thay đổi tương đối lớn và rõ rệt. Xét về tổng ảnh hưởng các yếu tố của cầu tiêu dùng (household consumption –C) và đầu tư thì sự lan tỏa đến sản xuất giảm mạnh, tương ứng là 14,1% và 17,1%, nhưng mức độ lan tỏa của xuất khẩu đến sản xuất lại tăng khá mạnh (11,7%).

Tuy nhiên, một điều cần cảnh báo là dù mức độ lan tỏa của xuất khẩu đến sản xuất tăng nhưng mức độ lan tỏa của xuất khẩu đến giá trị gia tăng giảm rất mạnh (13,3%). Điều này nói lên hàm lượng giá trị gia tăng trong xuất khẩu ngày càng giảm và hầu như sản phẩm xuất khẩu chỉ là sản phẩm thô, hoặc là tài nguyên và sản xuất gia công. Như vậy có thể nói rằng xuất khẩu trong giai đoạn này chỉ là xuất khẩu hộ nước khác
Về ảnh hưởng của đầu tư, tuy sự lan tỏa đến sản xuất giảm mạnh (17,1%) nhưng mức độ lan tỏa đến giá trị gia tăng lại giảm ít hơn, chỉ khoảng 5,6%. Điều này cho thấy lượng tiền bỏ ra đầu tư có 17,1% không đến được với sản xuất, nếu không thì hiệu quả đầu tư của giai đoạn 2006-2011 cao hơn giai đoạn 2000-2005.

Một điều cần lưu ý rằng trong giai đoạn 2006-2011 cầu tiêu dùng lan tỏa đến sản xuất và giá trị gia tăng giảm sút rất mạnh tương ứng là 14,1% và 20,4%. Tuy nhiên mức độ lan tỏa của cầu đầu tư và tiêu dùng không làm tăng mức độ lan tỏa đến nhập khẩu hơn giai đoạn trước, phải chăng khi can thiệp vào phía cầu đầu tư và tiêu dùng (aggregate demand) không làm tăng sản xuất và thu nhập mà lại làm tăng giá?

Qua những tính toán nêu trên có thể thấy cơ cấu nền kinh tế đã thay đổi, và nhiều khả năng là thay đổi theo hướng chuyển từ trường phái Keynes (đường cung nằm ngang- tăng cầu làm tăng cung mà không tăng giá) sang gần hơn với trường phái cổ điển (đường cung thẳng đứng – tăng cầu chỉ làm tăng giá). Nó cũng phù hợp với xu hướng lạm phát trong những năm qua.

Một khả năng để lý giải điều này là sự phát triển về số lượng trong nước (tăng lao động, tăng khai thác tài nguyên) sắp bão hòa. Do đó, những chính sách khuyến khích tăng cung cần tập trung vào công nghệ và hiệu quả chứ không thể tập trung vào mở rộng sản xuất các ngành sử dụng nguyên liệu và lao động thô như trước. Một số chuyên gia kinh tế cho rằng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) không tăng nhiều là do điều hành chính sách tiền tệ và chi phí đẩy không tăng, nhưng tôi vẫn cho rằng tổng cầu giảm là nguyên nhân cơ bản kéo lạm phát xuống đồng thời làm giảm nhu cầu tín dụng.

Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, tỷ trọng tổng cầu trên GDP giảm trên 10 điểm phần trăm, việc suy giảm tổng cầu cơ bản là giảm về đầu tư, trong khi cầu tiêu dùng dường như không thay đổi. Nếu nhìn GDP từ góc độ thu nhập, gồm thu nhập từ lao động, thu nhập từ vốn và thuế sản xuất, thì khoản nào trong ba khoản này tăng trưởng? Nếu tăng trưởng năm 2013 như vậy thì GDP chạy đi đâu? Nhìn vào chỉ tiêu xuất nhập khẩu theo sở hữu và một số học giả ở Fulbright thì phải chăng nó chạy vào khu vực FDI và chạy vào một số doanh nghiệp độc quyền? Trong cả hai trường hợp này thì việc tăng trưởng GDP dường như không còn ý nghĩa với người dân.

Như vậy, dù không hô hào gì, không có dự án rầm rộ gì nhưng cơ cấu về sở hữu đang dịch chuyển từ khu vực kinh tế trong nước sang khu vực FDI và tiền quy tụ vào một nhóm thiểu số trong cộng đồng dân cư? Ngoài ra việc gia tăng ở phía cầu có thể làm tăng GDP trong ngắn hạn nhưng kéo theo những bất ổn vĩ mô như lạm phát, thâm hụt thương mại và căng thẳng tỷ giá.

————–&&———–

Kinh tế Việt Nam vì đâu nên nỗi?

Kinh tế Việt Nam vì đâu nên nỗi?

(Tác giả: Huỳnh Thế Du – Nguồn: vneconomy.vn)

[Trích]

Kinh tế Việt Nam vì đâu nên nỗi?

 

Sau 5 năm kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và gần 7 năm kể từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), kinh tế Việt Nam đang ở trong tình trạng khá bi đát. Có ý kiến đánh giá Việt Nam đã không may vì phải chịu tác động của khủng hoảng toàn cầu…

Tuy nhiên, người viết cho rằng những rắc rối hiện nay của Việt Nam chủ yếu là do những vấn đề nội tại chứ không phải tác động từ bên ngoài. Một trong những vấn đề chính là khu vực trong nước đã từ bỏ việc tận dụng lợi thế, tập trung cho sản xuất kinh doanh sang đầu cơ tài sản trong bối cảnh “căn bệnh Hà Lan” đã làm tổn hại nghiêm trọng sức cạnh tranh của khu vực sản xuất.

—————&&—————