DSGE cho Việt Nam

DSGE cho Việt Nam

(Tác giả: Lê Hồng Giang)

A Macro-Model Approach to Monetary Policy Analysis and Forecasting for Vietnam

Đây có lẽ là mô hình DSGE đầu tiên cho VN do 2 chuyên gia IMF xây dựng. Mô hình rất đơn giản (so với các DSGE khác), chỉ bao gồm 1 equation cho aggregate demand (output gap estimated bằng HP filter), 2 cho Philips curves (food & fuel + core), 1 cho UIP, 1 cho monetary rule (Taylor rule + exchange rate target). Mô hình được estimated bằng Bayesian method.

Mặc dù các tác giả cho rằng mô hình có in-sample fit rất tốt và có một số phân tích thú vị, tôi thấy nó có hai khiếm khuyết quan trọng. Thứ nhất monetary policy của VN trong 5-7 năm gần đây phụ thuộc rất nhiều vào credit control (bằng mệnh lệnh) chứ không phải lãi suất. Vấn đề bad debt (từ real estate sector) và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng cũng có ảnh hưởng rất lớn đến credit growth và lạm phát. Yếu tố lạm phát còn bị ảnh hưởng bởi giá thương phẩm quốc tế. Bởi vậy chỉ mô hình hóa lạm phát ở VN bằng 2 (augmented) Phillips curves sẽ không đầy đủ.

Thứ hai nền kinh tế VN có phân chia rất rạch ròi thành 3 sectors: SOE, domestic private và FDI. Vai trò của FDI rất quan trọng trong toàn bộ sample (2000-2014) cũng như các thất bại của các industrial policies liên quan đến SOEs có ảnh hưởng rất lớn đến output và credit. Bởi vậy bỏ qua các structural equations liên quan đến aggregate supply (riêng lẻ cho các sector nói trên) không phản ánh đúng bản chất nền kinh tế VN trong 10-15 năm qua.

Hi vọng ai đó tiếp tục phát triển mô hình này sẽ có những thay đổi thích hợp. Tuy nhiên với mô hình hiện tại một kết luận rất dễ thấy là policy function của NHNN có phản ứng rất nhỏ so với optimum function (do các tác giả ước lượng) về tỷ giá danh nghĩa. Điều này có nghĩa là NHNN đã giữ tỷ giá “quá ổn định” trong thời gian qua khi nền kinh tế bị internal/external shocks so với phương án tối ưu. Tỷ giá đáng ra phải flexible hơn nhiều để thực hiện chức năng shock absorption như lý thuyết chỉ ra. Ổn định tỷ giá thái quá là một sai lầm theo quan điểm kinh tế nhưng hiện đang được dẫn chứng như một thành công của NHNN.

———–&&————

Iran chỉ mất 1 USD cho mỗi thùng dầu, phương Tây cải cách hay là “chết”?

Iran chỉ mất 1 USD cho mỗi thùng dầu, phương Tây cải cách hay là “chết”?

(Nguồn: cafef.vn)

Lãnh đạo của các công ty này phải học cách đối mặt với hiện thực và từ bỏ những tham vọng lãng phí. Thay vì đầu tư tìm mỏ mới, họ nên tập trung phát triển các công nghệ năng lượng mới.

Anatole Kaletsky – người đã dự báo từ năm ngoái rằng giá dầu có thể rơi xuống mức 20 USD/thùng – giờ đây lại gây sửng sốt khi nói rằngIran có thể sản xuất dầu mỏ ở mức chi phí chỉ 1 USD/thùng.

Cú sốc từ Iran

Trong một bài bình luận trên tờ The Guardian, ông viết: “Iran đã tuyên bố họ có thể sản xuất dầu chỉ với 1 USD/thùng. Ngay sau khi các lệnh cấm vận kinh tế quốc tế được dỡ bỏ, Iran sẽ có thể khai thác nguồn dự trữ với khối lượng chỉ đứng thứ hai ở Trung Đông, sau Saudi Arabia”.

Theo Kaletsky, trang web của tập đoàn dầu khí quốc gia Iran đã dẫn lời Chủ tịch Salbali Karimi của tập đoàn ICOF cho biết sau khi triển khai những dự án đang tồn tại, ông hi vọng Iran sẽ có thể giảm chi phí sản xuất dầu và khí xuống mức tối thiểu, tức 1 – 1,5 USD/thùng.

Điều duy nhất đang ngăn cản Iran ồ ạt bơm dầu vào thị trường quốc tế vốn đã bão hòa là các lệnh cấm vận hạn chế khả năng bán dầu ra nước ngoài của nước này. Theo một báo cáo mới được công bố, lượng dầu xuất khẩu của Iran đã bị cắt giảm một nửa kể từ khi bị cấm vận. Iran chỉ có thể tiếp cận thị trường quốc tế sớm nhất là vào năm 2016.

Nhận định của Kaletsky – nhà kinh tế học đồng thời là nhà báo kỳ cựu từng cộng tác với The Economist, Financial Times và Reuters – khiến người ta phải nhíu mày: nếu Iran có thể sản xuất dầu với chi phí thấp như vậy, đó sẽ là điều bất lợi cho các nước sản xuất dầu chủ chốt như Saudi Arabia và Nga (vốn đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi giá dầu lao dốc). Saudi Arabia mất khoảng 10 – 20 USD để sản xuất 1 thùng dầu, do đó nếu lời của Kaletsky là đúng thì Saudi Arabia có nguy cơ mất thị phần và tệ hơn vị thế của nước này ở OPEC cũng sẽ bị lung lay.

Tuy nhiên, bên cạnh những kẻ thua cuộc mà chủ yếu là các nước sản xuất dầu, Kaletsky đặc biệt lưu ý đến các công ty dầu mỏ phương Tây – nhóm đã công bố cắt giảm đầu tư 200 tỷ USD trong năm ngoái. Các tập đoàn này đang đối mặt với thời kỳ khó khăn hơn bao giờ hết.

Cải cách hay là “chết”

Dẫu vậy, theo Kaletsky, các cổ đông của những công ty này vẫn có thể thoải mái tận hưởng kỷ nguyên dầu giá rẻ. Nhưng có một điều kiện duy nhất cần đạt được: lãnh đạo của các công ty này phải học cách đối mặt với hiện thực và từ bỏ những tham vọng lãng phí. Mỗi năm 75 tập đoàn dầu mỏ lớn nhất vẫn đang đầu tư hơn 650 tỷ USD để tìm kiếm và khai thác nhiên liệu hóa thạch trong điều kiện ngày càng khó khăn hơn. Đây là sai lầm về phân bổ nguồn vốn lớn nhất trong lịch sử mà nguyên nhân chủ yếu là do mức giá độc quyền giả tạo mà ở đó OPEC đóng vai trò chủ chốt.

Cơ chế độc quyền đã “sụp đổ” vào thời khắc khó khăn. Giả định rằng sự kết hợp giữa các nhân tố gồm dầu đá phiến, áp lực về môi trường và sự phát triển của năng lượng sạch khiến OPEC “tê liệt”, dầu mỏ sẽ được giao dịch giống như các loại hàng hóa thông thường khác. Khi đó nhà đầu tư sẽ chỉ tập trung vào một quy luật kinh tế cơ bản nhất: giá sẽ được quyết định bởi chi phí cận biên.

Trong một thị trường cạnh tranh bình thường, chi phí sản xuất một thùng dầu từ những mỏ rẻ nhất với trữ lượng dồi dào sẽ là yếu tố quyết định giá cả. Điều đó có nghĩa là tất cả các mỏ ở Saudi Arabia, Iran, Iraq, Nga và Trung Á sẽ được khai thác tối đa và cạn kiệt trước khi người ta bận tâm đến việc khám phá và lấy dầu lên từ sâu dưới những lớp băng dày ở Bắc Cực hay vịnh Mexico.

Khi mà OPEC không còn đóng vai trò quyết định đối với thị trường, các tập đoàn như ExxonMobil, Shell và BP không còn có thể hi vọng sẽ cạnh tranh được với Saudi, Iran và cả các công ty của Nga bởi họ có thể sản xuất dầu với những công nghệ giản đơn hệt như thế kỷ 19 với chi phí cực thấp .

Đối với các công ty dầu mỏ phương Tây, chiến lược hợp lý nhất sẽ là ngừng tìm kiếm dầu và tăng lợi nhuận bằng cách cung cấp thiết bị và công nghệ (đặc biệt là những công nghệ mới như fracking) cho các nước sản xuất dầu mỏ. Cách làm khôn ngoan nhất là bán các mỏ dầu có sẵn càng sớm càng tốt và phân phối dòng tiền mặt đó cho các cổ đông.

Đây cũng từng là chiến lược tự thanh lọc mà các công ty sản xuất thuốc lá đã từng sử dụng để phục vụ lợi ích của cổ đông. Nếu lãnh đạo của các công ty dầu mỏ từ chối việc này, các cổ đông chủ động (activist shareholders) nên gánh lấy trách nhiệm. Nếu một nhóm các nhà đầu tư cần huy động 118 tỷ USD để mua lại BP (theo giá của cổ phiếu BP ở thời điểm hiện tại), họ có thể ngay lập tức thu được 360 tỷ USD từ 10,5 tỷ thùng dầu đã được chứng minh là có thể khai thác.

Có hai lý do điều này vẫn chưa thể xảy ra. Lãnh đạo của các tập đoàn dầu mỏ vẫn tin rằng nhu cầu về dầu mỏ và giá dầu sẽ tăng lên trong tương lai. Bởi vậy họ lựa chọn lãng phí tiền của vào việc tìm kiếm những mỏ dầu mới. Họ cũng đang bỏ qua một chiến lược đáng hoan nghênh khác: thay vì đầu tư vào hoạt động tìm kiếm hãy đầu tư vào những công nghệ mới phát triển các loại năng lượng cuối cùng sẽ thay thế năng lượng hóa thạch.

Tại hội nghị về biến đổi khí hậu tại Paris cuối năm ngoái, 20 nước tham dự đã đạt được thỏa thuận lịch sử khi đồng thuận sẽ nâng gấp đôi con số 10 tỷ USD đầu tư cho công cuộc nghiên cứu năng lượng sạch. Tuy nhiên có thể dễ dàng nhận thấy 10 tỷ USD là con số quá nhỏ bé so với chi phí mà các tập đoàn dầu mỏ bỏ ra để thăm dò các giếng dầu mới. Thậm chí về mặt tài chính những khoản đầu tư vào công nghệ năng lượng sạch sẽ mang lại hiệu quả về mặt tài chính lớn hơn nhiều so với đầu tư khai thác mỏ dầu mới.

Giờ đây Saudi và các nước OPEC khác đã nhận ra rằng thị phần của họ đang bị các công ty dầu đá phiến Mỹ và những nhà sản xuất có chi phí cao khác chiếm mất, trong khi áp lực môi trường và những tiến bộ trong công nghệ năng lượng sạch có thể biến dầu của họ thành những tài sản vô giá trị không thể sử dụng hoặc bán đi.

Mark Carney, Thống đốc NHTW Anh, mới đây đã cảnh báo rằng đó sẽ là vấn đề đe dọa đến sự ổn định tài chính của toàn thế giới nếu các thỏa thuận khí hậu khiến các nước buộc phải cắt giảm mạnh lượng khí thải carbon. Khi đó những mỏ năng lượng hóa thạch vốn được các tập đoàn dầu mỏ định giá hàng nghìn tỷ USD trên bảng cân đối kế toán sẽ thành vô giá trị. Áp lực về môi trường đang tạo nên những cải tiến công nghệ, khiến giá năng lượng mặt trời giảm xuống gần bằng giá năng lượng hóa thạch.

Giống như than đá, những mỏ dầu dồi dào của thế giới sẽ bị bỏ hoang. Bộ trưởng dầu mỏ Saudi Arabia Sheikh Zaki Yamani từng cảnh báo về điều này từ những năm 1980 khi nói rằng “trong tương lai sẽ có rất nhiều dầu mà chẳng có người mua. Dầu sẽ vẫn nằm dưới lòng đất. Thời kỳ Đồ Đá kết thúc không phải vì con người thiếu Đá; và thời kỳ Dầu mỏ sẽ kết thúc không phải vì chúng ta thiếu dầu”.

Dường như OPEC đã học được điều này nhưng các tập đoàn phương Tây thì chưa.

Thu Hương

Theo Trí thức trẻ/The Guardian

————-&&————

Viễn ảnh 2025

Viễn ảnh 2025

(Tác giả: Trần Hữu Dũng – Nguồn: thesaigontimes.vn)

(TBKTSG) – Dự đoán tương lai thường là hành động của những người liều lĩnh hoặc dại khờ. Lịch sử đầy rẫy những tiên đoán của nhiều nhân vật nổi tiếng mà sau này chính họ cũng muốn rút lại.

Trong giới kinh tế, ít ai quên rằng, vào năm 1926, chính J. M. Keynes, có lẽ là nhà kinh tế vĩ đại nhất thế kỷ 20, tiên đoán rằng trong tương lai sẽ không có khủng hoảng kinh tế! Irving Fisher, một nhà kinh tế hàng đầu cùng thời với Keynes, cũng khẳng định vào năm 1929 rằng thị trường chứng khoán sẽ chỉ xuống giá vài hôm là cùng. Gần đây hơn (1998) Paul Krugman mạnh bạo tiên đoán rằng đến năm 2005 thì ảnh hưởng kinh tế của Internet sẽ không hơn gì fax (và có mấy ai còn nhớ fax là gì?).

Trong lĩnh vực khoa học thuần túy, nhà vật lý thiên tài Stephen Hawking đoan chắc năm 1988 rằng muộn lắm là vào năm 2000 khoa học sẽ có thể giải thích tất cả hiện tượng trong vũ trụ bằng một lý thuyết tổng quát và nhất thống (unified theory of everything). Nay là năm 2015 rồi, và nhân loại vẫn còn đợi.

Nhưng, dù có thể là sai, hoặc rất sai, mọi người đều phải dự đoán, nhất là trong ngắn hạn và trung hạn, để chuẩn bị cho những gì có thể xảy ra, chí ít là trong sinh hoạt hàng ngày của mình. Và tất nhiên, đối với những người có nhiệm vụ lãnh đạo (doanh nghiệp, tập thể, hay quốc gia) thì việc dự đoán chính là một phần cốt yếu của trách nhiệm.

Vậy thì, thử đoán: Việt Nam sẽ ra sao năm 2025? Chọn 2025 vì từ đây đến đó không quá gần (để thiếu thích thú) mà cũng chẳng quá xa (để dễ sai lầm). Hơn nữa, đó là năm mà Việt Nam đã độc lập và thống nhất tròn nửa thế kỷ. Một điểm mốc nổi cộm trong dòng lịch sử của chúng ta.

Ba xu hướng chung

Trước hết, chúng ta có thể nhận diện vài xu thế chung, có tính định hướng cho mọi quốc gia trong những thập niên sắp đến. Ba xu hướng ấy là (1) tiến bộ công nghệ, (2) toàn cầu hóa, và (3) biến đổi khí hậu.

Tiến bộ công nghệ là một xu hướng không ai có thể phủ nhận

Tuy nhiên nói là khoa học và công nghệ tiến bộ là chưa đủ, thậm chí quá mơ hồ. Sự thực là, tốc độ tiến bộ của khoa học trong vài thập kỷ gần đây có phần chậm lại (nhìn kỹ sẽ thấy những phát minh nền tảng, có tính cách mạng đã xảy ra từ khoảng năm 1945-1971(1)) và tiến bộ công nghệ diễn ra rất không đồng đều ở những ngành công nghiệp khác nhau.

Hơn nữa, đa số tiến bộ công nghệ bộc phát từ nhu cầu sinh hoạt xã hội, do sự kích thích của lợi nhuận kinh tế đến tinh thần sáng tạo cá nhân. Sự phát triển những ứng dụng này rất bất ngờ: chỉ vài năm trước đây không ai tưởng tượng là dịch vụ taxi Uber hay thuê phòng ở tư gia Airbnb phổ biến nhanh chóng như hiện tại. Trong tương lai trước mắt, xu hướng phát triển của Internet là “Internet kết nối mọi thứ” (“The Internet of Things”) tức là dùng điện thoại hoặc máy tính bảng để điều khiển gia dụng (như máy điều hòa nhiệt độ, máy đóng/mở cửa garage).

Toàn cầu hóa

Cụm từ “toàn cầu hóa” hầu như đã trở thành sáo ngữ, và thường được cho là một xu hướng tốt đẹp. Trên thực tế thì ngày càng hiện rõ những khía cạnh không tốt của trào lưu này, chẳng những về mặt kinh tế mà còn về mặt y tế, văn hóa, tội phạm…

Oái oăm là, song song với toàn cầu hóa, từ vài năm nay chủ nghĩa dân tộc cũng có xu hướng mạnh lên, chẳng những ở các quốc gia đang phát triển mà còn ở các nước phát triển phương Tây (kể cả Nga và Đông Âu). Một phần, xu hướng này là do sự xách động của các lãnh tụ cơ hội (như trường hợp Trung Quốc) để huy động sự ủng hộ của quần chúng khi quốc gia của họ gặp những khó khăn kinh tế, chẳng hạn. Tuy nhiên, không ít trường hợp chủ nghĩa dân tộc bộc phát từ quần chúng như một hệ quả của toàn cầu hóa.

Có hai lý do. Một là, sự di dân ồ ạt (ngay giữa những nước có văn hóa tương đối giống nhau, như Đông Âu và Tây Âu) gây ra phản ứng bài ngoại của người bản xứ, nhất là trong thời kỳ kinh tế suy thoái. Hiện tượng này đang xảy ra ở Tây Âu. Hai là, những nước nhỏ tự thuyết phục rằng họ cũng có thể tự lập về kinh tế (Scotland đã viện dẫn Iceland làm ví dụ, và miền Catalan ở Tây Ban Nha cũng rục rịch theo sau, đòi tách ra khỏi Tây Ban Nha).

Biến đổi khí hậu

Đây là một đại nạn đang xảy ra cho nhân loại, không phải là chuyện xa vời, và ảnh hưởng của nó không chỉ ở việc mất đất do sa mạc hóa, do mực nước biển dâng cao, mà còn gián tiếp ảnh hưởng đến thể chế và an ninh quốc gia. Lấy trường hợp Syria làm ví dụ. Nhiều học giả cho rằng một trong những nguyên nhân chính của cuộc nội chiến ở quốc gia này, và lan ra khắp Trung Đông, là biến đổi khí hậu. Cụ thể, nhiều vùng đất trồng trọt ở Syria đã bị sa mạc hóa do biến đổi khí hậu. Dân cư các vùng này phải tìm cách mưu sinh ở thành thị. Tập trung vào những khu ổ chuột, không được sự trợ giúp của nhà nước, họ đâm ra bất mãn và cầm súng chống lại chế độ. Tình trạng tương tự cũng đang manh nha ở Brazil, vùng sông Amazon.

Ba xu hướng này, lúc thì cộng hưởng, lúc thì đơn lẻ, sẽ có ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội, văn hóa, và cả thể chế nữa.

Viễn ảnh

Tăng trưởng, bình đẳng và khủng hoảng

Có thể khẳng định rằng nhìn chung, kinh tế toàn cầu sẽ tiếp tục tăng trưởng trong nhiều thập niên tới. Sau cuộc cách mạng công nghiệp vào thế kỷ 18, không còn ai tin rằng tương lai nhân loại sẽ tối mịt như tiên đoán của Malthus. Tất nhiên, cũng phải nhìn nhận là có hai hiểm họa hăm dọa tương lai loài người, đó là biến đổi khí hậu và đại chiến với vũ khí hạt nhân.
Song, trong xu thế toàn cục đáng lạc quan ấy là một số không nhỏ các xu thế cục bộ (ảnh hưởng nước này nhiều hơn nước kia, lúc này hơn lúc khác), có thể là nguyên nhân của nhiều bi quan.

Một là, tốc độ tăng trưởng sẽ không đồng đều giữa các quốc gia, mà phần lớn là do hậu quả của chất lượng chính sách và thể chế của từng quốc gia. Chênh lệch giữa các quốc gia phát triển và một số quốc gia chậm phát triển có thu hẹp, nhưng chênh lệch giữa các quốc gia (một thời cùng là chậm phát triển) lại giãn ra thêm. Do đó sự chêch lệch giữa các quốc gia về chất lượng đời sống cũng như về sức mạnh kinh tế lẫn quân sự sẽ tăng lên. Điều này tất nhiên sẽ có những hậu quả nghiêm trọng về quốc phòng và an ninh.

Hai là tốc độ tăng trưởng thu nhập thường không đồng đều (theo địa phương, ngành nghề, thang thu nhập) trong từng quốc gia. Nói cách khác, ở nhiều quốc gia, chênh lệch giàu nghèo có khuynh hướng tăng thêm, có khi tăng vọt một cách đáng ngại. Cần nhấn mạnh điều này: trong lúc khoảng cách giữa các quốc gia phát triển và chậm phát triển ngày càng thu nhỏ thì sự chênh lệch giàu nghèo trong mỗi quốc gia lại có xu hướng tăng lên(2).

Ba là nguy cơ khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế luôn luôn tồn tại. Nhìn lại kinh nghiệm thế kỷ vừa qua thì hầu như thập niên nào cũng có một cơn khủng hoảng tài chính quốc tế (khu vực hoặc toàn cầu). Từ đây đến năm 2025 cũng khó mà tránh được một thời kỳ suy thoái, nặng hoặc nhẹ, chỉ vài tháng hay lâu hơn. Tăng trưởng sẽ chậm lại, thậm chí đình trệ hoặc quay về hướng âm. Ảnh hưởng của những cuộc khủng hoảng này đối với những thành phần khác nhau trong xã hội cũng nặng nhẹ khác nhau.

Xã hội và văn hóa

Nếu như hầu hết quốc gia đều lạc quan về đời sống vật chất của đại đa số người dân, thì đời sống tinh thần (kể cả những liên hệ gia đình, xã hội) lại là mối quan ngại sâu sắc ở mọi nơi. Văn hóa đại chúng sẽ phát triển, nhất là do ảnh hưởng của toàn cầu hóa, nhưng văn hóa hàn lâm sẽ mai một. Đó không phải là một viễn ảnh đáng lạc quan.

Sự chênh lệch giàu nghèo không những gây bất ổn xã hội mà còn có khuynh hướng khiến chính phủ tiêu ít tiền hơn cho giáo dục, y tế, chuyên chở công cộng (vì những người có thu nhập cao có thể tự trang trải những dịch vụ ấy, không cần đến nhà nước, và do đó không làm áp lực để nhà nước cung cấp). Tuổi thọ bình quân chắc chắn sẽ tăng (trừ vài trường hợp hãn hữu, như ở Nga) và chi phí cho y tế và bảo hiểm xã hội cũng tăng theo.

Mặt khác, hầu hết mọi xã hội đều có khuynh hướng “khoan dung” hơn: quyền phụ nữ, quyền những người tàn tật, những người đồng tính ngày càng được luật pháp công nhận.
cuối cùng là trách nhiệm

Trước viễn ảnh phác họa trên đây, trách nhiệm đối phó là ở nhà nước lẫn cá nhân mọi người dân.

• Trách nhiệm nhà nước

Trách nhiệm của nhà nước (như một cơ cấu thực thi nguyện vọng của toàn dân) có thể tóm tắt trong bốn điểm: ổn định và hài hòa, linh động và sáng tạo.

• Ổn định và hài hòa

Hiển nhiên, ổn định xã hội là cần thiết để phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của người dân. Nhưng nền móng của sự ổn định ấy phải được xây dựng từ sự hài hòa, đồng thuận của xã hội chứ không thể do áp đặt. Thu nhập càng chênh lệch thì xã hội càng căng thẳng, mầm mống bất ổn càng lớn mạnh.

Ổn định cũng có nghĩa là giảm biên độ biến động khi kinh tế trì trệ, tài chính khủng hoảng. Phải nhìn nhận rằng không thể nào triệt tiêu mọi sự cố bất trắc (mà nguồn gốc có thể do thiên tai, hoặc từ nước ngoài). Không nên để nền kinh tế nước ta phụ thuộc vào bất cứ một nước nào, một sự phụ thuộc như thế sẽ có tính truyền dẫn, đưa những biến động từ nước ấy sang nước ta. Trong đầu tư cũng như trong bang giao quốc tế, nguyên tắc căn bản bao giờ cũng là đa dạng hóa, đa phương hóa.

• Linh động và sáng tạo

Sáng tạo chỉ có thể xuất phát từ cá nhân con người, và một môi trường xã hội và kinh tế thông thoáng là cần thiết để cá nhân phát huy sáng tạo và đồng hành với thế giới. Đặc biệt là những ứng dụng của công nghệ cao đòi hỏi tự do kinh doanh và sáng tạo cao. Những phát minh này có lẽ không cần sự tài trợ của nhà nước (nếu thị trường vốn là hiệu quả), song khó mà phát triển trong một môi trường mà quyền sở hữu trí tuệ không hợp lý, thiếu minh bạch và không được bảo đảm.

Trong một thế giới không ngừng thay đổi, một thử thách lớn là làm thế nào để thích ứng với những thay đổi ấy, nhất là dưới sức ép của lợi nhuận kinh tế ngắn hạn, để bảo tồn những di sản văn hóa dân tộc. Một chính sách đúng đắn đòi hỏi những thảo luận sâu rộng, lọc lựa sáng suốt từ những nhà văn hóa, song cũng cần lắng nghe và thực thi những đề xuất chính đáng, dù đôi khi chúng có thể đi ngược lợi ích trước mắt của một thiểu số quyền lực. Cá nhân nhà lãnh đạo cần nhìn xa hơn nhiệm kỳ của mình, thậm chí thế hệ của mình.

Rõ ràng là mỗi quốc gia đều phải đối phó với những thử thách có tính sống còn như đã nói trên. Rủi thay, như nhiều học giả (Acemoglu, Robinson, và nhất là Fukuyama) đã phát giác, chất lượng thể chế ở hầu hết mọi nước, kể cả những nước phát triển, đều dưới tầm những thử thách thời đại. Lấy trường hợp nước Mỹ chẳng hạn. Chế độ tam quyền phân lập rạch ròi của nước ấy, dù có thể đã thích hợp vào một thời kỳ lịch sử nào đó, dường như hiện tê liệt trước những thử thách về khí hậu, về môi trường, về phân hóa xã hội. Đi tìm một thể chế mới có thể phải cần một cuộc cách mạng tự căn bản mà ít quốc gia nào sẵn sàng.

● Trách nhiệm cá nhân

Tất nhiên, không chỉ nhà nước là có trách nhiệm chuẩn bị cho tương lai, mọi người trong xã hội, tùy cương vị của mình, đều có bổn phận ấy. Một là, mỗi cá nhân phải đầu tư nhiều hơn vào giáo dục, không ngừng trau dồi kỹ năng, sẵn sàng thay đổi ngành nghề để đáp ứng với nền kinh tế ngày càng nặng hàm lượng tri thức, khi mà nhu cầu lao động tay nghề cao ngày càng tăng và thay đổi. Hai là, mỗi người phải giữ gìn sức khỏe, nói chung là có một cuộc sống lành mạnh. Dù những tiến bộ y khoa sẽ giúp gia tăng tuổi thọ trung bình, mỗi người vẫn có trách nhiệm bảo dưỡng sức khỏe để tận hưởng tuổi hưu, và không gây gánh nặng cho gia đình và xã hội vì những bệnh tật do lối sống (như hút thuốc, nhậu nhẹt…). Ba là, không nên chỉ nương nhờ vào lương hưu, vào bảo hiểm xã hội, mà phải dành dụm đủ tiền (hoặc khôn ngoan đầu tư!) để an hưởng tuổi già.

Đó là viễn ảnh năm 2025, theo tôi.

(1) Xem Michael Hanlon, “The golden quarter,” Aeon, 3-12-2014 – Tyler Cowen, The Great Stagnation, NY: Penguin, 2014

(2) Đây là kết luận chính của một trong những cuốn sách quan trọng nhất năm nay, đó là cuốn Vốn ở thế kỷ 21 của Thomas Piketty.

—————–&&—————–

Việt Nam đang chi 30-70 USD khai thác mỗi thùng dầu

Việt Nam đang chi 30-70 USD khai thác mỗi thùng dầu

(Nguồn: vneconomy.vn)

Crude Oil and Commodity Prices
December, Thursday 18 2014 – 21:27:50

WTI Crude Oil
$54.11 ▼-2.36 -4.36%
2014.12.18 end-of-day
Brent Crude Oil
$59.27 ▼-1.91 -3.22%
2014.12.18 end-of-day

Ngày 17/12, một thông cáo được phát đi từ Ngân hàng Nhà nước cho biết phiên họp lần thứ nhất nhằm triển khai “Quy chế phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô” của cơ quan này với ba bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Công Thương đã được tổ chức.
Bản thông cáo nêu khá cụ thể về mục tiêu và nguyên tắc phối hợp giữa bốn cơ quan nói trên, song không đề cập nội dung được bàn thảo tại phiên họp đầu tiên này.

Tuy nhiên, một nguồn tin của VnEconomy cho biết, một số nội dung phối hợp điều hành vĩ mô trong quý 1/2015 đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư nêu và đề nghị ba bộ còn lại thảo luận thêm.

Dự báo mới là giả định

Tác động của giá dầu đến khai thác dầu thô và tăng trưởng kinh tế là vấn đề quan trọng được đề cập trong phiên họp.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2014 Việt Nam khai thác được trên 15 triệu tấn dầu thô. Chi phí khai thác dầu thô ở Việt Nam dao động từ mức 30 đến 70 USD/thùng.

Câu hỏi được Bộ Kế hoạch và Đầu tư đặt ra là: mức giá dầu thô nêu trên ảnh hưởng như thế nào đến sản lượng khai thác trong thời gian tới và cơ cấu lại các mỏ?

Việc cần bàn và cần làm, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, là rà soát ảnh hưởng của giá dầu hiện tại đến hiệu quả của các mỏ dầu khí đang khai thác, đề xuất các phương án giảm thiểu rủi ro, lựa chọn phương án hợp lý.

Với cơ cấu về tỷ trọng khai khoáng chiếm khoảng 11% GDP, trong đó dầu thô chiếm khoảng 70-80%, Bộ Kế hoạch và Đầu tư giả định nếu ngành khai thác dầu phải cắt giảm 30% sản lượng thì sẽ tác động rất lớn đến nền kinh tế, tăng trưởng GDP có thể suy giảm từ 0,8 điểm phần trăm đến 1,2%.

Còn theo mô hình dự báo, nếu giá xăng dầu trong nước giảm 10% thì chi phí sản xuất giảm 0,57%, CPI giảm 0,55%, kinh tế tăng thêm 0,91%.

Tuy nhiên, những dự báo trên đều là giả định, cần có sự phối hợp của các bộ ngành để xem xét thêm các yếu tố tác động xung quanh giá dầu lên tăng trưởng kinh tế, vẫn theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Ngân sách có thể giảm nhiều

Với tỷ lệ khoảng 11-12% tổng thu ngân sách nhà nước từ dầu thô, giá dầu thô theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư là có ảnh hưởng lớn đến ngân sách cả về xuất khẩu và nhập khẩu.

Năm 2015, dự toán thu ngân sách từ dầu thô là 93 nghìn tỷ đồng với giá dự toán dầu thô là 100 USD/thùng.

Nêu tính toán sơ bộ: nếu giá dầu giảm 1 USD/thùng, ngân sách sẽ hụt thu khoảng 1.000 – 1.200 tỷ đồng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tính toán, nếu giá dầu giảm từ trên 100 USD/thùng đầu năm 2014 xuống còn khoảng bình quân 70 USD/thùng trong năm 2015, thì ngân sách hụt thu khoảng 30.000 tỷ đồng.

Dĩ nhiên, nếu giá dầu giảm xuống bình quân 60 USD/thùng thì ngân sách sẽ giảm nhiều hơn nữa.

Trong vai trò chủ trì phối hợp liên ngành, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị các bộ phối hợp tính toán tác động của giá dầu thô đến nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới, và có phương án để bù đắp lại các khoản thiếu hụt nêu trên.

Quan điểm của Bộ là ngoài việc tăng thuế nhập khẩu xăng dầu, cần tính toán điều phối lợi nhuận của các doanh nghiệp chế biến và kinh doanh xăng dầu…

Bên cạnh giá dầu và tác động của nó, phiên họp còn đề cập một số nội dung quan trọng khác trong điều hành kinh tế vĩ mô, VnEconomy sẽ phản ánh ở bài viết sau.

Vũ Anh

—————————-

  • Chi phí sản xuất dầu thô: Mỹ ~ 60USD, Arap Saudi ~ 20USD

Screen_Shot_2014-12-03_at_2.11.50_PM.0.png (741×631)

  • Chi phí sản xuất dầu từ đá phiến: Mỹ ~ 70USD

FACTBOX-Breakeven oil prices for U.S. shale: analyst estimates

How far do oil prices have to fall to throttle the US shale boom?

—————&&—————-

Vòng xoáy nợ công (K1): Giới hạn an toàn

Vòng xoáy nợ công (K1): Giới hạn an toàn

(Nguồn: cafef.vn)

Vòng xoáy nợ công (K2): Ngăn chặn từ trứng nước

Vòng xoáy nợ công (K3): Những bài học ứng phó

Ngày càng nhiều nhà kinh tế tin rằng tỷ lệ nợ/GDP không thể phản ánh toàn diện độ an toàn của tình hình nợ công một nước.

Nợ công đang tăng lên mức nguy hiểm ở Việt Nam và nhiều nước khác. Ước tính đến cuối năm 2015, nợ công nước ta sẽ ở mức 64% GDP, sắp chạm trần (65%). Trong khi đó, báo cáo Geneva của Trung tâm Nghiên cứu tiền tệ và ngân hàng quốc tế (ICMB), cho biết nợ công toàn thế giới không giảm bớt sau cuộc khủng hoảng, trái lại đang tăng và có nguy cơ tạo thành một cuộc khủng hoảng trong tương lai. Làm thế nào để tránh một cuộc khủng hoảng nợ công?
Nhiều người tin rằng nợ công của Việt Nam vẫn trong ngưỡng an toàn vì tỷ lệ nợ/GDP còn kém xa một số nước. Tuy nhiên, ngày càng nhiều nhà kinh tế tin rằng tỷ lệ nợ/GDP không thể phản ánh toàn diện độ an toàn của tình hình nợ công một nước.
Bao nhiêu là quá nhiều?
Trong thực tế, nợ công cao có thể tác động xấu đến nền kinh tế về nhiều mặt. Thứ nhất, để trả nợ nhiều hơn, các chính phủ sẽ tăng thuế cao hơn, đi kèm đó là cắt giảm chi tiêu và dĩ nhiên sẽ kiềm chế tăng trưởng. Thứ hai, các hiệu ứng méo mó của việc thực thi nghĩa vụ trả nợ sẽ tăng lên cùng mức nợ. Lãi suất thực tế cần trả có thể cao hơn, tức tỷ lệ thiệt hại đến nguồn thu của nền kinh tế sẽ cao hơn.
Thứ ba, mức nợ công cao, không bền vững có thể dẫn đến cuộc khủng hoảng nợ công nếu các thị trường tài chính tin rằng cam kết trả nợ của chính phủ không còn đáng tin cậy. Để phát hiện sớm và ngăn chặn một cuộc khủng hoảng nợ công trong tương lai, cần phải biết được mức nợ công bao nhiêu là quá nhiều. Trong Hiệp ước Maastricht năm 1992, tiền đề dẫn đến việc tạo ra đồng EUR, các chính phủ châu Âu đặt một ngưỡng nợ tối đa cho các nước muốn gia nhập đồng tiền chung là 60% GDP.
Tuy nhiên, mức trần này không phản ánh được hết những đòi hỏi về an toàn, bởi đến nay nhiều thành viên của Eurozone đều có tỷ lệ nợ/GDP rất cao và vượt hẳn ngưỡng này. Đơn cử như Italia (133,1%), Pháp (94,8%), Đức (78,1%)…
Năm 2010, các nhà kinh tế Hoa Kỳ là Carmen M. Reinhart và Kenneth S. Rogoff cho rằng ngưỡng nợ công bắt đầu gây tác động tiêu cực cho nền kinh tế là 90% GDP. Theo họ, khi nợ công của một quốc gia bắt đầu lớn hơn 90%, tăng trưởng trung bình sẽ giảm đi 1%.
Reinhart và Rogoff cũng nói rằng khi mức nợ công vẫn còn thấp hơn ngưỡng này sẽ không tìm được mối quan hệ rõ nét giữa nợ công với tốc độ tăng trưởng kinh tế thực. Hai nhà phân tích này cũng chỉ ra tại các quốc gia mới nổi, mức nợ công cao hơn thường đi kèm với tỷ lệ lạm phát cao hơn đáng kể. Tuy nghiên cứu của Reinhart và Rogoff khá ấn tượng nhưng đối với nhiều người nó chưa đủ sức thuyết phục.
Giáo sư kinh tế Robert Shiller và Paul Krugman đã chỉ ra Reinhart và Rogoff chưa giải thích được bằng cách nào nợ công lại kiềm hãm tăng trưởng. Có thể có các nhân tố khác tác động đến nợ công, đặc biệt khi tỷ lệ nợ công/GDP thường tăng lên mức cao nhất ngay sau các cuộc khủng hoảng tài chính hay chiến tranh.
Những nhân tố quyết định
Thực tế cho thấy nhiều nước trên thế giới có tỷ lệ nợ công/GDP cao nhưng vẫn không rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, điển hình như Nhật Bản (242,3%), Hoa Kỳ (107,3%), Singapore (106,2%), Anh (95,3%),…
Những nước này có mức nợ công/GDP rất cao nhưng đến nay vẫn được đánh giá an toàn, trong khi những nước như Argentina nợ công chỉ 45,9% nhưng lại vỡ nợ. Điều gì tạo ra mâu thuẫn này?
Các nhà chuyên môn đã đưa ra một số yếu tố lý giải vì sao Nhật Bản dù có tỷ lệ nợ công/GDP cao nhưng vẫn trong ngưỡng an toàn: Cán cân thanh toán quốc tế mạnh và dự trữ ngoại hối hơn 1.000 tỷ USD và là nước chủ nợ lớn nhất thế giới (tính đến tháng 5-2011), khi sở hữu 3.300 tỷ USD tài sản nước ngoài; hệ số sử dụng vốn đầu tư ICOR của Nhật Bản rất hiệu quả (3.0); đa phần trái phiếu chính phủ Nhật Bản được các nhà đầu tư trong nước nắm giữ (95%), do đó ít phụ thuộc vào giới đầu tư trái phiếu quốc tế, giữ được thị trường trái phiếu bình ổn.
Như vậy, cơ sở đánh giá nợ công an toàn không phản ánh toàn diện qua tỷ lệ nợ công/GDP mà còn thể hiện qua nhiều yếu tố khác.
Theo Hiệp hội Chỉ số Quốc tế (IBA), nợ công sẽ bị đánh giá không bền vững nếu tỷ lệ nợ/GDP được dự báo sẽ tăng trưởng không giới hạn nếu các chính sách hiện có không thay đổi. IBA cho rằng dù tỷ lệ nợ/GDP cao đến bao nhiêu, nhưng nếu quốc gia đó có thể tự tạo ra thặng dư, tức tổng thu trừ đi tổng chi (bao gồm cả chi phí thực thi nghĩa vụ nợ) là số dương sẽ không phải lo lắng về khủng hoảng nợ công. Tổng thu ngân sách và mức lãi suất vay mượn sẽ quyết định tỷ lệ nợ/GDP ở mức nào là an toàn.
Vì vậy, các nước sẽ có những ngưỡng an toàn khác nhau về tỷ lệ nợ công/GDP. Bởi niềm tin là yếu tố quan trọng trong việc gây ra cuộc khủng hoảng nợ, nên uy tín của một quốc gia có vai trò rất quan trọng. Ngoài ra, phải tính đến chi phí vay mượn. Mỗi quốc gia có chi phí vay mượn khác nhau, xuất phát từ niềm tin của giới đầu tư quốc tế đối với quốc gia đó.
Có 2 yếu tố quyết định chi phí đi vay: lãi suất phải trả của trái phiếu chính phủ và các khoản vay khu vực công; thời hạn nợ vay – các chính phủ vay vốn ngắn hạn dễ bị tổn thương hơn. Ai nắm giữ các khoản nợ cũng là một yếu tố quan trọng. Chẳng hạn, nợ công của Nhật Bản được đánh giá an toàn vì có tới 95% chủ nợ là người trong nước. Trong khi đó, Hy Lạp nhanh chóng chìm vào khủng hoảng nợ công vì có tới 70% chủ nợ là người nước ngoài. Tỷ lệ này ở nước ta tính đến năm 2013 là 50/50, tức 50% nợ nước ngoài và 50% nợ trong nước.
Ngoài ra, khái niệm nợ công mà các nhà kinh tế nước ngoài thường nói đến bao gồm nợ chính phủ và tất cả những khoản nợ được Chính phủ bảo lãnh (theo Ngân hàng Thế giới); hoặc tất cả nghĩa vụ trả nợ của khu vực công như chính phủ, chính quyền địa phương, doanh nghiệp nhà nước… (theo Quỹ Tiền tệ quốc tế).
Nếu căn cứ theo những cách tính này, tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam lên tới 100% GDP. Ngoài ra, nghiên cứu của Công ty TVS cho biết nợ công Việt Nam đang tồn tại những yếu tố nguy hiểm: bội chi tăng nhanh (trung bình 14%/năm trong giai đoạn 2009-2014 và cao hơn tăng trưởng GDP). Đáng lưu ý, tỷ lệ nghĩa vụ trả nợ có xu hướng tăng lên trên mức 25% tổng thu ngân sách (dự kiến 26,7% năm 2014 và 31% năm 2015).
Theo Văn Cường

Sài Gòn đầu tư tài chính

————————–&&————————-

Kinh tế học của di sản

Kinh tế học của di sản

(Nguồn: tuoitre.vn)

TTCT – Bảo tồn các tòa nhà, địa điểm di sản văn hóa thường xuyên là vấn đề gây tranh cãi trong một xã hội văn minh.

Tòa nhà Hayden, một trung tâm thương mại cũ kỹ ở Boston, được xây dựng nên năm 1875... - Ảnh: blogspot.com
Tòa nhà Hayden, một trung tâm thương mại cũ kỹ ở Boston, được xây dựng nên năm 1875… – Ảnh: blogspot.com
... Được bảo tồn, phục dựng gần như nguyên vẹn cho tới tận ngày nay (ảnh chụp năm 2004) - Ảnh: historicboston.org
… Được bảo tồn, phục dựng gần như nguyên vẹn cho tới tận ngày nay (ảnh chụp năm 2004) – Ảnh: historicboston.org

Có thể quy ra tiền giá trị của một di sản?

Hãy cùng lắng nghe nhận xét của Donovan D. Rypkema, giám đốc công ty chuyên bảo tồn các di tích lịch sử Heritage Stretagies International và là một thạc sĩ về khoa học bảo tồn bảo tàng của Đại học Columbia: “Trong thế kỷ 21, những thành phố khôn ngoan sẽ tìm cách thích ứng giữ lại các giá trị lịch sử của nó, đồng thời vẫn đáp ứng được những đòi hỏi kinh tế, xã hội và văn hóa của người dân không chỉ ở hiện tại mà cả rất xa trong tương lai”.

Rất khó định lượng chính xác việc bảo tồn giá trị của một di sản. Một di sản văn hóa được bảo tồn chứa đựng rất nhiều giá trị tinh thần, văn hóa, thẩm mỹ, giáo dục, môi trường, xã hội, lịch sử…, nhưng đều là những tiêu chí muốn định lượng không hề dễ.

Chỉ khi định lượng được giá trị của một di sản, việc thuyết phục mọi người bảo tồn nó mới dễ dàng hơn. Trong một thời gian dài, những người bảo vệ di sản đã không củng cố cho lập luận của họ trên khía cạnh kinh tế, mà chỉ đơn giản khẳng định các giá trị tinh thần đó là “vô giá”.

Trong dài hạn có thể là như thế. Trong dài hạn, ảnh hưởng kinh tế của việc giữ lại một di sản rất có thể nhỏ bé hơn nhiều so với những giá trị giáo dục, thẩm mỹ, văn hóa, môi trường, xã hội…

Trong dài hạn, chúng ta có thể không quan tâm lắm tới số công ăn việc làm mà Angkor Wat tạo ra cho Campuchia, số thuế mà các kim tự tháp thu về cho Nhà nước Ai Cập, hay tiền vé thu được từ Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc. Xét cho cùng, đó là những kỳ quan vô song của nhân loại về mặt tinh thần, ai lại đi tính đếm!

Nhưng như nhà kinh tế học vĩ đại người Anh John Maynard Keynes từng nói: “Trong dài hạn, tất cả chúng ta đều sẽ chết”.

Trong ngắn hạn, rất nhiều người liên quan, có ảnh hưởng và có quyền quyết định với di sản như chủ bất động sản, các chính trị gia, các nhà đầu tư, các ban quản lý dự án hạ tầng… quan tâm tới giá trị kinh tế của nó.

Thực tế cho thấy chủ yếu qua góc nhìn kinh tế mà họ sẽ ra quyết định về việc có bảo tồn di sản đó hay không.

Vì thế, một chiến lược khôn ngoan với các tổ chức bảo vệ di sản là phải đưa ra luận chứng kinh tế của họ. Chẳng hạn, Europa Nostra, một hiệp hội liên châu Âu chuyên bảo tồn các di sản văn hóa, đã trích dẫn trong nghiên cứu “Thống kê di sản văn hóa châu Âu” của họ rất nhiều lợi ích kinh tế.

Có năm tiêu chí chính được đề cập trong nghiên cứu khi đo đếm vấn đề ảnh hưởng kinh tế của bảo tồn di sản: 1) công ăn việc làm và thu nhập cho các hộ gia đình; 2) giá trị giải trí của một di sản ở trung tâm thành phố; 3) giá trị từ du lịch; 4) giá trị của bất động sản trong dài hạn; và 5) lợi ích cho các doanh nghiệp nhỏ phục vụ di sản.

Với hầu hết nhà chính trị chuẩn tắc cũng như các chuyên gia kinh tế phát triển, việc làm và thu nhập của các hộ gia đình là mục tiêu ưu tiên hàng đầu. Việc giữ lại các tòa nhà và khu di tích có giá trị lịch sử rất hứa hẹn với mục tiêu này.

Một báo cáo của Cơ quan Phát triển quốc tế Thụy Điển với các di tích họ hỗ trợ kinh phí duy trì và bảo tồn ở Bờ Tây tại Palestine cho thấy cứ mỗi dự án 100.000 USD sẽ tạo ra 3.000-3.500 ngày công lao động, nếu tỉ lệ giá trị lao động đóng góp cho dự án là 70%.

Thông thường, những dự án bảo tồn di sản, vốn liên quan nhiều tới việc xây dựng, bảo trì, thu vé… có hàm lượng lao động rất lớn.

Một nghiên cứu khác của Bộ Thương mại Mỹ chỉ ra rằng tại bang Tennessee, cứ mỗi 1 triệu USD đầu tư vào ngành công nghiệp chế tạo sẽ tạo ra 28,8 việc làm, 1 triệu USD vào ngành xây dựng mới tạo ra 36,1 việc làm, còn cho việc phục dựng các tòa nhà lịch sử là 40 việc làm.

Tương tự, 1 triệu USD đầu tư cho công nghiệp chế tạo mang tới 604.000 USD thu nhập tăng thêm cho các hộ gia đình, trong khi với xây dựng mới là 764.000 USD và bảo tồn di sản là 826.000 USD.

Thêm vào đó, các công việc bảo tồn di sản gần như luôn đòi hỏi lao động địa phương, vì rõ ràng không thể mang những việc làm đó ra nước ngoài.

Một nghiên cứu năm 2005 ở Anh cho thấy để bảo tồn khoảng 4,5 triệu căn nhà được xếp loại lịch sử và 550.000 tòa nhà lịch sử vẫn được sử dụng cho mục đích thương mại, cần 86.000 chuyên gia về bảo tồn. Ở Pháp, con số đó là 40.000.

Bảo tồn di sản đô thị toàn quốc

Ảnh hưởng lớn thứ hai của việc bảo tồn di sản văn hóa ở trung tâm thành phố là tác động tới quy hoạch.

Cho tới nay, chương trình phát triển kinh tế hiệu quả nhất về mặt chi phí ở Mỹ, không chỉ với việc bảo tồn di sản mà là bất kỳ loại nào, là chương trình của Quỹ tín thác quốc gia bảo tồn các di tích lịch sử, một quỹ tư nhân và phi lợi nhuận: chương trình Main Street.

Chương trình này có quy mô toàn quốc nhắm vào việc tạo ra sức sống mới cho những khu vực trung tâm thương mại ở các thành phố lớn đi kèm với việc bảo tồn các giá trị lịch sử.

Bắt đầu ở các quận trung tâm của những thành phố nhỏ, trong 25 năm qua, khoảng 1.700 cộng đồng ở 50 bang của nước Mỹ đã tham gia các chương trình Main Street.

Theo thời gian, tổng số tiền tái đầu tư của cả nhà nước và tư nhân cho các cộng đồng Main Street đó là 23 tỉ USD, với 67.000 doanh nghiệp mới được thành lập, tạo ra gần 310.000 công ăn việc làm mới, phục dựng và bảo tồn 107.000 tòa nhà lịch sử.

Mỗi 1 USD đầu tư vào chương trình Main Street giúp tạo ra gần 27 USD cho nền kinh tế, và chi phí trung bình để tạo ra một việc làm của chương trình này là 2.500 USD, ít hơn 1/10 so với rất nhiều chương trình phát triển kinh tế ở cấp bang vẫn được ca ngợi (*).

Không có gì ngạc nhiên khi chương trình lớn thành công đầu tiên của Main Street là ở trung tâm Boston, cái nôi của cuộc cách mạng Mỹ và cũng là một trong những đô thị có nhiều di sản cần được bảo tồn nhất.

Từ đó tới nay, Main Street đã được mở rộng ra Baltimore, San Diego, Philadelphia, Milwaukee, Dallas, Detroit, Washington D.C. và nhiều thành phố khác.

Điều quan trọng là không chỉ các nước giàu hay những tổ chức phi lợi nhuận mới làm được. Có thể nêu vài ví dụ như các sáng kiến của Ngân hàng Phát triển liên Mỹ bảo tồn đồng thời phát triển khu trung tâm thủ đô Quito (Ecuador), hay chương trình di sản của thủ đô Tunis (Tunisia) cũng đạt được những thành công lớn.

Ngoài dân bản địa, du khách là một hi vọng lớn khác cho việc bảo tồn di sản. Nhiều nghiên cứu, thống kê cho thấy khách du lịch di sản thường là khách sộp của ngành du lịch.

Chẳng hạn, chính quyền bang Virginia, một vùng đất đậm chất lịch sử khác của Mỹ, đã tài trợ một nghiên cứu cho thấy các khách du lịch di sản thường lưu trú lâu hơn, thăm các địa điểm trong bang nhiều gấp đôi và chi tiêu gấp 2,5 lần so với khách đi tour.

Giá trị của chính khu bất động sản được bảo tồn là một vấn đề kinh tế khác cần nhắc tới. Những công trình kỳ vĩ như kim tự tháp hay đền Angkor Wat có thể quả thật vô giá, nhưng với các khu đất di sản lịch sử trong thành phố, giá đất sẽ tăng từng năm và thường tăng nhanh hơn xung quanh với một di sản nổi tiếng và thu hút nhiều du khách.

Một nghiên cứu của Eduardo Rojas, chuyên gia kinh tế cấp cao của Ngân hàng Phát triển liên Mỹ, chỉ ra rằng các tòa nhà di sản luôn là những bất động sản có giá bình quân cao hơn giá thị trường và ngay cả khi thị trường bất động sản đóng băng, giá đất của những khu di sản vẫn tăng đều đặn.

Cụ thể, các số liệu của Rojas từ Quito (thủ đô Ecuador) trong sáu năm cho thấy trong khi đất ở một di sản cụ thể tăng giá 44% thì đất xung quanh đó chỉ tăng 10%.

(*): Chi tiết về chương trình có thể được tìm thấy trên Mainstreet.org.

HẢI MINH

———————–&&———————-

Unemployment rate

Unemployment rate

(Tác giả: Lê Hồng Giang – Nguồn: kinhtetaichinh.blogspot.com)

Trước đây đa số người Việt không mấy ai quan tâm hoặc biết đến số liệu thống kê thất nghiệp. Dù đây là một chỉ số quan trọng cho các nền kinh tế phát triển nhưng với một nước nông nghiệp nghèo như VN thống kê về thất nghiệp không có mấy giá trị và chưa kể độ chính xác luôn là một dấu hỏi. Tuy nhiên tôi vẫn hoan nghênh việc TCTK và Bộ LĐTBXH (với sự giúp đỡ của ILO) tiến hành thống kê và công bố các chỉ số lao động việc làm, cho dù bộ số liệu này còn cần được cải thiện. Bởi vậy tôi lấy làm tiếc khi dư luận gần đây công kích con số thất nghiệp 1.84% mà không để ý đến bức tranh lao động việc làm rộng hơn, tuy nhiên lỗi một phần do chính Bộ LĐTBXH.

Ít nhất từ năm 1997 TCTK đã tiến hành điều tra và thống kê số liệu lao động việc làm hàng năm, từ năm 2012 số liệu quí bắt đầu được TCTK công bố. Số liệu việc làm và tỷ lệ thất nghiệp được TCTK đưa vào báo cáo kinh tế xã hội mỗi tháng cuối quí trong vài năm lại đây, tuy nhiên Bộ LĐTBXH chỉ bắt đầu xuất bản ấn phẩm về các số thống kê này từ Q1 2014. Ba ấn phẩm đầu tiên được bộ này công bố trong các cuộc họp báo (không hiểu sao lại gọi là hội thảo) có rất nhiều thông tin hữu ích về thị trường lao động chứ không chỉ có số liệu thất nghiệp. Trong khi các ấn phẩm của TCTK về lao động việc làm những năm trước và hai ấn phẩm đầu của Bộ LĐTBXH hầu như không tạo sự chú ý, ấn phẩm thứ ba của bộ này bất ngờ bị báo chí và nhiều chuyên gia “soi” vì tỷ lệ thất nghiệp quá thấp, chỉ 1.84% so với trung bình 5-6% ở nhiều nước phát triển.

Công bằng mà nói con số này đúng là thấp thật và tôi đồ rằng các cán bộ thống kê đã rất miễn cưỡng phải công bố nó, họ biết sẽ phải hứng chịu búa rừu dư luận. Nếu nhiều người nghi ngờ rằng số liệu thống kê VN (vd GDP, CPI) được điều chỉnh cho đẹp lên, tôi nghĩ cơ quan thống kê có khi lại muốn thống kê thất nghệp tệ đi vì xã hội khó có thể chấp nhận một nền kinh tế đang èo uột như hiện tại mà con số này lại thấp đến vậy. Như đổ thêm dầu vào lửa, bài trả lời phỏng vấn TS Nguyễn Thị Lan Hương, Viện trưởng Khoa học Lao động và Xã hội thuộc Bộ LĐTBXH, đã bị báo chí tường thuật lại với những cái tít rất giật gân: “Việt Nam khác thế giới:Bán trà đá không coi là… thất nghiệp!” hay “Viện Khoa học Lao động: ‘Thất nghiệp từ xưa đến nay chỉ có giảm’“.

Dù TS Hương và một số chuyên gia đã cố gắng giải thích, dường như báo chí và dư luận xã hội vẫn “bất mãn” với con số 1.84%. Điều này nhiều khả năng sẽ làm Bộ LĐTBXH dè dặt hơn trong việc giới thiệu những ấn bản thống kê của họ trong thời gian tới. Đây sẽ là thiệt thòi cho những người làm công tác thống kê, tôi tin có rất nhiều người làm nghiêm túc, và cho cả xã hội nói chung khi một nguồn thông tin quan trọng không được đoái hoài tới. Bởi vậy trong entry này tôi sẽ cố gắng “bênh” Bộ LĐTBXH một lần nữa. Tôi không quen biết ai và có quyền lợi gì liên quan đến vấn đề này, chỉ đơn thuần muốn mọi người có cái nhìn chính xác hơn về thống kê lao động việc làm cũng như cổ vũ cho TCTK và Bộ LĐTBXH tiếp tục điều tra và công bố những chỉ số này.

Trước hết tôi tin vào khẳng định của TS Hương là định nghĩa thất nghiệp của VN tuân thủ theo thông lệ quốc tế, chính xác hơn là tuân thủ theo định nghĩa của ILO. Nếu mẫu điều tra của VN trong Q2 2014 là 50,000 hộ gia đình như TS Hương công bố thì có thể nói mẫu này khá lớn khi so với sample của Mỹ là 60,000 hộ gia đình cho một đất nước có dân số đông gấp ba lần VN. Trên thực tế theo thông tin tại website của TCTK có năm mẫu này lên đến 173,000 hộ (2007). Mặc dù chưa được chi tiết như Handbook of Methods của Mỹ, TCTK đã rất cố gắng (với sự trợ giúp của UNDP) đưa toàn bộ bản hỏi và phương pháp điều tra lên mạng. Với những thông tin nói trên tôi đánh giá cuộc điều tra này khá chất lượng, ít nhất về mặt thiết kế và tổ chức khảo sát. Tất nhiên chất lượng điều tra thực địa và xử lý số liệu có thể có vấn đề, nhưng với sự giúp đỡ của ILO và UNDP những con số thống kê được công bố có lẽ không quá xa chuẩn quốc tế.

Vậy tại sao tỷ lệ thất nghiệp của VN lại thấp như vậy? Theo tôi lý do quan trọng nhất chính là ở cái “chuẩn quốc tế” mà VN cố gắng theo đuổi. Chuẩn quốc tế ở đây là Standards and Guidelines on Labour Statistics của ILO, trong đó bao gồm mộtResolution 1982 liên quan đến các định nghĩa về lao động và thất nghiệp. ILO, một tổ chức quốc tế được thành lập tại Hội nghị Hòa bình Versailles năm 1919 với mục đích chuẩn hóa các tiêu chuẩn, chính sách bảo vệ người lao động, đưa ra các tiêu chuẩn thống kê thống nhất để có thể so sánh thị trường lao động giữa các nước thành viên. Không khó có thể đoán bộ tiêu chuẩn này dựa vào tiêu chuẩn thống kê của Mỹ và các nước phát triển khác. Bởi vậy những định nghĩa quan trọng như thất nghiệp hay thu nhập bình quân (hourly rate) có đặc thù của một nền kinh tế công nghiệp với phần lớn nhân công lao động làm thuê theo hợp đồng cho các đơn vị kinh tế cố định (công ty, nhà xưởng, cửa hàng).

Áp dụng máy móc định nghĩa của ILO vào thị trường lao động VN hẳn nhiên những người bán trà đá, hàng rong, hay chạy xe ôm sẽ không bị coi là thất nghiệp. Không chỉ VN mà ở hầu hết các nước nghèo người lao động không thể không làm việc vì cơ chế bảo hiểm xã hội quá ít hoặc không tồn tại. Nói theo một chuyên gia quốc tế thất nghiệp ở các nước nghèo là một điều “xa xỉ”, hầu như chỉ có những người rất giầu mới có thể cho phép mình không lao động. Do vậy có thể đoán các nước nghèo có tỷ lệ thất nghiệp rất thấp chứ không riêng gì VN. Dưới đây là tỷ lệ thất nghiệp của một số nước (nguồn WB), đồ thị này cho thấy Thailand và Cambodia có tỷ lệ thất nghiệp còn thấp hơn VN và tôi tin những người bán hàng rong hay chạy xe ôm ở những nước này cũng được tính là không thất nghiệp.

Nếu chỉ đơn thuần nhìn vào con số tuyệt đối tỷ lệ thất nghiệp 1.84% quá tốt so với thế giới, nhưng tôi tin không một lãnh đạo nào của VN dám đưa con số này ra làm bằng chứng cho “tính ưu việt” của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trên thực tế tỷ lệ thất nghiệp thấp như vậy là bằng chứng cho thấy người lao động VN phải làm bất cứ công việc gì với bất cứ mức thu nhập như thế nào để tồn tại. Nói theo lý thuyết kinh tếstructural unemployment rate của VN (và các nước nghèo khác) rất thấp, có lẽ xấp xỉ bằng không. Quan sát của TS Hương về việc tỷ lệ thất nghiệp giảm liên tục rất có thể là sự sụt giảm của structural unemployment rate, cho thấy cuộc sống của người lao động ngày càng bấp bênh, không có gì đáng tự hào.

Điều này có thể thấy rõ hơn qua một thống kê khác về lao động việc làm: tỷ lệ lao động dễ tổn thương (người nội trợ, lao động tự do như bán trà đá, chạy xe ôm). Cũng giống như những nước nghèo khác tỷ lệ này của VN cao hơn hẳn, >60% ở VN và Cambodia, >50% ở Thailand,  so với các nước phát triển <10%. Đây mới là một trong những chỉ số mà báo chí, dư luận, và những người làm chính sách VN phải lưu tâm thay vì chăm chăm vào phê phán tỷ lệ thất nghiệp. ILO biết điều này và cũng khuyến nghị như vậy.

Tóm lại dù tôi còn rất nhiều bức xúc về số liệu thống kê của VN, con số thất nghiệp 1.84% không nằm trong số này. Tôi rất mong các nhà báo và các chuyên gia kinh tế tập trung hơn vào các số liệu khác trong các ấn phẩm thống kê về lao động việc làm của TCTK và Bộ LĐTBXH. Ví dụ đồ thị sau đây trong Bản tin số 3 cho thấy một sự dịch chuyển rất đáng quan tâm trong thị trường lao động VN trong Q2 2014. Thị trường xây dựng đang ấm dần lên trong khi thương mại dịch vụ và tài chính tiếp tục bế tắc?

—————&&—————