Tăng trưởng GDP và FDI

Tăng trưởng GDP và FDI

(Tác giả: Bùi Trinh – Nguồn: http://tiasang.com.vn)

Tăng trưởng GDP được hầu hết các nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia kinh tế đề cập và lấy đó như là một niềm vui nỗi buồn, là điểm sáng của nền kinh tế đất nước.


Lắp ráp linh kiện điện tử tại Công ty Samsung  Electronics Việt Nam. Ảnh: Thanh Hải.

Có thể thấy trong những năm qua hầu như không năm nào tăng trưởng GDP không đạt mục tiêu được đề ra từ đầu năm. Tuy nhiên trong hơn 10 năm qua nhiều người dân dường như cảm thấy việc tăng trưởng GDP không có liên quan gì nhiều đến cuộc sống của mình. Vậy ai được hưởng lợi từ việc tăng trưởng này? Nhìn sâu vào số liệu tăng trưởng GDP theo thành phần kinh tế trong khoảng thời gian 2005 – 2016 có thể thấy khu vực FDI là khu vực “gánh” tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Các thành phần kinh tế trong nước có mức tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 12 năm thấp hơn mức tăng trưởng GDP bình quân chung khá nhiều, chỉ có khu vực FDI tăng trưởng cao hơn mức bình quân chung (7,5% so với 6,1% – Hình 1). Như vậy một loạt câu hỏi được đặt ra như tại sao trong năm thành phần kinh tế công bố trong niên giám thống kê gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể và FDI chỉ có khu vực FDI là tăng trưởng tốt; phải chăng khu vực này được hưởng quá nhiều lợi thế so với khu vực kinh tế trong nước, từ được ưu đãi về chính sách thuế, tiếp cận đất đai, chủ động được về vốn? Đất nước này được gì từ tăng trưởng của khu vực này? Để ý rằng trong phần giá trị gia tăng của khu vực FDI bao gồm:

+ Thu nhập của người lao động;

+ Thặng dư sản xuất gộp (bao gồm khấu hao tài sản cố định);

+ Thuế gián thu.

Về thu nhập, người lao động Việt Nam chỉ nhận được một phần từ lao động giá rẻ, các vị trí chủ chốt đều là người nước ngoài (vì thường trú ở Việt Nam trên một năm nên về nguyên tắc vẫn tính vào giá trị gia tăng của nền kinh tế), lương của 8 – 10 người Việt Nam mới bằng lương một người ngoại quốc.


Hình 1. Tăng trưởng bình quân GDP theo các thành phần kinh tế giai đoạn 2005 – 2016 (giá so sánh 2010). Nguồn TCTK.

Về thặng dư thì đấy là thặng dư của họ, họ có thể giữ lại để tái đầu tư mở rộng sản xuất nếu thấy lợi và cũng có thể chuyển về nước nếu thấy không thuận lợi hoặc không còn lời nữa. Hầu hết các doanh nghiệp FDI đều báo cáo lỗ hoặc lãi một chút, như vậy thuế thu nhập doanh nghiệp phía Việt Nam thu được chẳng là bao. Năm 2016 tổng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp khối FDI được miễn giảm và ưu đãi ở mức 35.300 tỷ Việt Nam đồng. Nếu tính toán kỹ nhiều doanh nghiệp FDI thì tổng số thuế được ưu đãi từ khi đi vào hoạt động cũng tương đương số vốn họ bỏ ra đầu tư vào Việt Nam. Chẳng hạn như Samsung electronic nhận được miễn thuế 4 năm đầu, 9 năm tiếp theo được hưởng mức thuế TNDN 5% và 17 năm sau đó ở mức thuế 10%. Doanh nghiệp nội chỉ được ưu đãi gần 21% số thuế phải nộp trong khi doanh nghiệp FDI được hưởng gần 92%. Sự bất bình đẳng này khiến doanh nghiệp nội không thể cạnh tranh với doanh nghiệp FDI.

Về thuế gián thu có hai vấn đề. Thứ nhất thuế gián thu các doanh nghiệp FDI cũng được ưu đãi về chính sách thuế, hầu hết các doanh nghiệp FDI đều làm gia công rồi xuất khẩu, các doanh nghiệp này do xuất khẩu trực tiếp nên đầu vào nhập khẩu được ưu đãi thuế, trong khi các doanh nghiệp nội không được ưu đãi thuế nếu bán hàng trong nước, có thể thấy việc kêu gọi về sản xuất sản phẩm phụ trợ trong cả chục năm qua chỉ là kêu gọi để đấy, chính sách về thuế xuất nhập khẩu không cho thấy có hành động gì chứng tỏ sự bằng phẳng giữa các loại hình doanh nghiệp. Và thứ hai là thuế này về bản chất là người dân Việt Nam phải trả khi sử dụng sản phẩm của họ. Sử dụng sản phẩm FDI trong trường hợp hầu hết là gia công thực chất là dùng hàng nhập khẩu dưới hình thức khác.

Như vậy, trong giá trị gia tăng của khu vực FDI được tính vào GDP của Việt Nam, phía Việt Nam từ Chính phủ đến người dân chẳng được bao nhiêu và do hầu hết là gia công nên gần như không có sự lan tỏa gì về công nghệ. Trong một nghiên cứu của một nhóm chuyên gia của trường Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy khu vực FDI thải ra lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính cao hơn khí thải từ các phương tiện tham gia giao thông khá nhiều. Vậy phải chăng Việt Nam cần có một chiến lược về thu hút FDI hiệu quả và hữu ích với đất nước hơn.

Từ khi chuyển từ hệ thống hạch toán sản xuất vật chất (MPS) sang hệ thống tài khoản quốc gia (SNA), một số người đã mặc nhiên xem GDP bình quân đầu người như là thu nhập bình quân đầu người. Khi nói đến GDP bình quân đầu người nhiều người lập tức so sánh đến thu nhập của dân cư. Thực chất về cơ bản GDP được nhìn dưới ba góc độ:
+ Ở giác độ sử dụng cuối cùng: GDP bao gồm tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình, tiêu dùng cuối cùng của nhà nước, tích lũy tài sản gộp và xuất khẩu thuần;
+ Dưới giác độ sản xuất: GDP = tổng giá trị sản xuất theo giá cơ bản – tổng chi phí trung gian
+ thuế sản phẩm
– Trợ giá sản phẩm;
+ Dưới giác độ thu nhập bao gồm mấy nhân tố cơ bản : Thu nhập của người lao động, thặng dư sản xuất, khấu hao tài sản cố định và thuế sản xuất – trợ cấp sản phẩm.
Đối với mỗi Quốc gia thì GDP cũng chỉ là chỉ tiêu sơ khởi vì sau đó còn một số chỉ tiêu khác như GNI (Tổng thu nhập quốc dân), NDI (thu nhập quốc dân khả dụng), và để dành (saving, hay là tích lũy trong nền kinh tế)…
• GNI = GDP + thu nhập từ sở hữu thuần với nước ngoài;
• NDI = GNI + thu nhập từ chuyển nhượng hiện hành thuần với nước ngoài + thuế trực thu (thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp);
• Để dành = NDI – tiêu dùng cuối cùng (bao gồm tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình và TDCC của NN).
Theo số liệu của ADB có thể thấy GNI chiếm tỷ trọng ngày càng nhỏ và luồng tiền chi trả sở hữu thuần ra nước ngoài ngày càng lớn.
————————&&&———————–

Yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua tour trực tuyến của nhân viên văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh

Yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua tour trực tuyến của nhân viên văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh

(Tác giả: Lê Quang Hùng – Nguồn: http://tapchitaichinh.vn)

Hiện nay, giới nhân viên văn phòng với đặc thù công việc thường xuyên sử dụng internet trong công việc hàng ngày, trong giao dịch, trong mua sắm, đi du lịch… Do đó, vấn đề bán được tour trực tuyến đến giới nhân viên văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh được đặt lên hàng đầu của các công ty du lịch. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (định tính và định lượng). Dữ liệu được phân tích qua đo lường hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá và sử dụng mô hình Linear Regression để kiểm định thực nghiệm mô hình nghiên cứu ảnh hưởng đến ý định mua tour trực tuyến của nhân viên văn phòng TP. Hồ Chí Minh tại website Yesgo.vn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết: Thuyết hành vi dự định – TPB (Ajzen, 1991) cho thấy, có 3 yếu tố ảnh hưởng đến ý định cá nhân. Cụ thể:

– Thái độ cá nhân được đo lường bằng niềm tin và sự đánh giá đối với kết quả của hành vi đó.

–  Chuẩn chủ quan  là nhận thức của những người ảnh hưởng nghĩ rằng, cá nhân đó nên thực hiện hay không thực hiện hành vi nào đó.

– Kiểm soát hành vi nhận thức phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát hay hạn chế hay không?

Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM): Mô hình TAM được Fred Davis, Bagozzi, Warshaw (1992) phát triển và phổ biến rộng rãi nhằm mô hình hóa việc chấp nhận công nghệ thông tin của người sử dụng. Như vậy, việc sử dụng internet của giới nhân viên văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh được xem là việc sử dụng công nghệ thông tin cho mục đích tiêu dùng thông qua mạng internet là phù hợp.

Trong nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng” thực hiện tại Iran, Javadi và cộng sự (2012) đã sử dụng mô hình chấp nhận công nghệ TAM kết hợp với lý thuyết TPB để làm cơ sở thiết kế mô hình nghiên cứu với các nhân tố: (i) Rủi ro cảm nhận; (ii) Chính sách hoàn trả; (iii) Hạ tầng cơ sở thông tin; (iv) Chuẩn chủ quan; (v) Kiểm soát hành; (vi) Thái độ; (vii) Khả năng đổi mới chuyên sâu. Nghiên cứu chỉ ra nhân tố rủi ro cảm nhận tác động nghịch chiều với thái độ của người tiêu dùng; nhân tố kiểm soát hành vi không có ý nghĩa giải thích mối tương quan với hành vi mua sắm trong mô hình nên đã bị loại; các nhân tố còn lại đều có ảnh hưởng đến hành vi mua sắm.

Nghiên cứu “Các nhân tố tác động đến việc hình thành ý định mua sắm trực tuyến” tại thành phố Isfahan (Iran), Milad Kamtarin (2012) cho rằng, 3 yếu tố truyền miệng trực tuyến, sự tin cậy và giá trị cảm nhận tác động tích cực đến sự hình thành ý định hành vi. Trong đó, nhân tố sự tin cậy có ảnh hưởng mạnh nhất, kế đến là giá trị cảm nhận và sau cùng là truyền miệng trực tuyến.

Trong nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua hàng điện tử qua mạng”, Hoàng Quốc Cường (2010) cũng đã xác định 6 nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ mua hàng điện tử qua mạng: (i) Mong đợi về giá; (ii) Nhận thức sự thuận tiện; (iii) Nhận thức tính dễ sử dụng; (iv) Ảnh hưởng xã hội; (v) Cảm nhận sự thích thú; (vi) Nhận thức rủi ro khi sử dụng mua hàng qua mạng; (vii) Nhân khẩu học. Trong đó, nhân tố mong đợi về giá có ảnh hưởng mạnh nhất và nhân tố nhận thức sự thuận tiện tác động yếu nhất đến ý định mua sắm hàng điện tử qua mạng của người tiêu dùng.

Mô hình nghiên cứu: Xây dựng mô hình nghiên cứu trên nền tảng cơ sở lý thuyết và mô hình tham khảo cùng phối hợp với 3 yếu tố: (i) Chất lượng dịch vụ điện tử; (ii) Chương trình khuyến mại; (iii) Uy tín thương hiệu.

Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu định lượng thực hiện qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp. Tổng cộng có 350 bảng câu hỏi được phát ra, thu về 336 bảng câu hỏi. Trong đó có 8 bảng câu hỏi không hợp lệ, còn lại 328 bảng câu hỏi hợp lệ.

Phần mềm SPSS 20 được sử dụng để kiểm định thang đo và mô hình nghiên cứu. Các thang đo được kiểm định bằng phương pháp hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA). Mô hình nghiên cứu được kiểm định thông qua mô hình Linear Regression.

Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu: Hệ số tin cậy Cronback’s Alpha (Bảng 1).

Phân tích mô hình hồi qui tuyến tính đa biến: Kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính đa biến (Bảng 2).

Phương trình hồi quy tuyến tính đa biến: Ý định mua tour trực tuyến = 0,522* Chương trình khuyến mại + 0,376* Nguồn thông tin tham khảo + 0,314* Chất lượng dịch vụ điện tử + 0,084* Sự hợp lý về giá cả + 0,099* Sự tiện lợi + 0,104* Uy tín thương hiệu.

Thảo luận kết quả nghiên cứu:

Một là, mô hình nghiên cứu có tính mới, được xây dựng trên nền tảng cơ sở lý thuyết và mô hình tham khảo cùng phối hợp với các yếu tố: (i) Chất lượng dịch vụ điện tử; (ii) Chương trình khuyến mại; (iii) Uy tín thương hiệu.

Hai là, sáu yếu tố UT, CL, TK, GC, STL, KM (biến độc lập) đều có ảnh hưởng tỷ lệ thuận đến YD (biến phụ thuộc). Với giá trị R=0,884 và R2=0,750, mô hình thích hợp để sử dụng đánh giá mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập.

Ba là, qua kiểm định cho thấy:

– Yếu tố Chương trình khuyến mại (Beta = 0,522), tác động mạnh nhất đến ý định mua tour trực tuyến. Điều này có nghĩa là chương trình khuyến mại càng lớn, càng ảnh hưởng tích cực đến ý định mua tour của nhân viên văn phòng TP. Hồ Chí Minh tại website Yesgo.vn.

– Yếu tố tác động mạnh thứ 2 là nguồn thông tin tham khảo (Beta = 0,376). Nghĩa là các nguồn thông tin tham khảo nếu xuất hiện càng nhiều thì càng tác động mạnh đến ý định mua tour của nhân viên văn phòng TP. Hồ Chí Minh tại website Yesgo.vn và thúc đẩy họ mua tour nhiều hơn.

– Yếu tố tác động mạnh thứ 3 là chất lượng dịch vụ điện tử (hệ số Beta=0,314, Sig.=0,000). Điều này có nghĩa là chất lượng dịch vụ điện tử của Yesgo càng cao thì ý định mua tour của nhân viên văn phòng TP. Hồ Chí Minh tại website Yesgo.vn càng lớn.

Các yếu tố uy tín thương hiệu, sự tiện lợi và sự hợp lý về giá cả có các hệ số Beta xấp xỉ 0,1 cho thấy tác động rất ít đến ý định mua. Thực tế, khi các doanh nghiệp tham gia bán tour trực tuyến đều phải công khai giá cả của mình trên Internet, do đó họ đều phải lựa chọn một chiến lược giá cạnh tranh nhất cho mình dẫn đến giá cả của nhiều doanh nghiệp cho cùng một loại tour thông thường là xấp xỉ nhau. Rõ ràng, có khuyến mại thì phần giá cả không còn là yếu tố đáng quan tâm đối với khách hàng mua tour trực tuyến.

Một vài kiến nghị

Thứ nhất, về chương trình khuyến mại: Yesgo có thể tăng cường hợp tác với nhiều nhà cung cấp dịch vụ khác nhau tại cùng một điểm du lịch để đa dạng hóa lựa chọn cho khách hàng và cũng có thể thương lượng với các nhà cung cấp về mức ưu đãi tốt hơn khi họ thấy có áp lực cạnh tranh.

Yesgo nên chủ động kết hợp tour với dịch vụ vé bay của Vietnamairlines, Vietjetair… hay vé xe của Pasoto.com, hoặc vé tàu lửa để có các tour trọn gói đi về, ăn ở, du lịch trọn vẹn cho khách hàng với mức giá ưu đãi. Trong lúc kết hợp dịch vụ của 2, 3 bên Yesgo cũng sẽ có cơ hội tận dụng được khuyến mãi của mỗi bên vào trong tour của Yesgo, điều này giúp chất lượng và số lượng khuyến mãi của Yesgo hấp dẫn hơn.

Thứ hai, về nguồn thông tin tham khảo: Cung cấp thông tin nhanh chóng, đầy đủ, chính xác và rõ ràng sẽ giúp cho Yesgo nhanh chóng chiếm được nhiều cảm tình của khách hàng trong việc hình thành ý định mua tour trực tuyến. Các thông tin trên cần phải được cập nhật đầy đủ và nhanh chóng trên website Yesgo.vn. Các gói thông tin liên quan sẽ được chia sẻ trên Fanpage của Yesgo.vn. Ngoài ra, cũng nên áp dụng nhiều hơn các hình thức internet marketing và internet advertising để tăng tính lan truyền cho sản phẩm.

Công ty cũng cần lưu ý sử dụng thêm các dịch vụ content marketing để tăng tính hấp dẫn cho sản phẩm và giúp người mua dễ dàng chia sẻ thông tin trực tuyến cho bạn bè của họ. Điều này cũng giúp tăng thứ hạng của Yesgo.vn trên các trang tìm kiếm.

Thứ ba, về chất lượng dịch vụ điện tử: Yesgo.vn nên mở thêm phần cho phép thanh toán trực tuyến bằng các loại thẻ tín dụng quốc tế và thẻ tiêu dùng nội địa. Ngoài ra, cũng cần thêm thông tin chuyển khoản chi tiết, giảm thiểu hình thức giao voucher tận nơi, gây tốn kém chi phí cũng như giúp khách hàng ra quyết định nhanh chóng không phải chờ đợi.

Về giao diện trang web hiện nay khá tốt, tuy nhiên vẫn cần tối ưu hóa mục tìm kiếm theo từ khóa để khách hàng nhanh chóng truy cập được đến vị trí tour họ quan tâm. Ngoài ra, Yesgo.vn cũng nên triển khai thêm phiên bản tối ưu hóa cho các dòng điện thoại thông minh trên các hệ điều hành Android, IOS và Windowphone để khách hàng dễ dàng truy cập mọi lúc mọi nơi. Với các phiên bản này, Yesgo cũng nên tiến tới việc hỗ trợ thanh toán trực tuyến bằng ví điện tử Momo để khách hàng thêm phần tiện lợi trong đặt hàng và thanh toán.

Tài liệu tham khảo:

1. Hoàng Quốc Cường (2010), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ mua hàng điện tử qua mạng, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Bách khoa TP. Hồ Chí Minh;

2. Nguyễn Lê Phương Thanh (2013), Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến của khách hàng tại Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh;

3. Lý Thị Bích Hồng (2016), Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua tour trực tuyến của giới nhân viên văn phòng thành phố hồ chí minh tại website yesgo.vn, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh;

4. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational behavior and human decision processes, 50: 179-211;

5. Davis, F. D. (1989). Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology. MIS quarterly, 319-340.

——————-&&&——————-

Nghiên cứu tác động quản trị hành chính công đến tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập

Nghiên cứu tác động quản trị hành chính công đến tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập

(Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng – Nguồn: http://tapchitaichinh.vn)

Bài viết nghiên cứu mối quan hệ giữa hiệu quả quản trị hành chính công, tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập trong phạm vi quốc gia của Việt Nam giai đoạn 2006-2015. Kết quả cho thấy, hiệu quả quản trị hành chính công càng cao sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và làm giảm bất bình đẳng giữa các tỉnh, thành phố. Ở chiều hướng khác, tăng trưởng kinh tế có thể nâng cao hiệu quả quản trị hành chính công nhưng lại làm tăng sự bất bình đẳng giữa các địa phương với nhau.

Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu trước đây

Nghiên cứu này dựa trên cơ sở lý thuyết Kuznets (1955) để xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập. Giả thuyết Kuznet cho rằng, bất bình đẳng gia tăng cùng với sự gia tăng của mức thu nhập. Sự gia tăng thu nhập này đạt đến một mức độ nào đó sẽ làm giảm bất bình đẳng.

Elisa Valeriani và Sara Peluso (2011) cho rằng, chất lượng quản lý hành chính công có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế và làm giảm khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa các địa phương. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, bất bình đẳng thu nhập trong khu vực và hiệu quả quản trị hành chính công, thường được xem xét riêng lẻ.

Thực tế cho thấy, ở các nước phát triển, hiệu quả quản trị cao thì tăng trưởng kinh tế làm giảm bất bình đẳng thu nhập (Gil et al .2014, Lessmann, 2009) và làm gia tăng bất bình đẳng ở các quốc gia đang phát triển (Rodriguez-Pose and Ezcurra 2010, Lessmann 2012); Hiệu quả quản trị hành chính công nâng cao làm giảm bất bình đẳng thu nhập (Andreas P.Kyriacou, 2013).

Mô hình và phương pháp nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu: Nghiên cứu đo lường mối quan hệ tác động đồng thời giữa hiệu quả quản trị hành chính công – tăng trưởng kinh tế – bất bình đẳng ở các tỉnh/thành phố trên cả nước thông qua 2 bộ dữ liệu chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và bộ dữ liệu chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển – Hỗ trợ Cộng đồng (CECODES) thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học – Kỹ thuật Việt Nam và Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam.

Đầu tiên, bộ dữ liệu PCI được sử dụng để đo lường mối quan hệ đồng thời giữa ba thành phần trên. Tiếp đến, kết quả ước lượng sẽ được kiểm chứng trên bộ dữ liệu PAPI để đảm bảo được tính thống nhất trong kết quả ước lượng.

Mối quan hệ đồng thời giữa hiệu quả quản trị hành chính công – tăng trưởng kinh tế – bất bình đẳng, được thể hiện qua hệ phương trình đồng thời (SEM) có dạng tổng quát như sau:

ảnh 1

Trong đó:

– Các chỉ số dưới i đại diện cho các tỉnh/thành phố, t là thời gian.

– GR là biến đại diện cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh i ở thời điểm t.

– RI là biến bất bình đẳng vùng, được đại diện bởi chỉ số PW_CV (Cowell,1999)

– GQ là hiệu quả quản trị hành chính công, được đại diện bởi chỉ số tính minh bạch và kiểm soát tham nhũng ở bộ dữ liệu PAPI; hoặc được đại diện bởi tính kém minh bạch và chỉ số tham nhũng ở bộ dữ liệu PCI.

– X là tập hợp các biến kiểm soát được đưa vào các phương trình dựa trên các lý thuyết tăng trưởng kinh tế.

– u1, u2, u3 là thành phần sai số của các phương trình trong hệ thống có tương quan đồng thời với nhau.

Dữ liệu nghiên cứu: Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu được tổng hợp từ 3 nguồn chính gồm: (i) Dữ liệu các chỉ số vĩ mô giai đoạn 2006 – 2015 của Tổng cục Thống kê; (ii) Dữ liệu năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) trong giai đoạn 2006 – 2015 của VCCI; (iii) Dữ liệu về chỉ số PAPI trong giai đoạn 2011 – 2015 của CECODES và UNDP tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, nghiên cứu còn sử dụng các chỉ số tổng hợp cấp quốc gia của Ngân hàng Thế giới (WB) như tỷ giá công bố chính thức, Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và GDP của Việt Nam.

ảnh 2Trong nghiên cứu, hiệu quả quản trị hành chính công được đánh giá và so sánh thông qua hai bộ dữ liệu PCI và PAPI. Trong mỗi bộ dữ liệu, hiệu quả quản trị hành chính công được đại diện bởi 2biến là tính minh bạch và tham nhũng, tuy nhiên, ý nghĩa của các chỉ số ở 2 bộ dữ liệu có sự tương phản nhau. Cụ thể:

Với Bộ dữ liệu PAPI, tính minh bạch được thể hiện qua ý kiến đánh giá của người dân về tính công khai, minh bạch (PAPIT) trong tiếp cận các dịch vụ công cấp tỉnh. Chỉ số minh bạch càng cao càng cho thấy sự công nhận của người dân về hiệu quả quản trị hành chính công  càng tốt. Biến tham nhũng trong bộ dữ liệu này được thể hiện qua cảm nhận của người dân về khả năng kiểm soát tham nhũng trong khu vực công (PAPIC).

Ngược lại, ở bộ dữ liệu PCI thì biến minh bạch được đánh giá qua cảm nhận của doanh nghiệp về tính kém minh bạch (PCIT) trong việc tiếp cận các tài liệu pháp lý, chẳng hạn như cần có mối quan hệ để có các tài liệu hoặc rất quan trọng.

Và biến tham nhũng (PCIC) được thể hiện qua các khoản chi phí không chính thức như các doanh nghiệp cùng ngành thường phải trả thêm các khoản chi phí không chính thức. Đối với bộ dữ liệu PCI thì biến minh bạch và tham nhũng với ý nghĩa là kém minh bạch và tham nhũng càng lớn càng cho thấy hiệu quả quản trị hành chính công càng kém.

ảnh 3

Kết quả thống kê mô tả cho các biến trong mô hình được tổng hợp, tại Bảng 1 cho thấy, dữ liệu bảng thu thập là hoàn toàn cân bằng với số quan sát tối đa là 630 quan sát cho 63 tỉnh/thành phố trong thời gian khảo sát 10 năm từ năm 2006 đến năm 2015.

Trên thang điểm tối đa là 10 cho mỗi mục đánh giá nên chỉ số tổng hợp của các biến đại diện cho hiệu quả quản trị hành chính công trong hai bộ dữ liệu sẽ có giá trị trong khoảng từ 0 đến 10.

Trong bộ dữ liệu khảo sát, tính minh bạch và chống tham nhũng ở bộ dữ liệu PAPI nằm ở mức trên trung bình tương ứng là 5,94 và 5,69 trên 10. Ở bộ dữ liệu PCI thì tính kém minh bạch và tham nhũng là khá tiêu cực khi giá trị của hai biến này lần lượt là 5,84 và 6,20 với khoảng giao động khá rộng từ lân cận 2 đến 9.

Phương pháp ước lượng: Với đặc điểm biến phụ thuộc của phương trình hồi quy này lần lượt là biến giải thích cho 2 phương trình còn lại trong hệ thống 3 phương trình đồng thời (gọi tắt là hệ thống SEM).

Điều này cho thấy, có sự tương tác lẫn nhau tiềm ẩn giữa các biến cần nghiên cứu trong mô hình. Các biến này lần lượt được xem là các biến nội sinh trong mỗi phương trình mà nó đóng vai trò là các biến giải thích, từ đó dẫn đến khả năng các phần dư của mỗi phương trình có tương quan lẫn nhau.

ảnh 4Do vậy, cần thiết phải áp dụng một phương pháp ước lượng có thể xem xét tác động tương hỗ lẫn nhau để tránh các vấn đề thiên chệch trong quá trình phân tích.

Ngoài ra, trong trường hợp phương sai phần dư của các phương trình không đồng nhất giữa các tỉnh hay nói cách khác hệ thống tồn tại phương sai thay đổi thì cần xét đến vấn đề này trong SEM.

Trong hệ thống SEM, các vấn đề này có thể được thực hiện bằng ước lượng GMM theo 2 cách, đó là ước lượng hồi quy 3 bước (3SLS-GMM) và ước lượng GMM-HAC để khắc phục vấn đề phương sai thay đổi và tương quan đồng thời của các phần dư trong hệ thống (Andreas et. al, 2015).

Kết quả nghiên cứu

Kết quả ước lượng theo phương pháp 3SLS-GMM và GMM-HAC trong trường hợp sử dụng bộ dữ liệu PCI với 2 biến đại diện cho hiệu quả quản trị hành chính công là PCIC và PCIT được thể hiện ở Bảng 2 và Bảng 3; Kết quả đối chứng trên bộ dữ liệu PAPI với 2 biến đại diện cho hiệu quả quản trị hành chính công là PAPIC và PAPIT được thể hiện ở Bảng 4 và Bảng 5.

Các kết quả cho thấy, tồn tại mối quan hệ 2 chiều giữa tăng trưởng kinh tế – bất bình đẳng vùng và hiệu quả quản trị hành chính công. Theo đó, trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi thì hiệu quả quản trị hành chính công có tác động tích cực bất bình đẳng vùng và tăng trưởng kinh tế.

Hiệu quả quản trị hành chính công càng cao sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và làm giảm bất bình đẳng giữa các tỉnh. Ở chiều hướng khác, tăng trưởng kinh tế có thể cải thiện hiệu quả quản trị hành chính công nhưng lại làm tăng sự bất bình đẳng giữa các tỉnh.

Kết quả ở mỗi bộ dữ liệu có sự khác nhau về cách diễn, tuy nhiên, lại thống nhất nhau về mặt ý nghĩa. Cụ thể, kết quả ước lượng với bộ dữ liệu PCI cho 2 biến đại diện là tính kém minh bạch và chỉ số tham nhũng như sau:

ảnh 5Theo đó, không có sự chênh lệch đáng kể giữa 2 phương pháp 3SLS-GMM và GMM-HAC. Độ phù hợp của mỗi phương pháp ước lượng sẽ được kiểm tra thông qua thống kê J-Hansen. Các biến công cụ được sử dụng là phù hợp ở cả hai phương pháp.

Theo kết quả này, khi chỉ số tham nhũng càng tăng thì càng làm gia tăng bất bình đẳng và làm giảm thu nhập bình quân đầu người. Điều đó có ý nghĩa, tham nhũng có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng.

Trong giai đoạn phát triển kinh tế với thu nhập bình quân đầu người tăng thì bất bình đẳng sẽ tăng theo nhưng làm giảm tham nhũng. Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế sẽ cải thiện hiệu quả quản trị hành chính công, đồng thời, gia tăng bất bình đẳng trong thu nhập bình quân đầu người giữa các tỉnh. Ở khía cạnh khác, bất bình đẳng sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời cũng gia tăng sự tham nhũng.

Tương tự tiêu chí tham nhũng, tiêu chí kém minh bạch thông tin cũng có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng, tuy nhiên, với mức độ ảnh hưởng mạnh hơn.

Mô hình thỏa mãn sự phù hợp thông qua kiểm định J-Hansen, cũng như cho các các kết quả tương tự tiêu chí tham nhũng về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế – bất bình đẳng và hiệu quả quản trị hành chính công.

Sự phù hợp của kết quả về mối quan hệ đồng thời giữa giữa tăng trưởng kinh tế – bất bình đẳng và hiệu quả quản trị hành chính công  ở bộ dữ liệu PCI được kiểm chứng thông qua bộ dữ liệu PAPI trong giai đoạn 2011 – 2015 ứng với 2 chỉ số kiểm soát tham nhũng và tính minh bạch đại diện cho hiệu quả quản trị hành chính công lần lượt là PAPIC và PAPIT.

Tóm lại, từ kết quả ước lượng cho thấy, tồn tại mối quan hệ đồng thời giữa tăng trưởng kinh tế – bất bình đẳng và hiệu quả quản trị hành chính công. Như vậy, hiệu quả quản trị hành chính công được nâng cao sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm bất bình đẳng về thu nhập giữa các tỉnh.

Ở chiều ngược lại, tăng trưởng kinh tế lại thúc đẩy cải thiện hiệu quả quản trị hành chính công nhưng có sự đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế và gia tăng bất bình đẳng. Đồng thời, bất bình đẳng tồn tại sẽ làm giảm động lực cải thiện hiệu quả quản trị hành chính công.

Tài liệu tham khảo:

1. Kuznets, S (1955), Economic growth and income inequality.The American Economic Review., Vol.XLV, 1955;

2. Kyriacou, A.P., Muinelo-Gallo, L. and Roca-Sagalés, O., 2015. Regional inequalities, fiscal decentralization and government quality: empirical evidence from simultaneous equations (No. 1501). GEN-Governance and Economics research Network, Universidade de Vigo;

3. Baum, C. F. 2006. An Introduction to Modern Econometrics Using Stata. College Station, TX: Stata Press;

4. Davidson, R., and J. G. MacKinnon. 1993. Estimation and Inference in Econometrics. New York: Oxford University Press;

5. Zellner, A., and H. Theil. 1962. Three stage least squares: Simultaneous estimate of simultaneous equations. Econometrica 29: 54–78.

——————&&&——————-

Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập: Lý thuyết và thực tiễn ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập: Lý thuyết và thực tiễn ở Việt Nam

(Tác giả: Lê Quốc Hội – Nguồn: http://www.vusta.vn)

 Bài viết giới thiệu một số lý thuyết về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập; vận dụng vào phân tích thực trạng tăng trưởng kinh tế, bất bình đẳng và giảm nghèo ở Việt Nam, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, bảo đảm công bằng xã hội và lợi ích chính đáng của mọi tầng lớp nhân dân trong quá trình phát triển.

  1. Các lý thuyết về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập

– Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng từ lâu đã trở thành chủ đề được quan tâm của các nhà nghiên cứu ở các nước phát triển cũng như đang phát triển.

Giả thiết hình chữ U ngược của Kuznets (1955) có lẽ là nghiên cứu đầu tiên xem xét môi quan hệ giữa bất bình đẳng trong phân phối thu nhập và tăng trưởng kinh tế. Theo Kuznets, bất bình đẳng sẽ tăng cùng với tăng trưởng trong giai đoạn đầu của sự phát triển, do một lượng di chuyển lớn của những người làm trong lĩnh vực nông nghiệp với thu nhập thấp sang lĩnh vực công nghiệp với thu nhập cao hơn, nhưng phân phối không công bằng. Tuy nhiên, trong giai đoạn sau của sự phát triển, khi một số lượng lớn dân số đã chuyển sang khu vực đô thị, sẽ có một sự gia tăng tiền lương tương đối của những người lao động nghèo ở cả thành thị và nông thôn. Sẽ có nhiều giải pháp chính sách được thực hiện để giảm bất bình đẳng trong nội bộ ngành và giữa các ngành. Do vậy, bất bình đẳng thu nhập chung trong nền kinh tế sẽ giảm trong giai đoạn sau của sự phát triển. Một hàm ý chính sách rút ra từ lý thuyết của Kuznets là: nếu trong giai đoạn đầu tăng trưởng dẫn đến bất bình đẳng hơn, thì giảm nghèo sẽ mất nhiều thời gian hơn ở các nước đang phát triển.

Trong những thập kỷ gần đây, một loạt các lý thuyết khác đã được đưa ra để xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng. Thay vì tập trung vào giả thuyết của Kuznets, các nhà nghiên cứu trong lý thuyết tăng trưởng nội sinh đã đưa ra những công trình nghiên cứu để tìm hiểu tác động của bất bình đẳng lên tăng trưởng kinh tế. Mặc dù hầu hết các công trình nghiên cứu đều chỉ ra tác động tiêu cực của bất bình đẳng đến tăng trưởng, nhưng các kênh mà qua đó tác động này thực hiện là có sự khác nhau giữa các lý thuyết. Trên thực tế, có 6 dòng lý thuyết xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng.

– Lý thuyết kinh tế chính trị được xây dựng bởi các nhà nghiên cứu Alesina và Rodrik (1994), Presson và Tabellini (1994) đã cố gắng xây dựng một cầu nối giữa lý thuyết tăng trưởng nội sinh và lý thuyết kinh tế chính trị nội sinh. Trong xã hội dân chủ, mức thuế được xác định bởi những người trung lưu. Thuế được giả định tỷ lệ thuận với thu nhập và chi tiêu công sẽ tăng vì doanh thu thuế được phân bổ tới tất cả mọi người. Tuy nhiên, lợi ích của người nghèo nhận được sẽ lớn hơn lợi ích của người giàu. Do vậy, người nghèo sẽ ưa thích một mức cao của sự phân bổ thuế. Nhưng trong xã hội bất bình đẳng, thu nhập của người trung lưu là thấp hơn mức thu nhập trung bình, khi đó một lượng lớn người ưa thích mức phân bổ lại thu nhập sec làm hạn chế đầu tư do lợi ích thu được thấp. Tác động tiêu cực của bất bình đẳng sẽ được nhân lên nếu mức độ lệch của của cải không hướng về người nghèo. Hàm ý của lý thuyết này là một xã hội càng rời xa mẫu hình dân chủ thì càng có ít cơ hội để giảm mức độ bất bình đẳng qua phân phối lại.

– Lý thuyết thị trường vốn không hoàn hảo được xây dựng bởi các nhà nghiên cứu Galor và Zeira (1993), Aghion và Bolton (1997), Chiou (1998) dựa vào vai trò được thực hiện bởi sự không hoàn hảo trên thị trường vốn. Cụ thể, trong những nước mà các nguồn vốn vay, bất bình đẳng hàm ý rằng một tỷ lệ tương đối lớn của dân số sẽ nằm dưới mức chi phí chuẩn của giáo dục.Do vậy, đầu tư vào nguồn nhân lực sẽ thấp và nếu tăng trưởng được dựa trên đầu tư vào nguồn nhân lực thì tăng trưởng cũng sẽ thấp. Sự phân bố lại sẽ làm tăng tổng sản lượng và tăng trưởng, bởi vì nó cho phép người nghèo có thể đầu tư vào nguồn nhân lực của họ. Nếu nền kinh tế phát triển, thị trường vốn sẽ được hoàn thiện và những tác động liên quan tới sự không hoàn hảo của thị trường vốn sẽ đóng vai trò quan trọng hơn ở những nước nghèo hơn là những nước giàu. Do vậy, những tác động có thể dự báo của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế sẽ lớn hơn về mức độ đối với những nước nghèo. Lập luận về sự không hoàn hảo của thị trường vốn cũng rất phù hợp để giải thích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ đói nghèo. Trong khi bất bình đẳng không phải luôn luôn có nghĩa rằng một tỷ lệ lớn của dân số là quá nghèo để tiếp cận vốn, thì một tỷ lệ lớn của đói nghèo sẽ không có nghi ngờ gì rằng có nhiều người hơn bị ràng buộc về vốn. Chẳng hạn, bất bình đẳng trong một nền kinh tế có thể cao trong khi cuộc sống của tất cả mọi người dân trong nước được cải thiện. Do vậy, chúng ta có thể dự đoán một mối quan hệ tiêu cực giữa tăng trưởng kinh tế và đói nghèo.

– Lý thuyết liên kết của Benabou (1996) cung cấp một khung khổ mà ở đó tác động của tái phân phối lên tăng trưởng là không nhất thiết tuyến tính. Có hai tác động ngược chiều nhau. Tái phân phối sẽ tốt nếu chi tiêu công được dành cho đầu tư giáo dục ở một nước với thị trường vốn không hoàn hảo và sẽ xấu nếu nó chỉ chuyển giao thu nhập từ người giàu sang người nghèo, bởi vì nó làm giảm lợi tức từ đầu tư của người giàu. Do vậy, tăng trưởng là có liên kết hình chữ U ngược đối với tái phân phối và tái phân phối là có liên kết hình chữ U ngược đối với bất bình đẳng.

– Lý thuyết bất ổn định về chính trị – xã hội được xây dựng bởi các công trình nghiên cứu của Alesina và cộng sự (1996), Benhabib và Rustichini (1996), Grossman và Kim (1996). Lý thuyết này nhấn mạnh hệ quả của bất bình đẳng đến sự bất ổn định chính trị và xã hội. Cụ thể, bất bình đẳng là một nhân tố quan trọng quyết định đến bất ổn về chính trị, xã hội và nó có tác động tiêu cực đến tăng trưởng thông qua việc làm giảm kỳ vọng lợi ích từ đầu tư. Bất bình đẳng làm gia tăng xung đột xã hội, hệ quả là làm cho quyền sở hữu tài sản kém đảm bảo và làm giảm tăng trưởng. Hơn nữa, sự tham gia của người nghèo vào tội phạm và những hành động chống xã hội là biểu hiện của lãng phí trực tiếp nguồn lực vì thời gian và vật chất của tội phạm không đóng góp vào hoạt động sản xuất. Những hoạt động phòng chống tội phạm tiềm năng cũng biểu hiện một sự lãng phí nguôn lực khác nữa.

– Lý thuyết những vấn đề về giáo dục và sinh sản được xây dựng bởi Perotti (1996). Theo lý thuyết này, bất bình đẳng có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua quyết định của các hộ gia đình về giáo dục và sinh đẻ. Bố mẹ phải tối ưu việc sử dụng những nguồn lực của gia đình bằng những cách thông qua cải thiện về chất lượng (giáo dục), hoặc về số lượng (sinh đẻ) của con cái họ. Do giáo dục có chi phí tương đương với những thu nhập kiếm được mà họ vào đó là vào số lượng con cái. Tuy nhiên, tăng trưởng được thúc đẩy bởi sự đầu tư vào nguồn nhân lực, do vậy một xã hội có bất bình đẳng cao sẽ thể hiện một số lượng lớn những gia đình nghèo đầu tư vào số lượng hơn là vào giáo dục. Tỷ lệ sinh sản cao của xã hội này sẽ dẫn đến tăng trưởng thấp.

– Lý thuyết so sánh xã hội được xây dựng bởi Knell (1998). Lý thuyết này được xây dựng trên cơ sở lý thuyết về liên kết của Benabou (1996). Lý thuyết này dựa trên giả định rằng, tối đa hoá lợi ích của mỗi cá nhân không chỉ phụ thuộc vào mức tiêu dùng của bản thân, mà còn phụ thuộc vào mức tiêu dùng trung bình của một số nhóm tiêu biểu. Trong một xã hội bất bình đẳng, các gia đình nghèo thưòng bị cám dỗ phải tuân theo quy tắc và kỳ vọng về những chuẩn mực xã hội, bằng cách tham gia vào những hoạt động tiêu dùng cao hơn và bằng cách giảm đầu tư vào giáo dục để giảm khoảng cách với những gia đình giàu. Những hoạt động như vậy sẽ tối đa hoá phúc lợi hiện tại, nhưng sẽ làm giảm tăng trưởng và phúc lưọi tương lai.

Như vậy, các lý thuyết đã đưa ra nhiều kênh mà qua đó bất bình đẳng có thể tác động đến tăng trưởng và sự tác động này có thể diễn ra theo nhiều chiều. Hơn nữa, nó cũng rất khó để xác định kênh nào sẽ có vai trò chi phối nếu chỉ sử dụng các lý thuyết và phân tích định tính. Do vậy, để nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng, cần thiết phải xem xét các kênh tạo ra bất bình đẳng và ước lượng tác động của những kênh này đến tăng trưởng kinh tế.

  1. Thực trạng về tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng ở ViệtNam

Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nổi bật về tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng cao, liên tục đã đem lại lợi ích cho mọi khu vực, mọi tầng lớp dân cư và là yếu tố quyết định nâng cao mức sống nhân dân, giảm nhanh tỷ lệ nghèo. Trong giai đoạn 1993-2006, tăng trưởng kinh tế đạt bình quân khoảng 7,5%; tỷ lệ nghèo cũng giảm nhanh từ 58,1% năm 1993 xuống còn 15,9% năm 2006, bình quân mỗi năm giảm trên 2% hộ nghèo. Thu nhập bình quân của 20% nhóm nghèo nhất năm 1995l là 74.300 đồng/người/năm, đến năm 2002 đạt 107.000 đồng/người/năm vào năm 2006 (bảng 2). Bên cạnh đó, chất lượng cuộc sống của người dân ở các vùng nghèo, xã nghèo được nâng cao. Các vùng miền núi và trung du Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên là những vùng có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất, nhưng số hộ tự đánh giá là có mức sống khá lên là khá cao (lần lượt là 57,78%; 58,44% và 49,46%). Điều này chứng tỏ thành quả của tăng trưởng đã được phân bổ đến từng tầng lớp dân cư nghèo.

Nhờ duy trì tăng trưởng cao, Nhà nước cũng đã dành nguồn lực đáng kể cho các chương trình an sinh xã hội cho người nghèo. So sánh số liệu điều tra hộ gia đình năm 1998, 2004 và 2006 ở Bảng 1 cho thấy độ bao phủ của bảo hiểm y tế đã tăng trong tất cả các nhóm thu nhập và chính sách phân phối lại thông qua cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí là đặc biệt có lợi cho người nghèo. Nhóm nghèo nhất có sự gia tăng nhanh nhất về tỷ lệ phần trăm người có bảo hiểm y tế, từ 6,22% năm 1998 lên 22,69% năm 2004 và 66,3% năm 2006. Nhóm nghèo nhất cũng đã vươn lên đứng đầu về mức độ bao phủ về bảo hiểm y tế năm 2006.

BẢNG 1: Tỷ lệ phần trăm người có bảo hiểm y tế theo các nhóm thu nhập

Nhóm thu nhập 1998 2994 2006
Nhóm nghèo nhất 6,22 22,69 66,3
Nhóm cận nghèo 9,67 23,22 48,9
Nhóm trung bình 13,59 26,15 44,3
Nhóm cận giàu 20,18 34,41 49,1
Nhóm giàu nhất 28,99 44,12 57,1

Nguồn : Điều tra mức sống hộ gia đình năm 1998, 2004, 2006.

Tuy nhiên, cùng với tăng trưởng, bất bình đẳng thể hiện qua hệ số GINI theo tiêu dùng của Việt Nam có xu hướng tăng (tuy không quá lớn) trong những năm qua, từ 35% năm 1993, lên 34% năm 1998 và 36% năm 2006. Hệ số GINI theo thu nhập có sự gia tăng nhanh hơn từ 34% năm 1993 lên 39% năm 1998 và 43% năm 2006. Tuy nhiên, hệ số GINI của Việt Nam chưa tính tới những bất bình đẳng bắt nguồn từ những sự chệnh lệch về tài sản và thu nhập từ thừa kế, từ đầu cơ đất đai, chứng khoán, tham nhũng… Do vậy trên thực tế, tình trạng bất bình đẳng của Việt Nam có thể cao hơn là thể hiện qua hệ số GINI.

Một khía cạnh khác để đánh giá tình trạng bất bình đẳng ở Việt Nam là so sánh khoảng cách chi tiêu, thu nhập của người giàu và người nghèo được đại diện bởi nhóm 20% những người giàu nhất và 20% những người nghèo nhất. Ở Việt Nam, sự chênh lệch này đã và đang gia tăng liên tục và đáng kể. Theo bảng 2, năm 1995, thu nhập bình quân đầu người của những hộ gia đình giàu nhất cao gấp 7 lần so với những hộ gia đình nghèo nhất thì đến năm 2006, tỷ lệ này đã tăng lên 8,4 lần.

BẢNG 2: Thu nhập bình quân đầu người và chênh lệch thu nhập

Năm Thu nhập bình quân một người một tháng theo giá thực tế (nghìn đồng) Chênh lệch giữa nhóm thu nhập cao nhất so với nhóm thu nhập thấp nhất (lần)
Nhóm thu nhập cao nhất Nhóm thu nhập thấp nhất
1995 519,6 74,3 7,0
1996 574,7 78,6 7,3
1999 741,6 97,0 7,6
2002 872,9 107,0 8,1
2004 1182,3 141,8 8,3
2006 1542,0 184,0 8,4

Nguồn : Tổng cục Thống kê, Điều tra mức sống dân cư từ 1993 đến 2006.

Số liệu về chi tiêu ở bảng 3 cũng phản ánh tình trạng tương tự, tỷ trọng chi tiêu của nhóm người giàu nhất tăng từ 41,8% năm 1993 lên 43,3% năm 2006, trong khi đó tỷ lệ này của nhóm người nghèo nhất lại giảm từ 8,4% xuống còn 7,2% trong cùng thời kỳ. Điều này cho thấy một thực tế là sự chênh lệch về thu nhập tuyệt đối ở Việt Nam đang tăng lên nhanh. Tuy nhiên, cũng cần phải nhìn nhận rằng bất bình đẳng này ở Việt Nam không phải là hiện tượng người giàu giàu lên, người nghèo nghèo đi mà là người giàu giàu nhanh hơn người nghèo, vì thực tế cho thấy ngay trong bối cảnh khoảng cách chênh lệch giàu nghèo doãng ra thì thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo đã tăng lên và tỷ lệ hộ nghèo đã giảm mạnh trong thời gian qua.

BẢNG 3: Tỷ trọng chi tiêu của các nhóm 20% ở Việt Nam (%)

Năm Phần năm giàu nhất Phần năm gần giàu nhất Phần năm trung bình Phần năm gần nghèo nhất Phần năm nghèo nhất
1993 41,78 21,56 15,99 12,27 8,41
1998 43,30 21,46 15,57 10,72 8,05
2002 45,90 20,60 14,60 11,20 7,80
2004 44,68 21,92 15,20 1,18 7,12
2006 43,30 22,30 15,80 11,50 7,20

Nguồn : Tổng cục Thống kê, Điều tra mức sống dân cư từ 1993 đến 2006.

Xem xét tỷ lệ nghèo ở nông thôn và thành thị ở bảng 4 cho thấy chênh lệch về tỷ lệ nghèo giữa hai khu vực này rất lớn và kéo dài trong suốt thời kỳ 1993 đến nay mặc dù tỷ lệ nghèo ở khu vực nông thôn đã giảm nhanh chóng từ 66,4% năm 1993 xuống còn 20,4% năm 2006. Tuy nhiên, do tỷ lệ nghèo ở khu vực thành thị giảm nhanh hơn từ mức 25,1% năm 1993 xuống còn 3,9% năm 2006 nên trên thực tế sự chênh lệch giàu nghèo giữa hai khu vực này ngày càng doãng ra rộng hơn. Điều này cho thấy vấn đề nghèo không chỉ chủ yếu tập trung ở các vùng nông thôn, mà tình trạng bất bình đẳng giữa nông thôn và thành thị ở Việt Nam đã trở nên đáng quan tâm hơn và cần thiết có sự can thiệp của Nhà nước.

BẢNG 4: Tỷ lệ nghèo theo khu vực ở Việt Nam thời kỳ 1993-2006

1993 1998 2002 2004 2006
Nông thôn 66,4 45,5 35,6 25,0 20,4
Thành thị 25,1 9,2 6,6 3,6 3,9

Nguồn : Tổng cục Thống kê, Điều tra mức sống dân cư từ năm 1993 đến năm 2004.

Tác động của tăng trưởng đến gia tăng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam trong thời gian qua được bắt nguồn từ các kênh chính sau đây:

– Do chuyển đổi cơ chế từ kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường. Cơ chế mới đã loại bỏ dần tính bình quân bao cấp, phát huy các hình thức phân phối theo nguyên tắc thị trường, khuyến khích làm giàu bằng việc phát huy các nguồn lực về vốn, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, sức lao động, kinh nghiệm làm ăn… Với cơ chế này, sự gia tăng bất bình đẳng ở nước ta là tất yếu, có thể chấp nhận được vì cơ chế này tạo ra động lực cho mọi người làm việc, cống hiến, qua đó tạo động lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế. Ở một cách nhìn nhận khác, bất bình đẳng xuất phát từ kênh này ở Việt Nam vẫn ở trong thời gian hạn hợp lý của sự “đánh đổi”.

– Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá dẫn đến tăng trưỏng nóng và đã làm phát sinh nhiều vân đề xã hội bức xúc mới liên quan đến bất bình đẳng như: nông dân mất việc làm ở vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp; di cư lao động từ nông thôn ra thành thị tìm việc làm (vấn đề xã hội của lao động nhập cư); mất việc làm do tác động của hội nhập, khủng hoảng, suy thoái kinh tế toàn cầu, trong đó phần lớn là lao động kỹ năng thấp và từ nông thôn, hộ nghèo…, phần lớn trong số này lại trở về nông thôn. Tất cả những hiện tượng này dẫn đến hậu quả xã hội là phân hoá giàu nghèo có xu hướng gia tăng, vấn đề nghèo tương đối ngày càng nghiêm trọng. Bất bình đẳng xuất phát từ kênh này là vấn đề khó tránh khỏi, nhưng Nhà nước có thể can thiệp để hạn chế tình trạng này.

– Do quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế. Thực tế, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã tạo ra những nguồn lợi cho một số vùng, một số ngành và một số bộ phận dân cư trong nền kinh tế. Chênh lệch về thu nhập giữa nông nghiệp và công nghiệp, dịch vụ, giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động có tay nghề và lao động đơn giản, giữa lao động làm trong các công ty nước ngoài và lao động khu vực trong nước đã gia tăng. Những tỉnh có bộ máy hành chính kém hiệu quả và những thủ tục kinh doanh khó khăn cũng đã dần tụt hậu do khu vực tư nhân ở đó kém năng động hơn, tạo ít việc làm hơn. Sự gia tăng bất bình đẳng từ quá trình hội nhập kinh tế cũng là tất yếu xảy ra và ở đây cần có vai trò quản lý, điều tiết của Nhà nước để khắc phục tình trạng này.

– Mô hình tăng trưởng và cơ chế phân bổ nguồn lực trong thời gian qua có ảnh hưởng mạnh đến bất bình đẳng. Trong những năm qua, Việt Nam thực hiện định hướng ưu tiên phân bổ nguồn lực: (i) cho các ngành và sự án dùng nhiều vốn; (ii) cho các vùng có khả năng tăng trưởng cao (vùng trọng điểm); (iii) cho các doanh nghiệp nhà nước. Việc áp dụng mô hình tăng trưởng và định hướng phân bổ nguồn lực như vậy có những hệ quả rõ rệt đến mục tiêu nâng cao công bằng xã hội. Cụ thể là tăng trưởng cao nhưng không mở rộng cơ hội việc làm tương ứng, chi phí tạo ra một chỗ việc làm cao, có nghĩa là tăng trưởng không được phân bổ một cách rộng rãi cho các tầng lớp dân cư và gây ra tình trạng bất bình đẳng. Do vậy, cần phải có sự điều chỉnh mô hình tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới để hạn chế bất bình đẳng từ kênh này.

– Cơ chế xin cho, bao cấp, bảo hộ nhà nước, môi trường kinh doanh không bình đẳng đã hình thành các nhóm lợi ích mạnh và gia tăng bất bình đẳng. Có một nhóm người giàu nhanh nhờ đặc quyền tiếp cận với các thông tin và nguồn lực phát triển. Mặt khác, một bộ phận giàu lên nhanh chóng bằng tham nhũng, buôn lậu, trốn thuế, ăn cắp bản quyền, đầu cơ đất đai, mua bán chứng khoán… Trong khi đó một bộ phận dân cư không có cơ hội làm giàu hoặc làm ăn yếu kém, sinh đẻ không có kế hoạch, sa vào các tệ nạn xã hội. Xu hướng thương mại hoá tràn lan trong giáo dục, y tế và các dịch vụ xã hội khác cũng dẫn đến người nghèo khó hoặc không thể tiếp cận, không được hưởng thụ mà lẽ ra có quyền được hưởng phúc lợi xã hội… Bất bình đẳng được bắt nguồn chính từ kênh này là vấn đề đáng lo ngại ở Việt Nam, vì nếu mọi người đều cảm thấy không công bằng và có sự gian lận trong quá trình phát triển kinh tế, thì sự liên kết xã hội sẽ bị mất và sự ổn định chính trị – xã hội sẽ bị huỷ hoại. Do vậy, đây là loại bất bình đẳng mà Nhà nước cần quan tâm giải quyết.

  1. Một số giải pháp để kết hợp tăng trưởng và công bằng xã hội ở ViệtNam

Các chính sách và giải pháp kết hợp giữa tăng trưởng và công bằng xã hội không những chỉ hướng tới mục tiêu công bằng trong thu nhập, mà xa hơn là mở rộng khả năng tiếp cận cho người nghèo hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế. Do vậy, để giải quyết tốt mối quan hệ này, cần thực hiện có hiệu quả các giải pháp sau đây.

Thứ nhất, xây dựng và thực hiện mô hình tăng trưởng công bằng, vì người nghèo. Mô hình này phải đảm bảo thu nhập của người nghèo tăng nhiều hơn so với thu nhập trung bình của xã hội và góp phần giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quy định. Trong mô hình này cần phát huy vai trò của khu vực tư nhân trong đầu tư tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, tạo việc làm và mở rộng sự tham gia của các đối tác xã hội vào công cuộc xoá đói giảm nghèo. Bên cạnh đó, mô hình tăng trưởng phải vừa đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng cao, ổn định, vừa phải đạt được trên diện rộng có lợi cho người nghèo.

Thứ hai, các chính sách của Nhà nước phải hướng vào việc khuyến khích, tạo cơ hội để người nghèo và các nhóm yếu thế tham gia hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế. Điều này có thế thực hiện được thông qua các chính sách trợ giúp về phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, đất đai, vốn tín dụng, khuyến nông, tiêu thụ sản phẩm. Người nghèo và các nhóm yếu thế cũng cần được tạo cơ hội được tham gia, có tiếng nói của mình đối với các hoạt động lập kế hoạch phát triển kinh tế, giảm nghèo cho bản thân và địa phương. Cải cách thị trường lao động và chính sách tạo việc làm theo hướng linh động theo ngành, nhóm yếu thế từ những tỉnh nghèo, vùng nghèo tham gia vào thị trường lao động. Mặt khác, nguồn thu nhập chính của đại bộ phận người nghèo và người yếu thế là từ nông nghiệp. Do vậy, cải thiện năng suất và tốc độ tăng trưởng nông nghiệp là một giải pháp quan trọng để xóa đói, giảm nghèo. Nhà nước có thể thực hiện điều này thông qua đầu tư công nghệ cho nông nghiệp, phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn.

Thứ ba, cần có những chính sách cho vấn đề di dân. Việc di dân từ nông thôn ra thành thị để cải thiện thu nhập là vấn đề phổ biến không chỉ ở Việt Nam, mà còn ở các nước đang phát triển. Tuy nhiên cần phải nhìn nhận rằng vấn đề này có cả mặt tích cực và tiêu cực. Do vậy, Chính phủ cần phải thực hiện những chính sách có mục tiêu để hạn chế những mặt tiêu cực và bảo vệ những người di cư từ những rủi ro.

Thứ tư, thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với những khu vực kém phát triển và đối với người nghèo. Điều này, có thể thực hiện thông qua nhiều kênh: (i) các chương trình trợ giúp về phát triển cơ sở hạ tầng, các trợ giúp về tín dụng, đất đai, dạy nghề, tạo việc làm, truyền đạt kinh nghiệm sản xuất; (ii) các ưu đãi về y tế, giáo dục, văn hoá, nhà ở; (iii) cân đối các khoản giải ngân ODA cũng cần hướng đến các tỉnh vùng sâu, xa, vùng khó khăn. Thực tế, khi mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng càng gắn kết thì vai trò của chính sách xã hội đối với quá trình tăng trưởng và giảm bất bình đẳng cần đặc biệt chú trọng hơn. Do vậy, trong quá trình tăng trưởng kinh tế, cần kiểm soát thường xuyên, chặt chẽ các chỉ tiêu phát triển xã hội, trong đó trọng tâm là xoá đói giảm nghèo, giảm bất bình đẳng và nhấn mạnh ngày càng nhiều hơn đến yêu cầu giải quyết các nội dung này trong các chính sách và giải pháp tăng trưởng.

Thứ năm, Việt Nam cần phải cải cách chính sách phân phối tài sản, thu nhập trong nền kinh tế theo hướng phải đảm bảo công bằng, hướng đến người nghèo. Hơn nữa, Nhà nước cần đưa ra và áp dụng các biện pháp để hạn chế tình trạng bất bình đẳng tài sản từ những hoạt động không phải từ sản xuất kinh doanh như: (i) thực hiện bắt buộc việc kê khai tài sản đối với cán bộ công chức; (ii) nghiên cứu và áp dụng các loại thuế thừa kế tài sản, thuế tài sản, thuế vốn… trong thời gian tới.

Cuối cùng, để thực hiện được tăng trưởng kinh tế đi đôi với đảm bảo công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường, vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước là hết sức quan trọng. Nhà nước phải biết tận dụng mặt mạnh của cơ chế thi trường để giải phóng, phát triển sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, Nhà nước phải kết hợp sử dụng có hiệu quả các công cụ pháp luật, quy hoạch, chính sách, sức mạnh của khu vực kinh tế nhà nước để khắc phục những thất bại của cơ chế thị trường nhằm thúc đẩy kinh tế tăng trưởng bền vứng, bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ lợi ích chính đáng của mọi tầng lớp nhân dân./.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Aghion, P, Caroli, E, and Garcia-Penalosa, C. 1999, Inequality and economic growth: The perspective of the new growth theories,Journal of Economic Literature, 37.
  2. Alesina, A and Rodrick, D. 1994,Distributive politics and economic growth, Quarterly Journal of Economic, 109.
  3. Benabou, R. 1996,Inequality and growth, NBER Macroeconomics Annual.
  4. Benhabib, J and Speiegel, A. 1996,Social conglic and growth, Journalog Economic Growth, 1(1).
  5. Galor, O and Zeira, J. 1993,Income distribution and macroeconomics, Review of Economic Studies, 60.
  6. Knell, M. 1998, Social comparisions, inequality and growth, Mimeo,Universityof Zurich.
  7. Lopez, H. 2005,Growth and inequality: Are they connected?The World Bank.
  8. Lê Quốc Hội, 2009,Tác động của tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập đến xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 145, tháng 8-2009.
  9. Lê Quốc Hội, 2009,Tăng trưởng vì người nghèo ở ViệtNam: thành tựu, thách thức và giải pháp, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 229, tháng 11-2009.
  10. Nguyễn Văn Nam và Trần Thọ Đạ, 2006,Tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở ViệtNam, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân.
  11. Perotti, M.1993,Political equilibrium, income distribution and growth,Review og Economic Studies, 60(4).
  12. Persson, T and Tabellini, G. 1994,Is inequality harmful for growth?American Economic Review, 84(3).
  13. Kuznets, S. 1955,Economic growth and income inequality, American Economic Review , 45(1).

Tác giả bài viết: Lê Quốc Hội

—————–&&&—————–

Tính hai mặt của bất bình đẳng về thu nhập ở Việt Nam

Tính hai mặt của bất bình đẳng về thu nhập ở Việt Nam

(Tác giả: Nguyễn Minh Phong – Nguồn: http://www.nhandan.com.vn)

 NDĐT – Bất bình đẳng (BBĐ) về thu nhập thường có tính hai mặt khá rõ, thể hiện: vừa liên quan chặt chẽ với tăng trưởng kinh tế, vừa phản ánh thực trạng phát triển xã hội; vừa là động lực cho tăng trưởng, vừa có thể làm giảm tăng trưởng. Hơn nữa, BBĐ gia tăng gắn liền với sự chia sẻ không đều cơ hội dịch chuyển xã hội, đồng thời cản trở dịch chuyển xã hội liên thế hệ, làm suy giảm niềm tin xã hội và niềm tin vào thể chế của người dân.

“Bức tranh” về chênh lệch phân phối thu nhập được thể hiện rõ nét trên tất cả các khía cạnh: Chênh lệch giữa những người giàu nhất và nghèo nhất; giữa nông thôn và thành thị; giữa các thành phố và vùng miền; giữa các ngành kinh tế và các giới. Nguyên nhân của BBĐ gắn với mô hình tăng trưởng theo bề rộng và chuyển dịch về mô hình sản xuất từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp; với sự khác biệt đặc điểm và cơ cấu nguồn thu, nguồn thu nhập chính giữa các vùng miền, giữa các ngành, các khu vực, các nhóm dân tộc; cũng như với vai trò không chính đáng của quan hệ, quyền thế, tiền bạc trong xin việc làm, nhất là việc làm trong khu vực công …

Ai đó ở Việt Nam có thể tự an ủi và hài lòng trước ghi nhận của Ngân hàng Thế giới[1] (NHTG, 2014) về thành tích tăng trưởng đồng đều cho rằng: “Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng cao trong khi BBĐ về thu nhập chỉ ở mức tăng “khiêm tốn” trong thời gian qua. Cụ thể: Từ năm 1993 đến 2012, tại Việt Nam, thu nhập bình quân của nhóm 40% có thu nhập thấp nhất tăng 9% mỗi năm. Đây là một trong các tỷ lệ tăng cao nhất trên thế giới về thu nhập của nhóm 40% có thu nhập thấp nhất”. Tuy nhiên, thực tế đúng như WB chỉ ra: “Những quan ngại về BBĐ vẫn phát sinh ở Việt Nam gắn với sự khác biệt đáng kể về điều kiện kinh tế theo nhóm dân tộc và vùng miền; gắn với khoảng cách giãn rộng giữa những người rất giàu và phần đông người Việt Nam, cũng như với tình trạng bất bình đẳng đáng kể về cơ hội. Trong giai đoạn 2004-2010, chênh lệch giữa thu nhập trung bình của 20% hộ khá giả nhất với 20% hộ nghèo nhất đã tăng từ mức 7 lần lên 8,5 lần (do tốc độ tăng thu nhập trung bình hàng năm của nhóm khá giả nhất là 9%, trong khi tốc độ tăng thu nhập của nhóm nghèo nhất chỉ là 4%). Các nhóm người dân tộc thiểu số (DTTS) ngày càng bị tụt hậu trong quá trình tăng trưởng, dẫn đến nghèo tại Việt Nam ngày càng tập trung trong các nhóm DTTS. Nếu như năm 1998, người DTTS chiếm 29% trong tổng số người nghèo, thì đến năm 2010 người DTTS chiếm đến 47% trong tổng số người nghèo tại Việt Nam.

Đặc biệt, theo WB, năm 2014, ở Việt Nam ước tính có 110 người siêu giàu, tăng ba lần so với mức 34 người siêu giàu năm 2003.

Thực tế hiện nay cho thấy khả năng phát triển bền vững của Việt Nam đang là dấu hỏi xét từ góc độ của cả ba trụ cột là kinh tế, xã hội và môi trường.

Cùng với việc đất nước có thêm nhiều người siêu giàu như NHTG công bố, thì số hộ nghèo trên cả nước cũng tăng. Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội[2]thì số hộ nghèo trên cả nước đã tăng lên 1 triệu hộ, tức tăng 50% sau khi mức chuẩn nghèo được điều chỉnh từ mức thu nhập 200 nghìn đồng/người/tháng lên 400 nghìn đồng/người/tháng với khu vực nông thôn và 260 nghìn đồng/người/tháng lên 500 nghìn đồng/người/tháng cho khu vực thành thị vào năm 2010. Theo mức chuẩn vừa nêu, thì tỷ lệ hộ nghèo hiện nay ở Việt Nam giảm từ 14,2% năm 2010 xuống 11,76% năm 2011; 9,6% năm 2012 và 7,8% năm 2013[3]. Tuy nhiên, nếu tính theo chuẩn nghèo đa chiều mà Chính phủ mới công bố và có hiệu lực thực tế từ 1.1.2016, thì tỷ lệ hộ nghèo Việt Nam sau năm năm phấn đấu nỗ lực lại quay về mức năm 2010. Bên cạnh đó, tình trạng tái nghèo vẫn diễn ra trầm trọng ở một số địa phương[4]. Nói cách khác, giảm nghèo ở Việt Nam vẫn chưa thực sự bền vững

Một thông điệp đáng chú ý là cơ cấu thu nhập, và do đó BBĐ, đang có sự dịch chuyển theo hướng tăng mạnh các khoản thu về tiền lương, tiền công và giảm các khoản thu từ nông, lâm nghiệp, thủy sản. Các hoạt động công nghiệp, xây dựng, dịch vụ có đóng góp hầu như không đáng kể vào tổng thu nhập của nhóm nghèo nhất (nhiều nhất là 2% trong năm 2012 trong khi tỷ lệ này ở nhóm giàu nhất là gần 5%). Hệ số chênh lệch thu nhập giữa thành thị với nông thôn giảm 17,4%, từ 2,3 lần (năm 2002) giảm xuống còn 1,9 lần (năm 2012). Tuy nhiên, mức chệnh lệch tuyệt đối về thu nhập bình quân đầu người hàng tháng giữa hai khu vực đã gia tăng đến 406% và tốc độ tăng trưởng thu nhập của 10% hộ nghèo nhất ở khu vực nông thôn chưa bằng một nửa so với tốc độ tăng trưởng thu nhập của 10% hộ giàu nhất trong giai đoạn 2004-2012. Nếu so sánh các hoạt động công nghiệp, xây dựng, dịch vụ luôn chiếm hơn 70-80% tổng đầu tư xã hội hàng năm, thì rõ ràng những hiệu ứng và thành quả của đổi mới và phát triển kinh tế dường như chưa lan tỏa và thấm sâu xuống tầng lớp người nghèo tử vùng nông thôn, vùng sâu, xa..

Hơn nữa, thực tế đáng lo ngại khác là BBĐ gia tăng gắn với gia tăng tình trạng người dân không có đất và mất đất (theo Bộ Lao Động – Thương binh và Xã hội, năm 1993, tỷ lệ số hộ nông thôn không có đất ở khu vực Đông Nam Bộ chỉ là 17% và tăng lên 40% năm 2004), chủ yếu do sự gia tăng xây dựng và triển khai các dự án công nghiệp, sân golf, căn hộ, biệt thự và sự tồn tại cơ chế hai giá đất với mức chênh lệch tăng mạnh trong thời gian qua.

Đồng thời, cũng cần lưu ý đến một thực tại là, trong khi khoảng cách chênh lệch giàu/nghèo ở khu vực thành thị đang có xu hướng giảm dần, thì ngược lại, ở khu vực nông thôn lại đang tăng dần; còn chênh lệch thu nhập của người dân giữa các thành phố và các vùng miền không được cải thiện đã làm cho chênh lệch giàu/nghèo trên phạm vi cả nước có xu hướng gia tăng. Đặc biệt, chênh lệch thu nhập giữa các vùng, miền và ngành, với tỷ lệ hộ nghèo tập trung chủ yếu ở những vùng khó khăn về điều kiện tự nhiên, về kết cấu hạ tầng, về trình độ dân trí cũng như về trình độ sản xuất…, đang tạo ra nhiều hệ luỵ ảnh hưởng đến kết quả phát triển kinh tế – xã hội và chất lượng cuộc sống ở nhiều nơi và cả nước nói chung. Các hộ gia đình dân tộc thiểu số, các hộ gia đình có trình độ học vấn thấp ít có cơ hội hưởng lợi từ các quá trình tăng trưởng và chuyển dịch sang khu vực phi nông nghiệp hơn các hộ có trình độ học vấn cao đang trở thành những xu hướng nổi trội trong nền kinh tế nước ta.

Ở cấp độ vi mô, BBĐ thu nhập và xoá đói giảm nghèo phụ thuộc vào 5 nguồn vốn gồm: vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội và vốn con người (DFID, 2001), cũng như ngày càng chịu ảnh hưởng mạnh hơn của vốn thể chế như là một hợp phần của vốn xã hội và là một trong ba trọng tâm đột phá theo tinh thần các văn kiện đại hội Đảng XI và dự thảo văn kiện Đại hội XII đã chỉ ra.

Đặc biệt, cần nhấn mạnh rằng, BBĐ về thu nhập chính là BBĐ về kết quả và xuất phát từ BBĐ cơ hội, nhất là cơ hội phát triển vốn con người thông qua giáo dục. Do đó, một trong những cơ sở quan trọng cho việc ra chính sách giảm BBĐ là tập trung vào tăng cơ hội tiếp cận giáo dục, từ đó giảm BBĐ thu nhập. Nói cách khác, luôn tồn tại quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và giải quyết công bằng xã hội. Theo đó, tăng trưởng kinh tế cần đi đôi với bình đẳng trong phân phối thu nhập; Nguồn lợi thu được từ tăng trưởng kinh tế cần được phân phối lại theo hướng ngày càng được cải thiện hoặc ít nhất là không xấu đi, thông qua chính sách phân phối lại tài sản (của cải, đất đai, thuế) và chính sách phân phối lại từ tăng trưởng (các dịch vụ công); như chính sách nhằm tăng cường cơ hội giáo dục-đào tạo, chăm sóc y tế cho nhiều người. Đây là nguyên tắc quan trọng với phần lớn các quốc gia, kể cả Việt Nam. Theo đó, Chính phủ sẽ đưa ra các chính sách thúc đẩy tăng trưởng nhanh, đồng thời đặt ra vấn đề bình đẳng, công bằng xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư dựa trên cơ sở phát triển kinh tế tư nhân, khuyến khích người dân làm giàu và thực hiện phân phối thu nhập theo sự đóng góp của các nguồn lực.

Để giải quyết BBĐ thu nhập, Việt Nam cần xây dựng được một chiến lược tăng trưởng kinh tế mới cùng với các chính sách phân phối thu nhập thích hợp, tập trung vào cải cách thể chế pháp luật, thị trường cạnh tranh, công bằng và mở, tạo sân chơi bình đẳng cho cả các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ; tăng đầu tư vào nguồn lực con người và khuyến khích tạo việc làm, khuyếnn khích hình thành một tầng lớp trung lưu rộng lớn trong xã hội; thiết kế hệ thống thuế sao cho không triệt tiêu động lực làm giàu của những người giàu. Tăng đầu tư công vào những khu vực kém phát triển; đồng thời, nâng cao chất lượng quản lý đầu tư công cũng như cải thiện chất lượng các dịch vụ công, để các kết quả đầu tư đến với người dân, đặc biệt là người nghèo.

Hy vọng, cùng với việc Chính phủ vừa ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều (gồm thu nhập và mức độ tiếp cận 5 dịch vụ xã hội cơ bản: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin; với 10 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin) áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020, thì những giải pháp giải quyết nghèo và BBĐ xã hội cũng sẽ trở nên đa chiều, toàn diện và bền vững hơn…

[1] NHTG (2014), Các phát hiện chính của báo cáo Điểm lại: Trọng tâm đặc biệt về bất bình đẳng ở Việt Nam, 7/2014.

[2] Bộ LĐ, TB&XH (2011), Chia sẻ thông tin trong lĩnh vực an sinh xã hội.

[3]Bộ LĐ, TB&XH (2014), Báo cáo Điều tra rà soát hộ nghèo, cận nghèo năm 2013.

[4]CIEM, đã dẫn.

NGUYỄN MINH PHONG

———————–&&&———————

Tăng trưởng kinh tế và ngưỡng lạm phát tối ưu

Tăng trưởng kinh tế và ngưỡng lạm phát tối ưu

(Tác giả: Nguyễn Anh Phong – Nguồn: http://tapchitaichinh.vn)

Bài viết nghiên cứu quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại Việt Nam giai đoạn từ năm 1992 đến 2016. Bằng kỹ thuật Bootstrap, nghiên cứu tìm ra ngưỡng lạm phát tối ưu tại Việt Nam là ở mức 3,22%/năm, nghĩa là muốn có tăng trưởng kinh tế tốt, cần duy trì lạm phát ở mức vừa phải (3,22%/năm). Nếu lạm phát cao hơn mức này, khả năng suy giảm tăng trưởng sẽ xuất hiện. Để giữ cho tăng trưởng đạt mục tiêu, Chính phủ buộc phải nới lỏng các chính sách tài khóa và tiền tệ, việc làm này khiến lạm phát lại tăng lên.

Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu

Nghiên cứu của Keynes cho rằng, trong ngắn hạn, sẽ có sự đánh đổi giữa lạm phát và tăng trưởng, theo đó muốn có tăng trưởng cao thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát nhất định. Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng và lạm phát di chuyển cùng chiều.

Về dài hạn, nếu tiếp tục chấp nhận tăng lạm phát để thúc đẩy tăng trưởng thì GDP cũng không tăng thêm, ngược lại còn có xu hướng giảm đi.

Dựa trên quan điểm của Keynes, một số nghiên cứu cho rằng, lạm phát ở mức vừa phải sẽ thúc đẩy tăng trưởng (Mubarik, 2005). Ngược lại, một số nghiên cứu khác cho thấy, lạm phát lại có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế khi nó vượt qua một ngưỡng nhất định (Ocran 2007, Khan và Senhadji, 2001).

ảnh 2

Các nghiên cứu của Sarel (1996), Shan và Senhadji (2001) và một số nhà nghiên cứu khác, đã lượng hóa mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế thông qua tìm ra ngưỡng lạm phát tối ưu. Sarel tìm ra ngưỡng lạm phát là 8%, còn nghiên cứu của Shan và Senhadji tìm ra ngưỡng lạm phát cho các nước đang phát triển là 11 – 12%, các nước công nghiệp khoảng 1 – 3%.

Nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF, 2006) về mức độ lạm phát ở Việt Nam với các nước Đông Nam Á đã chỉ ra rằng, mức lạm phát tối ưu cho tăng trưởng kinh tế ở các nước vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam khoảng 3,6%.

Trương Minh Tuấn (2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế bằng nghiên cứu thực nghiệm Việt Nam với dữ liệu từ quý I/2001 đến quý IV/2011 cho thấy, tồn tại quan hệ dài hạn giữa lạm phát và tăng trưởng.

Nguyễn Đức Độ (2014) cũng đã nghiên cứu về quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát và tiết kiệm, đầu tư tại Việt Nam với dữ liệu từ 2004 đến 2013. Trong mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng của Việt Nam, đầu tư là biến số quyết định tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát CPI, mức nhập siêu cũng như quy mô thu ngân sách nhà nước.

Mô hình định lượng về mối quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát, tiết kiệm và đầu tư (GISI) tại Việt Nam được đề xuất trong bài viết này cho thấy, để đạt được sự tăng trưởng kinh tế bền vững, tốc độ tăng đầu tư cần tương đương với tốc độ tăng trưởng GDP. Hơn nữa, với mức lạm phát mục tiêu đề ra càng thấp, thì tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế sẽ càng cao.

Mô hình, dữ liệu và kết quả nghiên cứu

Dựa vào tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, để đánh giá mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, tác giả áp dụng mô hình như sau:

Trong đó: Inf là tỷ lệ thay đổi của chỉ số CPI năm t so với năm t-1, Inf=(CPIt-CPIt-1)/CPIt-1; g đo lường cú sốc cầu, là tỷ lệ thay đổi của GDP, g= (GDPt-GDPt-1)/GDPt-1; m2gdp đo lường độ sâu tài chính, đại diện cho tác động của chính sách tiền tệ đến tăng trưởng, m2gdp= M2t/GDPt; gegdp đo lường tác động chính sách tài khóa mà đại diện là chi tiêu chính phủ so với GDP, gegdp= GEt/GDPt; αo là tung độ gốc, các giá trị α là hệ số dốc và u là sai số ngẫu nhiên.

Theo Keynes và các nghiên cứu đã phân tích cho thấy, giữa tăng trưởng với lạm pháp có mối quan hệ phi tuyến (đường cong).

Do đó, tác giả sử dụng hồi quy ngưỡng theo phương pháp của Hansen để xác định ngưỡng lạm phát tối ưu cho Việt Nam, với dữ liệu được thu thập từ năm 1992 cho đến năm 2016 (sử dụng phương pháp bootstrap 1000 lần, nhằm tăng số mẫu và độ tin cậy cho bộ dữ liệu nghiên cứu). Kết quả cho thấy, tồn tại quan hệ ngưỡng giữa tăng trưởng và lạm phát, với ngưỡng lạm phát tối ưu là 3,22%/năm.

Như vậy, nếu mức lạm phát được giữ ở mức dưới ngưỡng này sẽ kích thích cho tăng trưởng kinh tế (lạm phát tăng thêm 1% thì kinh tế tăng trưởng thêm 0,45%).

Ngoài ra, trong ngưỡng này thì tăng độ sâu tài chính cũng giúp tăng trưởng (độ sâu tài chính tăng thêm 1% giúp tăng trưởng kinh tế thêm 0,37%), ngược lại tăng chi tiêu chính phủ nếu không đẩy mạnh tăng thu nhập thì tạo hiệu ứng ngược (tỷ lệ chi tiêu chính phủ so GDP tăng 1% làm tăng trưởng giảm 1,33%).

Với mức lạm phát trên 3,22%/năm sẽ tạo hiệu ứng kiềm chế tăng trưởng, tuy nhiên cũng ở mức thấp (lạm phát tăng 1%, tăng trưởng kinh tế giảm 0,005%).

Ngoài ra, nếu mức lạm phát trên 3,22%, các chỉ số về độ sâu tài chính, hay chi tiêu chính phủ so với GDP đều có quan hệ thuận chiều và kích thích tăng trưởng, đặc biệt ảnh hưởng của chi tiêu chính phủ/GDP lên tăng trưởng rất cao (tỷ lệ này tăng 1%, tăng trưởng kinh tế thêm 0,84%).

Kết quả nghiên cứu này khá tương đồng với nghiên cứu của Khan (2005) tìm ra ngưỡng lạm phát tối ưu ở các nước Trung Đông và Trung Á là khoảng 3,2%/năm, hay nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (2006) về mức độ lạm phát ở Việt Nam với các nước Đông Nam Á.

Một số hàm ý về chính sách

Năm 2017, Chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức 4%. Tuy nhiên, đây vẫn là mức cao hơn mức ngưỡng tối ưu (3,22%) đề cập trong nghiên cứu này.

Bên cạnh đó, tỷ lệ nhập siêu cũng ở mức cao so với dự trữ, mức thâm hụt ngân sách vẫn duy trì mức cao (thâm hụt chủ yếu từ kênh tiêu dùng), chính sách tiền tệ vẫn chưa thật sự linh hoạt, tăng trưởng tín dụng vẫn duy trì ở mức cao nhằm kích tăng trưởng.

Như đã phân tích, khi chỉ số lạm phát vượt ngưỡng tối ưu sẽ tạo hiệu ứng ngược lên tăng trưởng, Chính phủ muốn duy trì tăng trưởng cao buộc phải nới lỏng chính sách tài khóa hay tiền tệ, nhưng khi nới lỏng chính sách lại tạo cú hích cho lạm phát tăng trở lại.

Như vậy, trong năm 2017 và các năm tiếp theo, Chính phủ cần chú trọng các giải pháp tổng hợp, tiếp tục kiềm chế lạm phát đạt dưới 4% và tiến tới tiệm cận ngưỡng lạm phát tối ưu, có như vậy mới thật sự phát triển kinh tế đi kèm với ổn định giá cả và thu nhập cho người dân.

Tài liệu tham khảo:
 1.Friedman, Milton (1970) “A theoretical framework for Monetery Analysis”, Journal of Political Economy 78(2), 193-238;
2.Barnett, Vincent. John Maynard Keynes. London: Routledge, 2013. ISBN 978-0415567695;
3.Phan Lê Trung và Phạm Lê Thông (2014), Các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến lạm phát Việt Nam, Tạp chí Công nghệ ngân hàng, số 102 tháng 9/2014;
4.Nguyễn Đức Độ (2014), Quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát, tiết kiệm và đầu tư tại Việt Nam, Tạp chí Tài chính, số 2/2014.
———————-&&&———————

Các nhân tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng thành thị nông thôn ở Việt Nam từ 1992-2006

Các nhân tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng thành thị nông thôn ở Việt Nam từ 1992-2006

(Tác giả: Rui Takahash – Nguồn: http://vienthongke.vn)

1. Giới thiệu

Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, do vậy các chính sách hiện nay của Việt Nam đang tích cực đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa để đạt được mục tiêu này. Về lý thuyết, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thường kéo theo quá trình đô thị hóa. Thực vậy, theo lý thuyết của mô hình Harris-Torado, quá trình công nghiệp hóa kéo theo quá trình đô thị hóa và cũng là lúc xuất hiện dòng di cư từ nông thôn ra thành phố dẫn tới sự giảm dân số ở nông thôn. Trong một nghiên cứu thực tế ở Việt Nam nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc hiểu rõ khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ở Việt Nam rằng nếu khoảng cách này càng gia tăng thì sẽ càng thúc đẩy hiện tượng di cư từ nông thôn ra thành thị. Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi, dân số ở khu vực nông thôn ở Việt Nam tương đối ổn định trong thời kỳ đô thị hóa. Chúng tôi gọi đây là hiện tượng dân số nông thôn ổn định. Vậy, câu hỏi đặt ra là tại sao điều này lại diễn ra ở Việt Nam?

Bài nghiên cứu của chúng tôi sẽ tập trung đánh giá khoảng cách bất bình đẳng ở thành thị và nông thôn. Đồng thời, chúng tôi cũng sẽ xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khoảng cách bất bình đẳng này.

2. Thực trạng di cư từ nông thôn ra thành phố ở Việt Nam

3. Phương pháp đánh giá bất bình đẳng

4. Các nhân tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng ở thành thị và nông thôn

5. Kết luận

Thứ nhất, khoảng cách bất bình đẳng giữa thành thị nông thị ở Việt Nam gia tăng đến đầu những năm 2000 do quá trình công nghiệp hóa, tuy nhiên khu vực nông thôn không hấp thụ hết dân số nông thôn. Tuy nhiên, khoảng cách này là không lớn ở Việt Nam.

Thứ hai, lạm phát làm gia tăng mức chi tiêu cho đời sống của người dân là một nhân tố cản trở tình hình di cư từ nông thôn ra thành thị.

Thứ ba, sự gia tăng bất bình đẳng trong từng khu vực ở Việt Nam theo thời gian sẽ tạo nhiều cơ hội việc làm mới cho người dân ở nông thôn đặc biệt là ở các làng nghề thủ công mỹ nghệ hoặc trang trại ở khu vực nông thôn.

Trong nghiên cứu sắp tới, chúng tôi sẽ tiến hành tìm hiểu sâu hơn những nhân tố ảnh hưởng đến khoảng cách bất bình đẳng thành thị và nông thôn ở Việt Nam theo phương pháp tiếp cận của Blinder-Oaxaca.

Tài liệu tham khảo:

1. Số liệu thống kê, website Tổng cục Thống kê: http://www.gso.gov.vn, truy cập ngày 5/12/2014;

2. Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương, 2010, trang 278-280;

3. Cơ sở dữ liệu Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam qua các năm.

Biên dịch: Nghiêm Thị Vân – Vụ Thống kê Tổng hợp

Nguyễn Thị Phương – Trung tâm Tin học KV1

download bài viết đầy đủ: link


Xem thêm: Vai trò của bất bình đẳng kinh tế, ghen tị và thiếu thốn tương đối trong phát triển bền vững tại Việt Nam



Ứng dụng của phương pháp phân rã chênh lệch Blinder-Oaxaca trong kinh tế

Mô hình Oaxaca – Blinder trong phân tích kinh tế

Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển

Phân tích sự khác biệt về đầu tư của doanh nghiệp theo hình thức sở hữu bằng phương pháp phân rã Oaxaca-Blinder

Phân rã chênh lệch tiền lương thành thị – nông thôn ở Việt Nam bằng phương pháp hồi quy phân vị

Phân tích chênh lệch thu nhập theo giới tính ở TP. Hồ Chí Minh bằng hồi quy phân vị

————————–&&&—————————