Fintech là gì mà lại được coi là cuộc cách mạng đe dọa hệ thống ngân hàng toàn cầu?

Fintech là gì mà lại được coi là cuộc cách mạng đe dọa hệ thống ngân hàng toàn cầu?

(Nguồn: http://cafef.vn)

Fintech có thể tái định hình ngành tài chính, tác động rất mạnh đến các thành phần quan trọng nhất của ngành này. Hiện tại các công ty cho vay P2P hoạt động khá hiệu quả, giúp rút ngắn thời gian phê duyệt các khoản vay từ vài tuần ở các ngân hàng truyền thống xuống chỉ còn vài giờ.

Fintech chắc hẳn là từ không còn xa lạ với những ai theo dõi sát ngành tài chính trong mấy năm trở lại đây. Nó thường xuyên được nhắc đến trong các hội thảo, cuộc họp và thậm chí trở thành chủ đề nóng để bàn luận bên bàn tiệc.

Kể từ khi làn sóng các công ty khởi nghiệp tập trung vào lĩnh vực công nghệ trong tài chính nổi lên sau khủng hoảng 2008, “fintech” trở thành đại diện cho một cuộc cách mạng kỹ thuật số có thể thay đổi hoàn toàn phương thức kinh doanh của ngành ngân hàng.

1. Chính xác thì fintech là gì?

Là viết tắt của từ financial technology (công nghệ trong tài chính), fintech được sử dụng chung cho tất cả các công ty sử dụng internet, điện thoại di động, công nghệ điện toán đám mây và các phần mềm mã nguồn mở nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của hoạt động ngân hàng và đầu tư.

Các công ty fintech được chia thành 2 nhóm. Nhóm thứ nhất là các công ty phục vụ người tiêu dùng, cung cấp các công cụ kỹ thuật số để cải thiện cách các cá nhân vay mượn, quản lý tiền bạc, tài trợ vốn cho các startup. Nhóm còn lại là các công ty thuộc dạng “back-office” hỗ trợ công nghệ cho các định chế tài chính.

2. Tại sao fintech là một từ hot?

Fintech có thể tái định hình ngành tài chính, tác động rất mạnh đến các thành phần quan trọng nhất của ngành này. Hiện tại các công ty cho vay P2P (kết nối trực tiếp người đi vay với người cho vay trên Internet) đã hoạt động khá hiệu quả, giúp rút ngắn thời gian phê duyệt các khoản vay từ vài tuần ở các ngân hàng truyền thống xuống chỉ còn vài giờ.

Theo dự đoán của Morgan Stanley, khối lượng các khoản vay trực tuyến ở Mỹ sẽ chạm mốc 120 tỷ USD vào cuối thập kỷ này, so với con số khiêm tốn 20 tỷ USD của năm 2015.

Ở lĩnh vực quản lý đầu tư, những ông lớn như BlackRock và Vanguard có dịch vụ “robot tư vấn” (robo adviser) sử dụng các thuật toán để tự động điều chỉnh danh mục đầu tư tương ứng với mức độ chấp nhận rủi ro của khách hàng. Một số quỹ đầu cơ đang thử nghiệm (và thành công ở nhiều mức độ khác nhau) sử dụng trí thông minh nhân tạo để robot có thể tự học các thuật toán.

Trên thị trường vốn, các startup và kể cả các ông lớn như Goldman Sachs hay thậm chí là NHTW Anh đang thử nghiệm sử dụng các loại tiền ảo (như bitcoin) thay thế cho các phương thức chuyển tiền và tài sản truyền thống.

3. Ai quản lý fintech?

Nhìn chung thì các cơ quan quản lý tài chính trên toàn thế giới chào đón làn sóng fintech bởi nó hứa hẹn sẽ giúp cho các giao dịch tài chính dễ dàng, minh bạch hơn và có chi phí thấp hơn. Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ Janet Yellen nói rằng công nghệ tiền ảo sẽ giúp nâng cấp hệ thống thanh toán quốc tế đã cũ kỹ.

Thống đốc NHTW Anh Mark Carney cũng cho rằng fintech có thể thay đổi cách các ngân hàng, công ty và người dùng chi tiêu, quản lý và tiết kiệm tiền bạc. Tuy nhiên, theo ông các nhà quản lý phải xem xét đến chuyện liệu công nghệ có ảnh hưởng đến tính an toàn và chính xác của hệ thống tài chính hay không.

4. Rủi ro từ fintech?

Dù các công ty fintech cung cấp rất nhiều loại hình dịch vụ tài chính (từ các khoản vay thế chấp trực tuyến đến tất cả các loại tài khoản nghỉ hưu), sự thuận tiện có thể khiến một số khách hàng tham gia những dịch vụ mà họ không thực sự hiểu về các quyền hạn nghĩa vụ của bản thân.

Một số người lo ngại Fintech cũng có thể thay thế các ngân hàng vật lý truyền thống, khiến các hộ gia đình có thu nhập thấp không thể tiếp cận với dịch vụ ngân hàng.

Cổ phiếu của vài công ty fintech ở Mỹ đã tăng mạnh nhưng sau đó lại lao dốc. Tháng 5/2016, LendingClub – công ty P2P có trụ sở ở San Francisco – đã sa thải CEO Renaud Laplanche sau một vụ bê bối. Kết quả là cổ phiếu của nó giảm một nửa giả trị chỉ trong 5 ngày giao dịch.

5. Các nhà quản lý đã làm gì?

Họ đang thực hiện những bước đầu để tìm ra cách bảo vệ người tiêu dùng và hệ thống tài chính mà không làm chậm lại quá trình cải tiến sáng tạo. Tháng 12 năm ngoái, Văn phòng quản lý tiền tệ Mỹ cho biết sẽ bắt đầu ban hành giấy phép cho các công ty fintech đủ điều kiện, như vậy các công ty này sẽ phải tuân theo một số điều khoản trong luật ngân hàng liên bang.

Giới chức Anh thì thực hiện chương trình làm việc với các startup ở giai đoạn đầu để đảm bảo chúng tuân thủ đúng luật lệ.

Tuy nhiên, một số công ty fintech đang cố gắng hạn chế luật lệ và thành lập những nhóm vận động hành lang để mở rộng tầm ảnh hưởng ở Washington.

6. Nhà đầu tư đang đặt cược vào fintech?

Trên toàn thế giới, các công ty đầu tư mạo hiểm đã rót hơn 17 tỷ USD vào các công ty khởi nghiệp fintech trong năm 2016, tăng gấp 6 lần so với 2012. Năm ngoái, Trung Quốc vượt Mỹ trở thành điểm đến nóng nhất cho làn sóng đầu tư vào fintech.

Chỉ ở riêng Singapore cũng có hơn 100 startup hoạt động trong lĩnh vực fintech. Mới chỉ có 1 phần nhỏ lên sàn, vì thế nhà đầu tư dự đoán sẽ có một làn sóng M&A và lên sàn trong thời gian tới trong bối cảnh các ngân hàng săn lùng những công nghệ mà họ có thể sử dụng, đồng thời các công ty startup sẽ đạt được độ trưởng thành.

7. Các ngân hàng lớn có lo lắng trước làn sóng fintech?

Có. Sau khi coi nhẹ các startup này trong giai đoạn đầu, giờ đây các ngân hàng đã chấp nhận thực tế rằng công nghệ sẽ tác động mạnh mẽ, khiến ngành ngân hàng thay đổi một cách căn bản như bao ngành khác.

Tuy nhiên trong khi robot tư vấn và các công nghệ khác có thể giúp ngân hàng phục vụ khách hàng tốt hơn, hàng nghìn nhân viên có thể bị thay thế bằng máy móc. Các ngân hàng, công ty môi giới chứng khoán và những thực thể truyền thống khác cũng l ngại rằng vì bây giờ chúng ta mới bắt đầu xây dựng luật quản lý, các công ty fintech đang có một lợi thế lớn trong cuộc đua giành thị phần.

Do đó một số người lo ngại trong làn sóng công nghệ thay thế những phương thức truyền thống, công việc kinh doanh của nhiều ngân hàng sẽ khó khăn hơn rất nhiều nếu như họ không bắt kịp được với công nghệ.

8. Và các ngân hàng đang làm gì để đối phó với fintech?

Họ đang cố gắng đi trước một bước. Một số ngân hàng sử dụng sức mạnh thương hiệu và công nghệ để tự mình thử nghiệm với fintech. Các phương thức tiếp cận phổ biến ở thung lũng Silicon thường được áp dụng trong trường hợp này. Ví dụ, Barclays đã hỗ trợ 60 startup trong khuôn khổ các chương trình cải tiến ở London, New York, Tel Aviv and Cape Town. Các ngân hàng khác như Citigroup hay Banco Santander SA đã thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm mua cổ phần của các công ty fintech.

Tuy nhiên, rất khó để các ngân hàng lớn tích hợp công nghệ mới vào hệ thống máy tính đã lỗi thời của họ. Do đó các ngân hàng lớn đang tỏ ra khá chậm chạp, dù tiền đầu tư không phải là ít.

Thu Hương

Theo Trí thức trẻ/Bloomberg

—————–&&&————–

“Ba điều dối trá” về tài chính

“Ba điều dối trá” về tài chính

(Tác giả: Gilles Raveaud – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com/)

Sự thật xuất phát từ miệng của các quan chức ngân hàng trung ương. Trong một bài phát biểu vào ngày 21 tháng 9, 2015 Mark Carney, thống đốc hiện nay của Ngân hàng Trung ương Anh, đã nêu bật điều mà ông gọi là “ba điều dối trá” của nền tài chính hiện đại: làm cho người ta tin rằng có thể nợ nần vô hạn mà không rủi ro; nói rằng các thị trường tự cân bằng với nhau; khẳng định rằng các thị trường mang tính đạo đức. Đó quả là một quả bom nổ từ bên kia bờ biển Măng-sơ chống lại những gì được giảng dạy tại Đại học Harvard hoặc được Bruxelles (nơi có trụ sở của EU – ND) hay Bercy (nơi có trụ sở của Bộ tài chính Pháp – ND) lặp đi lặp lại.

Điều dối trá thứ nhất: “Lần này thì khác”

Điều ngạc nhiên là Carney mở đầu bài phát biểu bằng việc ca ngợi chính sách tiền tệ của nước Anh vào những năm 1970 và 1980, được ông đánh giá là “có trách nhiệm về mặt dân chủ” và “có hiệu quả cao” trong cuộc chiến chống lạm phát. Nhưng đó là để ngay lập tức chỉ ra rằng “những đổi mới ấy không mang lại một sự ổn định kinh tế vĩ mô bền vững. Mà còn ngược lại đằng khác”.

Thật vậy, dưới mặt nước yên lặng của sự ổn định giá cả (giá cả hàng hóa và dịch vụ, chứ không phải giá cả tài sản), là sự gầm gừ của con quái vật nợ nần, đã sầm sầm thức dậy vào năm 2008. Nguyên nhân là vấn đề nhân khẩu học, và cả “sự trì trệ về tiền lương thực tế của tầng lớp trung lưu (mà bản thân nó xuất phát từ công nghệ tiên tiến và toàn cầu hóa)”, ngoài ra vấn đề nợ nần cũng được hỗ trợ bởi sự đổi mới tài chính và sự dồi dào của tiền tiết kiệm.

“Các thị trường chỉ tự cân bằng trong sách giáo khoa mà thôi. Trong thực tế, con người là phi duy lý”

Đặc biệt – và chính điều dối trá nằm ở đây, Carney nói – “sự dễ dãi của các cá nhân và các thể chế, được nuôi dưỡng trong một thời gian dài ổn định về kinh tế vĩ mô và gia tăng giá cả các tài sản, đã làm cho người ta tin rằng không nên day dứt về vấn đề nợ nần là điều hợp lý“.

Theo Carney, cho dù không nhất thiết phải theo quan điểm trên, một khi cuộc khủng hoảng đã xảy ra, các nhà hoạch định chính sách “đã nhanh chóng từ bỏ các ý tưởng được phát triển trong thời kỳ Đại điều độ” để “học lại các bài học của thời kỳ Đại suy thoái (1930)”.

Tuy nhiên, ông lo ngại rằng Trung Quốc cũng đang ngồi trên những núi nợ (từ nay đã đạt gần đến 200% GDP)…

Điều dối trá thứ hai: “thị trường luôn ở trạng thái cân bằng” (*)

Đây là huyền thoại trung tâm của kinh tế học đương đại: theo đó, “quy luật” cung cầu, hệ quả không thể tránh khỏi của “sự tự do cạnh tranh“, được coi là để đảm bảo sự cân bằng của lượng cung cầu, và như vậy cho phép sử dụng các nguồn lực sẵn có một cách hiệu quả nhất có thể.

“Các nhà hoạch định chính sách đã bị cuốn hút bởi huyền thoại theo đó nền tài chính có thể tự điều tiết và tự sửa sai”

Như Carney đã nói, “các nhà hoạch định chính sách đã bị cuốn hút bởi huyền thoại theo đó nền tài chính có thể tự điều tiết và tự sửa sai một cách tự nhiên“. Tuy nhiên, ông lưu ý rằng, thay vì hình ảnh yên tâm của sự cân bằng, là sự mất cân bằng trên mọi thị trường, bất luận là thị trường hàng hóa, thị trường lao động hay thị trường tài sản.

John M. Keynes (1883-1946)

Và khi nói rằng các thị trường luôn tự cân bằng được có hai hậu quả nguy hiểm.

Đầu tiên, người ta khó mà phát hiện các hiện tượng bong bóng, bởi vì giá cả được cho là “đúng“, xa rời với sự vận hành thực của các thị trường tài chính (như mô tả của Carney khi viện dẫn trực tiếp đến “cuộc thi sắc đẹp” của Keynes, xem ra một số quan chức ngân hàng trung ương cũng biết đọc sách hay!). Ngoài ra, bất kỳ sự bất ổn nào vì thế được gán cho nguyên nhân biến dạng của thị trường hoặc tính bất toàn của thị trường, dẫn đến việc phải “tạo ra những thị trường mới” để giải quyết tạm thời những thiếu sót của các thị trường cũ – điều mà Carney gọi là “tiến triển mà không ngừng lùi bước“.

“Khi tồn tại sự không hoàn hảo (có nghĩa là luôn luôn tồn tại), thì việc bổ sung thêm các thị trường đôi khi có thể làm cho mọi việc tồi tệ hơn”

Tuy nhiên, Carney nhấn mạnh, “các thị trường chỉ tự cân bằng trong sách giáo khoa mà thôi. Trong thực tế, con người là phi duy lý, các nền kinh tế không hoàn hảo và chính ngay trạng thái của tự nhiên [có nghĩa là tình hình kinh tế thực – BBT] là không thể biết được“. Từ thực tế đó, “khi tồn tại sự không hoàn hảo (có nghĩa là luôn luôn tồn tại), thì việc bổ sung thêm các thị trường đôi khi có thể làm cho mọi việc tồi tệ hơn” – như đã chỉ ra ví dụ về các tín dụng phái sinh, đã làm gia tăng thay vì phân chia rủi ro như đã hứa.

Frank Knight (1885-1972)

Sau đó, Carney phân tích đền thờ kinh tế học, mô hình Arrow-Debreu, mà các giả định của thị trường đầy đủ (có nghĩa là những thị trường có thể dự đoán được mọi trạng thái trong tương lai) là, theo lời của ông, “điều phi lý về mặt mô tả thế giới thực“. Từ bỏ truyền thống tân cổ điển, Carney quay trở lại với Frank Knight và khái niệm “bất trắc” của ông ấy với hệ quả là các cá nhân thực hiện sự lựa chọn của họ theo một “tí chút có vẻ là kiến thc”, bản thân tâm trạng của những người tham gia thị trường cũng bị ảnh hưởng bởi “bản năng động vật” của Keynes.

Điều dối trá thứ ba: “các thị trường mang tính đạo đức”

Tất nhiên, Carney không quên đề cập đến nhiều phẩm chất của thị trường, nguồn gốc của sự thịnh vượng, tăng trưởng và các công cụ quản lý rủi ro. Nhưng, ông lưu ý rằng “nếu để tự bản thân các thị trường vận động, thì chúng có thể có khuynh hướng thái quá và lạm dụng”.

Carney muốn “xây dựng lại các thị trường công bằng và hiệu quả“, mang tính “chuyên nghiệp và cởi mở

Đặc biệt là trường hợp của các thị trường tài chính, nơi mà “các giá trị trở nên trừu tượng và tương đối” và “đám đông có thể lấn át sự chính trực của cá nhân”. Để vận hành, các thị trường cần có “sự đồng thuận của xã hội“; tuy nhiên, sự đồng thuận này bị đặt lại vấn đề bởi những vụ bê bối gần đây (Libor, Forex, vv).

Để khôi phục lại niềm tin này, Carney muốn “xây dựng lại các thị trường công bằng và hiệu quả“, mang tính “chuyên nghiệp và cởi mở“, chứ không phải “những thị trường phi chính thức và vận hành như các câu lạc bộ”. Tuy nhiên, điều này giả định rằng “tất cả các tác nhân của thị trường, công cũng như tư, phải hiểu được trách nhiệm của mình đối với hệ thống trong một thể thống nhất”.

Một vài điều dối trá thật

Đối với Carney, ngày nay người ta dễ chống lại những điều dối trá nói trên hơn là trong quá khứ.

Để đáp lại điều dối trá đầu tiên (khẳng định những thành công của sự đổi mới tài chính), ông cho rằng Ngân hàng Trung ương Anh có những “quyền hạn rất lớn” để thúc đẩy sự ổn định tài chính. Ngân hàng Trung ương Anh đã yêu cầu tăng mức vốn của các ngân hàng và thắt chặt các điều kiện cung cấp các tín dụng bất động sản. Như vậy, hiện tượng “quá lớn để sụp đổ” (nghĩa vụ hỗ trợ các định chế tài chính lớn đang gặp khó khăn, bằng tiền của người nộp thuế) phải giảm, nhờ việc loại bỏ các khoản trợ cấp công tiềm ẩn và hoạt động cạnh tranh ngày càng gia tăng.

Carney kêu gọi sự nâng cao trách nhiệm của các cá nhân và doanh nghiệp, và áp dụng các hình phạt nặng hơn đối với những người gian lận

Đối với điều dối trá thứ hai (về khả năng tự cân bằng của các thị trường), người ta đã tiến hành nhiều chính sách cải cách để gỡ rối các sản phẩm phái sinh phức tạp, và từ nay Ngân hàng (Trung ương) đã sẵn sàng để hành động như là “người làm nên thị trường cuối cùng” trong trường hợp cần thiết.

Để đáp lại điều dối trá thứ ba (chiều kích mạo xưng về tính đạo đức của các thị trường), Carney cho rằng những thay đổi đã diễn ra trong các chính sách tiền lương và đãi ngộ, hoặc trong việc làm rõ trách nhiệm của các nhà lãnh đạo.

Tuy nhiên, ông lưu ý, “cần phải làm nhiều hơn nữa” (phew!).

Và Carney kêu gọi sự nâng cao trách nhiệm của các cá nhân và doanh nghiệp, và áp dụng các hình phạt nặng hơn đối với những người gian lận.

Hơn nữa, để cuộc tranh luận được tiếp diễn, Ngân hàng (Trung ương) Anh đã tổ chức một diễn đàn, nơi mà mọi người có thể gửi các đề xuất cải cách của mình để xây dựng những thị trường “xứng đáng để xã hội chấp nhận và làm củng cố vốn xã hội”.

Trọng lượng của niềm tin

Jean-Claude Trichet (1942-)

Đọc xong bài phát biểu của Mark Carney, người ta kinh ngạc trước những phê phán đối với những gì đang được giảng dạy tại các trường đại học “tốt nhất” thế giới, hay đối với các nguyên tắc hướng dẫn chính các cơ sở nền tảng của Liên minh châu Âu. Đọc bài phát biểu của một thống đốc ngân hàng trung ương, được viết dựa trên một cách đọc cấp tiến về Keynes hay về Knight và cho rằng mô hình Arrow-Debreu là phi lý, khác xa với diễn ngôn của Jean-Claude Trichet (nguyên Thống đốc ECB – ND) và sự “giảm phát cạnh tranh” mang tính tàn phá của ông ấy…

Tuy nhiên, chúng ta sẽ ít bị thuyết phục bởi những thay đổi trong chính sách điều tiết về tài chính kể từ khi cuộc khủng hoảng nổ ra vào năm 2008. Để khôi phục lại nền tài chính và rút ra những kết luận về mặt kinh tế chính trị từ những cách đọc lành mạnh được viện dẫn ở trên, chúng ta sẽ cần một sự thay đổi về chính trị và trí tuệ với cường độ lớn, một điều không dễ diễn ra.

GILLES RAVEAUD

Phó giáo sư về kinh tế tại Đại học Paris 8 Saint-Denis

Gilles Raveaud

Gilles Raveaud là Phó giáo sư về kinh tế tại Viện Nghiên cứu Châu Âu thuộc Đại học Paris 8 Saint-Denis. Ông là tác giả của cuốn La dispute des économistesSự tranh cãi của các nhà kinh tế học (NXB Le Bord de l’eau, 2013) và đóng góp vào các tác phẩm Petit bréviaire des idées reçues en économieSách gối đầu giường về những ý tưởng trong kinh tế học (NXB La Découverte, 2004) và Douze économistes contre le projet de constitution européenneMười hai nhà kinh tế học chống lại dự thảo Hiến pháp châu Âu(NXB L’Harmattan, 2005). Ông làm hậu tiến sĩ tại Đại học Harvard (Mỹ) từ năm 2005 đến năm 2007.

Ông là thành viên hội đồng quản trị của Hiệp hội Kinh tế học Chính trị của Pháp (AFEP), nơi ông đặc biệt phụ trách các vấn đề về giảng dạy, và là thành viên ban biên tập của tạp chí L’Économie Politique (Kinh tế Chính trị).

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: Les “trois mensonges” de la finance, Altereco Plus, 28/09/2015


Ghi chú: (*) Các mô hình CAPM và APT đều yêu cầu giả thiết thị trường cân bằng.

—————&&&————-

Bộ ba bất khả thi là gì?

Bộ ba bất khả thi

(Nguồn: https://vi.wikipedia.org)

Bộ ba bất khả thi

Theo lý thuyết bộ ba bất khả thi, ba chính sách gồm tự do dòng vốn (free capital flow), tỷ giá hối đoái cố định (fixed exchange rate) và chính sách tiền tệ độc lập (sovereign monetary policy) không thể thực hiện được đồng thời.

 

Ở các quốc gia khác nhau, bộ ba bất khả thi sẽ được thể hiện dưới dạng thức cụ thể khác nhau nhưng về bản chất là không thay đổi như sau:

  1. Tỷ giá thể hiện ở: dự trữ ngoại tệ, cán cân thanh toán…
  2. Tự do lưu chuyển vốn được thể hiện ở: tăng trưởng GDP, đầu tư nước ngoài, nhập siêu, tài khóa ngân sách công, nợ nước ngoài…
  3. Chính sách tiền tệ độc lập thể hiện ở: lạm phát, lãi suất,…

 

Trong kinh tế học, bộ ba bất khả thi (còn gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời hoặc tam nan kinh tế, tiếng Anh: impossible trinity) chỉ một giả thuyết kinh tế cho rằng không thể thực hiện đồng thời ba chính sách gồm chế độ tỷ giá hối đoái cố định, chính sách tiền tệ độc lập để ổn định giá cả và tự dolưu chuyển vốn. Chỉ có thể thực hiện đồng thời hai trong ba chính sách này mà thôi. Thuật ngữ này còn dùng để chỉ tình thế kinh tế dễ đổ vỡ khi mà một quốc gia cố tình thi hành ba chính sách trên cùng lúc.

Các lý luận kinh tế như sơ đồ DD-AA hay mô hình Mundell-Fleming đều chỉ ra quan hệ giữa chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái với giả định là vốn được tự do lưu chuyển qua biên giới quốc gia. Khi ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng thì tỷ giá hối đoái sẽ tăng lên, khi thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt thì tỷ giá giảm đi. Như thế, nếu thực hiện một chế độ tỷ giá cố định, thì chính sách tiền tệ không thể thay đổi linh hoạt được.

Giả sử một nước cố gắng thực hiện cả ba chính sách trên đồng thời. Khi kinh tế tăng trưởng nhanh, vốn nước ngoài sẽ chảy vào trong nước gây ra áp lực tăng giá nội tệ. Khi đó, ngân hàng trung ương muốn bảo vệ chế độ tỷ giá cố định thì phải thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng. Song điều này có thể làm tăng lượng cung tiền trong lưu thông dẫn đến tăng tốc lạm phát. Muốn lạm phát không tăng tốc, thì phải thực hiện chính sách thanh khoản đối ứng. Song như thế thì vốn nước ngoài càng chảy vào nhiều.

Đầu thập niên 1990, một số nước châu Á đã cố gắng thực hiện đồng thời ba chính sách và hậu quả là rơi vào khủng hoảng.

Bộ đôi

Với sự tăng trưởng hàng hóa và dịch vụ và nhịp độ đổi mới tài chính nhanh như hiện nay, các kiểm soát đối với vốn thường sẽ bị qua mặt. Hơn nữa, việc kiểm soát dòng vốn cũng gây ra vô số méo mó trong thị trường. Trên thế giới thực tế hiện chỉ có một số rất ít quốc gia quan trọng sở hữu một hệ thống kiểm soát dòng vốn có hiệu quả. Lý thuyết bộ ba bất khả thi trong tình trạng thiếu kiểm soát hiệu quả đối với dòng vốn hàm ý rằng một quốc gia phải lựa chọn thực thi một trong hai chính sách: ổn định đồng tiền hoặc duy trì ổn định chính sách tiền tệ.

“Điểm mấu chốt là bạn không thể có tất cả được: một quốc gia phải chọn hai trong ba. Họ có thể cố định tỷ giá hối đoái mà không làm yếu ngân hàng trung ương nhưng chỉ làm được khi nào duy trì kiểm soát dòng vốn (như Trung Quốc hiện nay); họ cũng có thể để vốn lưu chuyển tự do song phải giữ được chính sách tiền tệ độc lập, nhưng chỉ có thể làm được nếu để tỷ giá hối đoái biến động (như Anh Quốc hoặc Canada); hoặc quốc gia đó cũng có thể chọn cách để vốn lưu chuyển tự do và ổn định tiền tệ, song chỉ làm được nếu từ bỏ khả năng điều chỉnh lãi suất để đối phó lạm phát hoặc suy thoái (như Argentina hiện nay).”[1]

— Paul Krugman, 1999


Đây là bộ ba khiến nhiều nước lao đao

(Nguồn: http://cafef.vn)

Một quốc gia buộc phải chọn lựa giữa dòng vốn có thể tự do di chuyển, tỷ giá nằm trong tầm tay quản lý và một chính sách tiền tệ độc lập. Ba điều này không thể xảy ra cùng một lúc mà chỉ có 2 điều có thể đi đôi với nhau.

Trước khi đồng tiền chung châu Âu euro ra đời năm 1999, các thành viên đã neo đồng nội tệ của mình vào đồng mark Đức. Kết quả là họ buộc phải nương vào chính sách tiền tệ của NHTW Đức để điều chỉnh chính sách của riêng mình. Một số nước dễ dàng làm được điều này bởi vì có các ngành kinh tế gắn bó chặt chẽ với Đức và như vậy mối quan hệ giữa hai bên là “nước nổi thuyền nổi’.

Tuy nhiên, có một số nước không thể duy trì chính sách tiền tệ như vậy. Năm 1992, Anh buộc phải “nhổ neo” vì nền kinh tế Anh đang rơi vào suy thoái trong khi kinh tế Đức bùng nổ.

Ngày nay, đồng nhân dân tệ của Trung Quốc cũng đang ở trong thế tiến thoái lưỡng nan. Trung Quốc muốn mở cửa hoàn toàn cán cân vốn để tạo ra một hệ thống tài chính hiện đại trong đó các lực đẩy của thị trường đóng vai trò quyết định thay vì mệnh lệnh của NHTW. Mùa hè năm ngoái, Trung Quốc đã có những bước đi nhỏ trên hành trình này. Tuy nhiên, thả nổi tỷ giá trong thời buổi kinh tế trì trệ không phải là một ý hay, làm dấy lên nỗi lo đồng nhân dân tệ sẽ rớt giá thảm hại. Sau cú sốc mùa hè năm ngoái, Trung Quốc lại thắt chặt kiểm soát dòng chảy của vốn.

Tình huống mà Anh và Trung Quốc gặp phải chính là hệ quả của bộ ba chính sách không thể đồng hành cùng nhau trong điều hành kinh tế vĩ mô, hay còn gọi là bộ ba bất khả thi. Theo đó, một quốc gia buộc phải chọn lựa giữa dòng vốn có thể tự do di chuyển, tỷ giá nằm trong tầm tay quản lý và một chính sách tiền tệ độc lập. Ba điều này không thể xảy ra cùng một lúc mà chỉ có 2 điều có thể đi đôi với nhau.

Ví dụ, một quốc gia muốn cố định tỷ giá và cũng muốn lãi suất không bị môi trường bên ngoài tác động thì sẽ phải kiểm soát dòng chảy vào và ra của vốn. Đó chính là bộ ba bất khả thi trong trường hợp của Trung Quốc. Trong trường hợp của Anh, nếu tỷ giá cố định nhưng vốn được tự do di chuyển, quốc gia đó không thể có chính sách tiền tệ độc lập. Và nếu một quốc gia chọn dòng vốn tự do nhưng cũng muốn tự chủ về chính sách tiền tệ, họ phải thả nổi đồng nội tệ. Đây cũng là mô hình được nhiều nước trên thế giới lựa chọn.

Để hiểu sâu hơn về bộ ba bất khả thi, hãy hình dung về một quốc gia có tỷ giá cố định neo vào đồng USD và mở cửa hoàn toàn đối với dòng vốn ngoại. Để giảm lạm phát, NHTW sẽ phải để lãi suất ở mức cao hơn so với lãi suất cơ bản mà Cục dự trữ liên bang Mỹ đưa ra. Vì dòng vốn tự do chảy từ nơi có lãi suất thấp đến nơi có lãi suất cao, dòng vốn sẽ ồ ạt đổ vào đây, gây áp lực tăng giá lên đồng nội tệ. Cuối cùng thì quốc gia đó không thể neo đồng nội tệ vào USD được nữa.

Nhiều nước thuộc nhóm mới nổi cho rằng đồng USD là một cái mỏ neo ổn định và do đó chính sách tỷ giá cố định bám vào đồng USD sẽ đem lại nhiều tác dụng. Đó cũng chính là lý do khiến Anh neo đồng bảng vào đồng D-mark trong những năm 1990. Cái giá phải trả là mất tự do về tiền tệ: phải điều chỉnh lãi suất sao cho vẫn giữ được mức tỷ giá cố định và các nước này cũng không thể điều chỉnh chính sách linh hoạt để ổn định nền kinh tế.

Vì vậy các quốc gia thường được khuyên là nên thả nổi đồng tiền khi muốn duy trì lạm phát ở mức thấp. Khi đó đồng tiền được điều chỉnh theo dòng chảy của vốn, cho phép lãi suất phản ứng tốt nhất với các chu kỳ của nền kinh tế.

Trên thực tế, nhiều nước mới nổi rất lo sợ tỷ giá biến động quá mạnh, do vậy họ chọn cách hi sinh dòng vốn (bằng cách kiểm soát chặt cán cân vốn hoặc tăng giảm dự trữ ngoại hối) hoặc hi sinh chính sách tiền tệ (bằng cách đặt yếu tố ổn định tỷ giá lên hàng đầu).

Trung Quốc muốn cuối cùng thì cán cân vốn sẽ tự do hoàn toàn, đánh dấu một cột mốc quan trọng trên con đường tiến tới một hệ thống tài chính hiện tại. Để làm được như vậy, Trung Quốc sẽ phải chung sống với đồng nhân dân tệ tăng giảm thất thường theo các lực đẩy của thị trường. Đạt được cả ba là không thể, nhưng 2/3 cũng không phải là một điều tồi tệ quá sức chịu đựng.

Thu Hương

Theo Trí thức trẻ/Economist

————-&&&————-

Tiền mặt thực tế (Real cash balances)

Tiền mặt thực tế (Real cash balances)

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Khi những người nắm giữ tiền không bị ảo giác tiền tệ thì họ xác định cầu tiền mặt của họ trên cơ sở giá trị thực tế của tiền tệ (M/P). Những biến thiên của giá trị thực tế của tiền mặt bắt nguồn từ một biến thiên của lượng danh nghĩa tiền tệ (M), biến thiên của mức giá (P), hay từ cả hai loại biến thiên này. Dưới một số điều kiện, những biến thiên này có thể làm thay đổi những đại lượng thực tế như tiêu dùng hay việc làm, được gọi là hiệu ứng tiền mặt thực tế. Ví dụ, trước một gia tăng của mức giá chung làm giảm giá trị thực tế của tiền mặt thì những cá thể có thể muốn tái lập tiền mặt thực tế bằng cách giảm tiêu dùng (hay, ngược lại, gia tăng tiêu dùng tiếp sau một sụt giảm của mức giá chung làm tăng giá trị của tiền mặt của họ). Như vậy hiệu ứng tiền mặt thực tế là một cơ chế hợp nhất lĩnh vực thực tế và lĩnh vực tiền tệ, cơ chế này được thêm vào hay thay thế cho việc hợp nhất bằng lãi suất, và được các tác giả tân cổ điển hậu walrasian ưu tiên.

Knut Wicksell (1851-1926)
Irving Fisher (1867-1947)

Được K. Wicksell nêu lên ngay từ năm 1898, ta gặp lại hiệu ứng thực tế cũng vào thời kì đó ở I. Fisher (1911) và A. C. Pigou ngay từ bài viết đầu tiên của ông năm 1917, “The value of money”. Pigou sẽ dùng khái niệm này trong những cuộc tranh luận về những phương thức thoát ra khỏi khủng hoảng, diễn ra sau khi Lí thuyết tổng quát của Keynes được công bố, và chỉ ra rằng có một lực nội sinh loại bỏ thất nghiệp (1943, 1947), do đó đôi lúc hiệu ứng này còn được gọi là“hiệu ứng Pigou”. Tuy nhiên phải đợi đếnPatinkin (1956, 1965) thì hiệu ứng này mới được tôn vinh khi ông làm rõ những khiá cạnh phân tích vi mô lẫn vĩ mô của hiệu ứng tiền mặt thực tế. Trong kinh tế học vi mô, vấn đề là đưa tiền mặt thực tế vào như một agumen của hàm lợi ích của người tiêu dùng. Tối đa hoá lợi ích dưới ràng buộc thu nhập cho thấy là cầu sản phẩm tiêu dùng cầu tiền mặt phụ thuộc vào giá trị của tiền mặt thực tế ban đầu. Trong so sánh tĩnh, một gia tăng của giá trị thực tế của tiền mặt ban đầu của một tác nhân làm tăng cầu sản phẩm và cầu tiền tệ của tác nhân ấy. Trong một cái nhìn cân bằng chung, những thay đổi của cầu phái sinh từ những biến thiên của giá trị thực tế của tiền mặt làm thay đổi việc xác định những cân bằng trên những thị trường và do đó làm thay đổi hệ thống những giá tương đối. Đóng góp của Patinkin là đã nhấn mạnh là hiệu ứng tiền mặt thực tế phát huy tác dụng trên thị trường tiền tệ cũng như trên thị trường sản phẩm, điều mà cả Wicksell, Fisher lẫn Pigou đã không cảm nhận, vì các tác giả này đều thừa nhận rằng cầu tiền mặt thực tế độc lập với những biến thiên của giá cả (hay cầu tiền tệ danh nghĩa có một độ co dãn bằng một đối với sức mua sức mua của đồng tiền, 1/P). Trong kinh tế học vĩ mô, vấn đề chính là đưa tiền mặt thực tế vào trong số những biến giải thích của hàm tiêu dùng (hay tiết kiệm), đạo hàm riêng của hàm này là dương (âm trong trường hợp hàm tiết kiệm):

C = f(…, M/P, …); df/d(M/P) > 0.

S = g(…, M/P, …); dg/d(M/P) < 0.

Cũng còn có thể đưa tiền mặt thực tế vào trong một hàm sản xuất tổng thể bên cạnh nhân tố tư bản K và nhân tố lao động L, với một đạo hàm riêng đối với tiền mặt thực tế là dương (Y= F(K, L, M/P); dF/d(M/P) > 0).

Có nhiều kiểm định kinh trắc của những hàm tổng thể này có tiền mặt thực tế, nhưng từ đó khó mà rút ra được một kết luận dứt khoát về hiệu lực thực nghiệm của hiệu ứng tiền mặt thực tế.

Don Patinkin (1922-1995)

Thật ra hiệu ứng này bị điều kiện hoá bởi phản ứng của các cá thể trước một biến thiên của giá trị thực tế của tiền mặt của họ. Sự không có ảo giác tiền tệ được Pigou nhấn mạnh, cũng như việc không có những dự kiến cộng dồn về những biến thiên của giá cả khả dĩ gây nên những hành vi “chạy trốn tiền tệ” (trường hợp siêu lạm phát), là những điều kiện cần cho sự hoàn thành của hiệu ứng. Khi hội đủ những điều kiện này, lí thuyết cầu tiền tệ giải thích vì sao những cá thể xem mức tiền mặt thực tế của họ có thể là không thích hợp và mang mất cân bằng này sang thị trường sản phẩm và dịch vụ. Đối với một số tác giả, như Wicksell hay Fisher, ưu tiên cho khiá cạnh trung gian những cuộc trao đổi của tiền tệ thì các cá thể duy trì một tỉ lệ nhất định giữa cầu tiền mặt thực tế của họ và chi tiêu sản phẩm vì, như Fisher viết, theo kinh nghiệm, sự “tiện dụng” trong giao dịch, hay vì những động cơ duy lí hơn như phân tích những cơ sở kinh tế vi mô của cầu tiền tệ cho thấy – điều này khuyến khích gọi hiệu ứng tiền mặt thực tế là “hiệu ứng thanh khoản”. Đối với một số tác giả khác, như Patinkin, ưu tiên cho một cách tiếp cận di sản về cầu tiền tệ hơn là một cách tiếp cận giao dịch thì giá trị thực tế của tiền mặt tham gia, hoặc một phần (quan điểm của Gurley và Shaw về tiền tệ bên ngoài) hoặc toàn bộ (quan điểm của Pesek và Saving), vào việc xác định giá trị của di sản. Từ đó, chính việc trở thành giàu hay nghèo hơn tiếp sau một biến thiên của tiền mặt thực tế mới khiến các tác nhân thay đổi cầu của họ – điều này khuyến khích gọi hiệu ứng tiền mặt thực tế là “hiệu ứng của cải”. Cho dù có chọn cách tiếp cận nào đi nữa thì cơ chế hợp nhất lĩnh vực thực tế và tiền tệ cũng như những hệ quả là giống nhau.

Những hệ quả này không phải là nhỏ vì việc tính đến hiệu ứng tiền mặt thực tế không dẫn đến gì khác hơn là vượt qua hai cách nhìn lớn về hoạt động kinh tế, tức là cách nhìn của lí thuyết keynesian và cách nhìn của lí thuyết walrasian. Đối với Keynes, cân bằng toàn bộ của thiểu dụng lao động là lâu dài vì không có lực nội sinh nào khả dĩ loại bỏ được thất nghiệp; Pigou là người đầu tiên chỉ rằng hiệu ứng tiền mặt thực tế có thể là một lực như thế. Nếu cuộc khủng hoảng do thiếu tổng cầu đi cùng với một sụt giảm của mức giá chung thì giá trị thực tế của tiền mặt danh nghĩa tăng, điều này làm tăng tổng cầu và có xu hướng loại bỏ thất nghiệp keynesian. Lập luận này, với những được thua hiển nhiên về mặt chính sách kinh tế, đã khơi lên lại cuộc tranh luận kinh tế vĩ mô giữa những nhà keynesian và những nhà tân cổ điển mà thành công của “lí thuyết tổng quát” đã che giấu đi. Hiệu ứng tiền mặt thực tế hiện ra trong cuộc tranh luận này như một cơ chế cân bằng lại nền kinh tế và đặt thành vấn đề tính dai dẳng của thất nghiệp keynesian. Nó cũng đặt lại vấn đề sự phân đôi khu vực thực tế và khu vực tiền tệ của lí thuyết walrasian. Đối với Walras, một biến thiên của mức giá chung, được giải thích bằng lí thuyết định lượng, không ảnh hưởng đến những đại lượng thực tế và không làm thay đổi vị thế ban đầu của cân bằng chung. Đó là vì những hàm cầu sản phẩm chỉ phụ thuộc vào những giá tương đối, và những giá này không bị tác động bởi biến thiên của mức giá chung (tiên đề tính thuần nhất). Tính trung lập này của tiền tệ bị hiệu ứng tiền mặt thực tế đánh bật: việc đưa tiền mặt thực tế vào trong những hàm cầu sản phẩm, theo kiểu Patinkin, loại bỏ tiên đề tính thuần nhất và sự phân đôi thực tế-tiền tệ. Một biến thiên của mức giá chung ảnh hưởng đến giá trị thực tế của tiền mặt, do đó ảnh hưởng đến những cầu sản phẩm và cuối cùng đến hệ thống những giá tương đối. Nói cách khác, tiền tệ là không trung lập, ngày nào còn có hiệu ứng tiền mặt thực tế, và hiệu ứng này còn phát huy tác dụng khi còn có một mất cân bằng giữa cung và cầu tiền mặt thực tế. Bằng cách phát huy tác dụng, kể cả trên thị trường tiền tệ, hiệu ứng tiền mặt thực tế tạo điều kiện dễ dàng cho việc đạt đến một vị thế cân bằng mới và hơn thế nữa còn đảm bảo cho tính ổn định của cân bằng này. Chỉ có trong vị thế mới này mới tìm lại được mối quan hệ tỉ lệ của lí thuyết định lượng giữa tiền tệ và giá cả và tiền tệ mới bị trung hoà. Cơ chế chủ yếu của hợp nhất cái thực tế và cái tiền tệ, hiệu ứng tiền mặt thực tế phá vỡ sự phân đôi walrasian và tính trung lập của tiền tệ trước khi trở thành công cụ của một cách kiến giải lại có giới hạn (vì phụ thuộc vào cân bằng) lí thuyết định lượng.

▶ FISHER I., The Purchasing Power of Money, New York, A. M. Kelley, 1911. –GURLEY J. & SHAW F., Banking in the Theory of Finance, Washington, The Brooking Institutions, 1960. – PATINKIN D., La monnaie, lintérêt et les prix, trad. fr., Paris, PUF, 1972. – PESEK & SAVING T., Money, Weath and Economic Theory, London, Macmillan, 1967. – PIGOU A. C.,“The Value of Money”, QJE, 1917; “The Classical Stationary State”, EJ, 1943;“Economic Process in a Stable Environment”, Economica, 1947. –WICKSELL K., Interest and Prices (1896), trad. angl., London, Macmillan, 1936.

Gérard BRAMOUILLÉ

Giáo sư đại học Aix-Marseille 3

Nguyễn Đôn Phước dịch

® Ảo giác tiền tệ; Di sản; Giá cả và cấu trúc thị trường; Học thuyết Keynes; Lãi suất; Tiền tệ.

Nguồn: Dictionnaire des sciences économiques, sous la direction de Claude Jessua, Christian Labrousse, Daniel Vitry, PUF, Paris, 2001

————-&&&————-

Asset risk weighting

Asset risk weighting

(Tác giả: Lê Hồng Giang – Nguồn: http://kinhtetaichinh.blogspot.com)

Bài này đã được đăng trên TBKTSG gần đây:

Ngân hàng trung ương truyền thống có hai nhiệm vụ chính: điều hành chính sách tiền tệ quốc gia và đảm bảo an toàn/ổn định cho hệ thống tài chính. Mặc dù sách giáo khoa kinh tế thường nói chính sách tiền tệ được thực hiện thông qua việc thay đổi (tốc độ) cung tiền cho nền kinh tế, trên thực tế hầu hết các ngân hàng trung ương đều sử dụng công cụ lãi suất (và tỷ giá) bằng cách bơm/rút thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng (qua OMO) hay các mệnh lệnh hành chính ấn định trần/sàn của lãi suất/tỷ giá hoặc tăng trưởng tín dụng. Nới lỏng định lượng (QE) là một công cụ mới mà Nhật bản sử dụng hơn chục năm nay và nhiều nước phát triển đã học tập sau cuộc khủng hoảng tài chính 2007/2009 vừa rồi.

Đối với nhiệm vụ đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính, các ngân hàng trung ương có hai công cụ truyền thống. Thứ nhất là thực hiện chức năng người cho vay cuối cùng cho các tổ chức tài chính. Trước đây chủ yếu thông qua cho vay tái chiết khấu (discount window/refinancing loans), sau cuộc khủng hoảng vừa rồi một số công cụ mới xuất hiện xoay quanh nguyên tắc hoán đổi một loại tài sản có nào đó của ngân hàng lấy thanh khoản (asset swaps). Công cụ thứ hai quan trọng hơn và càng ngày càng được mở rộng là hoạt động giám sát tính cẩn trọng (prudential supervision) của hệ thống ngân hàng. Đã có nhiều nỗ lực quốc tế nhằm thống nhất và chuẩn hoá các qui định giám sát này, cụ thể là các nguyên tắc an toàn vốn do Basel Committee đưa ra và được các tổ chức quốc tế như BIS, IMF, OECD khuyến cáo/yêu cầu các quốc gia áp dụng. Nhiều thước đo an toàn khác như tỷ lệ dự trữ tối thiểu (RRR), tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay dài hạn, tỷ lệ cổ phiếu sở hữu chéo… cũng nằm trong nhóm công cụ thứ hai này.

Hiện tại NHNN đang hướng tới việc áp dụng chuẩn Basel II cho hệ thống ngân hàng VN mà một trong những nguyên tắc chính là giám sát tỷ lệ vốn tối thiểu (CAR) dựa trên mức độ rủi ro của các loại tài sản có của các ngân hàng. Quyết định sửa đổi thông tư 36 vừa rồi tăng hệ số rủi ro cho các khoản cho vay kinh doanh bất động sản từ 150% lên 200% thoạt nhìn cũng liên quan đến công cụ thứ hai của NHNN trong khuôn khổ Basel II, nhưng về bản chất không phải vậy. Thực chất tăng hệ số rủi ro của bất kỳ một tài sản có nào lên trên 100% là không cần thiết cho mục tiêu an toàn mà là một hình thức can thiệp vào cấu thành bản cân đối tài sản của các ngân hàng, dù gián tiếp có ảnh hưởng đến mức độ an toàn hệ thống nhưng hiện tại được liệt kê vào một nhóm công cụ thứ ba mà tôi sẽ bàn thêm bên dưới.

Khuyến cáo của BIS cho các nước sử dụng hệ số rủi ro cho vay nhà ở khi tính CAR khoảng 35%, thậm chí một số phân tích gần đây còn gợi ý có thể giảm xuống 25%. Ngay cả ở Úc, nơi hầu hết các nhà kinh tế cho rằng giá bất động sản bị bong bóng nhiều năm nay và có khả năng sụp đổ, cơ quan giám sát tài chính (APRA) cũng chỉ khuyến cáo các ngân hàng sử dụng hệ số 35% và không bắt buộc. Đối với bất động sản thương mại hoặc các khoản cho vay liên quan đến các dự án bất động sản có rất ít hoặc không có thế chấp, hệ số rủi ro có thể từ 75% đến 100%. Sở dĩ hệ số rủi ro tối đa là 100% vì thực ra con số này chỉ là tương đối, số vốn điều lệ cần thiết để làm bộ đệm (cushion) cho rủi ro không thu được hồi nợ còn phải tính đến CAR. Nếu ngân hàng trung ương muốn tăng mức độ an toàn của toàn hệ thống, nâng CAR lên đơn giản và hiệu quả hơn nhiều so với việc so đo hệ số rủi ro của hàng trăm/hàng nghìn loại tài sản có trên bản cân đối tài chính.

Trở lại vấn đề sửa đổi thông tư 36, ngay cả hệ số rủi ro 150% trước đây cũng đã vượt quá khuôn khổ chống rủi ro của Basel. Không một khoản cho vay nào dù rủi ro đến đâu cũng có thể mất hơn 100% tổng số tiền cho vay. Có thể hiểu phần vượt trội trên 100% là một loại thuế ngầm đánh lên tín dụng bất động sản nhằm giảm nhiệt tốc độ tăng trưởng tín dụng trong lĩnh vực này mà mấy năm nay luôn cao hơn tốc độ tăng trung bình của tổng tín dụng. Việc điều tiết chính sách giám sát để thay đổi cơ cấu tài sản của bảng cân đối tài sản đã được giới kinh tế tranh luận vài chục năm nay và trở nên nóng lại sau cuộc khủng hoảng tài chính vừa rồi. Trong Basel III một phần ý tưởng này đã được đưa vào một cách không chính thức dưới tên gọi giám sát cẩn trọng vĩ mô (macro prudential supervision), có thể coi là một nhóm công cụ thứ ba của ngân hàng trung ương trong nhiệm vụ bảo đảm an toàn hệ thống. Các hình thức giám sát cẩn trọng truyền thống (CAR, RRR,…) được coi là micro prudential.

Ở tầm mức vĩ mô ngân hàng trung ương giám sát (và điều chỉnh) những chỉ số vĩ mô của toàn bộ hệ thống, ví dụ tốc độ tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ cho vay bất động sản, tốc độ tăng giá bất động sản/chứng khoán… Tuy nhiên quan điểm này không được sự đồng thuận của giới kinh tế học, vẫn có nhiều ý kiến cho rằng ngân hàng trung ương chỉ nên tập trung vào micro prodential supervision. Bởi vậy Basel III đưa ra một điểm mới trong giám sát cẩn trọng vĩ mô là các ngân hàng trung ương khoanh vùng một số tổ chức tài chính lớn mà nếu chỉ một trong số đó đổ vỡ có thể gây ra phản ứng dây chuyền. Những tổ chức tài chính này được gọi là tổ chức có tính quan trọng hệ thống (systemically important institution – SII) và phải chịu thêm một số chế tài nhất định. Ngoài việc phải duy trì những chỉ số an toàn như CAR cao hơn các tổ chức tài chính khác, SII còn phải thực hiện thêm hai biện pháp chống rủi ro nữa là kiểm tra sức chịu đựng (stress test) và có kế hoạch giải thể dự phòng (living will) nếu lâm vào tình trạng phá sản.

Như vậy có thể thấy xu hướng giám sát hệ thống tài chính của các ngân hàng trung ương tiên tiến đang hướng đến một số biện pháp vĩ mô nhưng tập trung vào một số SII chứ không dàn trải. Cụ thể trong trường hợp cho vay bất động sản, dư nợ của khu vực này có thể có rủi ro cao nhưng chắc chắn không đồng đều với tất cả các ngân hàng. Hiện tại dư nợ liên quan đến bất động sản của VN chỉ xấp xỉ trên 10% tổng dư nợ toàn bộ hệ thống, thấp hơn nhiều so với khoảng 60% của Úc hay 30% của Mỹ. Cho nên nâng hệ số rủi ro gấp đôi trần 100% nhằm giảm nhiệt của toàn bộ hệ thống chưa chắc đã là tối ưu. Trong khi một số ngân hàng có thể có nợ xấu bất động sản quá cao nên cần kìm hãm, nhiều ngân hàng khác vẫn còn dư địa cho vay một cách an toàn nên sẽ bị ảnh hưởng xấu bởi một chính sách cứng nhắc. Nền kinh tế và người dân có thể sẽ bị thiệt hại vì thị trường bất động sản không phát triển đúng tiềm năng chỉ vì NHNN không phân biệt được tín dụng tốt với tín dụng xấu.

Tóm lại “đánh thuế ngầm” lên tín dụng bất động sản không nhất thiết là một chính sách sai nhưng có thể NHNN chưa tính toán kỹ. Thay vì coi tín dụng bất động sản là một rủi ro lớn nên phải áp hệ số rủi ro lên đến 200%, NHNN cần xác định đâu là những điểm yếu trong toàn hệ thống và có biện pháp xử lý chúng. Ví dụ NHNN có thể thực hiện stress test cho một nhóm các ngân hàng có dư nợ tín dụng bất động sản cao nhằm tìm ra CAR phù hợp. Cần đặt macro prudential policy vào đúng vị trí của nó, tránh nhầm lẫn với các chính sách khác, nhất là chính sách tiền tệ.

———&&———

Liệu biện pháp ‘tiền trực thăng’ có hiệu quả?

Liệu biện pháp ‘tiền trực thăng’ có hiệu quả?

(Nguồn: http://nghiencuuquocte.org)

Nguồn:Why central banks are talking about throwing money from helicopters“, The Economist, 01/05/2016.

Biên dịch: Lê Thị Hồng Loan | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Các ngân hàng trung ương đã có những nỗ lực khác thường để khiến nền kinh tế đang sụt giảm của họ tăng trưởng một lần nữa: cắt giảm lãi suất về không (và xuống dưới cả mức đó) và mua một lượng lớn các khoản trái phiếu chính phủ. Tuy nhiên, khi các nước giàu tiếp tục vật lộn trong một thế giới lạm phát thấp và tăng trưởng yếu, bất chấp lãi suất chạm đáy, một đề xuất chính sách mới đang được đưa vào thảo luận: đó là “tiền trực thăng” (helicopter money), một cách nói vắn tắt cho việc in tiền để tài trợ cho chi tiêu chính phủ hoặc tài trợ tiền mặt cho người dân. Vào tháng 3, Mario Draghi, Chủ tịch Ngân hàng Trung ương Châu Âu, đã mô tả tiền trực thăng như một “khái niệm rất thú vị”. Haruhiko Kuroda, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản, đã loại trừ phương án này vào thời điểm hiện tại khi được hỏi gần đây. Tuy nhiên, nếu tình trạng trì trệ càng kéo dài, thì khả năng chính phủ rốt cuộc phải thử nghiệm chính sách này sẽ càng cao. Tuy nhiên chính xác thì chính sách tiền trực thăng này vận hành như thế nào, và nó sẽ có tác động gì đối với nền kinh tế?

Khái niệm gốc “tiền trực thăng” đến từ Milton Friedman, cha đẻ của chủ nghĩa trọng tiền, người đã nói vào năm 1969 rằng các ngân hàng trung ương sẽ không bao giờ thất bại trong việc tăng cung tiền vì họ luôn luôn có thể tung thêm tiền mới in “từ trên trời” xuống nền kinh tế đang khát tiền mặt ở phía dưới. Ý tưởng này lại trỗi dậy một lần nữa vào đầu những năm 2000, khi các nhà kinh tế tìm cách thúc đẩy nền kinh tế Nhật Bản thoát khỏi bẫy giảm phát. Ben Bernanke, thống đốc mới tại Cục Dự trữ Liên bang vào thời điểm đó, đã nhắc đến hình tượng dí dỏm của Friedman trong các bài phát biểu về cách vượt qua giảm phát của mình, khiến ông được đặt biệt danh là “Ben Trực thăng” (Helicopter Ben).

Những người ủng hộ tiền trực thăng không thực sự có ý định ném tiền ra khỏi máy bay. Nói chung, họ ủng hộ việc kích cầu thông qua biện pháp tài khóa – dưới dạng tăng chi tiêu chính phủ, cắt giảm thuế hoặc chuyển khoản trực tiếp cho công dân – những khoản chi tiêu này được tài trợ bằng tiền mới in chứ không phải thông qua vay hoặc tăng thuế. Nới lỏng định lượng (QE) cũng là biện pháp phù hợp, miễn là ngân hàng trung ương sau khi mua trái phiếu chính phủ thì cam kết sẽ giữ chúng tới ngày đáo hạn, sau đó nộp lại toàn bộ tiền lãi và gốc cho chính phủ giống như hầu hết các khoản lợi nhuận của ngân hàng trung ương. Các phiên bản táo bạo hơn của chiến lược này khiến cho sự hào phóng của ngân hàng trung ương trở nên rõ ràng hơn. Ví dụ, nó có thể trao trực tiếp tiền vừa mới in cho người dân. Jeremy Corbyn, lãnh đạo Công Đảng Anh, đã đề xuất chính sách “nới lỏng tiền tệ của nhân dân” (people’s QE) theo cùng kiểu này.

Những lợi thế tiềm năng của chính sách tiền trực thăng là rất rõ ràng. Không giống như việc thay đổi lãi suất, các biện pháp kích thích được thanh toán bởi ngân hàng trung ương không cần dựa vào việc tăng vay mượn để có thể thực hiện. Điều này làm giảm rủi ro rằng các ngân hàng trung ương sẽ thổi phồng các bong bóng mới, và làm gia tăng năng lực của ngân hàng trung ương trong bối cảnh khủng hoảng hoặc sự bất định làm cho hệ thống ngân hàng trở nên không đáng tin cậy.

Kích thích tài khóa được tài trợ bằng cách đi vay mang lại các lợi ích tương tự, nhưng những lợi ích này có thể bị giảm bớt nếu người tiêu dùng nghĩ rằng rốt cuộc thuế sẽ phải tăng lên để bù trừ cho các khoản nợ ngày càng lớn – một vấn đề mà chính sách tiền trực thăng có thể tránh được. Nó sẽ mang lại một liều adrenaline cho nền kinh tế, thúc đẩy chi tiêu, tăng trưởng và kỳ vọng lạm phát tương lai. Đến lượt mình, điều đó rốt cuộc có thể cho phép các ngân hàng trung ương tăng lãi suất về lại mức dương và tái sử dụng các công cụ điều tiết kinh tế ưa thích của mình.

Thật không may, tiền trực thăng không phải là một viên đạn bạc thần kỳ. Một số nhà kinh tế lo ngại rằng nó sẽ làm suy giảm sự độc lập và khả năng kiểm soát lạm phát của các ngân hàng trung ương. Tuy nhiên, quan ngại lớn hơn là tiền trực thăng sẽ không bao giờ có thể cất cánh khỏi mặt đất ngay từ đầu. Các chính phủ dân cử có thẩm quyền trong việc quyết định các gói kích thích tài trợ bằng tiền thậm chí đã từ chối sử dụng các công cụ truyền thống để đạt được tăng trưởng: chẳng hạn như vay ở mức lãi suất gần bằng không để tài trợ cho các hạng mục đầu tư cơ sở hạ tầng vô cùng cần thiết.

Thay vào đó, các chính phủ tại các quốc gia giàu có đã chọn cách cắt giảm thâm hụt, càng làm xói mòn các nỗ lực của ngân hàng trung ương trong việc kích thích nền kinh tế. Tiền trực thăng, mặc dù không phải không có rủi ro, là một công cụ chính sách nhiều hứa hẹn. Nhưng sự đồng thuận để sử dụng nó hoặc các công cụ kích cầu khác để kéo các nền kinh tế ra khỏi suy thoái thì đáng buồn là vẫn đang còn thiếu.

———–&&————

Tại sao lãi suất âm không có tác dụng?

Tại sao lãi suất âm không có tác dụng?

(Nguồn: http://nghiencuuquocte.org)

Nguồn: Robert Skidelsky, “The False Promise of Negative Interest Rates”, Project Syndicate, 24/05/2016.

Biên dịch: Nguyễn Hồng Nhung | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Là người viết tiểu sử và một tín đồ của John Maynard Keynes, tôi thường được mọi người hỏi rằng: “Liệu Keynes sẽ nghĩ gì về lãi suất âm?”

Đó là một câu hỏi thú vị, gợi nhớ tới một đoạn trong tác phẩm “Lý thuyết tổng quát” (General Theory) của Keynes, trong đó ông chú thích rằng nếu chính phủ không thể nghĩ ra biện pháp nào hợp lý hơn để giải quyết tình trạng thất nghiệp (ví dụ như xây thêm nhà cửa), thì việc đút tiền vào chai rồi chôn xuống đất, xong lại đào lên vẫn tốt hơn là không làm gì cả. Ông có thể sẽ nói điều tương tự về lãi suất âm: một biện pháp tuyệt vọng của những chính phủ không thể nghĩ ra một giải pháp nào khác.

Lãi suất âm đơn giản là một nỗ lực vô ích kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 nhằm vực dậy nền kinh tế thông qua các biện pháp tiền tệ. Khi việc cắt giảm lãi suất đến mức thấp nhất trong lịch sử không thể vực dậy tăng trưởng, các ngân hàng trung ương đã tiến hành biện pháp gọi là nới lỏng định lượng: bơm thêm tiền vào nền kinh tế bằng cách mua trái phiếu chính phủ dài hạn và các loại trái phiếu khác. Điều này cũng tạo ra một số hiệu ứng tốt, nhưng hầu hết những người bán trái phiếu ở đây chỉ ngồi trên đống tiền thay vì đem ra chi tiêu hoặc đầu tư.

Tiếp đó là chính sách điều chỉnh lãi suất xuống mức âm. Các ngân hàng trung ương của Đan Mạch, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Nhật và khu vực đồng tiền chung Châu Âu đều đang đắm chìm trong đó. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và Ngân hàng Trung ương Anh cũng đang bị cám dỗ.

“Lãi suất âm” có vẻ như là một cụm từ được tạo ra để khiến tất cả hoang mang, trừ các chuyên gia. Thay vì trả lãi cho các khoản dự trữ “dư thừa” của các ngân hàng thương mại gửi tại ngân hàng trung ương, ngân hàng trung ương sẽ áp thuế trên những khoản tiền gửi này. Ý tưởng này là nhằm thúc giục các ngân hàng giảm số dư chưa chi và tăng các khoản cho vay hoặc đầu tư của mình. Trường hợp Ngân hàng Trung ương Châu Âu là do một nguyên nhân kỹ thuật: để tăng nguồn cung trái phiếu cấp cao cho chương trình nới lỏng định lượng đang diễn ra của Chủ tịch Mario Draghi.

Chính sách này được cho là sẽ phát huy tác dụng thông qua việc điều chỉnh lãi suất của thị trường khớp với mức lợi nhuận kỳ vọng, một ý tưởng do nhà kinh tế học người Thụy Điển Knut Wicksell khởi xướng. Vấn đề là trong khi đến tận bây giờ người ta vẫn luôn tin rằng lãi suất danh nghĩa không thể xuống thấp hơn 0, nhưng mức lợi nhuận kỳ vọng của một khoản đầu tư mới có thể dễ dàng giảm bằng 0 hoặc thấp hơn nếu tổng cầu suy giảm.

Lãi suất âm là nỗ lực mới nhất nhằm khắc phục sự thiếu đồng bộ giữa các biện pháp khuyến khích đối với người cho vay và người đi vay. Khiến cho việc gửi tiền của các ngân hàng thương mại tại ngân hàng trung ương trở nên đắt đỏ hơn sẽ có khả năng làm giảm chi phí của các khoản vay thương mại. Tính toán này cho rằng các ngân hàng thương mại sẽ thấy việc tung tiền ra lưu hành, dù là thông qua việc tạo ra các khoản cho vay hoặc mua chứng khoán chính phủ và các loại chứng khoán khác, là hợp lý hơn việc trả phí cho ngân hàng trung ương giữ tiền hộ.

Tuy nhiên, như Ngân hàng Thế giới đã chỉ ra, lãi suất âm có thể gây ra những tác động không mong muốn. Nó có thể làm hao mòn lợi nhuận của các ngân hàng thông qua việc thu hẹp biên độ lãi suất. Nó cũng có thể thúc đẩy các ngân hàng chấp nhận những rủi ro vượt mức, dẫn tới tình trạng bong bóng tài sản. Mức lãi suất thấp hơn cho tiền gửi có thể khiến nhiều lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế trở nên phụ thuộc vào tiền mặt (do họ không muốn gửi tiền vào ngân hàng), trong khi các công ty quản lý lương hưu và bảo hiểm có thể gặp khó khăn trong việc đáp ứng các khoản nợ dài hạn ở mức lãi suất danh nghĩa cố định.

Tuy nhiên, ngoài những vấn đề trên, điều thực sự chống lại lãi suất âm là sự dại dột của việc chỉ dựa vào chính sách tiền tệ để giải cứu nền kinh tế khỏi tình trạng suy thoái. Keynes đã kết luận ngắn gọn: “Nếu chúng ta bị cám dỗ mà khẳng định rằng tiền là thức uống có thể kích thích hệ thống hoạt động, chúng ta phải tự nhắc nhở bản thân rằng có thể sẽ có vài cú trượt trước khi thức uống này đến được với chiếc cốc.” Danh sách “những cú trượt” của ông rất đáng để xem xét lại:

“Dù việc cung tiền tăng có thể được kỳ vọng…giúp giảm mức lãi suất, điều này sẽ không xảy ra nếu mong muốn của công chúng trong việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản tăng nhanh hơn lượng tiền. Đồng thời trong khi lãi suất giảm có thể được kỳ vọng…làm tăng quy mô đầu tư, điều này sẽ không xảy ra nếu [những kỳ vọng về lợi nhuận] giảm nhanh hơn mức lãi suất. Và dù quy mô đầu tư tăng có thể được kỳ vọng… tạo thêm việc làm, điều này sẽ không xảy ra nếu xu hướng tiêu dùng sụt giảm.”

Những điều trên khá đúng. Các nhà kinh tế hiện đang bận nghĩ ra những chính sách tiền tệ thần kỳ khác phòng khi chính sách mới nhất thất bại: đánh thuế việc nắm giữ tiền mặt, hay thậm chí loại bỏ hoàn toàn tiền mặt; hoặc, trong một thái cực khác, nhấn chìm người dân bằng “tiền trực thăng” vừa mới in xong.

Tuy nhiên, cách duy nhất trên thực tế để đảm bảo “lượng tiền mới” được đưa vào lưu thông là thông qua chi tiêu chính phủ. Chính phủ sẽ vay tiền trực tiếp từ ngân hàng trung ương và sử dụng để xây dựng nhà cửa, cải tạo hệ thống giao thông, đầu tư vào các công nghệ tiết kiệm năng lượng, vv…

Điều đáng buồn là bất kỳ chính sách dùng tiền để trang trải cho các khoản thâm hụt ngân sách công nào như vậy hiện đều là điều cấm kỵ. Điều này vi phạm những quy định của Liên minh Châu Âu và vấp phải sự phản đối của tất cả những người nhìn nhận những khó khăn tài chính của các chính phủ thời kỳ hậu khủng hoảng là một cơ hội để thu hẹp vai trò của nhà nước.

Tuy nhiên, nếu đúng là chúng ta đang bước vào giai đoạn của “sự trì trệ kinh niên” và thất nghiệp gia tăng, như Larry Summers và nhiều người khác đã lập luận, thì việc nhà nước đóng vai trò nhà đầu tư lớn hơn chắc chắn là không thể tránh được. Những sự kiện diễn ra sau cuộc khủng hoảng năm 2008 rõ ràng đã cho thấy nếu chỉ dựa vào chính sách tiền tệ, các hoạt động kinh tế sẽ không thể phát huy tối đa tiềm năng. Nhà nước buộc phải tham gia.

Cho dù các khoản chi tiêu được thể hiện trên sổ sách của chính phủ trung ương hoặc trên bảng cân đối kế toán của các ngân hàng đầu tư độc lập (tôi thích cách này hơn) thì cũng không quan trọng. Lãi suất âm chỉ đơn giản là một sự đánh lạc hướng khỏi việc phân tích sâu sắc hơn về những sai lầm đã xảy ra và những gì sẽ tiếp tục đi chệch hướng.

Robert Skidelsky, Giáo sư hưu trí chuyên ngành Kinh tế Chính trị tại Đại học Warwick và Viện sĩ Viện Hàn lâm Anh chuyên ngành lịch sử và kinh tế, là một thành viên của Thượng Nghị viện Anh. Ông là tác giả của cuốn tiểu sử dài ba tập về John Maynard Keynes.

Copyright: Project Syndicate 2016 – The False Promise of Negative Interest Rates

———–&&———–