Thời của thương mại điện tử: Ở Trung Quốc, người ta còn bán cả nợ xấu online

Thời của thương mại điện tử: Ở Trung Quốc, người ta còn bán cả nợ xấu online

(Nguồn: http://cafef.vn)

Trong số những mặt hàng thường ngày bán trên trang thương mại điện tử lớn nhất Trung Quốc Taobao, ngoài những sản phẩm như giày thể thao, tã trẻ em thì nay khách hàng còn có thể mua được cả nợ xấu.

Mới đây, trang web của tập đoàn Alibaba đã chào bán khoản nợ 4,15 triệu Nhân dân tệ(610.000 USD) của một nhà máy sản xuất theo tại tỉnh Chiết Giang. Công ty này đã thất bại trong việc thanh toán khoản vay 9,95 triệu Nhân dân tệ bao gồm lãi vay, qua đó buộc các nhà quản lý tài sản phải đem bán đấu giá trực tuyến.

Theo tính toán của Bloomberg, khoảng 1 tỷ Nhân dân tệ hàng hóa được giao dịch mỗi ngày qua trang Taobao này bao gồm mọi thứ từ quần áo cho đến các khoản nợ xấu. Khoảng 118 khoản nợ xấu từ các công ty ở tỉnh Vân Nam, một biệt thự ở Thiệu Hưng bị ngân hàng siết nợ hay một bất động sản ở Bắc Kinh là những loại tài sản không hề mới lạ đang được rao bán trên trang này.

Hiện tượng này đang làm ngạc nhiên nhiều chuyên gia Phương Tây. Hãng Banco Bilbao Vizcaya Argentaria nhận định công nghệ tài chính và thương mại điện tử của Trung Quốc đã đạt đến mức độ tinh vi khá cao. Đặc biệt, các nền tảng trực tuyến trên thị trường tín dụng đang được phát triển mạnh trước nhu cầu trong nước.

 Nợ khó đồi của ngành ngân hàng Trung Quốc đang ở mức cao nhất trong 12 năm qua (tỷ Nhân dân tệ)

Nợ khó đồi của ngành ngân hàng Trung Quốc đang ở mức cao nhất trong 12 năm qua (tỷ Nhân dân tệ)

Xu thế này cũng là dễ hiểu khi thương mại điện tử có thể giúp chính phủ giải quyết một trong những vấn đề khiến nước này đau đầu nhất là nợ xấu.

Tăng trưởng giảm tốc trong khi tình trạng vỡ nợ ngày một nhiều đã làm thị trường tín dụng Trung Quốc trở nên ngày càng phức tạp. Tổng số nợ khó đòi của các ngân hàng thương mại nước này đã tăng hơn 100% trong 2 năm qua lên 1,6 nghìn tỷ Nhân dân tệ tính đến cuối tháng 3 vừa qua.

Chính quyền Bắc Kinh đang hối thúc những chủ nợ tìm kiếm đầu ra cho các tài sản thế chấp trong khi lãi suất ngày một đi lên do rủi ro cao trên thị trường. Điều này khiến các ngân hàng và nhà quản lý tài sản phải tìm đến những kênh sáng tạo như đấu giá trực tuyến.

Số liệu của PwC cho thấy trong 6 tháng đầu năm 2016, sự dẫn đầu của Taobao đã kéo theo hơn 50 website trực tuyến quảng cáo dịch vụ đấu giá đến ngân hàng cũng như các chủ nợ khác. Trong khi đó, hơn 20 công ty tài chính đã trở thành khách hàng của Taobao trong mảng đấu giá nợ xấu này, bao gồm ngân hàng bảo hiểm Ping An Bank, ngân hàng MBC, ngân hàng CCB…

Tuy nhiên, kinh doanh nợ xấu trực tuyến không hề dễ dàng khi những khoản nợ này không dễ dàng định giá, đánh giá rủi ro như cổ phiếu hay trái phiếu.

Theo ShoreVest Capital Partners, dù kinh doanh nợ xấu trực tuyến có thể thúc đẩy thị trường tín dụng nhưng người mua vẫn phải gặp người bán và hợp đồng có thể tốn vài tháng mới hoàn thành. Thêm vào đó, liệu những nền tảng kinh doanh nợ xấu trực tuyến này có đánh giá chuẩn các khoản nợ cũng như phân tích chính xác các thông tin hay không còn là một dấu hỏi.

Trên trang Taobao, những tài sản thanh lý nợ xấu thường được quảng cáo vài tuần hay vài tháng trước ngày đấu giá. Trong trường hợp của nhà máy thép tại Chiết Giang, những nhà đầu tư có nhu cầu tìm hiểu có thể gọi cho văn phòng của công ty Cinda nhằm biết thêm thông tin chi tiết.

Một ví dụ khác là ngân hàng Industrial Bank có trụ sở tại Phúc Kiến đã ký hợp đồng bán nợ xấu với Taobao vào tháng 5 vừa qua và giải quyết được 232 triệu Nhân dân tệ nợ khó đòi chỉ trong khoảng 20/5- cuối tháng 6/2017.

Những nền tảng thương mại điện tử giúp những chủ nợ dễ dàng bán được nợ xấu hơn khi các khoản nợ này gặp khó trên thị trường truyền thống. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng vì có khá nhiều nhà đầu tư cá nhân không có kinh nghiệm mua nợ xấu trên Taobao nên những khoản tài sản thế chấp này mới được tiêu thụ nhanh như vậy.

Tuy nhiên, nói thế nào thì những nền tảng trực tuyến như Taobao cũng đã giúp các ngân hàng và chủ nợ giải quyết nhanh hơn nợ xấu, qua đó giúp giảm căng thẳng trong nền kinh tế Trung Quốc.

Theo cô Song Lingling thuộc hãng DCL Investments, việc xử lý nợ xấu thông qua các nền tảng trực tuyến có vẻ ít phức tạp hơn so với bán qua các nhà đấu giá, vốn thu phí hoa hồng cao với quy trình kiểm định dài dòng.

“Đấu giá nợ xấu trực tuyến đang ngày càng trở thành xu hướng mới. Ngày càng nhiều nhà đầu tư sử dụng Taobao làm nền tảng vì sự đơn giản, minh bạch cũng như tính riêng tư của các nhà đấu thầu”, cô Song nói.

Theo AB

Thời Đại

——————&&&——————-

Sự tạo tiền trong nền kinh tế hiện đại

Sự tạo tiền trong nền kinh tế hiện đại

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Michael McLeay, Amar Radia và Ryland Thomas thuộc Ban Giám đốc Phân tích Tiền tệ của Ngân hàng[1].

  • Bài viết này cho thấy đa số tiền trong nền kinh tế hiện đại được tạo ra thông qua việc cho vay của các ngân hàng thương mại như thế nào.
  • Việc tạo tiền trong thực tế khác với một vài quan niệm sai lầm phổ biến- các ngân hàng không chỉ đơn thuần là như những trung gian, cho vay tiền gửi mà người gửi tiền kí gởi cho nó, và nó cũng không “nhân” (“multiply up”) tiền ngân hàng trung ương lên để tạo ra các khoản vay mới và tiền gửi mới.
  • Lượng tiền được tạo ra trong nền kinh tế rốt cuộc phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Trong thời kỳ bình thường, điều này được thực hiện bằng cách thiết lập những mức lãi suất. Ngân hàng trung ương cũng có thể tác động trực tiếp đến lượng tiền thông qua việc mua tài sản hay “nới lỏng định lượng” (“quantitative easing”).

Tổng quan

Trong nền kinh tế hiện đại, hầu hết tiền tồn tại dưới dạng tiền gửi ngân hàng (bank deposits). Nhưng cách thức mà những khoản tiền gửi ngân hàng được tạo ra đó thường bị hiểu sai: cách chính là thông qua việc cho vay của các ngân hàng thương mại. Bất cứ khi nào một ngân hàng tiến hành cho vay, nó đồng thời tạo ra một lượng tiền gửi tương ứng trong tài khoản ngân hàng của người đi vay, do đó tạo ra tiền mới.

Thực tế cách thức mà tiền được tạo ra ngày nay khác với sự mô tả trong một số giáo trình kinh tế học:

  • Thay vì các ngân hàng nhận tiền gửi khi hộ gia đình tiết kiệm và sau đó cho vay chúng, việc cho vay của ngân hàng tạo ra tiền gửi.
  • Trong thời kỳ bình thường, ngân hàng trung ương không ấn định lượng tiền lưu thông, tiền ngân hàng trung ương cũng không “nhân lên” thành nhiều khoản vay và tiền gửi.

Mặc dù các ngân hàng thương mại tạo tiền thông qua việc cho vay, nhưng nó không thể làm như vậy một cách tự do như không hề có ràng buộc gì. Các ngân hàng bị giới hạn lượng tiền mà nó có thể cho vay nếu nó muốn duy trì khả năng sinh lời trong một hệ thống ngân hàng cạnh tranh. Quy định thận trọng cũng đóng vai trò như một ràng buộc về các hoạt động của các ngân hàng nhằm duy trì khả năng phục hồi của hệ thống tài chính. Bên cạnh đó, hộ gia đình và doanh nghiệp, những chủ thể nhận tiền được tạo ra từ việc cho vay mới có thể có những hành động làm ảnh hưởng đến lượng cung tiền (stock of money). Ví dụ, họ có thể “phá hủy” tiền một cách nhanh chóng bằng cách sử dụng chúng để trả khoản nợ hiện tại của họ.

Chính sách tiền tệ đóng vai trò như ràng buộc cuối cùng của việc tạo tiền. Ngân hàng Anh cố gắng đảm bảo lượng tiền tạo ra trong nền kinh tế phù hợp với mức lạm phát thấp và ổn định. Trong thời kỳ bình thường, Ngân hàng Anh thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách qui định mức lãi suất đối với các khoản dự trữ ở ngân hàng trung ương. Điều này sau đó tác động đến một loạt các lãi suất trong nền kinh tế, bao gồm cả mức lãi suất cho vay của các ngân hàng.

Trong những trường hợp đặc biệt, khi các lãi suất nằm ở ngưỡng giới hạn thấp hơn hiệu quả (effective lower bound), sự tạo tiền và chi tiêu trong nền kinh tế vẫn có thể quá thấp để phù hợp với các mục tiêu của chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Một phản ứng có thể là thực hiện việc thu mua một loạt tài sản, hay “nới lỏng định lượng” (“quanlitative easing”- QE). QE được kì vọng nhằm tăng lượng tiền trong nền kinh tế một cách trực tiếp thông qua việc mua tài sản, chủ yếu là từ các công ty tài chính phi ngân hàng.

QE ban đầu làm tăng lượng tiền gửi ngân hàng mà những công ty đó nắm giữ (thay vì các tài sản mà nó bán). Những công ty đó sau đó sẽ muốn tái cấu trúc danh mục tài sản của nó bằng cách mua những tài sản có tỷ suất sinh lợi cao hơn. Điều này làm tăng giá của các tài sản đó và kích thích chi tiêu trong nền kinh tế.

Như một phụ phẩm của QE, những khoản dự trữ mới ở ngân hàng trung ương được tạo ra. Nhưng chúng không phải là một phần quan trọng của cơ chế truyền dẫn. Bài viết này giải thích làm thế nào, cũng giống như trong những thời kỳ bình thường, những khoản dự trữ này không thể được nhân thành nhiều khoản vay và tiền gửi, và làm thế nào những khoản dự trữ này không đại diện cho “tiền tự do – free money” của các ngân hàng.

Nhấp vào đây để xem một đoạn video ngắn, được quay ở các hầm vàng của Ngân hàng, thảo luận về một số chủ đề chính từ bài viết này.

Giới thiệu

“Tiền trong nền kinh tế hiện đại: một lời giới thiệu”, một bài viết đi kèm với bài viết này, cung cấp một cái nhìn tổng quan về những gì là tiền và các loại tiền khác nhau tồn tại trong một nền kinh tế hiện đại. Đồng thời nó đề cập ngắn gọn cách thức mà mỗi loại tiền được tạo ra. Bài viết này tìm hiểu sự tạo tiền trong nền kinh tế hiện đại một cách chi tiết hơn.

Bài viết này mở đầu bằng việc phác họa hai quan niệm sai lầm phổ biến về sự tạo tiền, và giải thích tại sao, trong nền kinh tế hiện đại, phần lớn tiền được tạo ra bởi việc cho vay của các ngân hàng thương mại.[2] Kế đến thảo luận về các ràng buộc đối với khả năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng, cũng như vai trò quan trọng của các chính sách của ngân hàng trung ương trong việc đảm bảo tăng trưởng tín dụng và tiền phù hợp với sự ổn định tiền tệ và tài chính trong nền kinh tế. Phần cuối cùng của bài viết này thảo luận về vai trò của tiền trong cơ chế truyền dẫn tiền tệ trong thời kỳ nới lỏng định lượng (QE), và xua tan những chuyện hoang đường xung quanh việc tạo tiền và QE. Một đoạn video ngắn giải thích một số chủ điểm được trình bày trong bài viết này.[3]

Hai quan niệm sai lầm về việc tạo ra tiền

Hầu hết tiền mà công chúng nắm giữ nằm dưới dạng tiền gửi ngân hàng. Nhưng “xuất thân” của lượng tiền gửi ngân hàng thường bị hiểu sai. Một quan niệm sai lầm phổ biến là các ngân hàng chỉ đơn thuần là những trung gian, cho vay tiền gửi mà người gửi tiền kí gởi cho nó. Theo quan điểm này tiền gửi điển hình được “tạo ra” thông qua các quyết định tiết kiệm của hộ gia đình, và sau đó các ngân hàng cho những người đi vay, ví dụ như cho các doanh nghiệp đang tìm kiếm nguồn tài trợ cho các khoản đầu tư, hay các cá nhân muốn mua nhà, “vay” những khoản tiền gởi hiện có.

Trong thực tế, khi các hộ gia đình lựa chọn để tiết kiệm thêm tiền trong tài khoản ngân hàng, những khoản tiết kiệm đó đơn giản chỉ gây thiệt thòi cho tiền kí gởi, vì nếu không tiết kiệm chúng đã được chuyển đến các doanh nghiệp nhằm thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ. Tiết kiệm không tự nó làm tăng tiền gởi hay “vốn khả dụng- funds available” để các ngân hàng cho vay. Thật vậy, việc xem các ngân hàng đơn thuần chỉ là những trung gian đã lờ đi sự thật rằng, trong thực tế của nền kinh tế hiện đại, các ngân hàng thương mại là những người tạo tiền gửi. Bài viết này cho thấy, hành động cho vay của các ngân hàng tạo ra tiền gửi, chứ không phải là các ngân hàng cho vay tiền gửi mà nó huy động được như thường được mô tả trong các giáo trình.[4]

Một quan niệm sai lầm phổ biến khác là ngân hàng trung ương quyết định lượng cho vay và tiền gửi trong nền kinh tế bằng cách kiểm soát lượng tiền ngân hàng trung ương- mà thường được gọi là phương pháp tiếp cận “số nhân của tiền”. Theo quan điểm đó, các ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách chọn một lượng dự trữ. Và, với giả định là tỉ lệ giữa lượng tiền theo nghĩa rộng và tiền cơ sở là không đổi, những khoản dự trữ này sau đó được “nhân lên” một sự thay đổi lớn hơn nhiều trong các khoản cho vay và tiền gửi ngân hàng. Theo lý thuyết đó, lượng dự trữ phải là một ràng buộc chặt đối với việc cho vay, và ngân hàng trung ương phải trực tiếp quyết định lượng dự trữ. Trong khi lý thuyết số nhân của tiền có thể là một cách hữu hiệu để giới thiệu tiền và ngân hàng trong các giáo trình kinh tế, nó không phải là một mô tả chính xác cách thức mà tiền được tạo ra trong thực tế. Thay vì kiểm soát lượng dự trữ, các ngân hàng trung ương ngày nay thường thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách thiết lập giá của các khoản dự trữ – tức các lãi suất.

Trong thực tế, dự trữ không phải là một ràng buộc chặt đối với việc cho vay, và cũng không phải ngân hàng trung ương cố định lượng dự trữ có sẵn. Giống như mối quan hệ giữa tiền gửi và tiền cho vay, mối quan hệ giữa dự trữ và tiền cho vay thường vận hành theo cách ngược với những gì được mô tả trong một số giáo trình kinh tế học. Các ngân hàng quyết định cho vay bao nhiêu trước hết phụ thuộc vào các cơ hội cho vay có khả năng sinh lời mà nó có – điều này sẽ phụ thuộc chủ yếu vào lãi suất được thiết lập bởi Ngân hàng (trung ương – ND) Anh. Những quyết định cho vay này quyết định bao nhiêu tiền gửi ngân hàng được tạo ra bởi hệ thống ngân hàng. Lượng tiền gửi ngân hàng tác động trở lại lượng tiền ngân hàng trung ương mà các ngân hàng muốn nắm giữ dưới dạng dự trữ (để đáp ứng việc rút tiền của công chúng, thanh toán cho các ngân hàng khác, hay đáp ứng các qui định về thanh khoản), mà trong thời kì bình thường, nó được cung ứng bởi Ngân hàng Anh. Phần còn lại của bài viết này thảo luận các vấn đề thực tiễn này một cách chi tiết hơn. Sự tạo tiền.

Sự tạo tiền trong thực tế

Cho vay tạo ra tiền gửi – Xác định tiền theo nghĩa rộng ở cấp độ tổng gộp

Như đã giải thích trong phần “Tiền trong nền kinh tế hiện đại: một lời giới thiệu”, tiền theo nghĩa rộng là thước đo của tổng lượng tiền mà hộ gia đình và doanh nghiệp trong nền kinh tế nắm giữ. Tiền theo nghĩa rộng bao gồm tiền gửi ngân hàng – mà chủ yếu là các giấy nợ (IOUs) từ các ngân hàng thương mại cho các hộ gia đình và doanh nghiệp – và tiền – phần lớn là các IOU từ ngân hàng trung ương.[5],[6] Trong hai loại tiền theo nghĩa rộng, tiền gửi ngân hàng chiếm đại đa số – 97% lượng tiền hiện đang lưu thông.[7] Và trong nền kinh tế hiện đại, các khoản tiền gửi ngân hàng đó chủ yếu do chính các ngân hàng thương mại tạo ra.

Các ngân hàng thương mại tạo tiền, dưới dạng tiền gửi ngân hàng, bằng cách cho vay mới. Khi một ngân hàng cho vay, ví dụ như cho một người nào đó vay thế chấp để mua nhà, thì thường không thực hiện theo cách đưa cho người đó hàng ngàn bảng Anh tiền giấy. Thay vào đó, nó ghi có trong tài khoản ngân hàng của người đó một khoản tiền gửi ngân hàng bằng khoản vay thế chấp. Khi đó, tiền mới được tạo ra. Vì lý do này, một số nhà kinh tế học đã xem khoản tiền gửi ngân hàng như là “bút tệ” – loại tiền được tạo ra từ nét bút của ngân hàng khi nó phê duyệt các khoản vay.[8]

Quá trình này được minh họa trong Hình 1, nó cho thấy việc cho vay mới tác động đến bảng cân đối kế toán của các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế như thế nào (sơ đồ bảng cân đối kế toán tương tự được giới thiệu trong phần “Tiền trong nền kinh tế hiện đại: một lời giới thiệu”). Như thể hiện trong hàng thứ ba của Hình 1, các khoản tiền gửi mới làm tăng tài sản của người tiêu dùng (ở đây đại diện cho hộ gia đình và doanh nghiệp) – các thanh màu đỏ thêm – và khoản vay mới làm tăng nợ của họ – các thanh màu trắng thêm. Tiền theo nghĩa rộng mới đã được tạo ra. Tương tự như vậy, cả hai bên trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng thương mại tăng lên bởi tiền mới và các khoản cho vay mới được tạo ra. Điều quan trọng cần lưu ý là mặc dù sơ đồ đơn giản của Hình 1 cho thấy lượng tiền mới được tạo ra đồng nhất với số tiền cho vay mới, trong thực tế sẽ có một vài yếu tố có thể khiến số tiền gởi khác với số tiền cho vay. Những điều này sẽ được thảo luận chi tiết trong phần tiếp theo.

Trong khi tiền theo nghĩa rộng mới được tạo ra trên bảng cân đối kế toán của người tiêu dùng, dòng đầu tiên của Hình 1 cho thấy rằng không có – ít nhất là ban đầu – bất kỳ sự thay đổi nào trong lượng tiền ngân hàng trung ương hay “tiền cơ sở”. Như đã thảo luận ở trên, lượng tiền gửi cao hơn có thể có nghĩa là các ngân hàng muốn hoặc bị bắt buộc nắm giữ thêm tiền ngân hàng trung ương để đáp ứng sự rút tiền của công chúng hoặc để thanh toán cho các ngân hàng khác. Và trong thời kỳ bình thường, các khoản dự trữ được Ngân hàng Anh đáp ứng “theo yêu cầu” của các ngân hàng thương mại thông qua việc trao đổi các tài sản khác trên bảng cân đối kế toán của nó. Chẳng có cách nào tổng lượng dự trữ ràng buộc trực tiếp lượng cho vay của ngân hàng hay sự tạo tiền gửi.

Mô tả về sự tạo tiền này trái ngược với quan niệm cho rằng các ngân hàng chỉ có thể cho vay tiền có sẵn từ trước (pre-existing money), như nêu ở phần trên. Tiền gửi ngân hàng chỉ đơn giản là một sự ghi nhận về số tiền mà chính ngân hàng nợ khách hàng. Vì vậy, chúng là một khoản nợ của ngân hàng, chứ không phải là một tài sản có thể cho vay. Một quan niệm sai lầm liên quan là các ngân hàng có thể cho vay khoản dự trữ của họ. Khoản dự trữ chỉ có thể được cho vay giữa các ngân hàng, vì người tiêu dùng không có tài khoản dự trữ tại Ngân hàng Anh.[9]

Hình 1: Sự tạo tiền từ việc cho vay thêm của khu vực ngân hàng(a)

Các cách khác để tạo và phá hủy tiền gửi

Cũng giống như việc cho vay mới tạo ra tiền, thì việc hoàn trả khoản vay ngân hàng sẽ phá hủy tiền.[10] Ví dụ, giả sử một người tiêu dùng đã tiêu tiền trong siêu thị suốt cả tháng bằng thẻ tín dụng. Mỗi lần mua hàng bằng thẻ tín dụng sẽ làm tăng dư nợ trên bảng cân đối kế toán của người tiêu dùng và tiền gửi trên bảng cân đối kế toán của siêu thị (theo cách tương tự như trong Hình 1). Nếu người tiêu dùng sau đó thanh toán đầy đủ hóa đơn thẻ tín dụng của họ vào cuối tháng, thì ngân hàng sẽ giảm lượng tiền gửi trong tài khoản của người tiêu dùng một lượng đúng bằng giá trị của hóa đơn thẻ tín dụng, do đó phá hủy tất cả số tiền mới được tạo ra.

Các ngân hàng cho vay và người tiêu dùng hoàn trả chúng là những cách quan trọng nhất để tạo ra và phá hủy tiền gửi ngân hàng trong nền kinh tế hiện đại. Nhưng chúng không phải là những cách duy nhất. Sự tạo tiền gửi hay phá hủy cũng sẽ xảy ra bất cứ lúc nào khi khu vực ngân hàng (bao gồm cả ngân hàng trung ương) mua hay bán tài sản hiện có từ hay cho người tiêu dùng, hoặc thường xuyên hơn là từ các doanh nghiệp hay chính phủ.

Các ngân hàng mua và bán trái phiếu chính phủ là một cách đặc biệt quan trọng trong việc mua hay bán tài sản hiện có bởi các ngân hàng để tạo và phá hủy tiền. Các ngân hàng thường mua và nắm giữ trái phiếu chính phủ như là một phần trong danh mục các tài sản thanh khoản của họ, cái mà có thể bán được nhanh chóng để lấy tiền ngân hàng trung ương, ví dụ như những người gửi tiền muốn rút tiền với số tiền lớn.[11] Khi các ngân hàng mua trái phiếu chính phủ từ khu vực tư nhân phi ngân hàng, nó thanh toán cho người bán dưới dạng tiền gửi ngân hàng.[12] Và, như sẽ thảo luận ở phần sau của bài báo này, việc mua tài sản của ngân hàng trung ương, được gọi là nới lỏng định lượng (QE), có những hệ quả tương tự như sự tạo tiền.

Tiền cũng có thể bị phá hủy thông qua việc phát hành các công cụ nợ dài hạn và vốn cổ phần của ngân hàng. Ngoài khoản tiền gửi, các ngân hàng còn giữ các khoản nợ khác trên bảng cân đối kế toán của mình. Các ngân hàng quản lý các khoản nợ của mình để đảm bảo rằng nó có ít nhất một số vốn và nợ dài hạn để giảm thiểu những rủi ro nhất định và đáp ứng các yêu cầu pháp lý. Bởi vì những khoản nợ “không phải là khoản tiền gửi” này thể hiện các khoản đầu tư dài hạn vào hệ thống ngân hàng của các hộ gia đình và doanh nghiệp nên chúng không thể chuyển thành tiền dễ dàng như tiền gửi ngân hàng và do đó làm tăng khả năng hồi phục của ngân hàng. Khi các ngân hàng phát hành các công cụ nợ dài hạn và vốn cổ phần này cho các công ty tài chính phi ngân hàng, thì các công ty đó phải trả cho các ngân hàng bằng tiền gửi ngân hàng. Điều đó làm giảm lượng tiền gửi, hay tiền, hay nợ trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng và làm tăng nợ không phải là tiền gửi.[13]

Mua bán tài sản hiện có và phát hành nợ dài hạn có thể dẫn đến khoảng cách giữa lượng tiền cho vay và tiền gửi trong nền kinh tế đóng. Bên cạnh đó, trong một nền kinh tế mở như Anh, tiền gửi có thể chuyển từ người dân trong nước cho người nước ngoài, hoặc tiền gửi bằng đồng bảng Anh có thể được chuyển thành tiền gửi ngoại tệ. Bản thân các giao dịch này không phá hủy tiền, nhưng tiền gửi của người nước ngoài và tiền gửi ngoại tệ không phải lúc nào cũng được tính như một phần của cung tiền của một quốc gia.

Những ràng buộc đối với sự tạo tiền theo nghĩa rộng

Mặc dù các ngân hàng thương mại tạo tiền thông qua hành vi cho vay của nó, nhưng nó không thể thực hiện điều đó mà không có ràng buộc gì. Cụ thể, giá của khoản vay – tức là lãi suất (bao gồm tất cả các loại phí) mà các ngân hàng tính – quyết định lượng tiền mà hộ gia đình và các doanh nghiệp muốn vay. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giá của khoản vay mới. Đặc biệt là chính sách tiền tệ của Ngân hàng Anh, nó tác động đến các mức lãi suất khác nhau trong nền kinh tế.

Các ràng buộc của việc tạo tiền từ hệ thống ngân hàng đã được thảo luận trong một bài báo của nhà kinh tế học đoạt giải Nobel – James Tobin, và chủ đề này gần đây đã là đề tài tranh luận giữa các nhà bình luận kinh tế với các blogger.[14] Trong nền kinh tế hiện đại, có ba nhóm ràng buộc chính hạn chế lượng tiền mà các ngân hàng có thể tạo ra.

(i)    Bản thân các ngân hàng phải đối mặt với ràng buộc về số tiền mà nó có thể cho vay. Đặc biệt:

  • Các tác lực thị trường hạn chế cho vay, bởi vì mỗi ngân hàng phải có khả năng cho vay sinh lãi trong một thị trường cạnh tranh.
  • Cho vay cũng bị ràng buộc bởi vì các ngân hàng phải thực hiện các bước để giảm thiểu các rủi ro liên quan đến việc cho vay thêm.
  • Chính sách pháp lý đóng vai trò như một ràng buộc đối với các hoạt động của ngân hàng nhằm giảm thiểu rủi ro có thể đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính.

(ii)   Việc tạo tiền cũng bị ràng buộc bởi hành vi của những người nắm giữ tiền – hộ gia đình và doanh nghiệp. Hộ gia đình và doanh nghiệp nhận tiền mới được tạo ra có thể phản ứng bằng cách thực hiện các giao dịch phá huỷ tiền ngay lập tức, ví dụ bằng cách hoàn trả các khoản dư nợ.

(iii)  Ràng buộc cuối cùng đối với việc tạo tiền là chính sách tiền tệ. Thông qua việc tác động đến các mức lãi suất trong nền kinh tế, chính sách tiền tệ của Ngân hàng Anh tác động đến số tiền mà hộ gia đình và doanh nghiêp muốn vay. Điều này không chỉ xảy ra trực tiếp thông qua việc tác động đến các lãi suất cho vay của các ngân hàng, mà còn xảy ra gián tiếp thông qua tác động tổng thể của chính sách tiền tệ đối với hoạt động kinh tế trong nền kinh tế. Kết quả là Ngân hàng Anh có thể đảm bảo tăng trưởng tiền tệ phù hợp với mục tiêu lạm phát thấp và ổn định.

Phần còn lại của mục này giải thích xem trong thực tiễn mỗi cơ chế này hoạt động như thế nào.

(i)  Các ràng buộc đối với số tiền mà các ngân hàng có thể cho vay.

Các tác lực thị trường mà mỗi ngân hàng đang phải đối mặt.

Hình 1 cho thấy, đối với toàn khu vực ngân hàng, các khoản vay được tạo ra ban đầu tương thích với các khoản tiền gửi như thế nào. Nhưng điều đó không có nghĩa là bất kỳ một ngân hàng nào cũng có thể tự do cho vay và tạo ra tiền mà không ràng buộc gì. Đó là vì các ngân hàng phải có khả năng cho vay sinh lời trong một thị trường cạnh tranh và đảm bảo rằng nó có thể quản lý đầy đủ những rủi ro liên quan đến việc cho vay.

Các ngân hàng nhận được các khoản thanh toán lãi đối với tài sản của nó, chẳng hạn như các khoản cho vay, nhưng nó cũng thường phải trả lãi trên các khoản nợ của nó, chẳng hạn như các tài khoản tiết kiệm. Mô hình kinh doanh của một ngân hàng dựa vào việc nhận được lãi suất đối với các khoản cho vay (hoặc các tài sản khác) cao hơn so với lãi suất phải trả cho tiền gửi (hoặc các khoản nợ khác). Cả lãi suất đối với tài sản và lãi suất đối với nợ của các ngân hàng đều phụ thuộc vào lãi suất chính sách do Ngân hàng Anh đưa ra, điều này đóng vai trò như ràng buộc cuối cùng trong việc tạo tiền. Ngân hàng thương mại sử dụng khoản chênh lệch, hay sai lệch lãi, giữa tiền lãi kỳ vọng trên tài sản và tiền lãi đối với nợ để trang trải cho chi phí hoạt động của nó và tạo ra lợi nhuận.[15] Để cho vay thêm, mỗi ngân hàng thường phải giảm lãi suất cho vay xuống thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh của nó nhằm thúc đẩy hộ gia đình và doanh nghiệp vay nhiều hơn. Và một khi nó đã cho vay, nó có thể “mất” tiền gửi mà nó đã tạo ra “về tay” các ngân hàng cạnh tranh đó. Tất cả các yếu tố này đều tác động đến khả năng sinh lời trong việc cho vay của mỗi ngân hàng và tác động đến lượng tiền cho vay.

Ví dụ, giả sử một ngân hàng nào đó giảm lãi suất cho vay của mình, và thu hút một hộ gia đình thực hiện một khoản vay thế chấp để mua nhà. Tại thời điểm khoản vay thế chấp được xác lập, tài khoản của hộ gia đình được ghi có tiền gửi mới. Và một khi họ mua nhà, họ chuyển khoản tiền gửi mới của họ cho người bán nhà. Tình huống này được mô tả trong hàng đầu tiên của Hình 2. Người mua sở hữu một tài sản mới dưới hình thức một ngôi nhà và một khoản nợ mới dưới hình thức một khoản vay mới. Người bán sở hữu tiền dưới hình thức tiền gửi ngân hàng thay vì một ngôi nhà. Nhiều khả năng tài khoản của người bán và tài khoản của người mua không phải được mở ở cùng một ngân hàng. Vì vậy, khi giao dịch diễn ra, các khoản tiền gửi mới sẽ được chuyển đến ngân hàng của người bán, như mô tả trong dòng thứ hai của Hình 2. Ngân hàng của người mua sau đó sẽ có ít tiền gửi hơn tài sản. Ban đầu, ngân hàng của người mua sẽ thanh toán cho ngân hàng của người bán bằng cách chuyển những khoản dự trữ. Nhưng điều đó sẽ khiến ngân hàng của người mua có ít dự trữ và khoản cho vay so với tiền gửi hơn trước. Đây có thể là vấn đề đối với ngân hàng vì nó sẽ làm tăng rủi ro không thể đáp ứng được tất cả các dòng tiền khả dĩ. Và, trong thực tế, mỗi ngày các ngân hàng thực hiện nhiều khoản cho vay như vậy. Bởi vậy, nếu một ngân hàng nào đó tài trợ tất cả các khoản cho vay mới theo cách này, nó sẽ nhanh chóng hết sạch dự trữ.

Hình 2: Sự tạo tiền khi một ngân hàng nào đó tiến hành cho vay thêm.

Do đó, các ngân hàng cố gắng thu hút hoặc dành lại nợ bổ sung song song với khoản cho vay mới. Trên thực tế, các ngân hàng khác cũng sẽ cho vay mới và tạo ra các khoản tiền gửi mới, vì vậy có một cách để họ có thể thực hiện điều này là cố gắng thu hút một vài khoản tiền gửi mới được tạo ra. Trong một thị trường ngân hàng cạnh tranh, điều đó có thể làm tăng lãi suất tiết kiệm dành cho hộ gia đình. Thông qua việc thu hút các khoản tiền gửi mới, ngân hàng có thể tăng dư nợ tín dụng mà không bị cạn kiệt dự trữ, như mô tả trong hàng thứ ba của Hình 2. Ngoài ra, một ngân hàng có thể vay từ các ngân hàng khác hoặc thu hút các hình thức nợ khác, ít nhất là tạm thời. Tuy nhiên, dù thông qua các khoản tiền gửi hay các khoản nợ khác, ngân hàng cần đảm bảo thu hút và giữ lại một số loại vốn để tiếp tục cho vay. Và chi phí của nó cần phải được đo lường dựa trên lãi suất mà ngân hàng dự kiến ​​sẽ kiếm được từ các khoản cho vay mà nó đang thực hiện, và mức lãi suất này phụ thuộc vào mức Lãi suất Ngân hàng được qui định bởi Ngân hàng Anh. Ví dụ, nếu một ngân hàng tiếp tục thu hút những người đi vay mới và tăng cường cho vay bằng cách giảm lãi suất đối với các khoản vay thế chấp, và tìm cách thu hút các khoản tiền gửi mới bằng cách tăng lãi suất đối với tiền gửi của khách hàng thì nó có thể sớm nhận ra rằng việc tiếp tục mở rộng cho vay sẽ không có lời. Bởi vậy, sự cạnh tranh cho vay và tiền gửi, cũng như mong muốn có lợi nhuận, sẽ hạn chế việc tạo tiền của các ngân hàng.

Quản lý rủi ro liên quan đến việc cho vay

Các ngân hàng cũng cần phải quản lý các rủi ro liên quan đến việc cho vay mới. Một cách để thực hiện điều này là đảm bảo rằng họ thu hút các khoản tiền gửi tương đối ổn định để phù hợp với các khoản cho vay mới của họ, đó là các khoản tiền gửi không có xu hướng hoặc không thể được rút ra với một lượng lớn. Điều này có thể đóng vai trò như một ràng buộc bổ sung đối với số tiền mà các ngân hàng có thể cho vay. Ví dụ, nếu tất cả các khoản tiền gửi mà ngân hàng nắm giữ đều ở dạng tài khoản rút tiền nhanh (tức rút tiền mà không cần báo trước – instant access accounts), chẳng hạn như tài khoản vãng lai, thì ngân hàng có thể sẽ phải gánh chịu rủi ro đối với nhiều khoản tiền gửi này trong trường hợp chúng được rút ra trong một khoảng thời gian ngắn. Bởi vì các ngân hàng có xu hướng cho vay với kì hạn nhiều tháng hoặc nhiều năm, nên ngân hàng có khả năng không thể hoàn trả tất cả các khoản tiền gửi đó – nó sẽ phải đối mặt với rất nhiều rủi ro thanh khoản. Để giảm rủi ro thanh khoản, các ngân hàng cố gắng đảm bảo rằng một số khoản tiền gửi của họ ổn định trong một khoảng thời gian nhất định hoặc kỳ hạn.[16] Người tiêu dùng có khuynh hướng yêu cầu sự bù đắp cho sự bất tiện khi nắm giữ các khoản tiền gửi dài hạn. Tuy nhiên, những điều này có khuynh hướng làm tăng chi phí cho các ngân hàng, hạn chế số lượng các ngân hàng cho vay muốn thực hiện. Và như đã thảo luận ở trên, nếu các ngân hàng phòng ngừa rủi ro thanh khoản bằng cách phát hành nợ dài hạn, điều này có thể phá hủy tiền trực tiếp khi các doanh nghiệp thanh toán chúng bằng cách sử dụng tiền gửi.

Việc cho vay của mỗi ngân hàng cũng bị giới hạn bởi sự cân nhắc đến rủi ro tín dụng. Đây là rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt khi những người đi vay không có khả năng trả nợ. Phần nào, các ngân hàng có thể phòng ngừa rủi ro tín dụng bằng cách có đủ vốn để hấp thụ bất kỳ tổn thất không mong đợi nào đối với các khoản cho vay của họ. Nhưng vì các khoản cho vay sẽ luôn tồn tại một vài rủi ro khiến các ngân hàng chịu tổn thất, chi phí của những tổn thất này sẽ được tính đến khi định giá các khoản cho vay. Khi một ngân hàng cho vay, lãi suất mà nó tính sẽ thường bao gồm khoản bù đắp cho tổn thất tín dụng trung bình mà ngân hàng dự kiến sẽ gánh chịu. Tỷ trọng của thành phần này trong lãi suất sẽ lớn hơn khi các ngân hàng ước tính họ sẽ phải gánh chịu tổn thất cao hơn, ví dụ như khi cho người vay thế chấp vay với tỷ lệ cho vay/giá trị tài sản thế chấp cao. Khi các ngân hàng mở rộng cho vay, tổn thất dự kiến trung bình trên mỗi đơn vị tín dụng có khuynh hướng tăng lên, khiến cho các khoản cho vay này giảm khả năng sinh lời. Điều này càng hạn chế số lượng các ngân hàng cho vay có thể kiếm được lợi nhuận, và lượng tiền nó có thể tạo ra.

Các tác lực thị trường không phải lúc nào cũng khiến cho mỗi ngân hàng phòng ngừa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng một cách thích đáng. Do đó, quy định thận trọng nhằm đảm bảo rằng các ngân hàng không chấp nhận rủi ro quá mức khi cho vay mới, bao gồm thông qua các yêu cầu về vốn của ngân hàng và các trạng thái thanh khoản (liquidity positions). Bởi vậy, các yêu cầu này có thể đóng vai trò như một sự kiềm hãm bổ sung đối với số tiền mà các ngân hàng thương mại tạo ra bằng cách cho vay. Khung pháp lý thận trọng, cùng với chi tiết về vốn và tính thanh khoản, được mô tả trong Farag, Harland và Nixon (2013).

Cho đến phần này, chúng ta đã được xem xét trường hợp của một ngân hàng riêng lẻ thực hiện các khoản cho vay thêm bằng cách đưa ra mức lãi suất cạnh tranh – cả lãi suất vay lẫn lãi suất tiền gửi. Nhưng nếu tất cả các ngân hàng đồng loạt quyết định nỗ lực để cho vay nhiều hơn, sự tăng trưởng tiền có thể không bị giới hạn theo cách tương tự. Mặc dù mỗi ngân hàng có thể mất các khoản tiền gửi “về tay” các ngân hàng khác, nhưng chính nó cũng có thể nhận được một số khoản tiền gửi khi các ngân hàng khác cho vay.

Có nhiều lý do khiến nhiều ngân hàng có thể lựa chọn tăng cho vay một cách đáng kể cùng một lúc. Ví dụ, khả năng sinh lời của việc cho vay ở một mức lãi suất nào đó có thể tăng do sự cải thiện chung về các điều kiện kinh tế. Hoặc các ngân hàng có thể quyết định cho vay nhiều hơn nếu họ nhận thấy những rủi ro liên quan đến việc cho hộ gia đình và doanh nghiệp vay đã giảm. Kiểu tiến triển này đôi khi được cho là một trong những lý do khiến ngân hàng mở rộng cho vay nhiều đến mức dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính.[17] Nhưng nếu nhận thức về một môi trường ít rủi ro hơn là thiếu cơ sở,  thì có thể khiến cho hệ thống tài chính trở nên mong manh hơn.[18] Một trong những phản ứng đối với cuộc khủng hoảng ở Vương quốc Anh là sự thành lập một cơ quan chuyên trách sự thận trọng vĩ mô (macroprudential authority), Ủy ban Chính sách Tài chính, để xác định, giám sát và hành động nhằm giảm hoặc loại bỏ các rủi ro đe dọa khả năng phục hồi của toàn hệ thống tài chính.[19]

(ii) Những ràng buộc phát sinh từ phản ứng của hộ gia đình và doanh nghiệp

Ngoài nhóm ràng buộc từ phía các ngân hàng trong việc hạn chế sự tạo tiền, hành vi của hộ gia đình và doanh nghiệp đối với việc tạo tiền của ngành ngân hàng cũng có thể rất quan trọng, như lập luận của Tobin. Hành vi của khu vực tư phi ngân hàng ảnh hưởng đến tác động cuối cùng của việc tạo tín dụng của ngành ngân hàng lên cung tiền vì có thể tạo ra nhiều tiền hơn (hoặc ít hơn) lượng họ muốn giữ so với các tài sản khác (như của cải hoặc cổ phần). Bởi hộ gia đình và doanh nghiệp vay nợ vì họ muốn chi tiêu nhiều hơn, họ sẽ nhanh chóng chuyển tiền cho người khác khi họ chi tiêu. Cách thức mà hộ gia đình và doanh nghiệp phản ứng sẽ quyết định lượng cung tiền trong nền kinh tế, và có khả năng tác động đến chi tiêu cũng như lạm phát.

Có hai khả năng chính cho những gì có thể xảy ra đối với các khoản tiền gửi mới được tạo ra. Thứ nhất, theo ý kiến của Tobin, tiền có thể nhanh chóng bị phá hủy nếu hộ gia đình hay doanh nghiệp nhận tiền sau khi khoản vay được phê duyệt và sử dụng nó để trả nợ ngân hàng. Điều này đôi khi được gọi là “lý thuyết hồi lưu” (“reflux theory”).[20] Ví dụ, người mua nhà lần đầu có thể thực hiện một khoản vay thế chấp để mua một ngôi nhà từ một người cao tuổi, người mà sau đó hoàn trả khoản vay thế chấp hiện tại của mình và cùng gia đình dọn đến nơi ở mới. Như đã thảo luận ở trên, việc hoàn trả khoản vay ngân hàng sẽ phá huỷ tiền giống y như việc cho vay tạo ra nó. Vì vậy, trong trường hợp này, bảng cân đối kế toán của người tiêu dùng trong nền kinh tế sẽ trở lại trạng thái giống như trước khi khoản vay được thực hiện.

Khả năng thứ hai có thể xảy ra là việc tạo thêm tiền của các ngân hàng có thể thúc đẩy chi tiêu trong nền kinh tế. Để khoản tiền mới tạo ra bị phá hủy, nó cần phải chuyển đến hộ gia đình và doanh nghiệp mà muốn hoàn trả những khoản vay hiện tại. Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào cũng đúng, bởi vì tài sản và nợ mà các chủ thể trong nền kinh tế nắm giữ có xu hướng khác nhau đáng kể.[21] Thay vào đó, ban đầu tiền có thể chuyển đến tay những hộ gia đình hay những doanh nghiệp có tài sản tài chính lạc quan: người cao tuổi có thể đã trả hết khoản vay thế chấp của họ, hay một công ty nhận được tiền thanh toán và có đủ tài sản thanh khoản để trang trải những chi phí hợp lý. Khi đó, họ có thể nắm giữ nhiều tiền hơn họ muốn, và cố gắng giảm số tiền “dư thừa- excess” bằng cách tăng chi tiêu cho hàng hoá và dịch vụ. (Trong trường hợp đối với một doanh nghiệp, nó có thể mua các tài sản khác mà có khả năng sinh lời cao hơn).

Hai kịch bản cho những gì có thể xảy ra với tiền mới được tạo ra này – bị phá hủy nhanh chóng hoặc được luân chuyển qua con đường chi tiêu – có những hệ quả rất khác nhau đối với hoạt động kinh tế. Trong trường hợp thứ hai, tiền có thể tiếp tục được luân chuyển giữa các hộ gia đình và các doanh nghiệp khác nhau, kết quả là mỗi chủ thể có thể tăng cường chi tiêu. Quá trình này – đôi khi được gọi là hiệu ứng “khoai tây nóng – hot potato” – có thể dẫn đến, sự gia tăng áp lực lạm phát của nền kinh tế.[22] Ngược lại, nếu tiền bị phá hủy nhanh như trong kịch bản thứ nhất thì sẽ không có tác động gì thêm đối với nền kinh tế.

Cho đến phần này chúng ta đã thảo luận hành động của các ngân hàng, hộ gia đình và doanh nghiệp có thể tác động đến lượng tiền trong nền kinh tế, và do đó ảnh hưởng đến áp lực lạm phát như thế nào. Nhưng yếu tố quyết định cuối cùng của những trạng thái tiền tệ trong nền kinh tế chính là chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương.

(iii)         Chính sách tiền tệ- ràng buộc cuối cùng đối với việc tạo tiền

Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của Ngân hàng Trung ương Anh là đảm bảo ổn định tiền tệ bằng cách giữ cho mức lạm phát giá tiêu dùng theo đúng lộ trình nhằm đạt mục tiêu 2% mà Chính phủ đề ra. Và, như đã thảo luận trong hộp ở các trang 16-21 (của nguyên tác – ND), qua từng thời kỳ, các thước đo khác nhau của tiền đã tăng trưởng với tốc độ tương đương với chi tiêu danh nghĩa – chỉ tiêu quyết định áp lực lạm phát của nền kinh tế trong trung hạn. Bởi vậy, thiết lập chính sách tiền tệ thích hợp để đạt được mục tiêu lạm phát cần phải đảm bảo tốc độ tăng trưởng tín dụng và sự tạo tiền ổn định, phù hợp với mục tiêu đó. Phần này giải thích mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và các loại tiền khác nhau.

Trong những giai đoạn bình thường, Ủy ban Chính sách Tiền tệ (MPC), giống như hầu hết các cơ quan tương đương với nó ở các nước khác, thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách thiết lập các mức lãi suất ngắn hạn, cụ thể thiết lập mức lãi suất mà ngân hàng trung ương phải trả cho các ngân hàng thương mại khi nắm giữ các khoản dự trữ của ngân hàng thương mại.Có thể làm được điều này là vì vị thế của Ngân hàng như là nhà cung cấp độc quyền về tiền ngân hàng trung ương ở Vương quốc Anh. Và bởi vì tồn tại nhu cầu về tiền ngân hàng trung ương – phương tiện thanh toán cuối cùng của các ngân hàng, những chủ thể tạo tiền theo nghĩa rộng – điều này khiến cho giá của các khoản dự trữ có tác động có ý nghĩa đối với các mức lãi suất khác trong nền kinh tế.

Lãi suất mà các ngân hàng thương mại có thể kiếm được từ việc kí gởi tiền tại ngân hàng trung ương tác động đến lãi suất mà họ sẵn sàng cho vay với các điều khoản tương tự trong các thị trường đồng bảng Anh – thị trường mà ở đó Ngân hàng và các ngân hàng thương mại cho nhau vay và cho các định chế tài chính khác vay. Chi tiết chính xác về cách thức Ngân hàng sử dụng hoạt động thị trường tiền tệ để thực hiện chính sách tiền tệ đã thay đổi theo thời gian, và các quy trình hoạt động của ngân hàng trung ương ngày nay khác nhau ở các nước khác nhau, như đã thảo luận trong Clews, Salmon và Weeken (2010).[23] Sự thay đổi trong lãi suất liên ngân hàng sau đó làm thay đổi hàng loạt lãi suất ở các thị trường khác nhau và ở các kì hạn khác nhau, bao gồm cả lãi suất cho vay và lãi suất huy động của các ngân hàng.[24] Bằng cách ảnh hưởng đến giá tín dụng theo cách này, Chính sách tiền tệ tác động đến việc tạo tiền theo nghĩa rộng.

Sự mô tả mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và tiền này khác với sự mô tả được đề cập trong nhiều giáo trình, mà ở đó các ngân hàng trung ương quyết định lượng tiền theo nghĩa rộng qua một “số nhân của tiền” bằng cách chủ động thay đổi lượng dự trữ.[25] Theo quan điểm đó, các ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách chọn lượng dự trữ. Và với giả định tỷ số giữa tiền theo nghĩa rộng và tiền cơ sở là không đổi, những khoản dự trữ này sẽ được “nhân lên” dẫn đến sự thay đổi lớn hơn trong tiền gửi ngân hàng do các ngân hàng tăng cho vay và tiền gửi.

Không phải bước nào trong câu chuyện đó cũng mô tả chính xác mối liên hệ giữa tiền và chính sách tiền tệ trong nền kinh tế hiện đại. Các ngân hàng trung ương thường không chọn một lượng dự trữ để đạt được mức lãi suất ngắn hạn mong muốn.[26] Thay vào đó, họ tập trung vào giá – thiết lập các mức lãi suất.[27] Ngân hàng Anh kiểm soát các mức lãi suất bằng cách cung ứng và trả lãi cho những khoản dự trữ ở mức lãi suất chính sách đã chọn. Cung về cả dự trữ và tiền (chúng cùng tạo nên tiền cơ sở) được quyết định thông qua cầu về dự trữ của các ngân hàng nhằm thanh toán các khoản trả và đáp ứng cầu tiền của khách hàng- cầu mà ngân hàng trung ương thường phải thích ứng.

Bởi vậy, cầu về tiền cơ sở này có xu hướng là hệ quả chứ không phải là nguyên nhân của việc các ngân hàng cho vay và tạo tiền theo nghĩa rộng. Điều này là do các quyết định mở rộng tín dụng của các ngân hàng được dựa trên các cơ hội cho vay sinh lời hiện có ở bất kỳ thời điểm nào. Khả năng sinh lời của việc cho vay sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như đã thảo luận ở trên. Một trong số đó là chi phí của các nguồn vốn mà các ngân hàng phải gánh chịu, chi phí này liên quan mật thiết đến lãi suất trả cho các khoản dự trữ, lãi suất chính sách.

Ngược lại, lượng dự trữ hiện có trong hệ thống không ràng buộc việc tạo tiền theo nghĩa rộng thông qua hoạt động cho vay.[28] Trụ đỡ này của số nhân của tiền đôi khi được thúc đẩy bằng cách thu hút các yêu cầu dự trữ của ngân hàng trung ương, theo đó các ngân hàng có nghĩa vụ nắm giữ một lượng tiền dự trữ tối thiểu theo một tỷ lệ cố định với lượng tiền gửi mà họ nắm giữ. Tuy nhiên, các yêu cầu dự trữ không phải là một khía cạnh quan trọng của khung chính sách tiền tệ ở hầu hết các nền kinh tế tiên tiến hiện nay.[29]

Một quan điểm mơ hồ hơn của chính sách tiền tệ là có thể làm tăng lượng tiền theo nghĩa rộng bằng cách giảm lãi suất vay và tăng dư nợ cho vay. Và một lượng tiền theo nghĩa rộng lớn hơn, đi cùng với mức chi tiêu tăng lên trong nền kinh tế, có thể khiến các ngân hàng và khách hàng có nhu cầu về dự trữ và tiền nhiều hơn.[30] Bởi vậy, trên thực tế, lý thuyết về số nhân của tiền hoạt động ngược với cách thức mà thường được mô tả.

QE – Sự tạo tiền theo nghĩa rộng trực tiếp với chính sách tiền tệ

Phần trước đã thảo luận chính sách tiền tệ có thể được xem như ràng buộc cuối cùng đối với việc tạo tiền của các ngân hàng thương mại như thế nào. Nhưng các ngân hàng thương mại vẫn còn có thể tạo một khoản tiền quá nhỏ để phù hợp với việc đáp ứng mục tiêu lạm phát của nền kinh tế. Trong những thời kỳ bình thường, MPC có thể phản ứng bằng cách hạ lãi suất chính sách để khuyến khích cho vay nhiều hơn và do đó tạo ra nhiều tiền hơn. Nhưng, để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính, MPC đã giảm lãi suất Ngân hàng xuống còn 0.5%- thường được gọi là giới hạn thấp hơn hiệu quả (the so-called effective lower bound).

Một khi các lãi suất ngắn hạn đạt đến mức giới hạn thấp hơn hiệu quả, ngân hàng trung ương không thể cung cấp thêm kích thích cho nền kinh tế bằng cách giảm lãi suất đối với các khoản dự trữ được hưởng lãi.[31] Một cách có thể cung cấp thêm kích thích tiền tệ cho nền kinh tế là thông qua một chương trình mua tài sản (QE). Giống như việc giảm lãi suất Ngân hàng, việc mua tài sản là cách mà MPC có thể nới lỏng quan điểm chính sách tiền tệ nhằm kích thích hoạt động kinh tế và đạt được mục tiêu lạm phát. Nhưng vai trò của tiền trong hai chính sách là không giống nhau.

Thông tin về các loại tiền khác nhau và tổng khối lượng tiền

Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của Ngân hàng Anh là đảm bảo ổn định tiền tệ bằng cách giữ lạm phát theo đúng lộ trình nhằm đạt được mục tiêu 2% của Chính phủ. Milton Friedman (1963) đã đưa ra lập luận nổi tiếng rằng “lạm phát luôn luôn và bất kì đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ”. Vì vậy, sự thay đổi trong cung tiền có thể chứa đựng thông tin có giá trị về chi tiêu và áp lực lạm phát trong nền kinh tế. Vì tiền là thứ thiết yếu để mua hàng hoá và dịch vụ, nên có thể chứa đựng thông tin xác thực (corroborative information) về mức chi tiêu danh nghĩa hiện tại trong nền kinh tế. Nó cũng có thể cung cấp thông tin bổ sung (incremental information) về các biến động trong tương lai của chi tiêu danh nghĩa và do đó có thể là một chỉ báo hữu ích về áp lực lạm phát trong tương lai. Cuối cùng, hành vi của tiền có thể giúp tiết lộ bản chất của cơ chế truyền dẫn tiền tệ, đặc biệt khi chính sách tiền tệ được vận hành thông qua “nới lỏng định lượng” (QE).

Trên thực tế, khó khăn chính là đánh giá xem những thước đo nào của tiền là những thước đo thích hợp để xem xét cho từng mục đích khác nhau. Ngân hàng gần đây xây dựng nhiều loại đại lượng tổng gộp về tiền và công bố một loạt các dữ liệu giúp tính được chúng, được tóm tắt trong Bảng 1. Biểu đồ A cho thấy một số chuỗi thời gian dài hạn trong quá khứ của sự tăng trưởng tổng khối lượng tiền so với mức chi tiêu danh nghĩa trong nền kinh tế.[32] Với những thay đổi khác nhau trong cơ chế tiền tệ của Anh trong 150 năm qua, rất có thể với một chỉ báo tiền tệ đơn nhất không thể nắm bắt tất cả thông tin xác thực và thông tin bổ sung về tiền một cách đầy đủ. Ngành tài chính Anh cũng đã trải qua những thay đổi cấu trúc khác nhau, và điều này cần phải được lưu ý khi xem xét mối liên hệ cơ bản giữa tiền và chi tiêu. Ví dụ, trong những giai đoạn khi mà lĩnh vực tài chính tăng trưởng tương đối so với phần còn lại của nền kinh tế (chẳng hạn như vào đầu những năm 1980 và những năm 2000), tiền theo nghĩa rộng có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn so với chi tiêu danh nghĩa một cách ổn định.

Về nguyên tắc, các thước đo hẹp hơn của tiền, chẳng hạn như tiền giấy và tiền kim loại và tiền gửi không kì hạn (những tài khoản có thể rút ngay lập tức mà không bị phạt) tốt hơn các chỉ báo xác thực về chi tiêu, bởi đây là những loại tiền được sử dụng để thực hiện đa số các giao dịch về hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế. Tổng lượng tiền giấy, tiền kim loại và tiền gửi không kì hạn được nắm giữ bởi khu vực tư nhân phi ngân hàng thường được gọi là tiền có kì đáo hạn ngay lập tức (zero maturity money) hay “MZM”.[33]

Các thước đo rộng hơn của tiền có thể thích hợp hơn các chỉ báo bổ sung về chi tiêu trong tương lai và tiết lộ nhiều hơn về bản chất của cơ chế truyền dẫn. Ví dụ, M2, bổ sung thêm các khoản tiền gửi có kì hạn của hộ gia đình như các tài khoản tiết kiệm.[34] Và M4 lại là một thước đo rộng hơn, bao gồm cả tiền gửi có kì hạn và không kì hạn được nắm giữ bởi các doanh nghiệp phi tài chính và các doanh nghiệp phi ngân hàng. Bài báo chính mô tả cách thức QE vận hành bằng cách tăng tiền gửi của các công ty tài chính ở bước đầu tiên. Khi các công ty này tái cấu trúc danh mục của họ, giá tài sản có khuynh hướng tăng và, với một độ trễ, dẫn đến sự gia tăng trong chi tiêu của hộ gia đình cũng như doanh nghiệp. Vì vậy, việc giám sát tiền theo nghĩa rộng là một phần quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả của QE.[35]

Nhiều nghiên cứu kinh trắc đã chỉ ra rằng những thay đổi trong lượng tiền theo nghĩa rộng cũng có thể cung cấp thông tin bổ sung có giá trị về mức chi tiêu trong nền kinh tế.[36] Ví dụ, tiền gửi của các doanh nghiệp phi tài chính dường như là một chỉ báo hàng đầu về đầu tư của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Người ta cũng có thể kiểm tra và cân đối các loại tiền hẹp và rộng với nhau bằng cách sử dụng một vài tham số về lượng tiền mà mỗi loại tiền được sử dụng trong các giao dịch – được gọi là chỉ số Divisia.[37] Trong thực tế, lãi suất trả cho một loại tiền nào đó thường được sử dụng như một thước đo gia quyền (weight metric). Đó là bởi vì các cá nhân và doanh nghiệp chỉ có khuynh hướng nắm giữ tiền, loại tài sản có lãi suất thấp so với các công cụ tài chính khác, nếu nó bù đắp cho họ bằng cách cung cấp các dịch vụ giao dịch ấn tượng hơn.

Việc xác định thước đo phù hợp của tiền đã trở nên phức tạp do sự phát triển không ngừng của ngành tài chính. Nó đã mở rộng hàng loạt công cụ có thể đối xử như tiền và hàng loạt định chế tài chính có thể vay và gởi tiền từ hệ thống ngân hàng truyền thống. Ví dụ, các hợp đồng bán và mua lại (được biết như repos) – ở đó một công ty đồng ý mua một khoản bảo đảm từ một ngân hàng với cam kết sẽ bán lại nó sau đó – hiện đang được xếp vào M4 bởi khoản bồi thường được nắm bởi ngân hàng có thể được coi là tiền bảo chứng.

Bên cạnh đó, một số nhà kinh tế học đã lập luận rằng, một loạt các công cụ cung cấp tài sản thế chấp cho các hình thức vay và cho vay khác nhau cũng có thể được đưa vào một thước đo rộng hơn về tiền tệ.[38] Hơn nữa, nhiều định chế phi ngân hàng chủ yếu nắm tiền gửi trung gian giữa các ngân hàng. Các khoản tiền gửi của các định chế này, được biết như “các tổ chức tài chính trung gian khác” (IOFCs), có khuynh hướng phản ánh các hoạt động trong hệ thống ngân hàng, chứ không liên quan trực tiếp đến chi tiêu trong nền kinh tế.[39] Vì lý do này, thước đo tổng quát của Ngân hàng về tiền theo nghĩa rộng là M4 mở rộng (M4ex), không bao gồm tiền gửi IOFC.

Bảng 1. Các đại lượng tổng gộp về tiền phổ biến có thể được tính toán từ các số liệu hiện có của Anh(a)

Tên Định nghĩa Mô tả(b) Hiệu lực
Tiền giấy và tiền kim loại Tiền giấy và tiền kim loại lưu thông bên ngoài Ngân hàng Anh. Thước đo hẹp nhất của tiền và được sử dụng như một chỉ báo của các giao dịch dựa trên tiền mặt. 1980- hiện tại(c)
M0 Tiền giấy và tiền kim loại cộng với dự trữ tại ngân hàng trung ương. Thước đo cơ bản mang tính lịch sử của tiền được sử dụng trong tính toán số nhân của tiền. Thường được sử dụng như một thước đo gần đúng về quy mô của bảng cân đối kế toán của Ngân hàng Anh.

Không còn được xuất bản bởi Ngân hàng Anh nhưng có thể được khôi phục.(d)

1870- hiện tại(c)
M1 không được hưởng lãi suất Tiền giấy và tiền kim loại cộng với tiền gửi không kì hạn không được hưởng lãi suất mà khu vực tư nhân phi ngân hàng nắm giữ. Một chỉ báo về các giao dịch hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế, ngày nay nó ít hữu dụng bởi hầu hết tiền gửi không kì hạn đều được hưởng lãi.

Không được công bố bởi Ngân hàng Anh nhưng có thể được tính toán từ các thành phần đã công bố.

1921- hiện tại(c)
MZM Tiền giấy và tiền kim loại cộng với tất cả tiền gửi không kì hạn được nắm giữ bởi khu vực tư nhân phi ngân hàng. Một chỉ báo về giao dịch hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế.

Không được công bố bởi Ngân hàng Anh nhưng có thể được tính toán từ các thành phần đã công bố. Ngân hàng Anh cũng đưa ra một thước đo dựa trên một định nghĩa của ECB về M1.

1977- hiện tại
M2 hay retailM4 Tiền giấy và tiền kim loại cộng với tất cả tiền gởi cá nhân (bao gồm cả tiền gửi cá nhân có kì hạn) được nắm giữ bởi khu vực tư nhân phi ngân hàng. Một thước đo của tiền rộng hơn MZM bao gồm tất cả các khoản tiền gửi cá nhân. Các khoản bổ sung chính là tiền gửi có kì hạn của hộ gia đình và một số loại tiền gửi cá nhân có kì hạn của doanh nghiệp.

Được công bố bởi Ngân hàng Anh. Ngân hàng cũng đưa ra một thước đo dựa trên một định nghĩa của ECB về M2.

1982–hiện tại
M3 Tiền giấy và tiền kim loại cộng với tất cả tiền gửi có kì hạn và không kì hạn tại các ngân hàng (không bao gồm tại các định chế tài chính dưới tên gọi building societies) được nắm giữ bởi khu vực tư nhân. Cho đến năm 1987 khối lượng tiền tổng quát được xây dựng bởi Ngân hàng Anh.

Ngân hàng cũng đưa ra một thước đo dựa trên một định nghĩa của ECB về M3.

1870–1990(c)
M4 Tiền giấy và tiền kim loại, tiền gửi, chứng chỉ tiền gửi, repos và chứng khoán với thời gian đáo hạn ít hơn 5 năm được nắm giữ bởi khu vực tư nhân phi ngân hàng. Cho đến năm 2007 khối lượng tiền tổng quát được xây dựng bởi Ngân hàng Anh. 1963– hiện tại
M4 mở rộng M4 không tính đến tiền gửi của IOFCs. Kể từ năm 2007 đại lượng tổng gộp hàng đầu về tiền được xây dựng bởi Ngân hàng Anh. 1997–hiện tại
Divisia Tổng theo trọng số của các loại tiền khác nhau. Nhằm mục đích quyền số hóa các tài sản thành phần của tiền rộng theo các dịch vụ giao dịch mà chúng cung cấp.(e) 1977–hiện tại
(a)  Tất cả các định nghĩa chỉ đề cập đến thước đo đồng bảng. Một vài định nghĩa trong bảng này được thay đổi tại các thời điểm khác nhau. Ví dụ, đại lượng tổng gộp M3 nguyên thủy bao gồm tiền gửi của khu vực công và tiền gửi bằng ngoại tệ của khu vực tư nhân phi ngân hàng. Một lịch sử toàn diện hơn về sự phát triển của các đại lượng tổng gộp về tiền ở Anh có thể được tìm thấy tạiwww.bankofengland.co.uk/statistics/Documents/ms/articles/art2jul03.pdf.

(b)  Được xuất bản bởi Ngân hàng Trung ương trừ khi có quy định khác.

(c)  Chuỗi này sử dụng dữ liệu được xây dựng bởi Capie và Webber (1985).

(d)  Dữ liệu về M0 không còn được công bố sau những cải cách hoạt động của Ngân hàng Anh vào năm 2006. Xemhttp://www.bankofengland.co.uk/statistics/Documents/ms/articles/artjun06.pdf  để biết thêm chi tiết

(e)  Chỉ số Divisia cho các tập đoàn tài chính khác và cho khu vực tư nhân phi ngân hàng không còn được công bố vào năm 2013. Xemhttp://www.bankofengland.co.uk/statistics/Documents/ms/articles/art1aug13.pdf  để biết thêm chi tiết.

QE kéo theo một sự thay đổi trong trọng tâm của chính sách tiền tệ đối với lượng tiền: ngân hàng trung ương mua một lượng tài sản, được tài trợ bởi việc tạo tiền theo nghĩa rộng và sự gia tăng lượng dự trữ tại ngân hàng trung ương tương ứng. Người bán tài sản sẽ nắm giữ các khoản tiền gửi mới được tạo ra thay cho trái phiếu chính phủ. Họ có thể sẽ nắm nhiều tiền hơn họ muốn, so với các tài sản khác mà họ muốn giữ. Bởi vậy, họ sẽ muốn tái cấu trúc danh mục của họ, ví dụ bằng cách sử dụng tiền gửi mới để mua các tài sản có có khả năng sinh lời cao hơn như trái phiếu và cổ phiếu được phát hành bởi các doanh nghiệp, dẫn đến hiệu ứng “khoai tây nóng” như đã thảo luận ở trên. Điều này sẽ làm tăng giá trị của những tài sản đó và làm giảm chi phí cho các doanh nghiệp trong việc huy động vốn ở các thị trường này. Kết quả là, thúc đẩy chi tiêu trong nền kinh tế.[40] Bởi vậy, cách vận hành của QE khác với hai quan niệm sai lầm phổ biến về việc mua sắm tài sản của ngân hàng trung ương rằng: QE bao gồm việc trao cho các ngân hàng “tiền tự do- free money”; Và mục đích chính của QE là tăng cường cho vay ngân hàng bằng cách cung cấp thêm dự trữ cho hệ thống ngân hàng, như có thể được mô tả bởi lý thuyết số nhân của tiền. Phần này giải thích mối quan hệ giữa tiền và QE, đồng thời xua tan những quan niệm sai lầm này.

Mối liên hệ giữa QE và lượng tiền

QE có tác động trực tiếp đến cả lượng tiền cơ sở và lượng tiền theo nghĩa rộng do cách mà Ngân hàng tiến hành mua tài sản. Chính sách này nhằm mục đích mua các tài sản, trái phiếu chính phủ, chủ yếu từ các công ty tài chính phi ngân hàng, như quỹ hưu trí hay các công ty bảo hiểm. Ví dụ, giả sử mua trái phiếu chính phủ trị giá 1 tỷ bảng từ quỹ hưu trí. Một cách mà Ngân hàng có thể thực hiện việc mua sắm này là in 1 tỷ bảng Anh và trao đổi trực tiếp với quỹ hưu trí. Nhưng giao dịch với số tiền mặt lớn như vậy là không thực tế. Bởi vậy, những loại giao dịch này được thực hiện bằng cách sử dụng các loại tiền điện tử.

Vì quỹ hưu trí không có tài khoản dự trữ ở Ngân hàng Anh, nên ngân hàng thương mại nơi mà nó mở tài khoản ngân hàng được sử dụng như một trung gian. Ngân hàng của quỹ hưu trí ghi có vào tài khoản của quỹ hưu trí 1 tỷ bảng tiền gửi để đổi lấy trái phiếu chính phủ. Điều này được minh họa như hàng thứ nhất của Hình 3. Ngân hàng trung ương Anh tài trợ cho việc mua sắm này bằng cách ghi có dự trữ cho ngân hàng của quỹ hưu trí- nó trao cho ngân hàng thương mại một IOU (hàng thứ hai). Bảng cân đối kế toán của ngân hàng thương mại mở rộng: nợ tiền gửi mới tương ứng với một tài sản dưới dạng dự trữ mới (hàng thứ ba).

Hai quan niệm sai lầm về cách thức QE vận hành

Tại sao dự trữ bổ sung không phải là “tiền tự do” đối với các ngân hàng

Trong khi việc mua tài sản của ngân hàng trung ương liên quan- và tác động- đến các bảng cân đối kế toán của các ngân hàng thương mại, thì vai trò chính của các ngân hàng này là một trung gian nhằm tạo thuận lợi cho giao dịch giữa ngân hàng trung ương với quỹ hưu trí. Khoản dự trữ bổ sung thể hiện trong Hình 3 chỉ đơn giản là một phụ phẩm của giao dịch này. Đôi khi người ta lập luận rằng, bởi vì chúng là tài sản của các ngân hàng thương mại, và ngân hàng thương mại kiếm được lãi từ nó, nên những khoản dự trữ này tượng trưng cho “tiền tự do” của các ngân hàng. Trong khi các ngân hàng kiếm được lãi suất trên dự trữ mới, QE cũng tạo ra một nghĩa vụ nợ đi kèm cho ngân hàng dưới dạng tiền gửi của quỹ hưu trí, mà chính ngân hàng thường phải trả lãi cho tiền gởi đó. Nói cách khác, QE đưa cho các ngân hàng một IOU mới từ ngân hàng trung ương, nhưng cũng đưa một IOU mới tương ứng cho người tiêu dùng (trong trường hợp này là quỹ hưu trí) và các lãi suất của hai IOU này đều phụ thuộc vào lãi suất Ngân hàng.

Hình 3: Tác động của QE lên các bảng cân đối kế toán.

Tại sao các khoản dự trữ bổ sung không được nhân lên thành các khoản cho vay và tiền theo nghĩa rộng mới

Như đã thảo luận ở trên, cơ chế truyền dẫn của QE dựa vào các tác động của khoản tiền theo nghĩa rộng mới tạo ra- chứ không phải tiền cơ sở. Khởi đầu của sự truyền dẫn là việc tạo ra các khoản tiền gửi ngân hàng trên bảng cân đối kế toán của người nắm giữ tài sản thay thế cho nợ của chính phủ (Hình 3, hàng đầu). Điều quan trọng là các khoản dự trữ được tạo ra trong khu vực ngân hàng (Hình 3, hàng thứ ba) không đóng vai trò trung tâm. Như đã giải thích ở trên, điều này là do các ngân hàng không thể trực tiếp cho vay các khoản dự trữ này. Dự trữ là một IOU từ ngân hàng trung ương cho các ngân hàng thương mại. Các ngân hàng này có thể sử dụng nó để thanh toán cho nhau, nhưng không thể sử dụng chúng cho khách hàng trong nền kinh tế, những người không có tài khoản dự trữ, “vay”. Khi các ngân hàng cho vay thêm, nó phải ghi nợ thêm khoản tiền gửi tương ứng- lượng dự trữ không thay đổi.

Hơn nữa, dự trữ mới không nhân lên một cách cơ học thành các khoản cho vay mới và tiền gửi mới như tiên liệu của lý thuyết về số nhân của tiền. QE làm gia tăng tiền theo nghĩa rộng mà không trực tiếp dẫn đến, hoặc đòi hỏi, sự gia tăng trong cho vay. Trong khi phần đầu tiên của lý thuyết về số nhân của tiền liên quan đến QE- quan điểm về tiền tệ quyết định một cách cơ học lượng dự trữ- các khoản dự trữ mới được tạo ra không tự chúng thay đổi một cách có ý nghĩa các động cơ để các ngân hàng tạo ra khoản tiền theo nghĩa rộng mới bằng cho vay. QE có thể tác động gián tiếp đến các động cơ để các ngân hàng cho vay mới, ví dụ bằng cách giảm chi phí huy động vốn hay tăng dư nợ tín dụng thông qua việc tăng cường hoạt động.[41] Tuy nhiên, QE có thể dẫn đến việc các doanh nghiệp hoàn trả nợ ngân hàng, nếu như họ phát hành thêm trái phiếu hoặc cổ phiếu và sử dụng số tiền huy động được này để trả nợ ngân hàng. Bởi vậy, nếu cân nhắc kĩ thì QE có thể tăng hoặc giảm lượng tiền vay ngân hàng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, các kênh này không được kỳ vọng là những phần then chốt của cơ chế truyền dẫn: thay vào đó, QE vận hành thông qua việc tác động đến lĩnh vực ngân hàng, nhằm tăng chi tiêu trực tiếp của khu vực tư nhân.[42]

Kết luận

Bài báo này đã thảo luận cách thức mà tiền được tạo trong nền kinh tế hiện đại. Hầu hết tiền trong lưu thông được tạo ra không phải từ máy in của Ngân hàng Anh, mà do chính các ngân hàng thương mại tạo ra: các ngân hàng tạo tiền bất cứ khi nào nó cho một ai đó trong nền kinh tế vay hoặc mua một tài sản từ người tiêu dùng. Trái ngược với những mô tả được tìm thấy trong một số giáo trình, Ngân hàng Anh không kiểm soát trực tiếp lượng lượng tiền cơ sở lẫn lượng tiền theo nghĩa rộng. Tuy vậy, Ngân hàng Anh vẫn có thể tác động đến lượng tiền trong nền kinh tế. Nó thực hiện điều này trong những thời kỳ bình thường bằng cách thiết lập chính sách tiền tệ- thông qua mức lãi suất mà nó trả cho các khoản dự trữ của các ngân hàng thương mại ở ngân hàng trung ương. Dù vậy, gần đây, với lãi suất Ngân hàng bị ràng buộc bởi giới hạn thấp hơn hiệu quả (effective lower bound), chương trình mua tài sản của Ngân hàng Anh đã tìm cách tăng lượng tiền theo nghĩa rộng trong lưu thông. Điều này ảnh hưởng đến giá cả và số lượng của một loạt các tài sản trong nền kinh tế, bao gồm cả tiền.

Nguyễn Minh Cao Hoàng dịch

Nguồn:Money creation in the modern economy“, Bank of England, Quarterly Bulletin, 2014 Q1
—-

Tài liệu tham khảo

Astley, M and Haldane, A (1995), ‘Money as an indicator’, Bank of England Working Paper No. 35.

Bank of England (1999), ‘The transmission mechanism of monetary policy’, available athttp://www.bankofengland.co.uk/publications/%20Documents/other/monetary/montrans.pdf.

Benes, J and Kumhof, M (2012), ‘The Chicago Plan revisited’, IMF Working Paper No. 12/202.

Benford, J, Berry, S, Nikolov, K, Robson, M and Young, C (2009), ‘Quantitative easing’,Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 49, No. 2, pages 90–100.

Bernanke, B (2007), ‘The financial accelerator and the credit channel’, speech at a conference on The Credit Channel of Monetary Policy in the Twenty-first Century, Federal Reserve Bank of Atlanta.

Bindseil, U (2004), ‘The operational target of monetary policy and the rise and fall of the reserve position doctrine’, ECB Working Paper No. 372.

Bowdler, C and Radia, A (2012), ‘Unconventional monetary policy: the assessment’,Oxford Review of Economic Policy, Vol. 28, No. 4, pages 603–21.

Bridges, J, Rossiter, N and Thomas, R (2011), ‘Understanding the recent weakness in broad money growth’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 51, No. 1, pages 22–35.

Bridges, J and Thomas, R (2012), ‘The impact of QE on the UK economy — some supportive monetarist arithmetic’, Bank of England Working Paper No. 442.

Brigden, A and Mizen, P (2004), ‘Money, credit and investment in the UK industrial and commercial companies sector’, The Manchester School, Vol. 72, No. 1, pages 72–79.

Burgess, S and Janssen, N (2007), ‘Proposals to modify the measurement of broad money in the United Kingdom: a user consultation’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 47, No. 3, pages 402–14.

Butt, N, Domit, S, Kirkham, L, McLeay, M and Thomas, R (2012), ‘What can the money data tell us about the impact of QE?’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 52, No. 4, pages 321–31.

Button, R, Pezzini, S and Rossiter, N (2010), ‘Understanding the price of new lending to households’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 50, No. 3, pages 172–82.

Capie, F and Webber, A (1985), A monetary history of the United Kingdom, 1870–1982, Vol. 1, Routledge.

Carpenter, S and Demiralp, S (2012), ‘Money, reserves, and the transmission of monetary policy: does the money multiplier exist?’, Journal of Macroeconomics, Vol. 34, No. 1, pages 59–75.

Clews, R, Salmon, C and Weeken, O (2010), ‘The Bank’s money market framework’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 50, No. 4, pages 292–301.

Congdon, T (1992), Reflections on monetarism, Clarendon Press.

Congdon, T (2005), ‘Money and asset prices in boom and bust’, Institute of Economic Affairs, Hobart Paper No. 152.

Disyatat, P (2008), ‘Monetary policy implementation: misconceptions and their consequences’, BIS Working Paper No. 269.

Farag, M, Harland, D and Nixon, D (2013), ‘Bank capital and liquidity’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 53, No. 3, pages 201–15.

Friedman, M (1963), Inflation: causes and consequences, Asia Publishing House.

Haldane, A (2009), ‘Why banks failed the stress test’, available athttp://www.bankofengland.co.uk/archive/documents/historicpubs/%20speeches/2009/speech374.pdf.

Hancock, M (2005), ‘Divisia money’, Bank of England Quarterly Bulletin, Spring, pages 39–46.

Hills, S, Thomas, R and Dimsdale, N (2010), ‘The UK recession in context — what do three centuries of data tell us?’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 50, No. 4, pages 277–91.

Howells, P (1995), ‘The demand for endogenous money’, Journal of Post Keynesian Economics, Vol. 18, No. 1, pages 89–106.

Jackson, C and Sim, M (2013), ‘Recent developments in the sterling overnight money market’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 53, No. 3, pages 223–32.

Joyce, M, Tong, M and Woods, R (2011), ‘The United Kingdom’s quantitative easing policy: design, operation and impact’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 51, No. 3, pages 200–12.

Kaldor, N and Trevithick, J (1981), ‘A Keynesian perspective on money’, Lloyds Bank Review, January, pages 1–19.

Kamath, K, Reinold, K, Nielsen, M and Radia, A (2011), ‘The financial position of British households: evidence from the 2011 NMG Consulting survey’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 51, No. 4, pages 305–18.

Kydland, F and Prescott, E (1990), ‘Business cycles: real facts and a monetary myth’,Federal Reserve Bank of Minneapolis Quarterly Review, Vol. 14, No. 2, pages 3–18.

Laidler, D (1984), ‘The buffer stock notion in monetary economics’, The Economic Journal, Vol. 94, Supplement: Conference Papers, pages 17–34.

Laidler, D and Robson, W (1995), ‘Endogenous buffer-stock money’, Credit, interest rate spreads and the monetary policy transmission mechanism, Session 3, conference on The Transmission of Monetary Policy held at the Bank of Canada in November 1994.

Miles, D (2012), ‘Asset prices, saving and the wider effects of monetary policy’, available athttp://www.bankofengland.co.uk/%20publications/Documents/speeches/2012/speech549.pdf.

Mitchell, B R (1988), British historical statistics, Cambridge University Press.

Moore, B (1988), Horizontalists and verticalists: the macroeconomics of credit money, Cambridge University Press.

Palley, T (1996), Post Keynesian economics: debt, distribution and the macro economy, Macmillan.

Sefton, J and Weale, M (1995), Reconciliation of National Income and Expenditure: balanced estimates of national income for the United Kingdom, 1920–1990, Cambridge University Press.

Singh, M (2013), ‘Collateral and monetary policy’, IMF Working Paper No. 13/186.

Solomou, S N and Weale, M (1991), ‘Balanced estimates of UK GDP 1870–1913’,Explorations in Economic History, Vol. 28, No. 1, pages 54–63.

Thomas, R (1997a), ‘The demand for M4: a sectoral analysis, Part 1 — the personal sector’, Bank of England Working Paper No. 61.

Thomas, R (1997b), ‘The demand for M4: a sectoral analysis, Part 2 — the corporate sector’, Bank of England Working Paper No. 62.

Tobin, J (1963), ‘Commercial banks as creators of ‘money’’, Cowles Foundation Discussion Papers No. 159.

Tucker, P (2009), ‘The debate on financial system resilience: macroprudential instruments’, available athttp://www.bankofengland.co.uk/%20publications/Documents/speeches/2012/speech549.pdf.

Tucker, P, Hall, S and Pattani, A (2013), ‘Macroprudential policy at the Bank of England’,Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 53, No. 3, pages 192–200.

[1] Các tác giả xin chân thành cảm ơn Lewis Kirkham đã hỗ trợ nhằm hoàn thành bài viết này.

[2] Trong bài viết này, Thuật ngữ “các ngân hàng” và “các ngân hàng thương mại” được sử dụng để chỉ các ngân hàng và các định chế tài chính được biết dưới tên gọi là “building society”.

[3] Xem tại www.youtube.com/watch?v=CvRAqR2pAgw.

[4] Có một tài liệu dài thừa nhận bản chất “nội sinh” của sự tạo tiền trong thực tế. Ví dụ, xem Moore (1988), Howells (1995) and Palley (1996).

[5] Định nghĩa về tiền theo nghĩa rộng được sử dụng bởi Ngân hàng Anh, M4ex, cũng bao gồm một loạt khoản nợ ngân hàng rộng hơn so với tiền gửi thông thường; Xem Burgess và Janssen (2007) để biết thêm chi tiết. Để đơn giản, bài viết này mô tả tất cả các khoản nợ này như tiền gửi. Một hộp bên dưới trong bài viết này trình bày chi tiết về một loạt các đại lượng tổng gộp về tiền tệ phổ biến ở Vương quốc Anh.

[6] Khoảng 6% tiền trong lưu thông được tồn tại dưới dạng tiền kim loại, tiền này được sản xuất bởi The Royal Mint (cơ quan đúc tiền của Vương quốc Anh – ND). Trong số tiền giấy lưu hành trong nền kinh tế Anh, một số được phát hành bởi một vài ngân hàng thương mại của Scotland và Bắc Ailen, mặc dù chúng hoàn toàn khớp với tiền của Ngân hàng Anh tại Ngân hàng này.

[7] Kể từ tháng 12 năm 2013.

[8] Bút tệ được thảo luận trong Tobin (1963), người đề cập đến nó khi lập luận rằng, trong thực tế các ngân hàng không thể tạo ra một lượng tiền vô hạn.

[9] Một phần của sự nhầm lẫn có thể xuất phát từ việc một số nhà kinh tế học sử dụng thuật ngữ “dự trữ” khi nói đến “dự trữ tùy ý” (dự trữ vượt mức) – số dư vượt trên mức bắt buộc của các quy định dự trữ bắt buộc. Trong bối cảnh này, “cho vay dự trữ” có thể là một cách viết tắt để mô tả quá trình tăng cho vay và tiền gửi cho đến khi ngân hàng đạt đến tỷ lệ tối đa của nó. Khi không có yêu cầu dự trữ tại Anh quá trình này ít có liên quan hơn đối với các ngân hàng Anh.

[10] Sự sụt giảm trong cho vay ngân hàng tại Anh từ năm 2008 là một lý do quan trọng dẫn đến sự tăng trưởng tiền trong nền kinh tế thấp hơn rất nhiều so với những năm trước cuộc khủng hoảng, như đã thảo luận trong Bridges, Rossiter và Thomas (2011) và Butt cùng cộng sự (2012).

[11] Vì lý do này, việc nắm giữ một ít trái phiếu chính phủ được tính vào việc đáp ứng các yêu cầu thanh khoản thận trọng, như Farag, Harland và Nixon (2013) đã mô tả chi tiết.

[12] Trong một sơ đồ bảng cân đối kế toán như Hình 1, việc các ngân hàng mua trái phiếu chính phủ từ người tiêu dùng sẽ được thể hiện bằng sự thay đổi cấu trúc tài sản của người tiêu dùng từ trái phiếu chính phủ sang tiền gửi, song song với một sự tăng cả tiền gửi và trái phiếu chính phủ trên bảng cân đối kế toán của các ngân hàng thương mại.

[13] Việc mua trái phiếu chính phủ của các ngân hàng thương mại, cũng như việc phát hành nợ dài hạn và vốn cổ phần đã và đang ảnh hưởng quan trọng đến sự tăng trưởng tiền theo nghĩa rộng trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính như đã thảo luận ở Bridges, Rossiter và Thomas (2011), và Butt cùng cộng sự (2012).

[14] Tobin (1963) lập luận rằng các ngân hàng không có “nguồn cung vô hạn – widow’s cruse”, như được đề cập trong một câu chuyện kinh thánh (được John Maynard Keynesnhắc đến trong kinh tế trước đây), trong đó một góa phụ có thể rót đầy bình (hay cái xoang hay cái lọ) dầu một cách kỳ diệu trong nạn đói. Tobin đã lập luận rằng có ràng buộc để lượng tiền vay có thể tự điều chỉnh nhằm phù hợp với lượng tiền gửi.

[15] Xem trong Button, Pezzini and Rossiter (2010), một sự giải thích về cách thức các ngân hàng định giá các khoản vay mới.

[16] Các ngân hàng cũng phòng ngừa rủi ro thanh khoản bằng cách nắm giữ các tài sản thanh khoản (bao gồm dự trữ và tiền), thứ mà hoặc có thể được sử dụng trực tiếp để bù đắp cho các dòng tiền, hoặc nếu không thể chuyển thành các tài sản có thể một cách nhanh chóng và ít tốn kèm. Mặc dù nếu các ngân hàng mua tài sản thanh khoản như trái phiếu chính phủ từ các chủ thể phi ngân hàng, nhưng điều này có thể tạo thêm tiền gửi.

[17] Ví dụ, xem Haldane (2009).

[18] Tucker (2009) thảo luận về khả năng “ảo giác rủi ro” như vậy trong hệ thống tài chính.

[19] Tucker, Hall và Pattani (năm 2013) mô tả các quyền hạn mới đối với việc hoạch định chính sách vĩ mô thận trọng ở Vương quốc Anh sau cuộc khủng hoảng tài chính gần đây.

[20] Xem Kaldor and Trevithick (1981).

[21] Xem Kamath và cộng sự (2011).

[22] Cơ chế này được giải thích chi tiết hơn trong các bài báo như: Laidler (1984), Congdon (1992, 2005), Howells (1995), Laidler và Robson (1995), Bridges, Rossiter và Thomas (2011), Bridges và Thomas (2012).

[23] Khung hoạt động của Ngân hàng trên thị trường đồng bảng Anh được trình bày trong “Sách Đỏ” của Ngân hàng, có thể xem tại www.bankofengland.co.uk/markets/Documents/money/publications/redbook.pdf. Sự phát triển gần đây của các thị trường đồng bảng Anh được thảo luận trong Jackson và Sim (2013).

[24] Ngân hàng Anh (1999) thảo luận cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ chi tiết hơn.

[25] Benes và Kumhof (2012) thảo luận về chuyện hoang đường của số nhân của tiền chi tiết hơn.

[26] Như đã thảo luận trong Disyatat (2008).

[27] Bindseil (2004) cung cấp một bản miêu tả chi tiết về cách thực hiện chính sách tiền tệ thông qua lãi suất ngắn hạn.

[28] Carpenter và Demiralp (2012) cho thấy rằng sự thay đổi trong lượng dự trữ không liên quan đến sự thay đổi về số lượng cho vay ở Hoa Kỳ.

[29] Ví dụ, Ngân hàng Anh hiện không có các yêu cầu dự trữ chính thức. (Nó yêu cầu các ngân hàng phải nắm giữ một tỷ lệ “tiền mặt/tiền gởi” tại Ngân hàng cho một phần nợ của mình mà không được hưởng lãi. Nhưng chức năng của tỷ lệ tiền mặt/tiền gởi này không có hiệu lực. Mục đích duy nhất của chúng là để cung cấp thu nhập cho Ngân hàng.) Bernanke (2007) thảo luận tại sao các yêu cầu dự trữ hiện nay ở Hoa Kỳ ít có sự ép buộc hơn so với trước.

[30] Kydland và Prescott (1990) nhận thấy rằng các đại lượng tổng gộp về tiền theo nghĩa rộng đi trước chu kỳ, trong khi các đại lượng tổng gộp về tiền cơ sở có khuynh hướng trễ hơn chu kì một chút.

[31] Nếu ngân hàng trung ương hạ các lãi suất xuống thấp hơn 0% đáng kể, các ngân hàng có thể chuyển đổi dự trữ ngân hàng của họ thành tiền, sẽ phải trả lãi suất cao hơn (0 hoặc ít hơn một chút sau khi tính đến chi phí lưu trữ tiền tệ). Hay dẫn đến vấn đề khác, nhu cầu về dự trữ ngân hàng trung ương sẽ biến mất, do đó, ngân hàng trung ương không còn khả năng ảnh hưởng đến nền kinh tế bằng cách thay đổi giá các khoản dự trữ đó.

[32] Những chuỗi này liên quan đến việc kết hợp dữ liệu Ngân hàng Anh hiện tại với dữ liệu lịch sử về các đại lượng tổng gộp về tiền.

[33] Một thước đo hẹp hơn được gọi là M1 không được hưởng lãi suất cũng có thể được xây dựng. Thước đo này đã trở thành đại lượng tổng gộp về tiền ít hữu dụng hơn vì hầu hết các khoản tiền gửi không kì hạn hiện nay đều được hưởng lãi. Ví dụ, trong cuộc khủng hoảng tài chính khi lãi suất giảm xuống gần mức 0, sự tăng trưởng của M1 không được hưởng lãi suất đã tăng lên rõ rệt vì chi phí liên quan đến việc nắm giữ tiền gửi không được hưởng lãi suất đã giảm mạnh so với giữ tiền gửi được hưởng lãi suất. Tập trung vào M1 sẽ đưa ra tín hiệu sai lạc về sự tăng trưởng trong chi tiêu danh nghĩa trong nền kinh tế.

[34] M2 bao gồm tiền giấy và tiền kim loại, cộng với tiền gởi “cá nhân” (“retail deposits”)- loại tiền gởi được nhận một lãi suất quảng cáo. Phần lớn các khoản dự trữ này được nắm giữ bởi hộ gia đình, nhưng cũng sẽ áp dụng cho một vài khoản tiền gửi của doanh nghiệp.

[35] Xem trong Bridges, Rossiter and Thomas (2011) và Butt cùng cộng sự (2012).

[36] Ví dụ, xem trong Astley và Haldane (1995), Thomas (1997a, b), Brigden và Mizen (2004).

[37] Ví dụ, xem trong Hancock (2005).

[38] Ví dụ, xem trong Singh (2013).

[39] Xem chi tiết hơn trong Burgess and Janssen (2007) và tại www.bankofengland.co.uk/statistics/Pages/iadb/notesiadb/m4adjusted.aspx.

[40] Những cách thức mà QE tác động đến nền kinh tế được đề cập chi tiết hơn trong Benford và cộng sự (2009), Joyce, Tong và Woods (2011), Bowdler và Radia (2012). Vai trò của tiền tệ được mô tả cụ thể hơn trong Bridges, Rossiter và Thomas (2011), Bridges và Thomas (2012), và Butt cùng cộng sự (2012).

[41] Một cơ chế tương tự, theo đó QE có thể tăng cho vay ngân hàng bằng cách cho phép các ngân hàng thu hút nguồn vốn ổn định hơn được thảo luận trong Miles (2012).

[42] Những kênh này, cũng như tác động của QE đối với việc cho vay ngân hàng rộng rãi hơn, được thảo luận chi tiết trong một hộp ở Butt và cộng sự (2012).


Tiền trong nền kinh tế hiện đại: một lời giới thiệu: Money in the modern economy: an introduction

———————–&&&————————-

Fintech là gì mà lại được coi là cuộc cách mạng đe dọa hệ thống ngân hàng toàn cầu?

Fintech là gì mà lại được coi là cuộc cách mạng đe dọa hệ thống ngân hàng toàn cầu?

(Nguồn: http://cafef.vn)

Fintech có thể tái định hình ngành tài chính, tác động rất mạnh đến các thành phần quan trọng nhất của ngành này. Hiện tại các công ty cho vay P2P hoạt động khá hiệu quả, giúp rút ngắn thời gian phê duyệt các khoản vay từ vài tuần ở các ngân hàng truyền thống xuống chỉ còn vài giờ.

Fintech chắc hẳn là từ không còn xa lạ với những ai theo dõi sát ngành tài chính trong mấy năm trở lại đây. Nó thường xuyên được nhắc đến trong các hội thảo, cuộc họp và thậm chí trở thành chủ đề nóng để bàn luận bên bàn tiệc.

Kể từ khi làn sóng các công ty khởi nghiệp tập trung vào lĩnh vực công nghệ trong tài chính nổi lên sau khủng hoảng 2008, “fintech” trở thành đại diện cho một cuộc cách mạng kỹ thuật số có thể thay đổi hoàn toàn phương thức kinh doanh của ngành ngân hàng.

1. Chính xác thì fintech là gì?

Là viết tắt của từ financial technology (công nghệ trong tài chính), fintech được sử dụng chung cho tất cả các công ty sử dụng internet, điện thoại di động, công nghệ điện toán đám mây và các phần mềm mã nguồn mở nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của hoạt động ngân hàng và đầu tư.

Các công ty fintech được chia thành 2 nhóm. Nhóm thứ nhất là các công ty phục vụ người tiêu dùng, cung cấp các công cụ kỹ thuật số để cải thiện cách các cá nhân vay mượn, quản lý tiền bạc, tài trợ vốn cho các startup. Nhóm còn lại là các công ty thuộc dạng “back-office” hỗ trợ công nghệ cho các định chế tài chính.

2. Tại sao fintech là một từ hot?

Fintech có thể tái định hình ngành tài chính, tác động rất mạnh đến các thành phần quan trọng nhất của ngành này. Hiện tại các công ty cho vay P2P (kết nối trực tiếp người đi vay với người cho vay trên Internet) đã hoạt động khá hiệu quả, giúp rút ngắn thời gian phê duyệt các khoản vay từ vài tuần ở các ngân hàng truyền thống xuống chỉ còn vài giờ.

Theo dự đoán của Morgan Stanley, khối lượng các khoản vay trực tuyến ở Mỹ sẽ chạm mốc 120 tỷ USD vào cuối thập kỷ này, so với con số khiêm tốn 20 tỷ USD của năm 2015.

Ở lĩnh vực quản lý đầu tư, những ông lớn như BlackRock và Vanguard có dịch vụ “robot tư vấn” (robo adviser) sử dụng các thuật toán để tự động điều chỉnh danh mục đầu tư tương ứng với mức độ chấp nhận rủi ro của khách hàng. Một số quỹ đầu cơ đang thử nghiệm (và thành công ở nhiều mức độ khác nhau) sử dụng trí thông minh nhân tạo để robot có thể tự học các thuật toán.

Trên thị trường vốn, các startup và kể cả các ông lớn như Goldman Sachs hay thậm chí là NHTW Anh đang thử nghiệm sử dụng các loại tiền ảo (như bitcoin) thay thế cho các phương thức chuyển tiền và tài sản truyền thống.

3. Ai quản lý fintech?

Nhìn chung thì các cơ quan quản lý tài chính trên toàn thế giới chào đón làn sóng fintech bởi nó hứa hẹn sẽ giúp cho các giao dịch tài chính dễ dàng, minh bạch hơn và có chi phí thấp hơn. Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ Janet Yellen nói rằng công nghệ tiền ảo sẽ giúp nâng cấp hệ thống thanh toán quốc tế đã cũ kỹ.

Thống đốc NHTW Anh Mark Carney cũng cho rằng fintech có thể thay đổi cách các ngân hàng, công ty và người dùng chi tiêu, quản lý và tiết kiệm tiền bạc. Tuy nhiên, theo ông các nhà quản lý phải xem xét đến chuyện liệu công nghệ có ảnh hưởng đến tính an toàn và chính xác của hệ thống tài chính hay không.

4. Rủi ro từ fintech?

Dù các công ty fintech cung cấp rất nhiều loại hình dịch vụ tài chính (từ các khoản vay thế chấp trực tuyến đến tất cả các loại tài khoản nghỉ hưu), sự thuận tiện có thể khiến một số khách hàng tham gia những dịch vụ mà họ không thực sự hiểu về các quyền hạn nghĩa vụ của bản thân.

Một số người lo ngại Fintech cũng có thể thay thế các ngân hàng vật lý truyền thống, khiến các hộ gia đình có thu nhập thấp không thể tiếp cận với dịch vụ ngân hàng.

Cổ phiếu của vài công ty fintech ở Mỹ đã tăng mạnh nhưng sau đó lại lao dốc. Tháng 5/2016, LendingClub – công ty P2P có trụ sở ở San Francisco – đã sa thải CEO Renaud Laplanche sau một vụ bê bối. Kết quả là cổ phiếu của nó giảm một nửa giả trị chỉ trong 5 ngày giao dịch.

5. Các nhà quản lý đã làm gì?

Họ đang thực hiện những bước đầu để tìm ra cách bảo vệ người tiêu dùng và hệ thống tài chính mà không làm chậm lại quá trình cải tiến sáng tạo. Tháng 12 năm ngoái, Văn phòng quản lý tiền tệ Mỹ cho biết sẽ bắt đầu ban hành giấy phép cho các công ty fintech đủ điều kiện, như vậy các công ty này sẽ phải tuân theo một số điều khoản trong luật ngân hàng liên bang.

Giới chức Anh thì thực hiện chương trình làm việc với các startup ở giai đoạn đầu để đảm bảo chúng tuân thủ đúng luật lệ.

Tuy nhiên, một số công ty fintech đang cố gắng hạn chế luật lệ và thành lập những nhóm vận động hành lang để mở rộng tầm ảnh hưởng ở Washington.

6. Nhà đầu tư đang đặt cược vào fintech?

Trên toàn thế giới, các công ty đầu tư mạo hiểm đã rót hơn 17 tỷ USD vào các công ty khởi nghiệp fintech trong năm 2016, tăng gấp 6 lần so với 2012. Năm ngoái, Trung Quốc vượt Mỹ trở thành điểm đến nóng nhất cho làn sóng đầu tư vào fintech.

Chỉ ở riêng Singapore cũng có hơn 100 startup hoạt động trong lĩnh vực fintech. Mới chỉ có 1 phần nhỏ lên sàn, vì thế nhà đầu tư dự đoán sẽ có một làn sóng M&A và lên sàn trong thời gian tới trong bối cảnh các ngân hàng săn lùng những công nghệ mà họ có thể sử dụng, đồng thời các công ty startup sẽ đạt được độ trưởng thành.

7. Các ngân hàng lớn có lo lắng trước làn sóng fintech?

Có. Sau khi coi nhẹ các startup này trong giai đoạn đầu, giờ đây các ngân hàng đã chấp nhận thực tế rằng công nghệ sẽ tác động mạnh mẽ, khiến ngành ngân hàng thay đổi một cách căn bản như bao ngành khác.

Tuy nhiên trong khi robot tư vấn và các công nghệ khác có thể giúp ngân hàng phục vụ khách hàng tốt hơn, hàng nghìn nhân viên có thể bị thay thế bằng máy móc. Các ngân hàng, công ty môi giới chứng khoán và những thực thể truyền thống khác cũng l ngại rằng vì bây giờ chúng ta mới bắt đầu xây dựng luật quản lý, các công ty fintech đang có một lợi thế lớn trong cuộc đua giành thị phần.

Do đó một số người lo ngại trong làn sóng công nghệ thay thế những phương thức truyền thống, công việc kinh doanh của nhiều ngân hàng sẽ khó khăn hơn rất nhiều nếu như họ không bắt kịp được với công nghệ.

8. Và các ngân hàng đang làm gì để đối phó với fintech?

Họ đang cố gắng đi trước một bước. Một số ngân hàng sử dụng sức mạnh thương hiệu và công nghệ để tự mình thử nghiệm với fintech. Các phương thức tiếp cận phổ biến ở thung lũng Silicon thường được áp dụng trong trường hợp này. Ví dụ, Barclays đã hỗ trợ 60 startup trong khuôn khổ các chương trình cải tiến ở London, New York, Tel Aviv and Cape Town. Các ngân hàng khác như Citigroup hay Banco Santander SA đã thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm mua cổ phần của các công ty fintech.

Tuy nhiên, rất khó để các ngân hàng lớn tích hợp công nghệ mới vào hệ thống máy tính đã lỗi thời của họ. Do đó các ngân hàng lớn đang tỏ ra khá chậm chạp, dù tiền đầu tư không phải là ít.

Thu Hương

Theo Trí thức trẻ/Bloomberg

—————–&&&————–

“Ba điều dối trá” về tài chính

“Ba điều dối trá” về tài chính

(Tác giả: Gilles Raveaud – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com/)

Sự thật xuất phát từ miệng của các quan chức ngân hàng trung ương. Trong một bài phát biểu vào ngày 21 tháng 9, 2015 Mark Carney, thống đốc hiện nay của Ngân hàng Trung ương Anh, đã nêu bật điều mà ông gọi là “ba điều dối trá” của nền tài chính hiện đại: làm cho người ta tin rằng có thể nợ nần vô hạn mà không rủi ro; nói rằng các thị trường tự cân bằng với nhau; khẳng định rằng các thị trường mang tính đạo đức. Đó quả là một quả bom nổ từ bên kia bờ biển Măng-sơ chống lại những gì được giảng dạy tại Đại học Harvard hoặc được Bruxelles (nơi có trụ sở của EU – ND) hay Bercy (nơi có trụ sở của Bộ tài chính Pháp – ND) lặp đi lặp lại.

Điều dối trá thứ nhất: “Lần này thì khác”

Điều ngạc nhiên là Carney mở đầu bài phát biểu bằng việc ca ngợi chính sách tiền tệ của nước Anh vào những năm 1970 và 1980, được ông đánh giá là “có trách nhiệm về mặt dân chủ” và “có hiệu quả cao” trong cuộc chiến chống lạm phát. Nhưng đó là để ngay lập tức chỉ ra rằng “những đổi mới ấy không mang lại một sự ổn định kinh tế vĩ mô bền vững. Mà còn ngược lại đằng khác”.

Thật vậy, dưới mặt nước yên lặng của sự ổn định giá cả (giá cả hàng hóa và dịch vụ, chứ không phải giá cả tài sản), là sự gầm gừ của con quái vật nợ nần, đã sầm sầm thức dậy vào năm 2008. Nguyên nhân là vấn đề nhân khẩu học, và cả “sự trì trệ về tiền lương thực tế của tầng lớp trung lưu (mà bản thân nó xuất phát từ công nghệ tiên tiến và toàn cầu hóa)”, ngoài ra vấn đề nợ nần cũng được hỗ trợ bởi sự đổi mới tài chính và sự dồi dào của tiền tiết kiệm.

“Các thị trường chỉ tự cân bằng trong sách giáo khoa mà thôi. Trong thực tế, con người là phi duy lý”

Đặc biệt – và chính điều dối trá nằm ở đây, Carney nói – “sự dễ dãi của các cá nhân và các thể chế, được nuôi dưỡng trong một thời gian dài ổn định về kinh tế vĩ mô và gia tăng giá cả các tài sản, đã làm cho người ta tin rằng không nên day dứt về vấn đề nợ nần là điều hợp lý“.

Theo Carney, cho dù không nhất thiết phải theo quan điểm trên, một khi cuộc khủng hoảng đã xảy ra, các nhà hoạch định chính sách “đã nhanh chóng từ bỏ các ý tưởng được phát triển trong thời kỳ Đại điều độ” để “học lại các bài học của thời kỳ Đại suy thoái (1930)”.

Tuy nhiên, ông lo ngại rằng Trung Quốc cũng đang ngồi trên những núi nợ (từ nay đã đạt gần đến 200% GDP)…

Điều dối trá thứ hai: “thị trường luôn ở trạng thái cân bằng” (*)

Đây là huyền thoại trung tâm của kinh tế học đương đại: theo đó, “quy luật” cung cầu, hệ quả không thể tránh khỏi của “sự tự do cạnh tranh“, được coi là để đảm bảo sự cân bằng của lượng cung cầu, và như vậy cho phép sử dụng các nguồn lực sẵn có một cách hiệu quả nhất có thể.

“Các nhà hoạch định chính sách đã bị cuốn hút bởi huyền thoại theo đó nền tài chính có thể tự điều tiết và tự sửa sai”

Như Carney đã nói, “các nhà hoạch định chính sách đã bị cuốn hút bởi huyền thoại theo đó nền tài chính có thể tự điều tiết và tự sửa sai một cách tự nhiên“. Tuy nhiên, ông lưu ý rằng, thay vì hình ảnh yên tâm của sự cân bằng, là sự mất cân bằng trên mọi thị trường, bất luận là thị trường hàng hóa, thị trường lao động hay thị trường tài sản.

John M. Keynes (1883-1946)

Và khi nói rằng các thị trường luôn tự cân bằng được có hai hậu quả nguy hiểm.

Đầu tiên, người ta khó mà phát hiện các hiện tượng bong bóng, bởi vì giá cả được cho là “đúng“, xa rời với sự vận hành thực của các thị trường tài chính (như mô tả của Carney khi viện dẫn trực tiếp đến “cuộc thi sắc đẹp” của Keynes, xem ra một số quan chức ngân hàng trung ương cũng biết đọc sách hay!). Ngoài ra, bất kỳ sự bất ổn nào vì thế được gán cho nguyên nhân biến dạng của thị trường hoặc tính bất toàn của thị trường, dẫn đến việc phải “tạo ra những thị trường mới” để giải quyết tạm thời những thiếu sót của các thị trường cũ – điều mà Carney gọi là “tiến triển mà không ngừng lùi bước“.

“Khi tồn tại sự không hoàn hảo (có nghĩa là luôn luôn tồn tại), thì việc bổ sung thêm các thị trường đôi khi có thể làm cho mọi việc tồi tệ hơn”

Tuy nhiên, Carney nhấn mạnh, “các thị trường chỉ tự cân bằng trong sách giáo khoa mà thôi. Trong thực tế, con người là phi duy lý, các nền kinh tế không hoàn hảo và chính ngay trạng thái của tự nhiên [có nghĩa là tình hình kinh tế thực – BBT] là không thể biết được“. Từ thực tế đó, “khi tồn tại sự không hoàn hảo (có nghĩa là luôn luôn tồn tại), thì việc bổ sung thêm các thị trường đôi khi có thể làm cho mọi việc tồi tệ hơn” – như đã chỉ ra ví dụ về các tín dụng phái sinh, đã làm gia tăng thay vì phân chia rủi ro như đã hứa.

Frank Knight (1885-1972)

Sau đó, Carney phân tích đền thờ kinh tế học, mô hình Arrow-Debreu, mà các giả định của thị trường đầy đủ (có nghĩa là những thị trường có thể dự đoán được mọi trạng thái trong tương lai) là, theo lời của ông, “điều phi lý về mặt mô tả thế giới thực“. Từ bỏ truyền thống tân cổ điển, Carney quay trở lại với Frank Knight và khái niệm “bất trắc” của ông ấy với hệ quả là các cá nhân thực hiện sự lựa chọn của họ theo một “tí chút có vẻ là kiến thc”, bản thân tâm trạng của những người tham gia thị trường cũng bị ảnh hưởng bởi “bản năng động vật” của Keynes.

Điều dối trá thứ ba: “các thị trường mang tính đạo đức”

Tất nhiên, Carney không quên đề cập đến nhiều phẩm chất của thị trường, nguồn gốc của sự thịnh vượng, tăng trưởng và các công cụ quản lý rủi ro. Nhưng, ông lưu ý rằng “nếu để tự bản thân các thị trường vận động, thì chúng có thể có khuynh hướng thái quá và lạm dụng”.

Carney muốn “xây dựng lại các thị trường công bằng và hiệu quả“, mang tính “chuyên nghiệp và cởi mở

Đặc biệt là trường hợp của các thị trường tài chính, nơi mà “các giá trị trở nên trừu tượng và tương đối” và “đám đông có thể lấn át sự chính trực của cá nhân”. Để vận hành, các thị trường cần có “sự đồng thuận của xã hội“; tuy nhiên, sự đồng thuận này bị đặt lại vấn đề bởi những vụ bê bối gần đây (Libor, Forex, vv).

Để khôi phục lại niềm tin này, Carney muốn “xây dựng lại các thị trường công bằng và hiệu quả“, mang tính “chuyên nghiệp và cởi mở“, chứ không phải “những thị trường phi chính thức và vận hành như các câu lạc bộ”. Tuy nhiên, điều này giả định rằng “tất cả các tác nhân của thị trường, công cũng như tư, phải hiểu được trách nhiệm của mình đối với hệ thống trong một thể thống nhất”.

Một vài điều dối trá thật

Đối với Carney, ngày nay người ta dễ chống lại những điều dối trá nói trên hơn là trong quá khứ.

Để đáp lại điều dối trá đầu tiên (khẳng định những thành công của sự đổi mới tài chính), ông cho rằng Ngân hàng Trung ương Anh có những “quyền hạn rất lớn” để thúc đẩy sự ổn định tài chính. Ngân hàng Trung ương Anh đã yêu cầu tăng mức vốn của các ngân hàng và thắt chặt các điều kiện cung cấp các tín dụng bất động sản. Như vậy, hiện tượng “quá lớn để sụp đổ” (nghĩa vụ hỗ trợ các định chế tài chính lớn đang gặp khó khăn, bằng tiền của người nộp thuế) phải giảm, nhờ việc loại bỏ các khoản trợ cấp công tiềm ẩn và hoạt động cạnh tranh ngày càng gia tăng.

Carney kêu gọi sự nâng cao trách nhiệm của các cá nhân và doanh nghiệp, và áp dụng các hình phạt nặng hơn đối với những người gian lận

Đối với điều dối trá thứ hai (về khả năng tự cân bằng của các thị trường), người ta đã tiến hành nhiều chính sách cải cách để gỡ rối các sản phẩm phái sinh phức tạp, và từ nay Ngân hàng (Trung ương) đã sẵn sàng để hành động như là “người làm nên thị trường cuối cùng” trong trường hợp cần thiết.

Để đáp lại điều dối trá thứ ba (chiều kích mạo xưng về tính đạo đức của các thị trường), Carney cho rằng những thay đổi đã diễn ra trong các chính sách tiền lương và đãi ngộ, hoặc trong việc làm rõ trách nhiệm của các nhà lãnh đạo.

Tuy nhiên, ông lưu ý, “cần phải làm nhiều hơn nữa” (phew!).

Và Carney kêu gọi sự nâng cao trách nhiệm của các cá nhân và doanh nghiệp, và áp dụng các hình phạt nặng hơn đối với những người gian lận.

Hơn nữa, để cuộc tranh luận được tiếp diễn, Ngân hàng (Trung ương) Anh đã tổ chức một diễn đàn, nơi mà mọi người có thể gửi các đề xuất cải cách của mình để xây dựng những thị trường “xứng đáng để xã hội chấp nhận và làm củng cố vốn xã hội”.

Trọng lượng của niềm tin

Jean-Claude Trichet (1942-)

Đọc xong bài phát biểu của Mark Carney, người ta kinh ngạc trước những phê phán đối với những gì đang được giảng dạy tại các trường đại học “tốt nhất” thế giới, hay đối với các nguyên tắc hướng dẫn chính các cơ sở nền tảng của Liên minh châu Âu. Đọc bài phát biểu của một thống đốc ngân hàng trung ương, được viết dựa trên một cách đọc cấp tiến về Keynes hay về Knight và cho rằng mô hình Arrow-Debreu là phi lý, khác xa với diễn ngôn của Jean-Claude Trichet (nguyên Thống đốc ECB – ND) và sự “giảm phát cạnh tranh” mang tính tàn phá của ông ấy…

Tuy nhiên, chúng ta sẽ ít bị thuyết phục bởi những thay đổi trong chính sách điều tiết về tài chính kể từ khi cuộc khủng hoảng nổ ra vào năm 2008. Để khôi phục lại nền tài chính và rút ra những kết luận về mặt kinh tế chính trị từ những cách đọc lành mạnh được viện dẫn ở trên, chúng ta sẽ cần một sự thay đổi về chính trị và trí tuệ với cường độ lớn, một điều không dễ diễn ra.

GILLES RAVEAUD

Phó giáo sư về kinh tế tại Đại học Paris 8 Saint-Denis

Gilles Raveaud

Gilles Raveaud là Phó giáo sư về kinh tế tại Viện Nghiên cứu Châu Âu thuộc Đại học Paris 8 Saint-Denis. Ông là tác giả của cuốn La dispute des économistesSự tranh cãi của các nhà kinh tế học (NXB Le Bord de l’eau, 2013) và đóng góp vào các tác phẩm Petit bréviaire des idées reçues en économieSách gối đầu giường về những ý tưởng trong kinh tế học (NXB La Découverte, 2004) và Douze économistes contre le projet de constitution européenneMười hai nhà kinh tế học chống lại dự thảo Hiến pháp châu Âu(NXB L’Harmattan, 2005). Ông làm hậu tiến sĩ tại Đại học Harvard (Mỹ) từ năm 2005 đến năm 2007.

Ông là thành viên hội đồng quản trị của Hiệp hội Kinh tế học Chính trị của Pháp (AFEP), nơi ông đặc biệt phụ trách các vấn đề về giảng dạy, và là thành viên ban biên tập của tạp chí L’Économie Politique (Kinh tế Chính trị).

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: Les “trois mensonges” de la finance, Altereco Plus, 28/09/2015


Ghi chú: (*) Các mô hình CAPM và APT đều yêu cầu giả thiết thị trường cân bằng.

—————&&&————-

Bộ ba bất khả thi là gì?

Bộ ba bất khả thi

(Nguồn: https://vi.wikipedia.org)

Bộ ba bất khả thi

Theo lý thuyết bộ ba bất khả thi, ba chính sách gồm tự do dòng vốn (free capital flow), tỷ giá hối đoái cố định (fixed exchange rate) và chính sách tiền tệ độc lập (sovereign monetary policy) không thể thực hiện được đồng thời.

 

Ở các quốc gia khác nhau, bộ ba bất khả thi sẽ được thể hiện dưới dạng thức cụ thể khác nhau nhưng về bản chất là không thay đổi như sau:

  1. Tỷ giá thể hiện ở: dự trữ ngoại tệ, cán cân thanh toán…
  2. Tự do lưu chuyển vốn được thể hiện ở: tăng trưởng GDP, đầu tư nước ngoài, nhập siêu, tài khóa ngân sách công, nợ nước ngoài…
  3. Chính sách tiền tệ độc lập thể hiện ở: lạm phát, lãi suất,…

 

Trong kinh tế học, bộ ba bất khả thi (còn gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời hoặc tam nan kinh tế, tiếng Anh: impossible trinity) chỉ một giả thuyết kinh tế cho rằng không thể thực hiện đồng thời ba chính sách gồm chế độ tỷ giá hối đoái cố định, chính sách tiền tệ độc lập để ổn định giá cả và tự dolưu chuyển vốn. Chỉ có thể thực hiện đồng thời hai trong ba chính sách này mà thôi. Thuật ngữ này còn dùng để chỉ tình thế kinh tế dễ đổ vỡ khi mà một quốc gia cố tình thi hành ba chính sách trên cùng lúc.

Các lý luận kinh tế như sơ đồ DD-AA hay mô hình Mundell-Fleming đều chỉ ra quan hệ giữa chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái với giả định là vốn được tự do lưu chuyển qua biên giới quốc gia. Khi ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng thì tỷ giá hối đoái sẽ tăng lên, khi thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt thì tỷ giá giảm đi. Như thế, nếu thực hiện một chế độ tỷ giá cố định, thì chính sách tiền tệ không thể thay đổi linh hoạt được.

Giả sử một nước cố gắng thực hiện cả ba chính sách trên đồng thời. Khi kinh tế tăng trưởng nhanh, vốn nước ngoài sẽ chảy vào trong nước gây ra áp lực tăng giá nội tệ. Khi đó, ngân hàng trung ương muốn bảo vệ chế độ tỷ giá cố định thì phải thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng. Song điều này có thể làm tăng lượng cung tiền trong lưu thông dẫn đến tăng tốc lạm phát. Muốn lạm phát không tăng tốc, thì phải thực hiện chính sách thanh khoản đối ứng. Song như thế thì vốn nước ngoài càng chảy vào nhiều.

Đầu thập niên 1990, một số nước châu Á đã cố gắng thực hiện đồng thời ba chính sách và hậu quả là rơi vào khủng hoảng.

Bộ đôi

Với sự tăng trưởng hàng hóa và dịch vụ và nhịp độ đổi mới tài chính nhanh như hiện nay, các kiểm soát đối với vốn thường sẽ bị qua mặt. Hơn nữa, việc kiểm soát dòng vốn cũng gây ra vô số méo mó trong thị trường. Trên thế giới thực tế hiện chỉ có một số rất ít quốc gia quan trọng sở hữu một hệ thống kiểm soát dòng vốn có hiệu quả. Lý thuyết bộ ba bất khả thi trong tình trạng thiếu kiểm soát hiệu quả đối với dòng vốn hàm ý rằng một quốc gia phải lựa chọn thực thi một trong hai chính sách: ổn định đồng tiền hoặc duy trì ổn định chính sách tiền tệ.

“Điểm mấu chốt là bạn không thể có tất cả được: một quốc gia phải chọn hai trong ba. Họ có thể cố định tỷ giá hối đoái mà không làm yếu ngân hàng trung ương nhưng chỉ làm được khi nào duy trì kiểm soát dòng vốn (như Trung Quốc hiện nay); họ cũng có thể để vốn lưu chuyển tự do song phải giữ được chính sách tiền tệ độc lập, nhưng chỉ có thể làm được nếu để tỷ giá hối đoái biến động (như Anh Quốc hoặc Canada); hoặc quốc gia đó cũng có thể chọn cách để vốn lưu chuyển tự do và ổn định tiền tệ, song chỉ làm được nếu từ bỏ khả năng điều chỉnh lãi suất để đối phó lạm phát hoặc suy thoái (như Argentina hiện nay).”[1]

— Paul Krugman, 1999


Đây là bộ ba khiến nhiều nước lao đao

(Nguồn: http://cafef.vn)

Một quốc gia buộc phải chọn lựa giữa dòng vốn có thể tự do di chuyển, tỷ giá nằm trong tầm tay quản lý và một chính sách tiền tệ độc lập. Ba điều này không thể xảy ra cùng một lúc mà chỉ có 2 điều có thể đi đôi với nhau.

Trước khi đồng tiền chung châu Âu euro ra đời năm 1999, các thành viên đã neo đồng nội tệ của mình vào đồng mark Đức. Kết quả là họ buộc phải nương vào chính sách tiền tệ của NHTW Đức để điều chỉnh chính sách của riêng mình. Một số nước dễ dàng làm được điều này bởi vì có các ngành kinh tế gắn bó chặt chẽ với Đức và như vậy mối quan hệ giữa hai bên là “nước nổi thuyền nổi’.

Tuy nhiên, có một số nước không thể duy trì chính sách tiền tệ như vậy. Năm 1992, Anh buộc phải “nhổ neo” vì nền kinh tế Anh đang rơi vào suy thoái trong khi kinh tế Đức bùng nổ.

Ngày nay, đồng nhân dân tệ của Trung Quốc cũng đang ở trong thế tiến thoái lưỡng nan. Trung Quốc muốn mở cửa hoàn toàn cán cân vốn để tạo ra một hệ thống tài chính hiện đại trong đó các lực đẩy của thị trường đóng vai trò quyết định thay vì mệnh lệnh của NHTW. Mùa hè năm ngoái, Trung Quốc đã có những bước đi nhỏ trên hành trình này. Tuy nhiên, thả nổi tỷ giá trong thời buổi kinh tế trì trệ không phải là một ý hay, làm dấy lên nỗi lo đồng nhân dân tệ sẽ rớt giá thảm hại. Sau cú sốc mùa hè năm ngoái, Trung Quốc lại thắt chặt kiểm soát dòng chảy của vốn.

Tình huống mà Anh và Trung Quốc gặp phải chính là hệ quả của bộ ba chính sách không thể đồng hành cùng nhau trong điều hành kinh tế vĩ mô, hay còn gọi là bộ ba bất khả thi. Theo đó, một quốc gia buộc phải chọn lựa giữa dòng vốn có thể tự do di chuyển, tỷ giá nằm trong tầm tay quản lý và một chính sách tiền tệ độc lập. Ba điều này không thể xảy ra cùng một lúc mà chỉ có 2 điều có thể đi đôi với nhau.

Ví dụ, một quốc gia muốn cố định tỷ giá và cũng muốn lãi suất không bị môi trường bên ngoài tác động thì sẽ phải kiểm soát dòng chảy vào và ra của vốn. Đó chính là bộ ba bất khả thi trong trường hợp của Trung Quốc. Trong trường hợp của Anh, nếu tỷ giá cố định nhưng vốn được tự do di chuyển, quốc gia đó không thể có chính sách tiền tệ độc lập. Và nếu một quốc gia chọn dòng vốn tự do nhưng cũng muốn tự chủ về chính sách tiền tệ, họ phải thả nổi đồng nội tệ. Đây cũng là mô hình được nhiều nước trên thế giới lựa chọn.

Để hiểu sâu hơn về bộ ba bất khả thi, hãy hình dung về một quốc gia có tỷ giá cố định neo vào đồng USD và mở cửa hoàn toàn đối với dòng vốn ngoại. Để giảm lạm phát, NHTW sẽ phải để lãi suất ở mức cao hơn so với lãi suất cơ bản mà Cục dự trữ liên bang Mỹ đưa ra. Vì dòng vốn tự do chảy từ nơi có lãi suất thấp đến nơi có lãi suất cao, dòng vốn sẽ ồ ạt đổ vào đây, gây áp lực tăng giá lên đồng nội tệ. Cuối cùng thì quốc gia đó không thể neo đồng nội tệ vào USD được nữa.

Nhiều nước thuộc nhóm mới nổi cho rằng đồng USD là một cái mỏ neo ổn định và do đó chính sách tỷ giá cố định bám vào đồng USD sẽ đem lại nhiều tác dụng. Đó cũng chính là lý do khiến Anh neo đồng bảng vào đồng D-mark trong những năm 1990. Cái giá phải trả là mất tự do về tiền tệ: phải điều chỉnh lãi suất sao cho vẫn giữ được mức tỷ giá cố định và các nước này cũng không thể điều chỉnh chính sách linh hoạt để ổn định nền kinh tế.

Vì vậy các quốc gia thường được khuyên là nên thả nổi đồng tiền khi muốn duy trì lạm phát ở mức thấp. Khi đó đồng tiền được điều chỉnh theo dòng chảy của vốn, cho phép lãi suất phản ứng tốt nhất với các chu kỳ của nền kinh tế.

Trên thực tế, nhiều nước mới nổi rất lo sợ tỷ giá biến động quá mạnh, do vậy họ chọn cách hi sinh dòng vốn (bằng cách kiểm soát chặt cán cân vốn hoặc tăng giảm dự trữ ngoại hối) hoặc hi sinh chính sách tiền tệ (bằng cách đặt yếu tố ổn định tỷ giá lên hàng đầu).

Trung Quốc muốn cuối cùng thì cán cân vốn sẽ tự do hoàn toàn, đánh dấu một cột mốc quan trọng trên con đường tiến tới một hệ thống tài chính hiện tại. Để làm được như vậy, Trung Quốc sẽ phải chung sống với đồng nhân dân tệ tăng giảm thất thường theo các lực đẩy của thị trường. Đạt được cả ba là không thể, nhưng 2/3 cũng không phải là một điều tồi tệ quá sức chịu đựng.

Thu Hương

Theo Trí thức trẻ/Economist

————-&&&————-

Tiền mặt thực tế (Real cash balances)

Tiền mặt thực tế (Real cash balances)

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Khi những người nắm giữ tiền không bị ảo giác tiền tệ thì họ xác định cầu tiền mặt của họ trên cơ sở giá trị thực tế của tiền tệ (M/P). Những biến thiên của giá trị thực tế của tiền mặt bắt nguồn từ một biến thiên của lượng danh nghĩa tiền tệ (M), biến thiên của mức giá (P), hay từ cả hai loại biến thiên này. Dưới một số điều kiện, những biến thiên này có thể làm thay đổi những đại lượng thực tế như tiêu dùng hay việc làm, được gọi là hiệu ứng tiền mặt thực tế. Ví dụ, trước một gia tăng của mức giá chung làm giảm giá trị thực tế của tiền mặt thì những cá thể có thể muốn tái lập tiền mặt thực tế bằng cách giảm tiêu dùng (hay, ngược lại, gia tăng tiêu dùng tiếp sau một sụt giảm của mức giá chung làm tăng giá trị của tiền mặt của họ). Như vậy hiệu ứng tiền mặt thực tế là một cơ chế hợp nhất lĩnh vực thực tế và lĩnh vực tiền tệ, cơ chế này được thêm vào hay thay thế cho việc hợp nhất bằng lãi suất, và được các tác giả tân cổ điển hậu walrasian ưu tiên.

Knut Wicksell (1851-1926)
Irving Fisher (1867-1947)

Được K. Wicksell nêu lên ngay từ năm 1898, ta gặp lại hiệu ứng thực tế cũng vào thời kì đó ở I. Fisher (1911) và A. C. Pigou ngay từ bài viết đầu tiên của ông năm 1917, “The value of money”. Pigou sẽ dùng khái niệm này trong những cuộc tranh luận về những phương thức thoát ra khỏi khủng hoảng, diễn ra sau khi Lí thuyết tổng quát của Keynes được công bố, và chỉ ra rằng có một lực nội sinh loại bỏ thất nghiệp (1943, 1947), do đó đôi lúc hiệu ứng này còn được gọi là“hiệu ứng Pigou”. Tuy nhiên phải đợi đếnPatinkin (1956, 1965) thì hiệu ứng này mới được tôn vinh khi ông làm rõ những khiá cạnh phân tích vi mô lẫn vĩ mô của hiệu ứng tiền mặt thực tế. Trong kinh tế học vi mô, vấn đề là đưa tiền mặt thực tế vào như một agumen của hàm lợi ích của người tiêu dùng. Tối đa hoá lợi ích dưới ràng buộc thu nhập cho thấy là cầu sản phẩm tiêu dùng cầu tiền mặt phụ thuộc vào giá trị của tiền mặt thực tế ban đầu. Trong so sánh tĩnh, một gia tăng của giá trị thực tế của tiền mặt ban đầu của một tác nhân làm tăng cầu sản phẩm và cầu tiền tệ của tác nhân ấy. Trong một cái nhìn cân bằng chung, những thay đổi của cầu phái sinh từ những biến thiên của giá trị thực tế của tiền mặt làm thay đổi việc xác định những cân bằng trên những thị trường và do đó làm thay đổi hệ thống những giá tương đối. Đóng góp của Patinkin là đã nhấn mạnh là hiệu ứng tiền mặt thực tế phát huy tác dụng trên thị trường tiền tệ cũng như trên thị trường sản phẩm, điều mà cả Wicksell, Fisher lẫn Pigou đã không cảm nhận, vì các tác giả này đều thừa nhận rằng cầu tiền mặt thực tế độc lập với những biến thiên của giá cả (hay cầu tiền tệ danh nghĩa có một độ co dãn bằng một đối với sức mua sức mua của đồng tiền, 1/P). Trong kinh tế học vĩ mô, vấn đề chính là đưa tiền mặt thực tế vào trong số những biến giải thích của hàm tiêu dùng (hay tiết kiệm), đạo hàm riêng của hàm này là dương (âm trong trường hợp hàm tiết kiệm):

C = f(…, M/P, …); df/d(M/P) > 0.

S = g(…, M/P, …); dg/d(M/P) < 0.

Cũng còn có thể đưa tiền mặt thực tế vào trong một hàm sản xuất tổng thể bên cạnh nhân tố tư bản K và nhân tố lao động L, với một đạo hàm riêng đối với tiền mặt thực tế là dương (Y= F(K, L, M/P); dF/d(M/P) > 0).

Có nhiều kiểm định kinh trắc của những hàm tổng thể này có tiền mặt thực tế, nhưng từ đó khó mà rút ra được một kết luận dứt khoát về hiệu lực thực nghiệm của hiệu ứng tiền mặt thực tế.

Don Patinkin (1922-1995)

Thật ra hiệu ứng này bị điều kiện hoá bởi phản ứng của các cá thể trước một biến thiên của giá trị thực tế của tiền mặt của họ. Sự không có ảo giác tiền tệ được Pigou nhấn mạnh, cũng như việc không có những dự kiến cộng dồn về những biến thiên của giá cả khả dĩ gây nên những hành vi “chạy trốn tiền tệ” (trường hợp siêu lạm phát), là những điều kiện cần cho sự hoàn thành của hiệu ứng. Khi hội đủ những điều kiện này, lí thuyết cầu tiền tệ giải thích vì sao những cá thể xem mức tiền mặt thực tế của họ có thể là không thích hợp và mang mất cân bằng này sang thị trường sản phẩm và dịch vụ. Đối với một số tác giả, như Wicksell hay Fisher, ưu tiên cho khiá cạnh trung gian những cuộc trao đổi của tiền tệ thì các cá thể duy trì một tỉ lệ nhất định giữa cầu tiền mặt thực tế của họ và chi tiêu sản phẩm vì, như Fisher viết, theo kinh nghiệm, sự “tiện dụng” trong giao dịch, hay vì những động cơ duy lí hơn như phân tích những cơ sở kinh tế vi mô của cầu tiền tệ cho thấy – điều này khuyến khích gọi hiệu ứng tiền mặt thực tế là “hiệu ứng thanh khoản”. Đối với một số tác giả khác, như Patinkin, ưu tiên cho một cách tiếp cận di sản về cầu tiền tệ hơn là một cách tiếp cận giao dịch thì giá trị thực tế của tiền mặt tham gia, hoặc một phần (quan điểm của Gurley và Shaw về tiền tệ bên ngoài) hoặc toàn bộ (quan điểm của Pesek và Saving), vào việc xác định giá trị của di sản. Từ đó, chính việc trở thành giàu hay nghèo hơn tiếp sau một biến thiên của tiền mặt thực tế mới khiến các tác nhân thay đổi cầu của họ – điều này khuyến khích gọi hiệu ứng tiền mặt thực tế là “hiệu ứng của cải”. Cho dù có chọn cách tiếp cận nào đi nữa thì cơ chế hợp nhất lĩnh vực thực tế và tiền tệ cũng như những hệ quả là giống nhau.

Những hệ quả này không phải là nhỏ vì việc tính đến hiệu ứng tiền mặt thực tế không dẫn đến gì khác hơn là vượt qua hai cách nhìn lớn về hoạt động kinh tế, tức là cách nhìn của lí thuyết keynesian và cách nhìn của lí thuyết walrasian. Đối với Keynes, cân bằng toàn bộ của thiểu dụng lao động là lâu dài vì không có lực nội sinh nào khả dĩ loại bỏ được thất nghiệp; Pigou là người đầu tiên chỉ rằng hiệu ứng tiền mặt thực tế có thể là một lực như thế. Nếu cuộc khủng hoảng do thiếu tổng cầu đi cùng với một sụt giảm của mức giá chung thì giá trị thực tế của tiền mặt danh nghĩa tăng, điều này làm tăng tổng cầu và có xu hướng loại bỏ thất nghiệp keynesian. Lập luận này, với những được thua hiển nhiên về mặt chính sách kinh tế, đã khơi lên lại cuộc tranh luận kinh tế vĩ mô giữa những nhà keynesian và những nhà tân cổ điển mà thành công của “lí thuyết tổng quát” đã che giấu đi. Hiệu ứng tiền mặt thực tế hiện ra trong cuộc tranh luận này như một cơ chế cân bằng lại nền kinh tế và đặt thành vấn đề tính dai dẳng của thất nghiệp keynesian. Nó cũng đặt lại vấn đề sự phân đôi khu vực thực tế và khu vực tiền tệ của lí thuyết walrasian. Đối với Walras, một biến thiên của mức giá chung, được giải thích bằng lí thuyết định lượng, không ảnh hưởng đến những đại lượng thực tế và không làm thay đổi vị thế ban đầu của cân bằng chung. Đó là vì những hàm cầu sản phẩm chỉ phụ thuộc vào những giá tương đối, và những giá này không bị tác động bởi biến thiên của mức giá chung (tiên đề tính thuần nhất). Tính trung lập này của tiền tệ bị hiệu ứng tiền mặt thực tế đánh bật: việc đưa tiền mặt thực tế vào trong những hàm cầu sản phẩm, theo kiểu Patinkin, loại bỏ tiên đề tính thuần nhất và sự phân đôi thực tế-tiền tệ. Một biến thiên của mức giá chung ảnh hưởng đến giá trị thực tế của tiền mặt, do đó ảnh hưởng đến những cầu sản phẩm và cuối cùng đến hệ thống những giá tương đối. Nói cách khác, tiền tệ là không trung lập, ngày nào còn có hiệu ứng tiền mặt thực tế, và hiệu ứng này còn phát huy tác dụng khi còn có một mất cân bằng giữa cung và cầu tiền mặt thực tế. Bằng cách phát huy tác dụng, kể cả trên thị trường tiền tệ, hiệu ứng tiền mặt thực tế tạo điều kiện dễ dàng cho việc đạt đến một vị thế cân bằng mới và hơn thế nữa còn đảm bảo cho tính ổn định của cân bằng này. Chỉ có trong vị thế mới này mới tìm lại được mối quan hệ tỉ lệ của lí thuyết định lượng giữa tiền tệ và giá cả và tiền tệ mới bị trung hoà. Cơ chế chủ yếu của hợp nhất cái thực tế và cái tiền tệ, hiệu ứng tiền mặt thực tế phá vỡ sự phân đôi walrasian và tính trung lập của tiền tệ trước khi trở thành công cụ của một cách kiến giải lại có giới hạn (vì phụ thuộc vào cân bằng) lí thuyết định lượng.

▶ FISHER I., The Purchasing Power of Money, New York, A. M. Kelley, 1911. –GURLEY J. & SHAW F., Banking in the Theory of Finance, Washington, The Brooking Institutions, 1960. – PATINKIN D., La monnaie, lintérêt et les prix, trad. fr., Paris, PUF, 1972. – PESEK & SAVING T., Money, Weath and Economic Theory, London, Macmillan, 1967. – PIGOU A. C.,“The Value of Money”, QJE, 1917; “The Classical Stationary State”, EJ, 1943;“Economic Process in a Stable Environment”, Economica, 1947. –WICKSELL K., Interest and Prices (1896), trad. angl., London, Macmillan, 1936.

Gérard BRAMOUILLÉ

Giáo sư đại học Aix-Marseille 3

Nguyễn Đôn Phước dịch

® Ảo giác tiền tệ; Di sản; Giá cả và cấu trúc thị trường; Học thuyết Keynes; Lãi suất; Tiền tệ.

Nguồn: Dictionnaire des sciences économiques, sous la direction de Claude Jessua, Christian Labrousse, Daniel Vitry, PUF, Paris, 2001

————-&&&————-

60% khả năng nước Mỹ sẽ rơi vào suy thoái chỉ trong 12 tháng tới

60% khả năng nước Mỹ sẽ rơi vào suy thoái chỉ trong 12 tháng tới

(Nguồn: http://cafef.vn)

Thị trường trái phiếu đang cảnh báo thị trường rằng 60% khả năng nước Mỹ sẽ rơi vào suy thoái trong 12 tháng tới.

Thị trường trái phiếu đang truyền đi một thông điệp đến nền kinh tế mà những người chơi cổ phiếu sẽ không muốn nghe.

Vài ngày sau khi Anh quyết định rời EU, một loạt tài sản rủi ro bao gồm cả cổ phiếu đều tăng mạnh. Đi cùng với xu hướng đó, trái phiếu chính phủ cũng tăng. Điều đó cho thấy 2 triển vọng trái ngược nhau về tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Giá trái phiếu tăng khiến cho lãi suất nợ chính phủ giảm. Hơn nữa, kỳ vọng chính sách tiền tệ nới lỏng hơn trong tương lai đã kích hoạt tâm lý bầy đàn trên thị trường chứng khoán.

Sự dịch chuyển dòng tiền sang nhóm tài sản an toàn đã khiến cho các nhà nghiên cứu phải đặt câu hỏi về độ bền lâu của cơn sốt trên thị trường chứng khoán vừa qua. Tuần trước chỉ số S&P 500 đã tăng 3,5%. FTSE 100 đã khôi phục lại những gì đã mất trong vụ Brexit. Tuy nhiên, nhiều ý kiến lại cho rằng thị trường chứng khoán tăng mạnh như vậy là do lợi suất trái phiếu giảm khiến nhà đầu tư phải đi tìm các loại tài sản khác có lợi suất cao hơn. Chính vì vậy, dòng tiền đổ vào thị trường chứng khoán nhiều hơn.

Tuần trước cũng là một tuần đầy biến động đối với thị trường nợ công toàn cầu khi mà một loạt những diễn biến lịch sử được ghi nhận. Quan trọng nhất là lợi suất trái phiếu 10 năm và 30 năm của Mỹ đạt điểm thấp mới nhất. Lợi suất trái phiếu chính phủ của Tây Ban Nha cũng lún sâu vào mức thấp lịch sử và tỷ suất trái phiếu chính phủ Thuỵ Điển từ hôm 1/7 đã xuống mức âm.

Trong khi đó, thước đo lợi suất trái phiếu 10 năm của Fed New York (chỉ số phản ánh độ rủi ro của nợ dài hạn) đã rơi xuống mức âm 0,66% – xoá sổ mức lợi suất năm 1962 ra khỏi ngôi vị thấp nhất lịch sử.

Hiện nay, lạm phát kỳ vọng suy ra từ trái phiếu chính phủ Mỹ đang giảm song song với đà tăng của cổ phiếu. Nhóm nghiên cứu tại TD Securities nhận định, hai xu thế trái ngược tồn tại đồng thời đó cho thấy một sự “rời rạc nguy hiểm” giữa lãi suất và chứng khoán.

“Chúng ta đang lầm tưởng rằng thị trường chứng khoán đã hồi phục trở lại sau cơn bão Brexit, nhưng bất ổn vẫn đang còn đợi nhà đầu tư ở phía trước khi mà chính sách tiền tệ nới lỏng được thực thi, cộng thêm kỳ vọng rằng Brexit sẽ không xảy ra bỏ mặc kết quả cuộc trưng cầu dân ý. Tốc độ tăng trưởng toàn cầu sẽ bị ảnh hưởng do khủng hoảng tại vương quốc Anh – nền kinh tế lớn thứ 5 thế giới”. Priya Misra thuộc nhóm nghiên cứu TD Securities nhận định.

Nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra hai bằng chứng cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế trong tương lai đang chậm dần. Thứ nhất, kể từ đầu năm đến nay, đường cong lợi suất trái phiếu Mỹ có xu hướng đi ngang. Thứ hai, các khoản nợ có kỳ hạn khác nhau nhưng lại có mức lãi suất tương tự nhau.

Độ chênh lệch giữa lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm và 2 năm đã bị thu hẹp lại kể từ ngay sau khi cuộc trưng cầu dân ý tại Anh xảy ra do nhà đầu tư đua nhau đổ tiền vào tài sản rủi ro thấp trong ngắn hạn. Mô hình theo dõi của Deutsche Bank nhận định rằng đường cong lợi suất hiện nay đang truyền đi một thông điệp nguy hiểm rằng 60% khả năng là Mỹ sẽ rơi vào một cuộc suy thoái trong vòng 12 tháng tới. Con số này đã tăng từ 55% hồi giữa tháng 6. Đây là mức đáng báo động, cao nhất kể từ sau khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tháng 8/2008.

Dominic Konstam – trưởng nhóm nghiên cứu tại Deutsche nhận định: “So sánh với đường cong lãi suất thường xảy ra trước mỗi giai đoạn khủng hoảng, khả năng một giai đoạn khủng hoảng ngắn hạn nữa sắp xảy ra đang gia tăng.”

Theo Trí thức trẻ/Bloomberg

———–&&———-