Các chiều bất bình đẳng ở Việt Nam

Các chiều bất bình đẳng ở Việt Nam

(Tác giả: Oxfam – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com/)

BỐI CẢNH
Việt Nam có tốc độ tăng trưởng nhanh trong 30 năm qua, với thu nhập bình quân tăng và số người nghèo giảm đều và đáng kể. Trên thực tế, gần 30 triệu người đã vượt chuẩn nghèo chính thức từ thập niên 1990[1] khi thu nhập GDP tính theo đầu người tăng từ 100 USD vào năm 1990 lên 2.300 USD vào năm 2015. Tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam bình quân đạt 5-6% trong ba thập kỷ qua, với tỷ lệ tăng trưởng bình quân khoảng 6,4% trong thập niên 2000. Mặc dù tăng trưởng nhanh như vậy nhưng so với một số nước, bất bình đẳng ở Việt Nam đã không tăng nhiều. Điều này một phần do những chính sách tích cực của Việt Nam về giảm bất bình đẳng. Mặc dù vậy, hiện nay Việt Nam vẫn phải đương đầu với một thách thức lớn: với sự tăng trưởng chậm lại và tình trạng bất bình đẳng về kinh tế cũng như bất bình đẳng về tiếng nói và cơ hội gia tăng, làm thế nào để Việt Nam có thể tăng trưởng toàn diện và bền vững để tất cả người nghèo cùng hưởng lợi?
Cuộc cải cách Đổi mới, khởi đầu năm 1986, đã dẫn tới những thay đổi chính sách đáng kể. Doanh nghiệp tư nhân phát triển, gồm đầu tư của các công ty nước ngoài. Với việc trở thành thành viên ASEAN và WTO, Việt Nam đã hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu. Vào năm 2009, Việt Nam đạt vị thế nước có thu nhập trung bình thấp, và gần đây đạt hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam tăng từ 0,476 vào năm 1990 lên nhóm trung bình với mức 0,666 vào năm 2014[2]. Tiến bộ ghi nhận đáng kể ở các chiều phúc lợi khác, gồm tỷ lệ nhập học tiểu học cao, đạt 98,96% trong năm học 2013-2014[3], và các cải thiện tình trạng sức khỏe, giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong[4].
 BẤT BÌNH ĐẲNG KINH TẾ
Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và các chính sách theo đuổi trong ba thập kỷ qua đã giúp giảm tỷ lệ nghèo trên cả nước. Nhưng khoảng cách giàu nghèo đang ngày càng tăng, đòi hỏi những chính sách mới để đảm bảo không tăng bất bình đẳng lẫn nghèo.
Trong khi Việt Nam tiếp tục duy trì chuyển đổi cơ cấu và giảm nghèo, mức tăng trưởng có xu hướng có lợi cho người giàu, với thu nhập từ nông nghiệp và sản xuất công nghiệp chỉ tăng đối với nhóm từ 10% tới 20% giàu nhất[5]. Điều này có nghĩa bất bình đẳng về kinh tế đã tăng lên trong hai thập kỷ qua.
Dù hàng chục triệu hộ gia đình Việt Nam đã vượt chuẩn nghèo chính thức, nhiều hộ có thu nhập chỉ nhỉnh hơn chuẩn nghèo và vẫn có thể coi là nghèo theo định nghĩa đa chiều. Ở một cực khác của đường phân bố tài sản, khoảng một phần triệu dân số Việt Nam được coi là “siêu giàu”, được định nghĩa là có tài sản[6] trị giá trên 30 triệu USD. Năm 2014, 210 người siêu giàu (có trên 30 triệu USD) ở Việt Nam có tổng tài sản khoảng 20 tỷ USD[7], tương đương 12% GDP cả nước. Knight Frank, một trong những công ty tư vấn tài sản toàn cầu lớn nhất thế giới, ước tính số người siêu giàu sẽ tăng đáng kể ở Việt Nam, sẽ lên đến con số 403 người vào năm 2025[8]. Tính toán của Oxfam cho thấy tại Việt Nam người giàu nhất có thu nhập trong một ngày cao hơn thu nhập của người nghèo nhất trong 10 năm[9]. Tài sản của người này, trị giá 2,3 tỷ USD, có thể giúp tất cả người nghèo ở Việt Nam (khoảng 13 triệu người theo tính toán năm 2014) thoát nghèo[10].
Theo NHTG, chỉ số Gini tăng từ 35,7% lên 38,7% trong 20 năm qua từ 1992 đến 2012, cho thấy bất bình đẳng thu nhập đã tăng trong giai đoạn này[11]. Số liệu từ các nguồn này có thể không phản ánh hết thực trạng bất bình đẳng ở Việt Nam vì các lý do khác nhau. Chẳng hạn, thu nhập hay chi tiêu của nhóm giàu không được khai báo và thu thập đầy đủ trong các kỳ điều tra mức sống hộ gia đình; do đó, số liệu đo bất bình đẳng có thể bị giảm[12]. Các thước đo, khung thời gian và mật độ đo khác nhau có thể đưa ra những bức tranh khác nhau về bất bình đẳng ở Việt Nam.
Khi xem kỹ hơn tình trạng phân bố thu nhập và diễn biến của các nhóm thu nhập khác nhau trong thập kỷ vừa qua, chúng ta có thể nhận thấy các nhóm nghèo nhất không được hưởng lợi như các nhóm khác. Trong giai đoạn từ 1992 đến 2012, tỷ lệ Palma (đo tỷ lệ giữa phần thu nhập của nhóm 10% thu nhập cao nhất và nhóm 40% có thu nhập thấp nhất) tăng 17%, từ 1,48 lên 1,74. Xu hướng này chủ yếu là do phần thu nhập của nhóm 40% có thu nhập thấp nhất giảm, từ 19,33% xuống 17,28% (Hình 1).
Hình 1: Diễn biến tăng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam, từ 1992 đến 2012[13]
Bên cạnh đó, hình 2 cho thấy, trong giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2012, tăng chi tiêu bình quân của bốn nhóm 10% đầu tiên trong mô hình phân bố luôn thấp hơn các nhóm dân khác. Đặc biệt, trong khi chi tiêu của nhóm 10% nghèo nhất tăng 4,8 % mỗi năm, chi tiêu của nhóm 10% giàu nhất tăng 6,3%.
Hình 2: Tăng chi tiêu trung bình hàng năm theo thập phân vị, 1992 đến 2012
Nguồn: PovcalNet (http://iresearch.worldbank.org/PovcalNet/index.htm?0, truy cập ngày 06/09/2016)
Hàm ý của các tốc độ tăng trưởng này có thể thấy rõ hơn ở giá trị chi tiêu tuyệt đối (Hình 3). Trong 20 năm (từ 1992 đến 2012), chi tiêu hàng ngày của nhóm 10% nghèo nhất tăng từ 0,8 USD lên 2,1 USD, trong khi chi tiêu của nhóm 10% giàu nhất tăng từ 7,2 USD lên 24,3 USD.
Hình 3: Chi tiêu trung bình hàng ngày của một số nhóm thập phân vị (1992, 2002, 2012)
Nguồn: PovcalNet (http://iresearch.worldbank.org/PovcalNet/index.htm?0, truy cập ngày06/09/2016)
Hình 4: Thu nhập bình quân đầu người theo ngũ phân vị
Nguồn: Nguyễn Việt Cường, ước tính từ KSMSDC[14]
Hơn nữa, phân bố lợi ích của tăng trưởng kinh tế có xu hướng bất bình đẳng hơn trong những năm gần đây. Nói cách khác, phân bố thu nhập ngày càng phân cực theo thời gian. Hình 4 cho thấy, trong khi chỉ có sự chênh lệch thu nhập nhỏ giữa bốn nhóm ngũ phân vị đầu tiên trong mô hình phân bố (nhóm 80% có thu nhập thấp nhất), có khoảng cách lớn giữa nhóm này và nhóm 20% có thu nhập cao nhất, và khoảng cách này ngày càng rộng ra từ năm 2004.
Xu hướng này nhất quán với kết quả nghiên cứu thực địa về dịch chuyển xã hội do Oxfam tiến hành năm 2016, với sự tham gia của 600 người được hỏi từ 12 xã thuộc ba tỉnh (Lào Cai, Nghệ An, Đắk Nông). Khảo sát này cho thấy mức chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% hộ giàu nhất và nhóm 20% hộ nghèo nhất là 21 lần, cao hơn nhiều so với mức chênh lệch do KSMSDC năm 2010 (8,5 lần) và năm 2012 (9,4 lần) xác định. Các kết quả khác nhau này có thể giải thích một phần là do mẫu của hai cuộc khảo sát khác nhau. Nhưng các kết quả cũng cho thấy bất bình đẳng thu nhập ở cấp thôn khá lớn và tăng theo thời gian, đặc biệt ở các vùng nghèo và xa, nơi nông nghiệp vẫn là nguồn thu nhập chính[15]. Các cuộc phỏng vấn sâu trong khảo sát thu nhập hộ ở ba tỉnh cũng khẳng định tình hình này[16].

Các thế lưỡng nan trong kinh tế và phát triển ở Việt Nam

Các thế lưỡng nan trong kinh tế và phát triển ở Việt Nam

(Tác giả: Lê Vĩnh Triển – Nguồn: http://nghiencuuquocte.org/)

Tác giả tiếp cận các vấn đề của Việt Nam bằng cách phân tích các mâu thuẫn hay những thế lưỡng nan mà chính quyền Việt Nam phải đối phó trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế đất nước. Cách thức chính quyền đối phó với các thế lưỡng nan lại dẫn chính quyền vào những thế lưỡng nan mới – lưỡng nan trong giải quyết các thế lưỡng nan hay mâu thuẫn trong giải quyết các mâu thuẫn. Điều đó cho thấy hoặc chính quyền chưa nhận ra các mâu thuẫn để có giải pháp phù hợp, hoặc nhận ra nhưng chưa thành công trong việc giải quyết các mâu thuẫn. Phần cuối bài là một vài gợi ý giải quyết vấn đề.

Lưỡng nan tổng quát giữa tăng trưởng kinh tế và tham nhũng: Tăng trưởng kinh tế để tăng uy tín, củng cố chính danh nhưng tham nhũng phát sinh lại làm sụt giảm uy tín và hủy hoại tính chính danh của chính quyền.

Để duy trì quyền lực lãnh đạo khả dĩ được chấp nhận một cách chắc chắn, chính quyền Việt Nam đã nhận thấy từ sau Đổi mới – 1986, tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quyết định. “Tăng trưởng” luôn là mục tiêu của hết đời tổng bí thư, thủ tướng này đến đời tổng bí thư, thủ tướng khác. Điều đó cũng hợp lý vì theo kinh nghiệm của các nền kinh tế đi trước, đặc biệt là các nước như Hàn Quốc, Đài Loan và gần đây hơn là Trung Quốc, tăng trưởng cao và liên tục luôn là mục tiêu kinh tế được cho là sẽ đưa đất nước vượt lên từ thu nhập thấp sang công nghiệp và hiện đại phát triển. Từ đó, các giải pháp duy trì tăng trưởng kinh tế, có thể nói là bằng mọi giá, luôn được áp dụng. Tuy nhiên, chính sách tăng trưởng cao và liên tục dẫn đến sự trả giá ít nhất về hai mặt. Đó là tài nguyên cạn kiệt – môi trường bị hủy hoại, và tham nhũng không thể kiểm soát được. Xem xét các giải pháp để đạt mục tiêu tăng trưởng nêu trên, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến hệ lụy tham nhũng trong hoàn cảnh thể chế Việt Nam. Chính tham nhũng nảy sinh từ tăng trưởng làm sụt giảm tính chính danh và uy tín của chính quyền. Chúng tôi cho rằng đó chính là mâu thuẫn hay thế lưỡng nan tổng quát giữa tăng trưởng kinh tế và tham nhũng trong kinh tế và phát triển ở Việt Nam. Cụ thể là, không thể không tăng trưởng để tăng uy tín, duy trì tính chính danh của đảng lãnh đạo, nhưng tăng trưởng thì phát sinh tham nhũng làm mất uy tín và xói mòn tính chính danh của đảng lãnh đạo.

Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày một số các chính sách tăng trưởng kinh tế của nhà nước, nhằm gia tăng uy tín, củng cố tính chính danh nhưng lại gây ra tham nhũng, mà chúng tôi cho rằng nó làm xói mòn tính chính danh của nhà nước và đảng cầm quyền. Cụ thể, trong tăng trưởng kinh tế, chúng tôi đề cập lần lượt các chính sách cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước (CPH-DNNN), thu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI, khai thác tài nguyên khoáng sản quốc gia, và đầu tư công bằng nguồn ngân sách nhà nước đồng thời trình bày “đứa con” tham nhũng bất trị của các chính sách này.

Thứ nhất, chính sách Cổ phần hóa DNNN: lưỡng nan tăng trưởng – tham nhũng:

Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhà nước phải liên tục tạo nguồn thu cho đầu tư, nhằm tạo công ăn việc làm, gia tăng tổng sản lượng. Các chính sách như Cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước vừa tăng nguồn thu cho ngân sách để tái đầu tư, vừa thúc đẩy hiệu quả của chính các DNNN để các doanh nghiệp này tác động tích cực vào tăng trưởng và phát triển kinh tế. Vì thế, CPH luôn được xác định là giải pháp nâng cao hiệu quả của DNNN và tạo nguồn cho tăng trưởng. Giải pháp một công đôi việc này tăng cường tính chính danh, vãn hồi uy tín của chính quyền vì sự yếu kém triền miên của DNNN đã làm xói mòn lòng tin của dân đối với chính quyền trong quản lý kinh tế, trong khi sự thiếu ngân sách đầu tư làm nhà nước bị động trong việc thực hiện các mục tiêu tăng trưởng.

Tuy nhiên, chính quá trình CPH-DNNN bản thân nó lại là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng. Việc định giá thấp DNNN để bán cổ phần ra công chúng, nhưng thường tạo điều kiện cho “tay trong” mua lại trong điều kiện không minh bạch kéo dài nhiều năm đã biến nhiều tài sản công thành tài sản của các quan chức tham gia cổ phần hóa. Các công ty sân sau được thành lập nhằm hợp thức hóa việc bán rẻ tài sản nhà nước từ các DNNN chuẩn bị CPH và mua đắt tài sản từ các doanh nghiệp sân sau, là phổ biến. Việc chuyển đổi quyền sử dụng đất đai của nhà nước trong các DNNN chuyển sang cổ phần là mồi ngon cho tư nhân- thân hữu các quan chức…Vì vậy, một mặt CPH làm cho một số các DNNN hay từng là DNNN năng động và hiệu quả hơn, tạo vốn cho ngân sách đầu tư của nhà nước góp phần vào tăng trưởng kinh tế và vì thế làm tăng uy tín, củng cố tính chính danh. Mặt khác, tham nhũng và sự giàu lên bất chính của các quan chức nhà nước và thân hữu lại khoét sâu sự oán thán của người dân, làm nhà nước mất uy tín và đảng cầm quyền suy yếu tính chính danh. Đây là mâu thuẫn hay thế lưỡng nan thứ nhất của tăng trưởng và tham nhũng.

Thứ hai, chính sách khai thác tài nguyên thiên nhiên: lưỡng nan tăng trưởng kinh tế – tham nhũng và tàn phá môi trường

Tăng trưởng dựa trên khai thác tài nguyên thiên nhiên có sẵn có thể nói là biện pháp ít phức tạp, dễ hình dung nhất, nhưng đó là nơi giao thoa rõ nhất của tham nhũng và tàn phá môi trường. Việc khai thác không hiệu quả dẫn đến thua lỗ triền miên của các dự án khai thác tài nguyên, làm thất thoát thu ngân sách nhà nước nặng nề, dù đã được cảnh báo nhưng vẫn tiếp tục diễn ra. Từ các mỏ khai thác than đá, đến các nhà máy lọc dầu, từ các dự án boxit ở Tây nguyên, đến dự án khai thác khoáng sản lớn nhất nước như dự án Núi Pháo, các sai phạm được thấy ở tất cả các khía cạnh, từ khai thác bán không khai báo, kỹ thuật khai thác lạc hậu làm thất thoát tài nguyên đến việc xử lý các vấn đề về môi trường, đền bù di dời dân cư. Cấp phép khai thác tràn lan nhưng thiếu quy hoạch và minh bạch trong quản lý là hai vấn đề song hành ngày càng nghiêm trọng. Mặt khác, sự độc quyền khai thác tài nguyên khoáng sản của các DNNN tuy với danh nghĩa là bảo vệ tài nguyên nhưng thực chất lại vượt ngoài kiểm soát của luật pháp, khai thác cạn kiệt tài nguyên, thiếu hiệu quả và tham nhũng tràn lan. Tham nhũng được nói dưới dạng thất thoát trong công nghiệp khai thác tài nguyên khoáng sản luôn thể hiện với đơn vị ngàn tỷ đồng. Đó là chưa tính đến hậu quả của sự cạn kiệt tài nguyên, kể cả tài nguyên rừng và ô nhiễm môi trường nặng nề từ các dự án, vốn đã rõ ràng nhưng không cho thấy được kiểm soát.

Chính sách tăng trưởng nhằm tạo nguồn thu từ việc bán tài nguyên đã thể hiện sự thiệt hại đối với chính quyền (xói mòn uy tín) lớn hơn rất nhiều so với cái được (lòng tin của dân vào chính quyền qua tăng trưởng, tạo việc làm)! Điều đó cho thấy chính quyền ở vào thế lưỡng nan giữa một bên là tăng trưởng bằng việc khai thác tài nguyên và bên kia là hậu quả môi trường bị hủy hoại và tham nhũng từ các đại dự án khai thác. Vấn đề chiến lược đặt ra là hậu quả của các dự án này về dài hạn, sự cạn kiệt tài nguyên và không thể hồi phục về môi trường có thể được xem như những khoản “ghi nợ” vào tương lại đối với uy tín và tính chính danh của chính quyền. Việc xử lý dứt khoát, minh bạch sớm có thể giúp chính quyền cứu vớt ít nhiều uy tín của mình với chi phí thấp hơn nhiều so với các biện pháp thiếu dứt khoát và không minh bạch.

Thứ ba, chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI: lưỡng nan tăng trưởng kinh tế – tàn phá môi trường. Đây là thế lưỡng nan giữa mặt tích cực là tăng trưởng kinh tế và mặt trái là việc lệ thuộc vào đầu tư nước ngoài trong phát triển kinh tế và môi trường bị tàn phá. FDI trong 30 năm qua đã chứng tỏ là một trụ cột cung cấp vốn để đầu tư và tăng trưởng. Đầu tư từ nước ngoài liên tục tăng trong hơn 10 năm gần đây, đóng góp quan trọng trong việc tăng thu ngân sách nhà nước qua nghĩa vụ thuế, tạo việc làm, cải thiện cân cân xuất nhập khẩu, tăng chất lượng công nghệ và quản lý doanh nghiệp. Từ đó, FDI được cho là động lực lớn đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, do nhiều nước chưa tôn trọng các tiêu chuẩn về môi trường cùng với sự dễ dãi của chính quyền các cấp trong việc gọi vốn đầu tư bằng mọi giá, ngoài vấn đề hiệu quả đầu tư từ FDI thấp hơn so với các nước, khả năng lan tỏa về công nghệ và quản lý doanh nghiệp từ doanh nghiệp FDI là rất thấp, không như kỳ vọng thì việc tàn phá môi trường của các dự án đầu tư FDI khoét sâu mặt tiêu cực của nó. Điều này đặt chính quyền vào thế lưỡng nan của tăng trưởng- do FDI mang lại – và vấn đề môi trường. Câu hỏi “chọn thép hay chọn cá?” của đại diện một nhà đầu tư nước ngoài lớn thể hiện cụ thể lưỡng nan này.

Thứ tư, đầu tư công và thế lưỡng nan tăng trưởng kinh tế – tham nhũng:

Các chính sách kinh tế nêu trên đều được thi hành nhằm hướng tới tăng trưởng kinh tế mà về cơ bản là tạo nguồn thu cho ngân sách để từ đó đầu tư tăng trưởng. Đầu tư công lại là giải pháp trực tiếp chi ngân sách để tạo tăng trưởng. Tuy nhiên, tham nhũng trong đầu tư công là vấn đề đau đầu của chính quyền Việt Nam vì có thể nói nó như người anh em sinh đôi của chính đầu tư công tại Việt Nam. Tham nhũng xảy ra trong mọi khâu của một dự án đầu tư công, từ khâu lập hồ sơ dự án, quy hoạch, đến phê duyệt thẩm định. Thất thoát diễn ra ngay từ cả nhiều chủ trương đầu tư, thiết kế, đền bù giải phóng mặt bằng, triển khai điều hành quy hoạch hàng năm, đến lựa chọn nhà đầu tư và thực hiện thi công.

Vì thế, tuy đầu tư công Việt Nam chiếm tỷ trọng lớn trong GDP nhưng hiệu quả được đánh giá là rất thấp so với các nước, nghĩa là Việt Nam phải đầu tư nhiều USD hơn các nước để có 1 USD đóng góp vào GDP. Tham nhũng được cho kéo tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thì tham nhũng trong đầu tư công có thể nói là minh chứng rõ ràng nhất. Rõ ràng, đối với đầu tư công, nhà nước không thể không thực hiện cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, nhưng tham nhũng trầm trọng trong đầu tư công đã đặt nhà nước vào thế lưỡng nan của việc củng cố uy tín và tính chính danh của mình.

Sơ kết: Việc thực thi các chính sách nêu trên nhằm tăng trưởng kinh tế để duy trì uy tín chính trị và tính chính danh cho chính quyền lại đồng thời làm phát sinh tham nhũng và vấn đề môi trường. Hai hệ lụy này lại triệt tiêu nỗ lực duy trì uy tín và tính chính danh. Vì vậy, chống tham nhũng và hạn chế ảnh hưởng của hệ lụy môi trường đến chất lượng tăng trưởng là điều chính quyền phải đương đầu. Trong khi vấn đề môi trường dường như chưa được quan tâm đúng mức thì đối với tham nhũng, chính quyền Việt Nam đang tỏ ra rất dứt khoát và mạnh mẽ.

Chúng tôi không cho rằng vấn đề môi trường ảnh hưởng đến uy tín và tính chính danh của chính quyền cộng sản ít hơn tham nhũng. Những hậu quả của bùn bô xit, cá chết hàng loạt do các nhà máy thép, sự kiện Formosa, nạn phá rừng, buôn lậu gỗ tràn lan góp phần gây lũ lụt đã cho thấy sự phẫn nộ của công chúng; đảng Cộng sản cũng nhận ra điều đó, cũng như nhận ra rằng đó chính là hệ quả của chính sách tăng trưởng kinh tế thiếu kiểm soát, không minh bạch. Tuy nhiên, do khuôn khổ của bài báo, tác giả tạm thời dành sự quan tâm đối với một số mâu thuẫn hay thế lưỡng nan mà chính quyền phải đối phó khi chống tham nhũng. Vấn đê môi trường sẽ được đề cập trong bài khác.

Chống tham nhũng và những mâu thuẫn hay lưỡng nan phát sinh trong việc chống tham nhũng

Để tiếp tục tăng trưởng kinh tế đồng thời cứu vãn uy tín và tính chính danh do hệ lụy tham nhũng gây ra, chính quyền Việt Nam xác định tham nhũng là giặc nội xâm và thậm chí đe dọa sự tồn vong của đảng lãnh đạo. Vì vậy, chính quyền đã tỏ ra quyết tâm chống tham nhũng. Tuy nhiên, tác giả cho rằng chính quyền vừa chống tham nhũng vừa phải đối phó với các thế lưỡng nan trong chính quá trình chống tham nhũng của mình, và mức độ thành công của việc chống tham nhũng tùy thuộc vào cách chính quyền xử lý các lưỡng nan hay mâu thuẫn nội tại này.

Thế lưỡng nan về thông tin (minh bạch và chống tham nhũng)

Để chống tham nhũng, thất thoát nảy sinh trong việc thực hiện các giải pháp tăng trưởng kinh tế như CPH- DNNN, đầu tư công hay khai thác tài nguyên, việc tôn trọng các nguyên tắc minh bạch, đòi hỏi giải trình và quy trách nhiệm đối với các quan chức quản lý nhà nước, quản lý kinh tế liên quan có ý nghĩa quyết định. Bên cạnh đó việc nới lỏng kiểm soát truyền thông báo chí, và khuyến khích và bảo vệ người dân tham gia chống tham nhũng sẽ hỗ trợ hữu hiệu chính quyền trong công cuộc chống tham nhũng, đồng thời gia tăng uy tín và sự chính danh của chính quyền vì sự gắn kết với người dân cho mục tiêu chung. Tuy nhiên, khi các thông tin về thất thoát, về tham nhũng, về sự giàu lên bất thường của qua nhiều quan chức được phơi bày, sự ta thán, phẫn nộ của dân chúng một mặt thúc đẩy chính quyền quyết tâm chống tham nhũng nhằm làm hài lòng dân chúng, mặt khác làm chính quyền lo ngại sự phẫn nộ đi quá xa với quy mô có thể vượt tầm kiểm soát của họ.

Mặt khác, về mặt kinh tế – như tác giả đã phân tích trong bài “Thế lưỡng nan của Việt Nam trong quá trình tư nhân hóa”, khi kinh tế phát triển, lợi ích kinh tế tăng lên cho cả khu vực nhà nước và tư nhân, đặc biệt qua CPH-DNNN và qua việc tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển. Khi đó có sự gia tăng đòi hỏi các quyền lợi dân sự từ khu vực tư nhân do quyền lực nhà nước giảm tương đối trong mối quan hệ với người dân. Quyền của người dân gia tăng trong bối cảnh thông tin được cởi mở, vốn đã phơi bày những thất thoát và tham nhũng, sẽ càng làm trầm trọng hơn sự lo ngại nêu trên của chính quyền đối với sự phẫn nộ của công chúng. Chính quyền từ chỗ chấp nhận minh bạch, tự do thông tin, khuyến khích báo chí và dân chúng tham gia chống tham nhũng mau chóng chuyển sang hạn chế thông tin, kiểm duyệt báo chí chặt chẽ hơn. Các nguyên tắc minh bạch, giải trình sẽ bị hạn chế, tòa án thiếu độc lập và báo chí bị kiểm soát sẽ làm hiệu quả chống tham nhũng bị giảm sút, triệt tiêu.

Vậy trong việc chống tham nhũng, nếu mở rộng thông tin, tăng cường minh bạch, sự phẫn nộ của dân chúng về tham nhũng có thể vượt ngoài kiểm soát của chính quyền. Từ đó dẫn đến việc kiểm soát thông tin, báo chí, hạn chế minh bạch mà kết quả là hy sinh ít nhiều hiệu quả của việc chống tham nhũng.

Thế lưỡng nan về thực thi công lực: gia tăng sức mạnh trấn áp và chống tham nhũng    

Vì lo sợ – hay nhằm ngăn ngừa khả năng xảy ra bạo động chống lại chính quyền khi sự phẫn nộ của công chúng và thông tin về tham nhũng, môi trường trong dân tăng cao, trong hoàn cảnh quyền lực của nhà nước bị yếu đi tương đối khi so với người dân như đã phân tích thì ngoài việc hạn chế truyền thông, kiểm soát chặt chẽ báo chí, hạn chế việc thực thi các nguyên tắc pháp quyền minh bạch, giải trình và chịu trách nhiệm cũng như hạn chế sự độc lập của tư pháp, chính quyền còn tăng quy mô sử dụng các công cụ trấn áp, tăng sức mạnh của bộ máy công an, an ninh để ngăn chặn và triệt tiêu nguy cơ bạo động. Tuy nhiên, mâu thuẫn hay thế lưỡng nan mới xảy ra. Sự gia tăng các biện pháp trấn áp đồng nghĩa với việc vừa tăng chi ngân sách và quyền lực cho an ninh và công an và điều này lại gây ra tham nhũng. Tham nhũng trong khu vực này càng khó kiểm soát khi nó còn gắn liền với tham nhũng quyền lực.

Như vậy, một mặt chính quyền chống tham nhũng, nhưng mặt khác chính quyền sử dụng chính sách hai gọng kiềm là kiểm soát thông tin và tăng cường trấn áp, mà gọng kiềm thứ nhất thì hạn chế khả năng chống tham nhũng của chính quyền, trong khi gọng kiềm thứ hai gây ra tham nhũng mới. Đây chính là thế lưỡng nan mà chính quyền cần giải quyết để việc chống tham nhũng có thể có những kết quả nhất định nhằm phát huy hiệu quả của các chính sách tăng trưởng kinh tế.

Kết luận: Để duy trì tính chính danh, củng cố uy tín cho đảng lãnh đạo, chính quyền phải thực hiện nhiều giải pháp tăng trưởng kinh tế, các giải pháp lại làm phát sinh tham nhũng và làm tồi tệ hơn vấn đề môi trường. Các hệ lụy này lại làm mất uy tín và suy giảm tính chính danh của chính quyền.

Chính quyền vì thế phải chống tham nhũng. Để chống tham nhũng, chính quyền phải tăng cường minh bạch, công khai, tăng yêu cầu chịu trách nhiệm của các quan chức, nới lỏng kiểm soát báo chí và tôn trọng hơn tiếng nói của người dân cũng như sự độc lập của tòa án. Các giải pháp về thông tin này tạo điều kiện nhiều hơn cho công chúng thể hiện tiếng nói của họ về sự trầm trọng của tham nhũng cũng như về cách thức chống tham nhũng của chính quyền. Thay vì nên tiếp tục theo cách thức tích cực này để gia tăng việc thực hiện các nguyên tắc pháp quyền, chính quyền lựa chọn giải pháp vừa chống tham nhũng vừa kiểm soát và hạn chế truyền thông báo chí nhằm hạn chế thông tin. Đồng thời với việc này là sự trao quyền nhiều hơn cho các công cụ trấn áp nhằm dập tắt những bất mãn, phản kháng của người dân. Cả việc kiểm soát thông tin, hạn chế thông tin tiêu cực, hạn chế phê phán và việc đầu tư gia tăng cho các công cụ trấn áp lại khiến tham nhũng gia tăng. Đó chính là vòng luẩn quẩn trong công cuộc chống tham nhũng ở Việt Nam. Nếu chính quyền không tìm cách thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn này, việc chống tham nhũng sẽ không thể thành công và chất lượng tăng trưởng kinh tế sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng nghiệm trọng, thậm chí sự tăng trưởng sẽ bị chính tham nhũng tàn phá. Điều xấu hơn có thể xảy ra là việc chính quyền ngày càng lệ thuộc vào chính công cụ trấn áp của chính mình mà tham nhũng phát sinh ngay trong chính công cụ đó!

TS Lê Vĩnh Triển hiện đang công tác tại Khoa Quản lý Nhà nước – Trường Đại học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh.

————————&&&———————-

Thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam

Thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam

(Tác giả: Bùi Trinh – Nguồn: http://tiasang.com.vn)

Từ khi chuyển từ hệ thống hạch toán sản xuất vật chất (MPS) sang hệ thống tài khoản quốc gia (SNA), nhiều chỉ tiêu của Việt Nam ngày càng tương đồng với thế giới. Đồng thời cũng phát sinh một số ngộ nhận về con số GDP coi GDP gần như là chỉ tiêu thu nhập (lẽ ra chỉ tương quan cùng chiều) và trong nhiều trường hợp gây ra những hiểu lầm đáng tiếc .


Nhìn chung thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam vẫn còn rất khiêm tốn và khoảng cách giàu nghèo đang gia tăng. Ảnh: Một người phụ nữ bán hàng rong đi qua khu bán hàng xa xỉ phẩm ở Hà Nội. Nguồn: Getty image. 

Thu nhập của người lao động từ sản xuất (một nhân tố của GDP) được hiểu bao gồm thu nhập bằng tiền và hiện vật của người lao động trong quá trình sản xuất, hiện nay hằng năm Tổng cục Thống kê (TCTK) không công bố chỉ tiêu này, nhưng dựa vào bảng cân đối liên ngành (input-output table) có thể ước tính thu nhập từ sản xuất chiếm khoảng 53% GDP, như vậy GDP bình quân đầu người năm 2016 khoảng 2188 USD, tăng 25% so với năm 2012 (1755 USD), nhưng một điều trớ trêu là trong đó thu nhập từ sản xuất bình quân của người lao động chỉ tăng 1,2% (khoảng 870 USD năm 2016 so với 860 USD năm 2012). Điều này cho thấy phần thặng dư bình quân tăng rất cao, do nền kinh tế phụ thuộc vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nên việc thặng dư tăng cao về thực chất không có ích gì nhiều cho Việt Nam mà chỉ có lợi cho nước ngoài. Cũng theo số liệu của TCTK, tổng thu nhập bình quân đầu người năm 2016 khoảng 1648 USD, điều này có nghĩa khoản thu nhập bình quân đầu người ngoài sản xuất (từ sở hữu và từ chuyển nhượng) là khoảng 778 USD; nếu tỷ lệ giữa thu nhập từ sản xuất so với tổng thu nhập năm 2012 khoảng 74-75% thì đến năm 2016 tỷ lệ này giảm xuống 53%, phần còn lại là thu nhập kiếm được từ ngoài quá trình sản xuất (47%). Như vậy có thể thấy GDP bình quân đầu người và thu nhập bình quân đầu người là hoàn toàn khác nhau; và nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào bên ngoài (FDI) từ khâu sản xuất, lưu thông và phân phối lại.

Số liệu của TCTK cũng cho thấy khoảng cách giữa thu nhập bình quân đầu người từ sản xuất và tổng thu nhập bình quân đầu người ngày càng bị nới rộng, điều này phần nào do lượng kiều hối những năm gần đây chuyển về Việt Nam khá lớn. Với số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2012 về tổng thu nhập bình quân đầu người khoảng 2 triệu đồng tháng thì tổng thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam năm 2016 khoảng hơn 3 triệu đồng tháng. Đó là mức thu nhập khiêm tốn, rất khó khăn cho người dân, đặc biệt là khu vực nông thôn tổng thu nhập bình quân đầu người trên tháng năm 2016 chỉ là 2,4 triệu đồng thấp hơn mức bình quân, trong khi 66% dân số là ở nông thôn. Đó là chưa kể đến tình trạng phân hóa giàu nghèo, làm cho khoảng cách thu nhập giữa 20% người nghèo nhất và 20% người giàu nhất lên tới gần 10 lần và đang tăng lên. Các nhà mô hình và các nhà lập chính sách mất nhiều công sức chú trọng vào cấu trúc và sự liên kết ngành, tuy nhiên một số nghiên cứu gần đây cho thấy mức độ chi tiêu dựa trên thu nhập của các nhóm dân cư ảnh hưởng quan trọng đối với tăng trưởng, một điều được rút từ mô hình cân bằng tổng thể cho thấy chi tiêu của nhóm có thu nhập cao không lan tỏa nhiều đến nền kinh tế trong nước bằng các nhóm thu nhập trung bình và thấp. Việc phân hóa giàu nghèo trong xã hội cần phải được đặt ngang hàng với mục tiêu tăng trưởng GDP. Cái mà xã hội và người dân cần là các chính sách cần hướng đến người dân thay vì hoàn toàn hướng đến doanh nghiệp.

Mặt khác cũng theo số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy tỷ lệ giữa tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình từ năm 2010-2016 và 9 tháng năm 2017 luôn ổn định ở mức 70 – 72% GDP, như vậy có thể thấy mức tiêu dùng bình quân đầu người trên tháng năm 2016 khoảng 2.572.000, trong khi đó thu nhập từ sản xuất bình quân tháng khoảng 2.386.000 đồng. Từ những con số này có thể thấy đa số người dân không những không có để dành mà còn phải đi vay một phần để tiêu dùng! Đây là tín hiệu khá nguy hiểm, không những thế nó còn cho thấy việc GDP tăng cao hầu như không có ý nghĩa với người dân. Tuy nhiên mức tổng thu nhập của dân cư (bao gồm từ sở hữu và chuyển nhượng1) hằng tháng vẫn cao hơn mức chi tiêu khoảng 500.000 đồng, nhưng lại chưa bao gồm rất nhiều khoản lạm thu của chính quyền địa phương từ những khoản  “đóng góp” gần như bắt buộc của các tổ chức ở địa phương, nên phần còn lại (saving) của khu vực hộ gia đình chỉ còn khoảng 30.000 tỷ đồng, tương đương 1,2 – 1,5 tỷ USD. Như vậy lượng kiều hối đổ vào Việt Nam mấy năm gần đây trên dưới 10 tỷ USD nhưng lượng tiền có thể đưa vào đầu tư chỉ khoảng 1,2 – 1,5 tỷ USD.

Mặt khác, phân tích theo các nhân tố cấu thành giá trị gia tăng theo giá cơ bản bao gồm thu nhập của người lao động từ sản xuất, thặng dư sản xuất thuần (không bao gồm khấu hao tài sản cố định) cho thấy tỷ lệ thu nhập từ sản xuất so với giá trị gia tăng thuần tăng nhanh từ 63% năm 2000 lên 67% năm 2007 và giai đoạn hiện nay vào khoảng trên 80%. Điều này có nghĩa nếu năm 2000 có một đồng giá trị gia tăng sẽ có 0.37 đồng thặng dư thì đến giai đoạn hiện nay có một đồng giá trị gia tăng chỉ còn 0,2 đồng thặng dư. Như vậy việc tăng lương không gắn liền với tăng năng suất lao động sẽ khiến thặng dư của các doanh nghiệp giảm đi, nói cách khác tăng lương không dựa vào tăng năng suất sẽ khiến nguồn lực của nền kinh tế nhỏ lại ở những chu kỳ sản xuất sau, khi thặng dư của doanh nghiệp ngày một nhỏ lại dẫn đến việc đầu tư mở rộng sản xuất gặp khó khăn do không đủ khả năng tích lũy. Ngoài ra khi hệ số co giãn về lao động tăng cao, nền kinh tế phải cần một lượng vốn rất lớn mới có thể có được tăng trưởng. Đây là một trong những nguyên nhân khiến khối doanh nghiệp tư nhân trong nhiều năm qua không thể phát triển (giá trị gia tăng đóng góp vào GDP chỉ loanh quanh ở mức 7-8%). Tuy nhiên hệ số này ở các ngành là không giống nhau, hầu hết nhóm ngành chế biến chế tạo có hệ số thu nhập từ sản xuất so với giá trị gia tăng thuần rất cao, hệ số co giãn về thặng dư rất thấp, nên nếu quyết định tăng lương không từ năng suất (quyết định hộ doanh nghiệp) ở những ngành này sẽ làm doanh nghiệp càng thêm khó khăn. Nhưng ngược lại một số ngành lại có hệ số co giãn về thặng dư rất cao như nhóm ngành xây dựng, kinh doanh bất động sản, khách sạn nhà hàng… Điều đó cho thấy việc quyết định tăng lương không nên làm đồng loạt đại trà mà cần tính toán kĩ lưỡng cho các nhóm ngành khác nhau, thậm chí nên nghiên cứu cho ngành trong vùng.

Do đó, để nền kinh tế phát triển lành mạnh, việc tối quan trọng là tăng năng suất lao động, nhưng trước tiên cần tăng thu nhập cho người lao động ít nhất bằng với mức lạm phát. Khi nhận thức của xã hội được nâng lên hãy để doanh nghiệp tự quyết định cân nhắc việc tăng lương dựa trên hiệu quả sản xuất và nguồn nhân lực của họ.

Như vậy có thể thấy nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn rất khó xử, nếu không tăng lương người lao động sẽ rất khó khăn trong cuộc sống, nhưng nếu tăng lương đại trà mà không đi kèm với tăng năng suất lại dẫn đến khó khăn cho doanh nghiệp. Như vậy việc quan trọng nhất là năng suất lao động của Việt Nam cần tăng lên và tăng lương thế nào phải do bên sử dụng lao động quyết định.
———-
1Cơ bản là kiều hối
Tài liệu tham khảo
Asian Development Bank. (2015). Financial Soundness Indicators for Financial Sector Stability in Vietnam. Manila.
Bui Trinh, Kiyoshi Kobayashi, Trung-Dien Vu, Pham Le Hoa. (2012). ‘New Economic Structure for Vietnam toward Sustainable Economic Growth in 2020’. Global Journal of Human Social Science, Vol. 12 Issue 10.
TCTK +Niên giám thống kê” 2016, NXB TK, 2017
Miyazawa. K (1976). “Input – output analysis and the structure of income distribution” Heideberg, Springer – Veriag
Nguyen Quang Thai, Bui Trinh (2017). Phân tích GDP và sự phát triển bền vững về môi trường” Tạp chí Kinh tế tài chính Việt Nam” Số 2 2017.

———————–&&&———————-

Tăng trưởng GDP và FDI

Tăng trưởng GDP và FDI

(Tác giả: Bùi Trinh – Nguồn: http://tiasang.com.vn)

Tăng trưởng GDP được hầu hết các nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia kinh tế đề cập và lấy đó như là một niềm vui nỗi buồn, là điểm sáng của nền kinh tế đất nước.


Lắp ráp linh kiện điện tử tại Công ty Samsung  Electronics Việt Nam. Ảnh: Thanh Hải.

Có thể thấy trong những năm qua hầu như không năm nào tăng trưởng GDP không đạt mục tiêu được đề ra từ đầu năm. Tuy nhiên trong hơn 10 năm qua nhiều người dân dường như cảm thấy việc tăng trưởng GDP không có liên quan gì nhiều đến cuộc sống của mình. Vậy ai được hưởng lợi từ việc tăng trưởng này? Nhìn sâu vào số liệu tăng trưởng GDP theo thành phần kinh tế trong khoảng thời gian 2005 – 2016 có thể thấy khu vực FDI là khu vực “gánh” tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Các thành phần kinh tế trong nước có mức tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 12 năm thấp hơn mức tăng trưởng GDP bình quân chung khá nhiều, chỉ có khu vực FDI tăng trưởng cao hơn mức bình quân chung (7,5% so với 6,1% – Hình 1). Như vậy một loạt câu hỏi được đặt ra như tại sao trong năm thành phần kinh tế công bố trong niên giám thống kê gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể và FDI chỉ có khu vực FDI là tăng trưởng tốt; phải chăng khu vực này được hưởng quá nhiều lợi thế so với khu vực kinh tế trong nước, từ được ưu đãi về chính sách thuế, tiếp cận đất đai, chủ động được về vốn? Đất nước này được gì từ tăng trưởng của khu vực này? Để ý rằng trong phần giá trị gia tăng của khu vực FDI bao gồm:

+ Thu nhập của người lao động;

+ Thặng dư sản xuất gộp (bao gồm khấu hao tài sản cố định);

+ Thuế gián thu.

Về thu nhập, người lao động Việt Nam chỉ nhận được một phần từ lao động giá rẻ, các vị trí chủ chốt đều là người nước ngoài (vì thường trú ở Việt Nam trên một năm nên về nguyên tắc vẫn tính vào giá trị gia tăng của nền kinh tế), lương của 8 – 10 người Việt Nam mới bằng lương một người ngoại quốc.


Hình 1. Tăng trưởng bình quân GDP theo các thành phần kinh tế giai đoạn 2005 – 2016 (giá so sánh 2010). Nguồn TCTK.

Về thặng dư thì đấy là thặng dư của họ, họ có thể giữ lại để tái đầu tư mở rộng sản xuất nếu thấy lợi và cũng có thể chuyển về nước nếu thấy không thuận lợi hoặc không còn lời nữa. Hầu hết các doanh nghiệp FDI đều báo cáo lỗ hoặc lãi một chút, như vậy thuế thu nhập doanh nghiệp phía Việt Nam thu được chẳng là bao. Năm 2016 tổng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp khối FDI được miễn giảm và ưu đãi ở mức 35.300 tỷ Việt Nam đồng. Nếu tính toán kỹ nhiều doanh nghiệp FDI thì tổng số thuế được ưu đãi từ khi đi vào hoạt động cũng tương đương số vốn họ bỏ ra đầu tư vào Việt Nam. Chẳng hạn như Samsung electronic nhận được miễn thuế 4 năm đầu, 9 năm tiếp theo được hưởng mức thuế TNDN 5% và 17 năm sau đó ở mức thuế 10%. Doanh nghiệp nội chỉ được ưu đãi gần 21% số thuế phải nộp trong khi doanh nghiệp FDI được hưởng gần 92%. Sự bất bình đẳng này khiến doanh nghiệp nội không thể cạnh tranh với doanh nghiệp FDI.

Về thuế gián thu có hai vấn đề. Thứ nhất thuế gián thu các doanh nghiệp FDI cũng được ưu đãi về chính sách thuế, hầu hết các doanh nghiệp FDI đều làm gia công rồi xuất khẩu, các doanh nghiệp này do xuất khẩu trực tiếp nên đầu vào nhập khẩu được ưu đãi thuế, trong khi các doanh nghiệp nội không được ưu đãi thuế nếu bán hàng trong nước, có thể thấy việc kêu gọi về sản xuất sản phẩm phụ trợ trong cả chục năm qua chỉ là kêu gọi để đấy, chính sách về thuế xuất nhập khẩu không cho thấy có hành động gì chứng tỏ sự bằng phẳng giữa các loại hình doanh nghiệp. Và thứ hai là thuế này về bản chất là người dân Việt Nam phải trả khi sử dụng sản phẩm của họ. Sử dụng sản phẩm FDI trong trường hợp hầu hết là gia công thực chất là dùng hàng nhập khẩu dưới hình thức khác.

Như vậy, trong giá trị gia tăng của khu vực FDI được tính vào GDP của Việt Nam, phía Việt Nam từ Chính phủ đến người dân chẳng được bao nhiêu và do hầu hết là gia công nên gần như không có sự lan tỏa gì về công nghệ. Trong một nghiên cứu của một nhóm chuyên gia của trường Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy khu vực FDI thải ra lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính cao hơn khí thải từ các phương tiện tham gia giao thông khá nhiều. Vậy phải chăng Việt Nam cần có một chiến lược về thu hút FDI hiệu quả và hữu ích với đất nước hơn.

Từ khi chuyển từ hệ thống hạch toán sản xuất vật chất (MPS) sang hệ thống tài khoản quốc gia (SNA), một số người đã mặc nhiên xem GDP bình quân đầu người như là thu nhập bình quân đầu người. Khi nói đến GDP bình quân đầu người nhiều người lập tức so sánh đến thu nhập của dân cư. Thực chất về cơ bản GDP được nhìn dưới ba góc độ:
+ Ở giác độ sử dụng cuối cùng: GDP bao gồm tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình, tiêu dùng cuối cùng của nhà nước, tích lũy tài sản gộp và xuất khẩu thuần;
+ Dưới giác độ sản xuất: GDP = tổng giá trị sản xuất theo giá cơ bản – tổng chi phí trung gian
+ thuế sản phẩm
– Trợ giá sản phẩm;
+ Dưới giác độ thu nhập bao gồm mấy nhân tố cơ bản : Thu nhập của người lao động, thặng dư sản xuất, khấu hao tài sản cố định và thuế sản xuất – trợ cấp sản phẩm.
Đối với mỗi Quốc gia thì GDP cũng chỉ là chỉ tiêu sơ khởi vì sau đó còn một số chỉ tiêu khác như GNI (Tổng thu nhập quốc dân), NDI (thu nhập quốc dân khả dụng), và để dành (saving, hay là tích lũy trong nền kinh tế)…
• GNI = GDP + thu nhập từ sở hữu thuần với nước ngoài;
• NDI = GNI + thu nhập từ chuyển nhượng hiện hành thuần với nước ngoài + thuế trực thu (thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp);
• Để dành = NDI – tiêu dùng cuối cùng (bao gồm tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình và TDCC của NN).
Theo số liệu của ADB có thể thấy GNI chiếm tỷ trọng ngày càng nhỏ và luồng tiền chi trả sở hữu thuần ra nước ngoài ngày càng lớn.
————————&&&———————–

Yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua tour trực tuyến của nhân viên văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh

Yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua tour trực tuyến của nhân viên văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh

(Tác giả: Lê Quang Hùng – Nguồn: http://tapchitaichinh.vn)

Hiện nay, giới nhân viên văn phòng với đặc thù công việc thường xuyên sử dụng internet trong công việc hàng ngày, trong giao dịch, trong mua sắm, đi du lịch… Do đó, vấn đề bán được tour trực tuyến đến giới nhân viên văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh được đặt lên hàng đầu của các công ty du lịch. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (định tính và định lượng). Dữ liệu được phân tích qua đo lường hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá và sử dụng mô hình Linear Regression để kiểm định thực nghiệm mô hình nghiên cứu ảnh hưởng đến ý định mua tour trực tuyến của nhân viên văn phòng TP. Hồ Chí Minh tại website Yesgo.vn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết: Thuyết hành vi dự định – TPB (Ajzen, 1991) cho thấy, có 3 yếu tố ảnh hưởng đến ý định cá nhân. Cụ thể:

– Thái độ cá nhân được đo lường bằng niềm tin và sự đánh giá đối với kết quả của hành vi đó.

–  Chuẩn chủ quan  là nhận thức của những người ảnh hưởng nghĩ rằng, cá nhân đó nên thực hiện hay không thực hiện hành vi nào đó.

– Kiểm soát hành vi nhận thức phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát hay hạn chế hay không?

Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM): Mô hình TAM được Fred Davis, Bagozzi, Warshaw (1992) phát triển và phổ biến rộng rãi nhằm mô hình hóa việc chấp nhận công nghệ thông tin của người sử dụng. Như vậy, việc sử dụng internet của giới nhân viên văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh được xem là việc sử dụng công nghệ thông tin cho mục đích tiêu dùng thông qua mạng internet là phù hợp.

Trong nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng” thực hiện tại Iran, Javadi và cộng sự (2012) đã sử dụng mô hình chấp nhận công nghệ TAM kết hợp với lý thuyết TPB để làm cơ sở thiết kế mô hình nghiên cứu với các nhân tố: (i) Rủi ro cảm nhận; (ii) Chính sách hoàn trả; (iii) Hạ tầng cơ sở thông tin; (iv) Chuẩn chủ quan; (v) Kiểm soát hành; (vi) Thái độ; (vii) Khả năng đổi mới chuyên sâu. Nghiên cứu chỉ ra nhân tố rủi ro cảm nhận tác động nghịch chiều với thái độ của người tiêu dùng; nhân tố kiểm soát hành vi không có ý nghĩa giải thích mối tương quan với hành vi mua sắm trong mô hình nên đã bị loại; các nhân tố còn lại đều có ảnh hưởng đến hành vi mua sắm.

Nghiên cứu “Các nhân tố tác động đến việc hình thành ý định mua sắm trực tuyến” tại thành phố Isfahan (Iran), Milad Kamtarin (2012) cho rằng, 3 yếu tố truyền miệng trực tuyến, sự tin cậy và giá trị cảm nhận tác động tích cực đến sự hình thành ý định hành vi. Trong đó, nhân tố sự tin cậy có ảnh hưởng mạnh nhất, kế đến là giá trị cảm nhận và sau cùng là truyền miệng trực tuyến.

Trong nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua hàng điện tử qua mạng”, Hoàng Quốc Cường (2010) cũng đã xác định 6 nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ mua hàng điện tử qua mạng: (i) Mong đợi về giá; (ii) Nhận thức sự thuận tiện; (iii) Nhận thức tính dễ sử dụng; (iv) Ảnh hưởng xã hội; (v) Cảm nhận sự thích thú; (vi) Nhận thức rủi ro khi sử dụng mua hàng qua mạng; (vii) Nhân khẩu học. Trong đó, nhân tố mong đợi về giá có ảnh hưởng mạnh nhất và nhân tố nhận thức sự thuận tiện tác động yếu nhất đến ý định mua sắm hàng điện tử qua mạng của người tiêu dùng.

Mô hình nghiên cứu: Xây dựng mô hình nghiên cứu trên nền tảng cơ sở lý thuyết và mô hình tham khảo cùng phối hợp với 3 yếu tố: (i) Chất lượng dịch vụ điện tử; (ii) Chương trình khuyến mại; (iii) Uy tín thương hiệu.

Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu định lượng thực hiện qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp. Tổng cộng có 350 bảng câu hỏi được phát ra, thu về 336 bảng câu hỏi. Trong đó có 8 bảng câu hỏi không hợp lệ, còn lại 328 bảng câu hỏi hợp lệ.

Phần mềm SPSS 20 được sử dụng để kiểm định thang đo và mô hình nghiên cứu. Các thang đo được kiểm định bằng phương pháp hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA). Mô hình nghiên cứu được kiểm định thông qua mô hình Linear Regression.

Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu: Hệ số tin cậy Cronback’s Alpha (Bảng 1).

Phân tích mô hình hồi qui tuyến tính đa biến: Kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính đa biến (Bảng 2).

Phương trình hồi quy tuyến tính đa biến: Ý định mua tour trực tuyến = 0,522* Chương trình khuyến mại + 0,376* Nguồn thông tin tham khảo + 0,314* Chất lượng dịch vụ điện tử + 0,084* Sự hợp lý về giá cả + 0,099* Sự tiện lợi + 0,104* Uy tín thương hiệu.

Thảo luận kết quả nghiên cứu:

Một là, mô hình nghiên cứu có tính mới, được xây dựng trên nền tảng cơ sở lý thuyết và mô hình tham khảo cùng phối hợp với các yếu tố: (i) Chất lượng dịch vụ điện tử; (ii) Chương trình khuyến mại; (iii) Uy tín thương hiệu.

Hai là, sáu yếu tố UT, CL, TK, GC, STL, KM (biến độc lập) đều có ảnh hưởng tỷ lệ thuận đến YD (biến phụ thuộc). Với giá trị R=0,884 và R2=0,750, mô hình thích hợp để sử dụng đánh giá mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập.

Ba là, qua kiểm định cho thấy:

– Yếu tố Chương trình khuyến mại (Beta = 0,522), tác động mạnh nhất đến ý định mua tour trực tuyến. Điều này có nghĩa là chương trình khuyến mại càng lớn, càng ảnh hưởng tích cực đến ý định mua tour của nhân viên văn phòng TP. Hồ Chí Minh tại website Yesgo.vn.

– Yếu tố tác động mạnh thứ 2 là nguồn thông tin tham khảo (Beta = 0,376). Nghĩa là các nguồn thông tin tham khảo nếu xuất hiện càng nhiều thì càng tác động mạnh đến ý định mua tour của nhân viên văn phòng TP. Hồ Chí Minh tại website Yesgo.vn và thúc đẩy họ mua tour nhiều hơn.

– Yếu tố tác động mạnh thứ 3 là chất lượng dịch vụ điện tử (hệ số Beta=0,314, Sig.=0,000). Điều này có nghĩa là chất lượng dịch vụ điện tử của Yesgo càng cao thì ý định mua tour của nhân viên văn phòng TP. Hồ Chí Minh tại website Yesgo.vn càng lớn.

Các yếu tố uy tín thương hiệu, sự tiện lợi và sự hợp lý về giá cả có các hệ số Beta xấp xỉ 0,1 cho thấy tác động rất ít đến ý định mua. Thực tế, khi các doanh nghiệp tham gia bán tour trực tuyến đều phải công khai giá cả của mình trên Internet, do đó họ đều phải lựa chọn một chiến lược giá cạnh tranh nhất cho mình dẫn đến giá cả của nhiều doanh nghiệp cho cùng một loại tour thông thường là xấp xỉ nhau. Rõ ràng, có khuyến mại thì phần giá cả không còn là yếu tố đáng quan tâm đối với khách hàng mua tour trực tuyến.

Một vài kiến nghị

Thứ nhất, về chương trình khuyến mại: Yesgo có thể tăng cường hợp tác với nhiều nhà cung cấp dịch vụ khác nhau tại cùng một điểm du lịch để đa dạng hóa lựa chọn cho khách hàng và cũng có thể thương lượng với các nhà cung cấp về mức ưu đãi tốt hơn khi họ thấy có áp lực cạnh tranh.

Yesgo nên chủ động kết hợp tour với dịch vụ vé bay của Vietnamairlines, Vietjetair… hay vé xe của Pasoto.com, hoặc vé tàu lửa để có các tour trọn gói đi về, ăn ở, du lịch trọn vẹn cho khách hàng với mức giá ưu đãi. Trong lúc kết hợp dịch vụ của 2, 3 bên Yesgo cũng sẽ có cơ hội tận dụng được khuyến mãi của mỗi bên vào trong tour của Yesgo, điều này giúp chất lượng và số lượng khuyến mãi của Yesgo hấp dẫn hơn.

Thứ hai, về nguồn thông tin tham khảo: Cung cấp thông tin nhanh chóng, đầy đủ, chính xác và rõ ràng sẽ giúp cho Yesgo nhanh chóng chiếm được nhiều cảm tình của khách hàng trong việc hình thành ý định mua tour trực tuyến. Các thông tin trên cần phải được cập nhật đầy đủ và nhanh chóng trên website Yesgo.vn. Các gói thông tin liên quan sẽ được chia sẻ trên Fanpage của Yesgo.vn. Ngoài ra, cũng nên áp dụng nhiều hơn các hình thức internet marketing và internet advertising để tăng tính lan truyền cho sản phẩm.

Công ty cũng cần lưu ý sử dụng thêm các dịch vụ content marketing để tăng tính hấp dẫn cho sản phẩm và giúp người mua dễ dàng chia sẻ thông tin trực tuyến cho bạn bè của họ. Điều này cũng giúp tăng thứ hạng của Yesgo.vn trên các trang tìm kiếm.

Thứ ba, về chất lượng dịch vụ điện tử: Yesgo.vn nên mở thêm phần cho phép thanh toán trực tuyến bằng các loại thẻ tín dụng quốc tế và thẻ tiêu dùng nội địa. Ngoài ra, cũng cần thêm thông tin chuyển khoản chi tiết, giảm thiểu hình thức giao voucher tận nơi, gây tốn kém chi phí cũng như giúp khách hàng ra quyết định nhanh chóng không phải chờ đợi.

Về giao diện trang web hiện nay khá tốt, tuy nhiên vẫn cần tối ưu hóa mục tìm kiếm theo từ khóa để khách hàng nhanh chóng truy cập được đến vị trí tour họ quan tâm. Ngoài ra, Yesgo.vn cũng nên triển khai thêm phiên bản tối ưu hóa cho các dòng điện thoại thông minh trên các hệ điều hành Android, IOS và Windowphone để khách hàng dễ dàng truy cập mọi lúc mọi nơi. Với các phiên bản này, Yesgo cũng nên tiến tới việc hỗ trợ thanh toán trực tuyến bằng ví điện tử Momo để khách hàng thêm phần tiện lợi trong đặt hàng và thanh toán.

Tài liệu tham khảo:

1. Hoàng Quốc Cường (2010), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ mua hàng điện tử qua mạng, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Bách khoa TP. Hồ Chí Minh;

2. Nguyễn Lê Phương Thanh (2013), Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến của khách hàng tại Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh;

3. Lý Thị Bích Hồng (2016), Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua tour trực tuyến của giới nhân viên văn phòng thành phố hồ chí minh tại website yesgo.vn, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh;

4. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational behavior and human decision processes, 50: 179-211;

5. Davis, F. D. (1989). Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology. MIS quarterly, 319-340.

——————-&&&——————-

Nghiên cứu tác động quản trị hành chính công đến tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập

Nghiên cứu tác động quản trị hành chính công đến tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập

(Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng – Nguồn: http://tapchitaichinh.vn)

Bài viết nghiên cứu mối quan hệ giữa hiệu quả quản trị hành chính công, tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập trong phạm vi quốc gia của Việt Nam giai đoạn 2006-2015. Kết quả cho thấy, hiệu quả quản trị hành chính công càng cao sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và làm giảm bất bình đẳng giữa các tỉnh, thành phố. Ở chiều hướng khác, tăng trưởng kinh tế có thể nâng cao hiệu quả quản trị hành chính công nhưng lại làm tăng sự bất bình đẳng giữa các địa phương với nhau.

Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu trước đây

Nghiên cứu này dựa trên cơ sở lý thuyết Kuznets (1955) để xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập. Giả thuyết Kuznet cho rằng, bất bình đẳng gia tăng cùng với sự gia tăng của mức thu nhập. Sự gia tăng thu nhập này đạt đến một mức độ nào đó sẽ làm giảm bất bình đẳng.

Elisa Valeriani và Sara Peluso (2011) cho rằng, chất lượng quản lý hành chính công có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế và làm giảm khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa các địa phương. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, bất bình đẳng thu nhập trong khu vực và hiệu quả quản trị hành chính công, thường được xem xét riêng lẻ.

Thực tế cho thấy, ở các nước phát triển, hiệu quả quản trị cao thì tăng trưởng kinh tế làm giảm bất bình đẳng thu nhập (Gil et al .2014, Lessmann, 2009) và làm gia tăng bất bình đẳng ở các quốc gia đang phát triển (Rodriguez-Pose and Ezcurra 2010, Lessmann 2012); Hiệu quả quản trị hành chính công nâng cao làm giảm bất bình đẳng thu nhập (Andreas P.Kyriacou, 2013).

Mô hình và phương pháp nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu: Nghiên cứu đo lường mối quan hệ tác động đồng thời giữa hiệu quả quản trị hành chính công – tăng trưởng kinh tế – bất bình đẳng ở các tỉnh/thành phố trên cả nước thông qua 2 bộ dữ liệu chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và bộ dữ liệu chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển – Hỗ trợ Cộng đồng (CECODES) thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học – Kỹ thuật Việt Nam và Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam.

Đầu tiên, bộ dữ liệu PCI được sử dụng để đo lường mối quan hệ đồng thời giữa ba thành phần trên. Tiếp đến, kết quả ước lượng sẽ được kiểm chứng trên bộ dữ liệu PAPI để đảm bảo được tính thống nhất trong kết quả ước lượng.

Mối quan hệ đồng thời giữa hiệu quả quản trị hành chính công – tăng trưởng kinh tế – bất bình đẳng, được thể hiện qua hệ phương trình đồng thời (SEM) có dạng tổng quát như sau:

ảnh 1

Trong đó:

– Các chỉ số dưới i đại diện cho các tỉnh/thành phố, t là thời gian.

– GR là biến đại diện cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh i ở thời điểm t.

– RI là biến bất bình đẳng vùng, được đại diện bởi chỉ số PW_CV (Cowell,1999)

– GQ là hiệu quả quản trị hành chính công, được đại diện bởi chỉ số tính minh bạch và kiểm soát tham nhũng ở bộ dữ liệu PAPI; hoặc được đại diện bởi tính kém minh bạch và chỉ số tham nhũng ở bộ dữ liệu PCI.

– X là tập hợp các biến kiểm soát được đưa vào các phương trình dựa trên các lý thuyết tăng trưởng kinh tế.

– u1, u2, u3 là thành phần sai số của các phương trình trong hệ thống có tương quan đồng thời với nhau.

Dữ liệu nghiên cứu: Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu được tổng hợp từ 3 nguồn chính gồm: (i) Dữ liệu các chỉ số vĩ mô giai đoạn 2006 – 2015 của Tổng cục Thống kê; (ii) Dữ liệu năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) trong giai đoạn 2006 – 2015 của VCCI; (iii) Dữ liệu về chỉ số PAPI trong giai đoạn 2011 – 2015 của CECODES và UNDP tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, nghiên cứu còn sử dụng các chỉ số tổng hợp cấp quốc gia của Ngân hàng Thế giới (WB) như tỷ giá công bố chính thức, Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và GDP của Việt Nam.

ảnh 2Trong nghiên cứu, hiệu quả quản trị hành chính công được đánh giá và so sánh thông qua hai bộ dữ liệu PCI và PAPI. Trong mỗi bộ dữ liệu, hiệu quả quản trị hành chính công được đại diện bởi 2biến là tính minh bạch và tham nhũng, tuy nhiên, ý nghĩa của các chỉ số ở 2 bộ dữ liệu có sự tương phản nhau. Cụ thể:

Với Bộ dữ liệu PAPI, tính minh bạch được thể hiện qua ý kiến đánh giá của người dân về tính công khai, minh bạch (PAPIT) trong tiếp cận các dịch vụ công cấp tỉnh. Chỉ số minh bạch càng cao càng cho thấy sự công nhận của người dân về hiệu quả quản trị hành chính công  càng tốt. Biến tham nhũng trong bộ dữ liệu này được thể hiện qua cảm nhận của người dân về khả năng kiểm soát tham nhũng trong khu vực công (PAPIC).

Ngược lại, ở bộ dữ liệu PCI thì biến minh bạch được đánh giá qua cảm nhận của doanh nghiệp về tính kém minh bạch (PCIT) trong việc tiếp cận các tài liệu pháp lý, chẳng hạn như cần có mối quan hệ để có các tài liệu hoặc rất quan trọng.

Và biến tham nhũng (PCIC) được thể hiện qua các khoản chi phí không chính thức như các doanh nghiệp cùng ngành thường phải trả thêm các khoản chi phí không chính thức. Đối với bộ dữ liệu PCI thì biến minh bạch và tham nhũng với ý nghĩa là kém minh bạch và tham nhũng càng lớn càng cho thấy hiệu quả quản trị hành chính công càng kém.

ảnh 3

Kết quả thống kê mô tả cho các biến trong mô hình được tổng hợp, tại Bảng 1 cho thấy, dữ liệu bảng thu thập là hoàn toàn cân bằng với số quan sát tối đa là 630 quan sát cho 63 tỉnh/thành phố trong thời gian khảo sát 10 năm từ năm 2006 đến năm 2015.

Trên thang điểm tối đa là 10 cho mỗi mục đánh giá nên chỉ số tổng hợp của các biến đại diện cho hiệu quả quản trị hành chính công trong hai bộ dữ liệu sẽ có giá trị trong khoảng từ 0 đến 10.

Trong bộ dữ liệu khảo sát, tính minh bạch và chống tham nhũng ở bộ dữ liệu PAPI nằm ở mức trên trung bình tương ứng là 5,94 và 5,69 trên 10. Ở bộ dữ liệu PCI thì tính kém minh bạch và tham nhũng là khá tiêu cực khi giá trị của hai biến này lần lượt là 5,84 và 6,20 với khoảng giao động khá rộng từ lân cận 2 đến 9.

Phương pháp ước lượng: Với đặc điểm biến phụ thuộc của phương trình hồi quy này lần lượt là biến giải thích cho 2 phương trình còn lại trong hệ thống 3 phương trình đồng thời (gọi tắt là hệ thống SEM).

Điều này cho thấy, có sự tương tác lẫn nhau tiềm ẩn giữa các biến cần nghiên cứu trong mô hình. Các biến này lần lượt được xem là các biến nội sinh trong mỗi phương trình mà nó đóng vai trò là các biến giải thích, từ đó dẫn đến khả năng các phần dư của mỗi phương trình có tương quan lẫn nhau.

ảnh 4Do vậy, cần thiết phải áp dụng một phương pháp ước lượng có thể xem xét tác động tương hỗ lẫn nhau để tránh các vấn đề thiên chệch trong quá trình phân tích.

Ngoài ra, trong trường hợp phương sai phần dư của các phương trình không đồng nhất giữa các tỉnh hay nói cách khác hệ thống tồn tại phương sai thay đổi thì cần xét đến vấn đề này trong SEM.

Trong hệ thống SEM, các vấn đề này có thể được thực hiện bằng ước lượng GMM theo 2 cách, đó là ước lượng hồi quy 3 bước (3SLS-GMM) và ước lượng GMM-HAC để khắc phục vấn đề phương sai thay đổi và tương quan đồng thời của các phần dư trong hệ thống (Andreas et. al, 2015).

Kết quả nghiên cứu

Kết quả ước lượng theo phương pháp 3SLS-GMM và GMM-HAC trong trường hợp sử dụng bộ dữ liệu PCI với 2 biến đại diện cho hiệu quả quản trị hành chính công là PCIC và PCIT được thể hiện ở Bảng 2 và Bảng 3; Kết quả đối chứng trên bộ dữ liệu PAPI với 2 biến đại diện cho hiệu quả quản trị hành chính công là PAPIC và PAPIT được thể hiện ở Bảng 4 và Bảng 5.

Các kết quả cho thấy, tồn tại mối quan hệ 2 chiều giữa tăng trưởng kinh tế – bất bình đẳng vùng và hiệu quả quản trị hành chính công. Theo đó, trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi thì hiệu quả quản trị hành chính công có tác động tích cực bất bình đẳng vùng và tăng trưởng kinh tế.

Hiệu quả quản trị hành chính công càng cao sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và làm giảm bất bình đẳng giữa các tỉnh. Ở chiều hướng khác, tăng trưởng kinh tế có thể cải thiện hiệu quả quản trị hành chính công nhưng lại làm tăng sự bất bình đẳng giữa các tỉnh.

Kết quả ở mỗi bộ dữ liệu có sự khác nhau về cách diễn, tuy nhiên, lại thống nhất nhau về mặt ý nghĩa. Cụ thể, kết quả ước lượng với bộ dữ liệu PCI cho 2 biến đại diện là tính kém minh bạch và chỉ số tham nhũng như sau:

ảnh 5Theo đó, không có sự chênh lệch đáng kể giữa 2 phương pháp 3SLS-GMM và GMM-HAC. Độ phù hợp của mỗi phương pháp ước lượng sẽ được kiểm tra thông qua thống kê J-Hansen. Các biến công cụ được sử dụng là phù hợp ở cả hai phương pháp.

Theo kết quả này, khi chỉ số tham nhũng càng tăng thì càng làm gia tăng bất bình đẳng và làm giảm thu nhập bình quân đầu người. Điều đó có ý nghĩa, tham nhũng có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng.

Trong giai đoạn phát triển kinh tế với thu nhập bình quân đầu người tăng thì bất bình đẳng sẽ tăng theo nhưng làm giảm tham nhũng. Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế sẽ cải thiện hiệu quả quản trị hành chính công, đồng thời, gia tăng bất bình đẳng trong thu nhập bình quân đầu người giữa các tỉnh. Ở khía cạnh khác, bất bình đẳng sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời cũng gia tăng sự tham nhũng.

Tương tự tiêu chí tham nhũng, tiêu chí kém minh bạch thông tin cũng có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng, tuy nhiên, với mức độ ảnh hưởng mạnh hơn.

Mô hình thỏa mãn sự phù hợp thông qua kiểm định J-Hansen, cũng như cho các các kết quả tương tự tiêu chí tham nhũng về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế – bất bình đẳng và hiệu quả quản trị hành chính công.

Sự phù hợp của kết quả về mối quan hệ đồng thời giữa giữa tăng trưởng kinh tế – bất bình đẳng và hiệu quả quản trị hành chính công  ở bộ dữ liệu PCI được kiểm chứng thông qua bộ dữ liệu PAPI trong giai đoạn 2011 – 2015 ứng với 2 chỉ số kiểm soát tham nhũng và tính minh bạch đại diện cho hiệu quả quản trị hành chính công lần lượt là PAPIC và PAPIT.

Tóm lại, từ kết quả ước lượng cho thấy, tồn tại mối quan hệ đồng thời giữa tăng trưởng kinh tế – bất bình đẳng và hiệu quả quản trị hành chính công. Như vậy, hiệu quả quản trị hành chính công được nâng cao sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm bất bình đẳng về thu nhập giữa các tỉnh.

Ở chiều ngược lại, tăng trưởng kinh tế lại thúc đẩy cải thiện hiệu quả quản trị hành chính công nhưng có sự đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế và gia tăng bất bình đẳng. Đồng thời, bất bình đẳng tồn tại sẽ làm giảm động lực cải thiện hiệu quả quản trị hành chính công.

Tài liệu tham khảo:

1. Kuznets, S (1955), Economic growth and income inequality.The American Economic Review., Vol.XLV, 1955;

2. Kyriacou, A.P., Muinelo-Gallo, L. and Roca-Sagalés, O., 2015. Regional inequalities, fiscal decentralization and government quality: empirical evidence from simultaneous equations (No. 1501). GEN-Governance and Economics research Network, Universidade de Vigo;

3. Baum, C. F. 2006. An Introduction to Modern Econometrics Using Stata. College Station, TX: Stata Press;

4. Davidson, R., and J. G. MacKinnon. 1993. Estimation and Inference in Econometrics. New York: Oxford University Press;

5. Zellner, A., and H. Theil. 1962. Three stage least squares: Simultaneous estimate of simultaneous equations. Econometrica 29: 54–78.

——————&&&——————-

Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập: Lý thuyết và thực tiễn ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập: Lý thuyết và thực tiễn ở Việt Nam

(Tác giả: Lê Quốc Hội – Nguồn: http://www.vusta.vn)

 Bài viết giới thiệu một số lý thuyết về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập; vận dụng vào phân tích thực trạng tăng trưởng kinh tế, bất bình đẳng và giảm nghèo ở Việt Nam, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, bảo đảm công bằng xã hội và lợi ích chính đáng của mọi tầng lớp nhân dân trong quá trình phát triển.

  1. Các lý thuyết về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập

– Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng từ lâu đã trở thành chủ đề được quan tâm của các nhà nghiên cứu ở các nước phát triển cũng như đang phát triển.

Giả thiết hình chữ U ngược của Kuznets (1955) có lẽ là nghiên cứu đầu tiên xem xét môi quan hệ giữa bất bình đẳng trong phân phối thu nhập và tăng trưởng kinh tế. Theo Kuznets, bất bình đẳng sẽ tăng cùng với tăng trưởng trong giai đoạn đầu của sự phát triển, do một lượng di chuyển lớn của những người làm trong lĩnh vực nông nghiệp với thu nhập thấp sang lĩnh vực công nghiệp với thu nhập cao hơn, nhưng phân phối không công bằng. Tuy nhiên, trong giai đoạn sau của sự phát triển, khi một số lượng lớn dân số đã chuyển sang khu vực đô thị, sẽ có một sự gia tăng tiền lương tương đối của những người lao động nghèo ở cả thành thị và nông thôn. Sẽ có nhiều giải pháp chính sách được thực hiện để giảm bất bình đẳng trong nội bộ ngành và giữa các ngành. Do vậy, bất bình đẳng thu nhập chung trong nền kinh tế sẽ giảm trong giai đoạn sau của sự phát triển. Một hàm ý chính sách rút ra từ lý thuyết của Kuznets là: nếu trong giai đoạn đầu tăng trưởng dẫn đến bất bình đẳng hơn, thì giảm nghèo sẽ mất nhiều thời gian hơn ở các nước đang phát triển.

Trong những thập kỷ gần đây, một loạt các lý thuyết khác đã được đưa ra để xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng. Thay vì tập trung vào giả thuyết của Kuznets, các nhà nghiên cứu trong lý thuyết tăng trưởng nội sinh đã đưa ra những công trình nghiên cứu để tìm hiểu tác động của bất bình đẳng lên tăng trưởng kinh tế. Mặc dù hầu hết các công trình nghiên cứu đều chỉ ra tác động tiêu cực của bất bình đẳng đến tăng trưởng, nhưng các kênh mà qua đó tác động này thực hiện là có sự khác nhau giữa các lý thuyết. Trên thực tế, có 6 dòng lý thuyết xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng.

– Lý thuyết kinh tế chính trị được xây dựng bởi các nhà nghiên cứu Alesina và Rodrik (1994), Presson và Tabellini (1994) đã cố gắng xây dựng một cầu nối giữa lý thuyết tăng trưởng nội sinh và lý thuyết kinh tế chính trị nội sinh. Trong xã hội dân chủ, mức thuế được xác định bởi những người trung lưu. Thuế được giả định tỷ lệ thuận với thu nhập và chi tiêu công sẽ tăng vì doanh thu thuế được phân bổ tới tất cả mọi người. Tuy nhiên, lợi ích của người nghèo nhận được sẽ lớn hơn lợi ích của người giàu. Do vậy, người nghèo sẽ ưa thích một mức cao của sự phân bổ thuế. Nhưng trong xã hội bất bình đẳng, thu nhập của người trung lưu là thấp hơn mức thu nhập trung bình, khi đó một lượng lớn người ưa thích mức phân bổ lại thu nhập sec làm hạn chế đầu tư do lợi ích thu được thấp. Tác động tiêu cực của bất bình đẳng sẽ được nhân lên nếu mức độ lệch của của cải không hướng về người nghèo. Hàm ý của lý thuyết này là một xã hội càng rời xa mẫu hình dân chủ thì càng có ít cơ hội để giảm mức độ bất bình đẳng qua phân phối lại.

– Lý thuyết thị trường vốn không hoàn hảo được xây dựng bởi các nhà nghiên cứu Galor và Zeira (1993), Aghion và Bolton (1997), Chiou (1998) dựa vào vai trò được thực hiện bởi sự không hoàn hảo trên thị trường vốn. Cụ thể, trong những nước mà các nguồn vốn vay, bất bình đẳng hàm ý rằng một tỷ lệ tương đối lớn của dân số sẽ nằm dưới mức chi phí chuẩn của giáo dục.Do vậy, đầu tư vào nguồn nhân lực sẽ thấp và nếu tăng trưởng được dựa trên đầu tư vào nguồn nhân lực thì tăng trưởng cũng sẽ thấp. Sự phân bố lại sẽ làm tăng tổng sản lượng và tăng trưởng, bởi vì nó cho phép người nghèo có thể đầu tư vào nguồn nhân lực của họ. Nếu nền kinh tế phát triển, thị trường vốn sẽ được hoàn thiện và những tác động liên quan tới sự không hoàn hảo của thị trường vốn sẽ đóng vai trò quan trọng hơn ở những nước nghèo hơn là những nước giàu. Do vậy, những tác động có thể dự báo của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế sẽ lớn hơn về mức độ đối với những nước nghèo. Lập luận về sự không hoàn hảo của thị trường vốn cũng rất phù hợp để giải thích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ đói nghèo. Trong khi bất bình đẳng không phải luôn luôn có nghĩa rằng một tỷ lệ lớn của dân số là quá nghèo để tiếp cận vốn, thì một tỷ lệ lớn của đói nghèo sẽ không có nghi ngờ gì rằng có nhiều người hơn bị ràng buộc về vốn. Chẳng hạn, bất bình đẳng trong một nền kinh tế có thể cao trong khi cuộc sống của tất cả mọi người dân trong nước được cải thiện. Do vậy, chúng ta có thể dự đoán một mối quan hệ tiêu cực giữa tăng trưởng kinh tế và đói nghèo.

– Lý thuyết liên kết của Benabou (1996) cung cấp một khung khổ mà ở đó tác động của tái phân phối lên tăng trưởng là không nhất thiết tuyến tính. Có hai tác động ngược chiều nhau. Tái phân phối sẽ tốt nếu chi tiêu công được dành cho đầu tư giáo dục ở một nước với thị trường vốn không hoàn hảo và sẽ xấu nếu nó chỉ chuyển giao thu nhập từ người giàu sang người nghèo, bởi vì nó làm giảm lợi tức từ đầu tư của người giàu. Do vậy, tăng trưởng là có liên kết hình chữ U ngược đối với tái phân phối và tái phân phối là có liên kết hình chữ U ngược đối với bất bình đẳng.

– Lý thuyết bất ổn định về chính trị – xã hội được xây dựng bởi các công trình nghiên cứu của Alesina và cộng sự (1996), Benhabib và Rustichini (1996), Grossman và Kim (1996). Lý thuyết này nhấn mạnh hệ quả của bất bình đẳng đến sự bất ổn định chính trị và xã hội. Cụ thể, bất bình đẳng là một nhân tố quan trọng quyết định đến bất ổn về chính trị, xã hội và nó có tác động tiêu cực đến tăng trưởng thông qua việc làm giảm kỳ vọng lợi ích từ đầu tư. Bất bình đẳng làm gia tăng xung đột xã hội, hệ quả là làm cho quyền sở hữu tài sản kém đảm bảo và làm giảm tăng trưởng. Hơn nữa, sự tham gia của người nghèo vào tội phạm và những hành động chống xã hội là biểu hiện của lãng phí trực tiếp nguồn lực vì thời gian và vật chất của tội phạm không đóng góp vào hoạt động sản xuất. Những hoạt động phòng chống tội phạm tiềm năng cũng biểu hiện một sự lãng phí nguôn lực khác nữa.

– Lý thuyết những vấn đề về giáo dục và sinh sản được xây dựng bởi Perotti (1996). Theo lý thuyết này, bất bình đẳng có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua quyết định của các hộ gia đình về giáo dục và sinh đẻ. Bố mẹ phải tối ưu việc sử dụng những nguồn lực của gia đình bằng những cách thông qua cải thiện về chất lượng (giáo dục), hoặc về số lượng (sinh đẻ) của con cái họ. Do giáo dục có chi phí tương đương với những thu nhập kiếm được mà họ vào đó là vào số lượng con cái. Tuy nhiên, tăng trưởng được thúc đẩy bởi sự đầu tư vào nguồn nhân lực, do vậy một xã hội có bất bình đẳng cao sẽ thể hiện một số lượng lớn những gia đình nghèo đầu tư vào số lượng hơn là vào giáo dục. Tỷ lệ sinh sản cao của xã hội này sẽ dẫn đến tăng trưởng thấp.

– Lý thuyết so sánh xã hội được xây dựng bởi Knell (1998). Lý thuyết này được xây dựng trên cơ sở lý thuyết về liên kết của Benabou (1996). Lý thuyết này dựa trên giả định rằng, tối đa hoá lợi ích của mỗi cá nhân không chỉ phụ thuộc vào mức tiêu dùng của bản thân, mà còn phụ thuộc vào mức tiêu dùng trung bình của một số nhóm tiêu biểu. Trong một xã hội bất bình đẳng, các gia đình nghèo thưòng bị cám dỗ phải tuân theo quy tắc và kỳ vọng về những chuẩn mực xã hội, bằng cách tham gia vào những hoạt động tiêu dùng cao hơn và bằng cách giảm đầu tư vào giáo dục để giảm khoảng cách với những gia đình giàu. Những hoạt động như vậy sẽ tối đa hoá phúc lợi hiện tại, nhưng sẽ làm giảm tăng trưởng và phúc lưọi tương lai.

Như vậy, các lý thuyết đã đưa ra nhiều kênh mà qua đó bất bình đẳng có thể tác động đến tăng trưởng và sự tác động này có thể diễn ra theo nhiều chiều. Hơn nữa, nó cũng rất khó để xác định kênh nào sẽ có vai trò chi phối nếu chỉ sử dụng các lý thuyết và phân tích định tính. Do vậy, để nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng, cần thiết phải xem xét các kênh tạo ra bất bình đẳng và ước lượng tác động của những kênh này đến tăng trưởng kinh tế.

  1. Thực trạng về tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng ở ViệtNam

Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nổi bật về tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng cao, liên tục đã đem lại lợi ích cho mọi khu vực, mọi tầng lớp dân cư và là yếu tố quyết định nâng cao mức sống nhân dân, giảm nhanh tỷ lệ nghèo. Trong giai đoạn 1993-2006, tăng trưởng kinh tế đạt bình quân khoảng 7,5%; tỷ lệ nghèo cũng giảm nhanh từ 58,1% năm 1993 xuống còn 15,9% năm 2006, bình quân mỗi năm giảm trên 2% hộ nghèo. Thu nhập bình quân của 20% nhóm nghèo nhất năm 1995l là 74.300 đồng/người/năm, đến năm 2002 đạt 107.000 đồng/người/năm vào năm 2006 (bảng 2). Bên cạnh đó, chất lượng cuộc sống của người dân ở các vùng nghèo, xã nghèo được nâng cao. Các vùng miền núi và trung du Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên là những vùng có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất, nhưng số hộ tự đánh giá là có mức sống khá lên là khá cao (lần lượt là 57,78%; 58,44% và 49,46%). Điều này chứng tỏ thành quả của tăng trưởng đã được phân bổ đến từng tầng lớp dân cư nghèo.

Nhờ duy trì tăng trưởng cao, Nhà nước cũng đã dành nguồn lực đáng kể cho các chương trình an sinh xã hội cho người nghèo. So sánh số liệu điều tra hộ gia đình năm 1998, 2004 và 2006 ở Bảng 1 cho thấy độ bao phủ của bảo hiểm y tế đã tăng trong tất cả các nhóm thu nhập và chính sách phân phối lại thông qua cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí là đặc biệt có lợi cho người nghèo. Nhóm nghèo nhất có sự gia tăng nhanh nhất về tỷ lệ phần trăm người có bảo hiểm y tế, từ 6,22% năm 1998 lên 22,69% năm 2004 và 66,3% năm 2006. Nhóm nghèo nhất cũng đã vươn lên đứng đầu về mức độ bao phủ về bảo hiểm y tế năm 2006.

BẢNG 1: Tỷ lệ phần trăm người có bảo hiểm y tế theo các nhóm thu nhập

Nhóm thu nhập 1998 2994 2006
Nhóm nghèo nhất 6,22 22,69 66,3
Nhóm cận nghèo 9,67 23,22 48,9
Nhóm trung bình 13,59 26,15 44,3
Nhóm cận giàu 20,18 34,41 49,1
Nhóm giàu nhất 28,99 44,12 57,1

Nguồn : Điều tra mức sống hộ gia đình năm 1998, 2004, 2006.

Tuy nhiên, cùng với tăng trưởng, bất bình đẳng thể hiện qua hệ số GINI theo tiêu dùng của Việt Nam có xu hướng tăng (tuy không quá lớn) trong những năm qua, từ 35% năm 1993, lên 34% năm 1998 và 36% năm 2006. Hệ số GINI theo thu nhập có sự gia tăng nhanh hơn từ 34% năm 1993 lên 39% năm 1998 và 43% năm 2006. Tuy nhiên, hệ số GINI của Việt Nam chưa tính tới những bất bình đẳng bắt nguồn từ những sự chệnh lệch về tài sản và thu nhập từ thừa kế, từ đầu cơ đất đai, chứng khoán, tham nhũng… Do vậy trên thực tế, tình trạng bất bình đẳng của Việt Nam có thể cao hơn là thể hiện qua hệ số GINI.

Một khía cạnh khác để đánh giá tình trạng bất bình đẳng ở Việt Nam là so sánh khoảng cách chi tiêu, thu nhập của người giàu và người nghèo được đại diện bởi nhóm 20% những người giàu nhất và 20% những người nghèo nhất. Ở Việt Nam, sự chênh lệch này đã và đang gia tăng liên tục và đáng kể. Theo bảng 2, năm 1995, thu nhập bình quân đầu người của những hộ gia đình giàu nhất cao gấp 7 lần so với những hộ gia đình nghèo nhất thì đến năm 2006, tỷ lệ này đã tăng lên 8,4 lần.

BẢNG 2: Thu nhập bình quân đầu người và chênh lệch thu nhập

Năm Thu nhập bình quân một người một tháng theo giá thực tế (nghìn đồng) Chênh lệch giữa nhóm thu nhập cao nhất so với nhóm thu nhập thấp nhất (lần)
Nhóm thu nhập cao nhất Nhóm thu nhập thấp nhất
1995 519,6 74,3 7,0
1996 574,7 78,6 7,3
1999 741,6 97,0 7,6
2002 872,9 107,0 8,1
2004 1182,3 141,8 8,3
2006 1542,0 184,0 8,4

Nguồn : Tổng cục Thống kê, Điều tra mức sống dân cư từ 1993 đến 2006.

Số liệu về chi tiêu ở bảng 3 cũng phản ánh tình trạng tương tự, tỷ trọng chi tiêu của nhóm người giàu nhất tăng từ 41,8% năm 1993 lên 43,3% năm 2006, trong khi đó tỷ lệ này của nhóm người nghèo nhất lại giảm từ 8,4% xuống còn 7,2% trong cùng thời kỳ. Điều này cho thấy một thực tế là sự chênh lệch về thu nhập tuyệt đối ở Việt Nam đang tăng lên nhanh. Tuy nhiên, cũng cần phải nhìn nhận rằng bất bình đẳng này ở Việt Nam không phải là hiện tượng người giàu giàu lên, người nghèo nghèo đi mà là người giàu giàu nhanh hơn người nghèo, vì thực tế cho thấy ngay trong bối cảnh khoảng cách chênh lệch giàu nghèo doãng ra thì thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo đã tăng lên và tỷ lệ hộ nghèo đã giảm mạnh trong thời gian qua.

BẢNG 3: Tỷ trọng chi tiêu của các nhóm 20% ở Việt Nam (%)

Năm Phần năm giàu nhất Phần năm gần giàu nhất Phần năm trung bình Phần năm gần nghèo nhất Phần năm nghèo nhất
1993 41,78 21,56 15,99 12,27 8,41
1998 43,30 21,46 15,57 10,72 8,05
2002 45,90 20,60 14,60 11,20 7,80
2004 44,68 21,92 15,20 1,18 7,12
2006 43,30 22,30 15,80 11,50 7,20

Nguồn : Tổng cục Thống kê, Điều tra mức sống dân cư từ 1993 đến 2006.

Xem xét tỷ lệ nghèo ở nông thôn và thành thị ở bảng 4 cho thấy chênh lệch về tỷ lệ nghèo giữa hai khu vực này rất lớn và kéo dài trong suốt thời kỳ 1993 đến nay mặc dù tỷ lệ nghèo ở khu vực nông thôn đã giảm nhanh chóng từ 66,4% năm 1993 xuống còn 20,4% năm 2006. Tuy nhiên, do tỷ lệ nghèo ở khu vực thành thị giảm nhanh hơn từ mức 25,1% năm 1993 xuống còn 3,9% năm 2006 nên trên thực tế sự chênh lệch giàu nghèo giữa hai khu vực này ngày càng doãng ra rộng hơn. Điều này cho thấy vấn đề nghèo không chỉ chủ yếu tập trung ở các vùng nông thôn, mà tình trạng bất bình đẳng giữa nông thôn và thành thị ở Việt Nam đã trở nên đáng quan tâm hơn và cần thiết có sự can thiệp của Nhà nước.

BẢNG 4: Tỷ lệ nghèo theo khu vực ở Việt Nam thời kỳ 1993-2006

1993 1998 2002 2004 2006
Nông thôn 66,4 45,5 35,6 25,0 20,4
Thành thị 25,1 9,2 6,6 3,6 3,9

Nguồn : Tổng cục Thống kê, Điều tra mức sống dân cư từ năm 1993 đến năm 2004.

Tác động của tăng trưởng đến gia tăng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam trong thời gian qua được bắt nguồn từ các kênh chính sau đây:

– Do chuyển đổi cơ chế từ kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường. Cơ chế mới đã loại bỏ dần tính bình quân bao cấp, phát huy các hình thức phân phối theo nguyên tắc thị trường, khuyến khích làm giàu bằng việc phát huy các nguồn lực về vốn, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, sức lao động, kinh nghiệm làm ăn… Với cơ chế này, sự gia tăng bất bình đẳng ở nước ta là tất yếu, có thể chấp nhận được vì cơ chế này tạo ra động lực cho mọi người làm việc, cống hiến, qua đó tạo động lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế. Ở một cách nhìn nhận khác, bất bình đẳng xuất phát từ kênh này ở Việt Nam vẫn ở trong thời gian hạn hợp lý của sự “đánh đổi”.

– Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá dẫn đến tăng trưỏng nóng và đã làm phát sinh nhiều vân đề xã hội bức xúc mới liên quan đến bất bình đẳng như: nông dân mất việc làm ở vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp; di cư lao động từ nông thôn ra thành thị tìm việc làm (vấn đề xã hội của lao động nhập cư); mất việc làm do tác động của hội nhập, khủng hoảng, suy thoái kinh tế toàn cầu, trong đó phần lớn là lao động kỹ năng thấp và từ nông thôn, hộ nghèo…, phần lớn trong số này lại trở về nông thôn. Tất cả những hiện tượng này dẫn đến hậu quả xã hội là phân hoá giàu nghèo có xu hướng gia tăng, vấn đề nghèo tương đối ngày càng nghiêm trọng. Bất bình đẳng xuất phát từ kênh này là vấn đề khó tránh khỏi, nhưng Nhà nước có thể can thiệp để hạn chế tình trạng này.

– Do quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế. Thực tế, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã tạo ra những nguồn lợi cho một số vùng, một số ngành và một số bộ phận dân cư trong nền kinh tế. Chênh lệch về thu nhập giữa nông nghiệp và công nghiệp, dịch vụ, giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động có tay nghề và lao động đơn giản, giữa lao động làm trong các công ty nước ngoài và lao động khu vực trong nước đã gia tăng. Những tỉnh có bộ máy hành chính kém hiệu quả và những thủ tục kinh doanh khó khăn cũng đã dần tụt hậu do khu vực tư nhân ở đó kém năng động hơn, tạo ít việc làm hơn. Sự gia tăng bất bình đẳng từ quá trình hội nhập kinh tế cũng là tất yếu xảy ra và ở đây cần có vai trò quản lý, điều tiết của Nhà nước để khắc phục tình trạng này.

– Mô hình tăng trưởng và cơ chế phân bổ nguồn lực trong thời gian qua có ảnh hưởng mạnh đến bất bình đẳng. Trong những năm qua, Việt Nam thực hiện định hướng ưu tiên phân bổ nguồn lực: (i) cho các ngành và sự án dùng nhiều vốn; (ii) cho các vùng có khả năng tăng trưởng cao (vùng trọng điểm); (iii) cho các doanh nghiệp nhà nước. Việc áp dụng mô hình tăng trưởng và định hướng phân bổ nguồn lực như vậy có những hệ quả rõ rệt đến mục tiêu nâng cao công bằng xã hội. Cụ thể là tăng trưởng cao nhưng không mở rộng cơ hội việc làm tương ứng, chi phí tạo ra một chỗ việc làm cao, có nghĩa là tăng trưởng không được phân bổ một cách rộng rãi cho các tầng lớp dân cư và gây ra tình trạng bất bình đẳng. Do vậy, cần phải có sự điều chỉnh mô hình tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới để hạn chế bất bình đẳng từ kênh này.

– Cơ chế xin cho, bao cấp, bảo hộ nhà nước, môi trường kinh doanh không bình đẳng đã hình thành các nhóm lợi ích mạnh và gia tăng bất bình đẳng. Có một nhóm người giàu nhanh nhờ đặc quyền tiếp cận với các thông tin và nguồn lực phát triển. Mặt khác, một bộ phận giàu lên nhanh chóng bằng tham nhũng, buôn lậu, trốn thuế, ăn cắp bản quyền, đầu cơ đất đai, mua bán chứng khoán… Trong khi đó một bộ phận dân cư không có cơ hội làm giàu hoặc làm ăn yếu kém, sinh đẻ không có kế hoạch, sa vào các tệ nạn xã hội. Xu hướng thương mại hoá tràn lan trong giáo dục, y tế và các dịch vụ xã hội khác cũng dẫn đến người nghèo khó hoặc không thể tiếp cận, không được hưởng thụ mà lẽ ra có quyền được hưởng phúc lợi xã hội… Bất bình đẳng được bắt nguồn chính từ kênh này là vấn đề đáng lo ngại ở Việt Nam, vì nếu mọi người đều cảm thấy không công bằng và có sự gian lận trong quá trình phát triển kinh tế, thì sự liên kết xã hội sẽ bị mất và sự ổn định chính trị – xã hội sẽ bị huỷ hoại. Do vậy, đây là loại bất bình đẳng mà Nhà nước cần quan tâm giải quyết.

  1. Một số giải pháp để kết hợp tăng trưởng và công bằng xã hội ở ViệtNam

Các chính sách và giải pháp kết hợp giữa tăng trưởng và công bằng xã hội không những chỉ hướng tới mục tiêu công bằng trong thu nhập, mà xa hơn là mở rộng khả năng tiếp cận cho người nghèo hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế. Do vậy, để giải quyết tốt mối quan hệ này, cần thực hiện có hiệu quả các giải pháp sau đây.

Thứ nhất, xây dựng và thực hiện mô hình tăng trưởng công bằng, vì người nghèo. Mô hình này phải đảm bảo thu nhập của người nghèo tăng nhiều hơn so với thu nhập trung bình của xã hội và góp phần giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quy định. Trong mô hình này cần phát huy vai trò của khu vực tư nhân trong đầu tư tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, tạo việc làm và mở rộng sự tham gia của các đối tác xã hội vào công cuộc xoá đói giảm nghèo. Bên cạnh đó, mô hình tăng trưởng phải vừa đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng cao, ổn định, vừa phải đạt được trên diện rộng có lợi cho người nghèo.

Thứ hai, các chính sách của Nhà nước phải hướng vào việc khuyến khích, tạo cơ hội để người nghèo và các nhóm yếu thế tham gia hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế. Điều này có thế thực hiện được thông qua các chính sách trợ giúp về phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, đất đai, vốn tín dụng, khuyến nông, tiêu thụ sản phẩm. Người nghèo và các nhóm yếu thế cũng cần được tạo cơ hội được tham gia, có tiếng nói của mình đối với các hoạt động lập kế hoạch phát triển kinh tế, giảm nghèo cho bản thân và địa phương. Cải cách thị trường lao động và chính sách tạo việc làm theo hướng linh động theo ngành, nhóm yếu thế từ những tỉnh nghèo, vùng nghèo tham gia vào thị trường lao động. Mặt khác, nguồn thu nhập chính của đại bộ phận người nghèo và người yếu thế là từ nông nghiệp. Do vậy, cải thiện năng suất và tốc độ tăng trưởng nông nghiệp là một giải pháp quan trọng để xóa đói, giảm nghèo. Nhà nước có thể thực hiện điều này thông qua đầu tư công nghệ cho nông nghiệp, phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn.

Thứ ba, cần có những chính sách cho vấn đề di dân. Việc di dân từ nông thôn ra thành thị để cải thiện thu nhập là vấn đề phổ biến không chỉ ở Việt Nam, mà còn ở các nước đang phát triển. Tuy nhiên cần phải nhìn nhận rằng vấn đề này có cả mặt tích cực và tiêu cực. Do vậy, Chính phủ cần phải thực hiện những chính sách có mục tiêu để hạn chế những mặt tiêu cực và bảo vệ những người di cư từ những rủi ro.

Thứ tư, thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với những khu vực kém phát triển và đối với người nghèo. Điều này, có thể thực hiện thông qua nhiều kênh: (i) các chương trình trợ giúp về phát triển cơ sở hạ tầng, các trợ giúp về tín dụng, đất đai, dạy nghề, tạo việc làm, truyền đạt kinh nghiệm sản xuất; (ii) các ưu đãi về y tế, giáo dục, văn hoá, nhà ở; (iii) cân đối các khoản giải ngân ODA cũng cần hướng đến các tỉnh vùng sâu, xa, vùng khó khăn. Thực tế, khi mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng càng gắn kết thì vai trò của chính sách xã hội đối với quá trình tăng trưởng và giảm bất bình đẳng cần đặc biệt chú trọng hơn. Do vậy, trong quá trình tăng trưởng kinh tế, cần kiểm soát thường xuyên, chặt chẽ các chỉ tiêu phát triển xã hội, trong đó trọng tâm là xoá đói giảm nghèo, giảm bất bình đẳng và nhấn mạnh ngày càng nhiều hơn đến yêu cầu giải quyết các nội dung này trong các chính sách và giải pháp tăng trưởng.

Thứ năm, Việt Nam cần phải cải cách chính sách phân phối tài sản, thu nhập trong nền kinh tế theo hướng phải đảm bảo công bằng, hướng đến người nghèo. Hơn nữa, Nhà nước cần đưa ra và áp dụng các biện pháp để hạn chế tình trạng bất bình đẳng tài sản từ những hoạt động không phải từ sản xuất kinh doanh như: (i) thực hiện bắt buộc việc kê khai tài sản đối với cán bộ công chức; (ii) nghiên cứu và áp dụng các loại thuế thừa kế tài sản, thuế tài sản, thuế vốn… trong thời gian tới.

Cuối cùng, để thực hiện được tăng trưởng kinh tế đi đôi với đảm bảo công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường, vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước là hết sức quan trọng. Nhà nước phải biết tận dụng mặt mạnh của cơ chế thi trường để giải phóng, phát triển sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, Nhà nước phải kết hợp sử dụng có hiệu quả các công cụ pháp luật, quy hoạch, chính sách, sức mạnh của khu vực kinh tế nhà nước để khắc phục những thất bại của cơ chế thị trường nhằm thúc đẩy kinh tế tăng trưởng bền vứng, bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ lợi ích chính đáng của mọi tầng lớp nhân dân./.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Aghion, P, Caroli, E, and Garcia-Penalosa, C. 1999, Inequality and economic growth: The perspective of the new growth theories,Journal of Economic Literature, 37.
  2. Alesina, A and Rodrick, D. 1994,Distributive politics and economic growth, Quarterly Journal of Economic, 109.
  3. Benabou, R. 1996,Inequality and growth, NBER Macroeconomics Annual.
  4. Benhabib, J and Speiegel, A. 1996,Social conglic and growth, Journalog Economic Growth, 1(1).
  5. Galor, O and Zeira, J. 1993,Income distribution and macroeconomics, Review of Economic Studies, 60.
  6. Knell, M. 1998, Social comparisions, inequality and growth, Mimeo,Universityof Zurich.
  7. Lopez, H. 2005,Growth and inequality: Are they connected?The World Bank.
  8. Lê Quốc Hội, 2009,Tác động của tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập đến xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 145, tháng 8-2009.
  9. Lê Quốc Hội, 2009,Tăng trưởng vì người nghèo ở ViệtNam: thành tựu, thách thức và giải pháp, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 229, tháng 11-2009.
  10. Nguyễn Văn Nam và Trần Thọ Đạ, 2006,Tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở ViệtNam, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân.
  11. Perotti, M.1993,Political equilibrium, income distribution and growth,Review og Economic Studies, 60(4).
  12. Persson, T and Tabellini, G. 1994,Is inequality harmful for growth?American Economic Review, 84(3).
  13. Kuznets, S. 1955,Economic growth and income inequality, American Economic Review , 45(1).

Tác giả bài viết: Lê Quốc Hội


Xem thêm:

—————–&&&—————–