Blockchain – ngành nghề mới đầy tiềm năng nhưng thuộc dạng khát nhân sự hàng đầu ở Mỹ

Blockchain – ngành nghề mới đầy tiềm năng nhưng thuộc dạng khát nhân sự hàng đầu ở Mỹ

(Nguồn: cafef.vn)

Theo nghiên cứu từ Pitchbook, tổng vốn đầu tư vào blockchain tại các công ty tư nhân đã lên tới 4,5 tỷ USD từ đầu năm đến nay. Giới chuyên gia nhận định xu hướng này sẽ tiếp tục tạo ra cơ hội việc làm trực tiếp và gián tiếp trong nhiều năm tới.

Hồi ở trường trung học, Eileen Lowry đã chuyển môn học tự chọn từ thanh nhạc sang khoa học máy tính. “Tôi luôn bị cuốn hút bởi cách mọi thứ hoạt động”, cô nói.

Ngày nay, cô trở thành giám đốc chương trình (PD) cho dự án IBM Blockchain Labs & Garage North America tại thành phố New York.

Blockchain là bản ghi chép các giao dịch có tác dụng giống như một cuốn sổ cái công khai và có khả năng ngăn chặn mọi hành vi làm giả chứng từ, cho phép người dùng chia sẻ thông tin nhanh chóng, tự do mà không sợ rằng nó có thể bị thay đổi ngay cả khi không cần cung cấp danh tính người dùng. Trong khi, nhiều người chỉ biết đến blockchain qua đồng tiền số mà nó hỗ trợ, ứng dụng của công nghệ này đã được mở rộng rất lớn và được các công ty hàng đầu như IBM và Wal-Mart áp dụng.

“Blockchain là một sáng kiến công nghệ hấp dẫn mà con người có thể khai thác được rất nhiều khía cạnh từ giao dịch đến truyền tải niềm tin”, Lowry nói. “Nó là công việc hàng ngày của tôi, nói chuyện với khách hàng để tìm hiểu lý do tại sao họ muốn truyền tải niềm tin vào giao dịch của mình”.

Trên thế giới, IBM có tổng cộng 1.500 nhân viên làm việc trong mảng blockchain và đang tìm kiếm thêm 150 kỹ sư về làm việc trong mảng này. Gần đây, IBM đã bắt tay với Wal-Mart cùng nhau thúc đẩy nền tảng công nghệ blockchain để giải quyết các vấn đề về an toàn thực phẩm. Công nghệ này có thể được sử dụng để theo dõi thực phẩm từ nông trại đến bàn ăn – một quá trình mất gần 1 tuần có thể được giải quyết trong vài giây.

Jason Kelley – giám đốc điều hành toàn cầu dịch vụ blockchain của IBM cho biết: “Công nghệ blockchain cho phép con người trao đổi giá trị mà không cần biết danh tính của nhau một cách an toàn ở phần back-end. Ở phần front-end, người dùng sẽ được trải nghiệm sự đơn giản, minh bạch và tin tưởng. Tất cả những chi phí, thời gian thường gây ra sự tốn kém trong hệ thống trao đổi giá trị thông thường đều có thể được loại bỏ đối với blockchain”.

Bên cạnh các công ty vốn hoá lớn, nhiều khoản đầu tư đến từ các công ty tư nhân cũng đang được đổ vào blockchain. Theo nghiên cứu từ Pitchbook, con số này đã lên tới 4,5 tỷ USD trong năm nay trên toàn cầu.

Giới chuyên gia nhận định xu hướng này sẽ tiếp tục tạo ra cơ hội việc làm trực tiếp và gián tiếp trong nhiều năm tới.

Hơn nữa, đây sẽ không chỉ là một “cuộc chạy đua vũ trang” của các công ty công nghệ, mà nó còn tạo ra sự thay đổi lớn về việc làm trong tương lai.

Eamonn Maguire – giám đốc toàn cầu về blockchain trong ứng dụng tài chính của KPMG nhận định: “Blockchain tạo ra một nguồn sự thật độc lập dựa trên tính bất biến của dữ liệu”. Ông cho biết công nghệ này sẽ tạo ra nhiều việc làm mới mà con người nên chuẩn bị cả tinh thần và kỹ năng để đón đầu.

Trở lại với IBM, cô Lowry cho biết một trong những thách thức khó nhất hiện tại của công ty là tìm kiếm lao động đủ trình độ bởi blockchain là công nghệ còn khá mới mẻ. Ngoài nền tảng kiến thức về khoa học máy tính, IBM cũng xem xét cả những kỹ năng mềm của ứng viên. Thậm chí, IBM còn chấp nhận tuyển dụng những người hoàn toàn mới nhưng có tinh thần học hỏi để đào tạo từ đầu.

“Để tìm kiếm được những người có đúng kinh nghiệm và chuyên môn trong mảng blockchain không phải điều dễ dàng, tuy nhiên chúng tôi có những chuyên gia như phát triển phần mềm, an ninh mạng, phát triển đám mây, cũng như các chuyên gia trong ngành cho phép chúng tôi mang lại cơ hội cho những người muốn làm việc trong mảng blockchain”, cô Lowry chia sẻ.

Anh Sa

Theo Trí thức trẻ/CNBC

——————&&&——————

Amazon đang làm giảm tỷ lệ lạm phát trên toàn thế giới như thế nào?

Amazon đang làm giảm tỷ lệ lạm phát trên toàn thế giới như thế nào?

(Nguồn: cafef.vn)

Một chuyên gia phân tích của ngân hàng đầu tư Nomura vừa đưa ra 1 báo cáo khá thú vị dựa trên ý tưởng giờ đây mạng internet đang khiến tỷ lệ lạm phát trên toàn cầu giảm xuống.

Bilal Hafeez, người đứng đầu mảng chiến lược giao dịch ngoại hối và trưởng bộ phận nghiên cứu tại Nomura, vừa công bố hai báo cáo nghiên cứu tác động của Amazon và các công ty thương mại điện tử tương tự đến giá trị của đồng USD. Ông gọi đây là hiện tượng “Amazon hóa lạm phát”.

Báo cáo chỉ ra rằng trong 5 thập kỷ trở lại đây, tỷ lệ lạm phát trung bình của nước Mỹ đã liên tục sụt giảm: từ mức 7,1% trong những năm 1970 xuống 5,6% trong những năm 1980, 3% trong những năm 1990, 2,6% trong những năm 2000 và 1,7% trong những năm 2010.

Và đây là diễn biến lạm phát ở các nền kinh tế lớn trên thế giới. Có thể thấy ở eurozone và Nhật Bản cũng có xu hướng tương tự.

Từ năm 2010 đổ về trước, nguyên nhân chính dẫn đến xu hướng này là làn sóng toàn cầu hóa, thứ khiến chi phí sản xuất giảm mạnh. Chỉ riêng Trung Quốc đã bổ sung thêm hàng trăm triệu công nhân mới vào lực lượng lao động, làm giảm tỷ lệ lạm phát tiền lương trên toàn cầu.

Tuy nhiên, Hafeez chỉ ra rằng trong thập kỷ hiện tại, các công ty thương mại điện tử mà điển hình là Amazon đang khiến nguồn cung và chi phí phân phối hàng hóa trở nên rẻ đến nỗi khiến tỷ lệ lạm phát giảm xuống ở góc độ vĩ mô.

“Mô hình phân phối độc đáo và danh mục sản phẩm phong phú của Amazon tạo nên 1 nguồn lực mới chống lại hiện tượng lạm phát”, ông viết.

Ý tưởng này ngày càng được nhiều chuyên gia phân tích nhắc đến.

Quay trở lại tháng 9/2016, chuyên gia kinh tế James Pomeroy của ngân hàng HSBC đã đề cập đến “vấn đề Spotify” (Spotify là một trong những dịch vụ âm nhạc trực tuyến hàng đầu thế giới). Theo Pomeroy, Internet cho phép người tiêu dùng mua sắm và so sánh giá cả 1 cách hết sức dễ dàng, thậm chí còn thay thế những hàng hóa đắt đỏ ở các cửa hàng truyền thống. Ví dụ, khách hàng sẽ ngừng việc trả 20 bảng mỗi tháng cho 1 chiếc đĩa CD nhạc vì chỉ tốn 10 bảng mỗi tháng cho 1 tài khoản Spotify và được nghe nhạc không giới hạn. Kết quả là các doanh nghiệp phải thi nhau hạ giá để có thể cạnh tranh.

Cùng lúc đó, nền kinh tế chia sẻ mà trong đó người ta có thể cài các ứng dụng trên điện thoại di động để được cung cấp dịch vụ cũng khiến lạm phát giảm vì những ứng dụng này điều khiển “tắt” và “bật” nhu cầu về lao động giống như 1 bóng đèn vậy. Về mặt kỹ thuật thì những lái xe cho Uber hay nhân viên làm việc cho Deliveroo là những lao động tự do. Họ không có sức mạnh đàm phán lương như các lao động toàn thời gian.

Tú Anh

Theo Trí thức trẻ/Business Insider

——————-&&&——————-

Giải Nobel kinh tế 2017: Kinh tế học hành vi – Richard H. Thaler

Richard H. Thaler

Chân dung chủ nhân Nobel Kinh tế 2017 Richard Thaler: Vị giáo sư theo chủ nghĩa bản ngã con người

(Nguồn: http://cafebiz.vn)

“Nếu muốn có một nền kinh tế tốt, bạn phải nhớ rằng các khách hàng cũng chỉ là con người”, Giáo sư Thaler nói.

Mới đây, nhà kinh tế học hành vi Richard H Thaler đã nhận được giải Nobel kinh tế học, qua đó thu hút sự chú ý của các chuyên gia về bộ môn kinh tế học hành vi.

Giáo sư Thaler là một chuyên gia kinh tế đã từng nhận được rất nhiều giải thưởng trước khi giành giải Nobel kinh tế học. Ông Thaler là tác giả của cuốn sách bán chạy “Nudge” nói về hành vi của con người qua góc nhìn kinh tế học, nhờ đó giúp người đọc có quyết định khôn ngoan hơn trong cuộc sống.

Ngoài ra, vị giáo sư này cũng xuất hiện trong bộ phim “The Big Short” năm 2015 nói về cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 và đây là một trong những video thu hút được nhiều người xem nhất trong lịch sử kinh tế học.

Theo hội đồng bình chọn giải thưởng Nobel, họ trao giải kinh tế học lần này cho Giáo sư Thaler bởi những đóng góp của ông về phân tích hành vi của con người tuân theo các lý thuyết kinh tế. Ví dụ như tại sao khách hàng lại từ chối mua một chiếc ô với mức giá quá cao bất chấp trời mưa, hoặc tại sao họ lại dùng số tiền tiết kiệm được bởi giá xăng giảm để mua xăng chất lượng cao…

Chân dung chủ nhân Nobel Kinh tế 2017 Richard Thaler: Vị giáo sư theo chủ nghĩa bản ngã con người - Ảnh 1.

Hội đồng cho rằng vị Giáo sư tại trường đại học Chicago này đã có nhiều đóng góp trong việc khiến kinh tế học trở nên dễ hiểu hơn khi xem xét ứng dụng trong thực tiễn hành vi của người tiêu dùng , qua đó giúp các nhà hoạch định chính sách có được quyết định đúng đắn hơn, nhất là tại các vấn đề tiền lương lao động.

“Nếu muốn có một nền kinh tế tốt, bạn phải nhớ rằng các khách hàng cũng chỉ là con người”, Giáo sư Thaler nói.

Khi được hỏi ông sẽ tiêu 1,1 triệu USD tiền giải thưởng như thế nào, Giáo sư Thaler cho rằng đây là một câu hỏi thú vị và ông sẽ cố gắng tiêu chúng một cách sáng tạo nhất có thể.

Giải thưởng Nobel được ngân hàng trung ương Thụy Điển thành lập vào năm 1968 để tưởng nhớ nhá phát minh Alfred Nobel và được xem xét bởi Hội đồng khoa học hoàng gia Thụy Điển. Một trong những người đồng nghiệp của Giáo sư Thaler là ông Daniel Kahneman đã nhận giải vào năm 2002 trong khi một chuyên gia kinh tế học hành vi khác là ông Robert J Shiller cũng đã nhận giải vào năm 2013.

Trước đây, các lý thuyết kinh tế được xây dựng dựa trên giả định rằng con người sẽ hành động theo logic trên thị trường. Mặc dù các chuyên gia kinh tế hiểu rằng điều này là không thực tế nhưng họ cho rằng như vậy là cũng gần đúng.

Giáo sư Thaler là một trong những chuyên gia chủ chốt của xu hướng đưa kinh tế học thoát khỏi giả định cứng nhắc như vậy. Ông không chỉ cho rằng yếu tố con người trong nền kinh tế là khó dự đoán và hành động không theo logic nhưng chúng vẫn phù hợp với các lý thuyết kinh tế học theo một cách nào đó.

Theo Giáo sư Cass Sunstein, đồng tác giả cuốn “Nudge” với ông Thaler thì vị chuyên gia mới nhận giải thưởng Nobel này là người tuân theo các lý thuyết bản năng trong hành vi con người. Cuốn “Nudge” xuất bản năm 2008 cho rằng chính phủ có thể tận dụng những hành vi bản năng của con người để nâng cao hiệu quả và chất lượng trong các dịch vụ công cũng như chính sách kinh tế.

Chỉ 2 năm sau khi cuốn sách xuất bản, chính phủ Anh đã thành lập một cơ quan liên quan đến hành vi người tiêu dùng và thị trường trong khi những quốc gia khác, bao gồm cả Mỹ cũng xây dựng những cơ quan như vậy sau đó.

Chính Cựu thủ tướng Anh David Cameron cũng phải thừa nhận tư tưởng của Giáo sư Thaler là đơn giản, dễ hiểu và đề cập đến bản chất của con người.

Nhờ lý thuyết của Giáo sư Thaler mà chính phủ Anh đã có những cải thiện đáng kể trong công tác quản lý. Ví dụ như việc người dân có động lực đóng phí đăng ký xe hơi hơn nếu trong bưu kiện hóa đơn có kèm ảnh chiếc xe của họ.

Chân dung chủ nhân Nobel Kinh tế 2017 Richard Thaler: Vị giáo sư theo chủ nghĩa bản ngã con người - Ảnh 2.

Kinh tế học và bản năng người tiêu dùng

Giáo sư Thaler hiện đã 72 tuổi, sinh tại East Orange-Mỹ, tốt nghiệp trường đại học Case Western Reserve và nhận hàm giáo sư kinh tế tại trường đại học Rochester năm 1974.

Vào thời kỳ đó, hầu hết các lý thuyết kinh tế vẫn giả định hành vi của người tiêu dùng và doanh nghiệp là logic, nghĩa là người tiêu dùng sẽ điều chỉnh chi tiêu theo những chính sách kinh tế của chính phủ bởi họ đều có thể dự đoán được kết quả của các chính sách này là gì.

Khi còn là sinh viên, ông Thaler đã làm những bài luận liên quan đến hành vi của người tiêu dùng và những bản khảo sát mà ông có được cho thấy kết quả khác hoàn toàn với lý thuyết trong sách.

Sự nghiệp của Giáo sư Thaler bước sang trang mới khi biết đến công trình của Giáo sự Kahneman và Amos Tversky, qua đó cho rằng kinh tế học cần gắn liền với hành vi của con người. Kể từ đó, ông Thaler trở thành động nghiệp cùng những chuyên gia này và đóng góp vai trò chủ chốt phổ biến công trình này ra toàn thế giới.

Năm 1995, Giáo sư Thaler tham dự giảng dạy tại trường đại học Chicago, nơi nổi tiếng với tư tưởng kinh tế học truyền thống.

“Tôi biết rằng tôi sẽ phải đấu tranh cho công trình của mình khi dạy học tại đó và tôi nghĩ đây là một điều tốt cho cả 2 bên. Cách tốt nhất để mài dũa kỹ năng của bạn là chống lại những đối thủ mạnh nhất”, ông Thaler nói.

Quan điểm thời đó của ông Thaler thực sự đã gây sốc cho các chuyên gia kinh tế truyền thống. Ví dụ theo lý thuyết cũ, giá xăng giảm sẽ khiến người tiêu dùng chi tiêu nhiều hơn cho những mặt hàng cần thiết nhất chứ không chi thêm tiền vào xăng. Tuy nhiên trong thực tế, nhiều khách hàng Mỹ dùng số tiền này để mua xăng chất lượng cao, hay nói cách khác họ mặc định khoản tiền này là để mua xăng chứ không dùng mua thứ khác.

Đây là một trong những ví dụ của ông Thaler cho việc cần gắn kinh tế học với thực tiễn bởi đôi khi thị trường không hoạt động theo đúng những gì lý thuyết đề ra.

Công trình nghiên cứu của Giáo sư Thaler cũng nói đến sự công bằng. Ông cho rằng nhiều người sẽ không hành động theo lợi ích kinh tế mà quyết định dựa trên quan điểm đạo đức của mình. Ví dụ khi trời mưa, một số cửa hàng sẽ tăng giá ô trong khi một số khác thì không bởi họ cho vậy là kinh doanh thiếu đạo đức.

Luận điểm này của Giáo sư Thaler cũng giải thích vì sao khi nền kinh tế suy thoái, lý thuyết kinh tế truyền thống lại sai. Theo đó, các giả thuyết trước đây cho rằng doanh nghiệp sẽ cắt giảm mức lương cho phù hợp với nhu cầu đặt hàng trong thời điểm kinh tế suy thoái và như vậy, tình trạng thất nghiệp sẽ khó xảy ra.

Tuy vậy, lao động lại cho rằng việc cắt giảm lương là bất công trên thực tế và khiến các doanh nghiệp cắt giảm nhân công để giữ mức lương, qua đó gây nên tình trạng thất nghiệp khi kinh tế suy thoái.

Thậm chí trong một bài phát biểu năm 2016, Giáo sư Thaler dự đoán rằng kinh tế học hành vi sẽ phổ biến tới mức thay thế được lý thuyết kinh tế học hiện nay.

AB

Theo Thời Đại


Nobel Kinh tế 2017 – Cú lội ngược dòng của kinh tế học hành vi

(Nguồn: http://cafebiz.vn)

Dĩ nhiên quyết định vinh danh Thaler của Ủy ban trao giải là 1 sự ghi nhận đối với những thành tựu mà cá nhân ông đã đạt được. Tuy nhiên, đây cũng là một chiến thắng dành cho kinh tế học hành vi.

Cách đây không lâu, bất kỳ lý thuyết kinh tế nào cũng được đưa ra dựa trên quan điểm con người là những chủ thể hành động dựa trên lý trí và sẽ tối ưu hóa lợi ích của bản thân. Các chuyên gia kinh tế sẽ bác bỏ bất kỳ quan điểm nào đi ngược lại điều đó.

Tuy nhiên, vài thập kỷ trở lại đây, những nhà kinh tế học hành vi như Richard Thaler đã đi được những bước tiến lớn trong việc loại bỏ quan điểm trên. Họ kết hợp nhuần nhuyễn các lý thuyết kinh tế với những góc nhìn tâm lý học sâu sắc để chứng minh rằng các quyết định kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề bởi những thiên kiến nhận thức. Và hôm qua (9/10), công trình của Thaler đã được ghi nhận ở mức độ cao nhất khi ông giành giải Nobel Kinh tế , trở thành một trong số rất ít những nhà kinh tế học hành vi được trao giải thưởng danh giá này.

Richard Thaler có một sự nghiệp đã kéo dài hơn 4 thập kỷ, trong đó 20 năm gần đây sự nghiệp của ông gắn liền với trường kinh doanh Booth của ĐH Chicago. Công trình nghiên cứu của ông tiếp cận nhiều chủ đề phong phú, từ giá tài sản đến tiết kiệm cá nhân và tội phạm kinh tế. Ví dụ, ông đã phát triển lý thuyết về “tính toán cảm tính” (mental accounting) giải thích trong quá trình đưa ra các quyết định tài chính con người chỉ nhìn vào những tác động hạn hẹp của những quyết định đơn lẻ thay vì nhìn vào bức tranh tổng thể. Ủy ban trao giải Nobel cũng nhấn mạnh nghiên cứu của Thaler về mâu thuẫn giữa kế hoạch dài hạn và những cám dỗ thôi thúc con người hành động trong ngắn hạn.

Giải Nobel sẽ giúp những lập luận của Thaler có thể tiếp cận với nhiều người hơn. Hiện ông thường xuyên viết bài cho tạp chí uy tín Journal of Economic Perspectives, miêu tả chi tiết hơn về những ví dụ cho thấy có nhiều hành vi kinh tế đi ngược lại với những quan điểm kinh tế học vi mô truyền thống. Ông cũng viết một vài cuốn sách về kinh tế học hành vi ở góc độ đại trà hơn.

Tuy nhiên, có lẽ Thaler nổi tiếng nhất với vai trò là người đi tiên phong cho lý thuyết “cú huých” – cách sử dụng sự hiểu biết sâu sắc về hành vi của con người để đưa ra những công cụ chính sách công hiệu quả nhất. Mặc dù ý tưởng này không phải là mới, các doanh nghiệp từ lâu đã áp dụng khoa học hành vi để “lái” phản ứng của khách hàng, trước đó các Chính phủ mới chỉ sử dụng yếu tố tâm lý một cách rời rạc, không thường xuyên.

Điều này bắt đầu thay đổi khi giáo sư Thaler cùng với người đồng nghiệp Cass Sunstein (học giả tại ĐH Harvard) xuất bản cuốn sách có tựa đề “Nudge” (tạm dịch: Cú huých) năm 2008. Cuốn sách tấn công giả thiết trong mọi mô hình kinh tế các quyết định đều được đưa ra dựa trên lý trí và chứng minh hoàn cảnh có thể thay đổi như thế nào nếu như những nhà hoạch định chính sách đưa ra quyết định tốt hơn.

Năm 2010, Thaler đã cố vấn cho Chính phủ Anh thành lập Behavioural Insights Team (tạm dịch: nhóm hiểu thấu hành vi) với nhiệm vụ đưa những ý tưởng của họ vào thực tiễn. Dự án thành công đến nỗi giờ đây nhóm này đã phát triển thành 1 công ty bán tư nhân đi cố vấn cho các Chính phủ trên khắp thế giới.

Từ vị thế là kẻ bị ruồng bỏ trong cộng đồng kinh tế học chỉ cách đây vài thập kỷ, giờ đây kinh tế học hành vi đã có được chỗ đứng vững chãi không chỉ trong giới hàn lâm mà cả trong các Chính phủ trên toàn thế giới. Từ Australia đến Mỹ hay những định chế quốc tế như World Bank và Liên hợp quốc, phương pháp tiếp cận “cú huých” đã được nhân bản.

Dĩ nhiên quyết định vinh danh Thaler của Ủy ban trao giải là 1 sự ghi nhận đối với những thành tựu mà cá nhân ông đã đạt được. Tuy nhiên, đây cũng là một chiến thắng dành cho kinh tế học hành vi.

Theo Thu Hương

Trí thức trẻ


Giải Nobel cho nghiên cứu về kinh tế học hành vi

(Tác giả: Bảo Như – Nguồn: http://tiasang.com.vn)

Giải Nobel kinh tế năm 2017 được trao cho GS Richard H. Thaler, đến từ Đại học Chicago, Hoa Kỳ cho những đóng góp của ông trong nghiên cứu về kinh tế học hành vi nhằm lý giải yếu tố tâm lý chi phối như thế nào tới các quyết định kinh tế.

Giải thích những quyết định kinh tế “vô lý” của con người

Cho đến nay, quan điểm chủ đạo trong kinh tế học truyền thống giả định rằng tất cả mọi người đều đưa ra các quyết định kinh tế dựa trên những tính toán duy lý. Quan điểm đó cũng ảnh hưởng tới giới làm chính sách, ví dụ, những nhà quản lý ban hành chính sách về kinh tế, xã hội thường dựa trên quan điểm là nếu chính sách đó có tác động tốt trên lý thuyết thì khi đưa vào thực tế sẽ được đón nhận. Nhưng từ khoảng 20 năm trước, kinh tế học hành vi ra đời và cho thấy điều ngược lại, đó là, con người không đưa ra các quyết định dựa trên lựa chọn duy lý mà bị ảnh hưởng bởi yếu tố tâm lý. GS. Richard H. Thaler chính là người đã tiên phong xây dựng lý thuyết về tâm lý học hành vi, hay nói một cách ngắn gọn là ông đã đưa kiến thức tâm lý học vào trong ngành kinh tế học, theo TS. Phạm Khánh Nam, nhà kinh tế học nghiên cứu về kinh tế học hành vi, đến từ ĐH Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.

Hội đồng giải thưởng Nobel năm 2017 cho biết, Richard H. Thaler đã khám phá một cách có hệ thống về hệ quả của các yếu tố xã hội như tính duy lý bị hạn chế, sở thích xã hội và tính thiếu kiềm chế bản thân sẽ ảnh hưởng như thế nào tới các quyết định của mỗi cá nhân cũng như tới thị trường (mặc dù có thể quyết định đó không mang lại lợi ích trong dài hạn). Cụ thể, ông đã phát triển hệ thống lý thuyết và những công cụ thử nghiệm để đo lường trong kinh tế học hành vi gồm1:

Tính duy lý bị hạn chế: Ông đã phát triển lý thuyết về “kế toán tinh thần”, giải thích về việc các cá nhân thường đơn giản hóa các quyết định tài chính của mình bằng cách tưởng tượng và chia nhỏ tài khoản của mình thành các tài khoản nhỏ hơn, sau đó đưa ra quyết định dựa trên từng tài khoản nhỏ đó thay vì đưa ra một quyết định mang tính tổng thể. Ông cũng đưa ra khái niệm “hiệu ứng sở hữu” (endowment effect), thông qua phân tích tâm lý sợ rủi ro và mất mát của con người để giải thích về việc tại sao con người lại đánh giá cao giá trị của những vật mà mình đang có hơn là khi không sở hữu nó.

Sở thích xã hội: Thaler đã đưa ra một công cụ là “trò chơi độc tài” (dictator game) để thực nghiệm về quan điểm công bằng ở mỗi cá nhân, trong đó “nhà độc tài” sẽ được quyền tùy ý chia một khoản tài trợ cho người thứ hai. Hành vi chia tiền của “nhà độc tài” sẽ thể hiện quan điểm của anh ta về sự công bằng (có hào phóng chia đều không hay không chia). Công cụ này đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu để đo lường thái độ đối với sự công bằng trong các nhóm người khác nhau trên khắp thế giới.

Tính thiếu kiềm chế bản thân: Thaler đã phân tích tính kiềm chế bản thân của con người thông qua việc sử dụng mô hình lập kế hoạch, giống như cách các nhà tâm lý học và thần kinh học sử dụng để quan sát mối quan hệ giữa việc xây dựng kế hoạch dài hạn với việc thực hiện kế hoạch đó trong ngắn hạn. Theo đó, những “cám dỗ” trước mắt thường là nguyên nhân quan trọng làm thất bại các kế hoạch dài hạn như tiết kiệm tuổi già hoặc một lối sống lành mạnh, hoặc đơn giản là chúng ta thường hào hứng lên kế hoạch vào đầu năm nhưng rất khó lòng thực hiện được.

Phạm vi ứng dụng rộng rãi

Dù mới ra đời và phát triển trong hai thập kỷ trở lại đây nhưng kinh tế học hành vi đã được ứng dụng khá rộng rãi ở các nước phát triển, theo TS. Phạm Khánh Nam. Các nghiên cứu của GS. Thaler đã ảnh hưởng tới việc ra quyết định chính sách kinh tế xã hội ở một số nước trong thời gian gần đây. Dưới thời tổng thống Obama, đã có một ủy ban cố vấn về kinh tế học hành vi được thành lập để phân tích các yếu tố tâm lý sẽ ảnh hưởng như thế nào tới chính sách xã hội và Thaler cũng từng là cố vấn cho ủy ban này. Ông đồng thời cũng là nhà tư vấn để đưa các ý tưởng về kinh tế hành vi vào xây dựng chính sách cho chính phủ Anh và tư vấn cải tiến hệ thống lương hưu của Thụy Điển2. Hay trước sự kiện Brexit ở Anh, ông cho rằng các cử tri Anh đã không đưa ra lựa chọn hợp lý về mặt kinh tế dựa trên thông tin mà giới tinh hoa và truyền thông ở Anh cung cấp. “Hầu hết cử tri Anh đã không suy nghĩ [về việc bỏ phiếu Brexit] một cách có phân tích”, ông nói trong cuộc trả lời phỏng vấn của Marketwatch vào năm ngoái3.

Ở Việt Nam, kinh tế học hành vi vẫn là một xu hướng học thuật mới mẻ, chỉ được nghiên cứu trong khoảng năm năm trở lại đây, theo TS. Phạm Khánh Nam. Ở khu vực phía Nam, có hai nhóm nghiên cứu về kinh tế học hành vi ở ĐH Kinh tế TP. Hồ Chí Minh và Đại học Cần Thơ còn ở khu vực phía Bắc mới chỉ có nhóm nghiên cứu của TS. Nguyễn Việt Cường, Viện Nghiên cứu Phát triển Mekong quan tâm. Đến nay, trong hệ thống đề tài của Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Nafosted), đã có hai đề tài về kinh tế học hành vi được tài trợ.

Tuy nhiên, “môn kinh tế học hành vi chưa được dạy hoặc dạy rất ít ở các trường đại học”, TS. Nguyễn Việt Cường cho biết. “Còn việc đưa ứng dụng của ngành này vào xây dựng các chính sách kinh tế xã hội ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng thì vẫn còn xa lắm”, TS. Phạm Khánh Nam nói.

——

Chú thích:

https://www.nobelprize.org/nobel_prizes/economic-sciences/

https://www.ft.com/content/aa08d810-acd8-11e7-aab9-abaa44b1e130

http://www.marketwatch.com/video/richard-thaler-brits-are-voting-with-their-guts/00CDC7BC-4A32-45E4-8556-BAAE4CD41596.html


Tài liệu đặc biệt: Về Richard H. Thaler

(Nguồn: http://www.viet-studies.net)

Đây toàn bộ Chương 28 trong cuốn hồi ký của Thaler (vô cùng thú vị, các bạn nên mua đọc trọn cuốn). Chương này thuật lại cách mà Trường Kinh Doanh Booth của Đại học Chicago phân phối văn phòng cho ban giảng huấn khi họ dời sang một building mới xây. Đọc, bạn sẽ thấy sự ganh tỵ, so bì (có phần nhỏ nhen!) giữa các “đại thụ” trong giới đại học (như bất cứ một nhóm người nào khác mà thôi!) 

Richard Thaler: The Offices
(Chương 18 trong quyển “Misbehaving: The Making of Behavioral Economics)

——————&&&—————

Bất bình đẳng và tăng trưởng: sự nổi lên của một hệ tư tưởng toàn cầu từ năm 1990 đến năm 2010

Bất bình đẳng và tăng trưởng: sự nổi lên của một hệ tư tưởng toàn cầu từ năm 1990 đến năm 2010

(Tác giả: François Bourguignon[*] – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Kể từ những năm 1950 cho đến nay, quan hệ bất bình đẳng-tăng trưởng-nghèo đói đã nuôi dưỡng nhiều cuộc tranh luận hàn lâm sôi nổi, các cuộc tranh luận này đã định hình chính sách của các Nhà nước và định chế quốc tế. Lịch sử tư tưởng của các khoa học kinh tế cho thấy là có những chuyển đổi của hệ ý tăng trưởng và việc ưu tiên dần dần cho sự tích luỹ các tài sản sản xuất của những nhóm chịu thiệt thòi nhất. Điều này được cụ thể hoá trong các công cụ đo lường, các chương trình xã hội và những phương thức điều hành chính sách công.
Bình đẳng về cơ hội, mở rộng hệ ý về phát triển
Trước khi Ngân hàng thế giới, vào đầu những năm 2000, nắm lấy các ý niệm bất bình đẳng và bình đẳng, một cuộc tranh luận náo nhiệt diễn ra trong cộng đồng hàn lâm về tính đa chiều của nghèo đói lẫn mối liên hệ giữa nghèo đói và tăng trưởng, hay giữa nghèo đói và hiệu quả kinh tế. Phác hoạ lại lịch sử các ý tưởng cho phép đặt các cuộc tranh luận này trên những nền tảng lí thuyết trước khi tìm hiểu bằng cách nào các ý tưởng trên được phổ biến trong các giới thực hành.

Do phần lớn việc giảm nghèo đói dựa vào sự tăng trưởng của một nền kinh tế, trong một thời gian dài cuộc tranh luận về nghèo đói trong kinh tế học phát triển trước hết là một cuộc tranh luận về sự tăng trưởng. Trong thực tế, người ta chứng kiến trong những năm 1990 một sự trở chiều kép: tăng trưởng đã quay trở lại trong các nền kinh tế phát triển và trong kinh văn là sự trở lại của chủ đề tăng trưởng, do đó của chủ đề phát triển. Dấu ấn của những năm 1980 là một sự điều chỉnh kinh tế vĩ mô chính: sự thay đổi chính sách tiền tệ của Hoa Kì đã khắc phục được lạm phát nảy sinh từ các cuộc khủng hoảng dầu lửa trong thập niên trước, nhưng với hậu quả sau đó là sự khan hiếm cung tiền và gia tăng của lãi suất cũng đã làm cho tăng trưởng chậm lại trên toàn thế giới. Bước vào những năm 1980, có vẻ như thế giới bắt đầu lại có tăng trưởng bền vững. Như thế chủ đề tăng trưởng xuất hiện trở lại trong kinh văn: trước tiên là những bài viết tạo lập lí thuyết “tăng trưởng nội sinh” [Romer, 1986; Lucas, 1988], rồi bài viết thực nghiệm nổi tiếng của Robert J. Barro [1983] thử xác định những nhân tố giải thích sự tăng trưởng từ một phân tích kinh trắc trên các dữ liệu quốc tế. Từ đó, cả một kinh văn được phát triển, với dự án là nhận diện những nhân tố của tăng trưởng.

 

Paul Romer (1955-)
Robert Lucas (1937-)
Lí thuyết tăng trưởng nội sinh có một tầm quan trọng đáng kể. Nó đối lập với tầm nhìn về tăng trưởng kinh tế trong những năm 1950 [Solow, 1956], theo đó, trong dài hạn, tăng trưởng là ngoại sinh, chủ yếu được giải thích bằng sự tiến bộ kĩ thuật hay cải tiến năng suất nhờ những đổi mới quản lí hay tổ chức. Robert E. Lucas và Paul Romer có đóng góp chính khi chỉ ra rằng thật ra các tỉ suất tăng trưởng trong dài hạn là kết quả của những sở thích của các tác nhân và của những đặc điểm riêng cho một nền kinh tế nhất định. Như thế, họ mở đường cho việc nghiên cứu sau này về những nhân tố quyết định sự tăng trưởng đặc thù của các nước khác nhau.

 

Nicholas Kaldor (1908-1986)
Robert Solow (1924-)
Nhưng giảm nghèo đói không chỉ quy về việc tăng trưởng; nó còn đòi hỏi phải là một sự tăng trưởng “cho mọi người”. Do đó có một mảng thứ hai trong cuộc tranh luận về việc giảm thiểu nghèo đói là mảng về quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng. Vượt lên những hiệu ứng của tăng trưởng trên sự bất bình đẳng và khái niệm “tăng trưởng vì người nghèo”, nhiều nhà kinh tế đã quan tâm đến những kênh thông qua đó sự bất bình đẳng có thể xác định chế độ tăng trưởng trong dài hạn của một nền kinh tế. Trong số họ, có người đã chỉ ra bằng những mô hình lí thuyết cách mà sự bất bình đẳng về của cải, việc tiếp cận tín dụng hay giáo dục có thể ràng buộc tăng trưởng, một điều đối lập với quan hệ tích cực được một số nhà kinh tế trước đây gợi ý, đặc biệt là nhà kinh tế keynesian Nicholas Kaldor[1]. Mệnh đề cuối này bị kinh văn gần đây lật nhào hoàn toàn. Trong một tình thế bất bình đẳng cao, những dự án kinh tế, có lợi cho cả khu vực tư nhân lẫn công cộng, không được tiến hành do thiếu vắng sự bảo đảm cho những người khởi xướng và do đó không tiếp cận được tín dụng.
Ngược lại, doanh nghiệp nào có được tài sản thế chấp hay tiếp cận được quỹ đầu tư sẽ tiến hành dự án của họ, cho dù có thể đó là những dự án xoàng. Cuối cùng, một xã hội bất bình đẳng tăng trưởng chậm hơn và do đó làm giảm chậm hơn sự nghèo đói, vì nó có rủi ro bỏ qua những đầu tư có lời.
Kiểu phân tích này là điểm xuất phát của một suy tư và kinh văn dồi dào về mối quan hệ “nghèo đói-bất bình đẳng-tăng trưởng”. Một loại phong trào hồ hởi ra đời khi người ta tưởng đã có bằng chứng thực nghiệm của một quan hệ bổ sung nhau giữa bình đẳng và tăng trưởng. Hai bài viết rất thường được trích dẫn [Persson và Tabellini, 1994; Alesina và Rodrik, 1994] cho thấy dường như là có một tương quan âm giữa tỉ suất tăng trưởng của một mẫu những nước và mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập của những nước này. Chỉ bấy nhiêu cũng đủ để một cộng đồng nhất định tự thuyết phục rằng nuôi dưỡng các bất bình đẳng đi ngược lại với tăng trưởng và việc giảm nghèo khó và, trái lại, giảm thiểu các bất bình đẳng sẽ tạo điều kiện cho phát triển. Tuy nhiên sau đó người ta đành phải nhận thức là sự việc phức tạp hơn nhiều và các yếu tố thực nghiệm đầu tiên này không vững chắc và thực ra được thiết kế không tốt.

 

Amartya Sen (1933-)
Còn chính xác hơn vấn đề nghèo đói, phân tích truyền thống bằng khái niệm thu nhập, và do đó mối quan hệ với những vấn đề bất bình đẳng và tăng trưởng, cũng là đối tượng của cuộc tranh luận. Một quan niệm nhiều chiều kích về sự bất bình đẳng và niềm tin rằng tăng trưởng kinh tế, cho dù là bình đẳng, không tất yếu cho phép triệt tiêu tất cả mọi chiều kích của sự nghèo đói, dần dần được khẳng định. Diễn tiến này là nhờ công sức của Amartya Sen và khái niệm “capability” (năng lực) của ông, theo đó điều quan trọng không chỉ là tiềm năng tiêu dùng của một cá nhân mà còn có cả tiềm năng phát triển của cá nhân ấy. Như thế nghèo đói được xem như sự thiếu vắng những cơ hội tiếp cận các lĩnh vực giáo dục, y tế, pháp lý chẳng kém gì việc thiếu thốn về mặt vật chất. Một cách khá nhanh chóng, người ta nhận ra là những tương quan giữa những khía cạnh khác nhau của sự nghèo đói, được định nghĩa như trên, và thu nhập còn xa mới là hoàn hảo.
Hai trục suy tưởng này, quan hệ bất bình đẳng-tăng trưởng và tính đa chiều của nghèo đói dẫn đến một sự mở rộng nhất định của hệ ý phát triển khi nêu bật vai trò sự bất bình đẳng về cơ hội và của việc tiếp cận giáo dục, tín dụng, nền tư pháp hay quyết định công. Một minh hoạ tốt cho diễn tiến này là báo cáo phát triển thế giới của Ngân hàng thế giới năm 2006, có tựa là Bình đẳng và Phát triển, một văn bản mà trong nội bộ của định chế này tượng trưng cho một bước tiến lớn trong việc thiết kế những chính sách và chiến lược phát triển[2].
Tăng trưởng và bất bình đẳng: mô hình nào cho an sinh xã hội?

Ngăn chặn sự bất bình đẳng

Ngăn chặn sự bất bình đẳng

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Ngày: 24/10/2016
Các khu vực: Mỹ La tinh, Thế giới, Chile
Thế giới đã trở nên giàu có hơn bao giờ hết, nhưng sự bất bình đẳng cũng trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết ở rất nhiều quốc gia tại phương Nam cũng như phương Bắc. Làm thế nào để lí giải xu hướng này? Những phương hướng hành động sắp tới là gì?
Nếu ta đo lường sự giàu có bằng hàng hoá và dịch vụ được tiêu thụ và sản xuất[1], thì thế giới đạt đỉnh điểm của sự giàu có vào năm 2015. Mặt khác, chưa bao giờ sự giàu có này lại được phân phối bất bình đẳng đến thế. Ở những quốc gia có đầy đủ dữ liệu về thuế, tỉ lệ tài sản được thành phần 1% hoặc 10% giàu nhất nắm giữ đã một lần nữa quay lại mức kỉ lục của hồi đầu thế kỉ trước [thế kỉ XX]. Cứ 10 người thì có 7 người đang sống trong một quốc gia có khoảng cách giàu nghèo đã nới rộng hơn so với 30 năm trước (Oxfam, 2014 theo Milanovic, 2013). Ở các quốc gia OECD [Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế], khoảng cách giàu nghèo chưa bao giờ rộng như vậy: thu nhập của nhóm 10% giàu nhất gấp 9,5 lần nhóm 10% nghèo nhất (OECD 2015); vào thập niên 80 của thế kỉ XX, tỉ lệ này là 7 trên 1. Tại các quốc gia hiếm hoi ở Mỹ La tinh đã giảm bất bình đẳng thì hệ số Gini, đo lường sự bất bình đẳng về thu nhập, vẫn cao. Ở Nam Phi, hệ số Gini vào năm 1995 (0,56) tức cuối thời kì phân biệt chủng tộc arpartheid còn thấp hơn năm 2009 (0,63) (Oxfam, 2014). Những bất bình đẳng về thu nhập này nuôi dưỡng và củng cố sự bất bình đẳng về sức khoẻ, giáo dục và giới tính (70% người nghèo là nữ giới – Cortinovis và Rivière, 2015), về khu vực (giữa cộng đồng thành thị và nông thôn) và trong một số trường hợp là về sắc tộc (ở New Caledonia, cơ hội hoàn thành chương trình giáo dục bậc cao [đại học, cao đẳng] của người Kanak thấp hơn 7 lần so với những người thuộc sắc tộc khác, theo Ris, 2013). Sự gia tăng bất bình đẳng mà ta có thể quan sát được ở các quốc gia cũng có thể thấy trên quy mô toàn cầu. Vào năm 2016, một nửa của cải trên thế giới sẽ thuộc sở hữu của nhóm 1% dân số (Global Wealth Report 2015). Tuy nhiên, đây cũng là lần đầu tiên việc giảm bất bình đẳng về thu nhập quốc nội được lên chương trình nghị sự quốc tế. Điều này được thể hiện một cách rõ ràng trong các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỉ (SDGs) được Liên hợp quốc thông qua vào tháng 9 năm 2015. Hãy nhớ rằng [trước đó] các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỉ định hướng hợp tác quốc tế bắt đầu từ năm 2001 không đề cập đến bất bình đẳng về thu nhập mà tập trung vào đói nghèo và tiếp cận với các dịch vụ cơ bản. Hơn nữa, các mục tiêu lúc đó chỉ dành cho các quốc gia đang phát triển, khác với các SDG áp dụng cho tất cả quốc gia.
Sự bất bình đẳng kinh tế đã trở thành một vấn đề phổ biến (universal problem) đòi hỏi một giải pháp chính trị phối hợp như thế nào? Tại sao việc bất bình đẳng gia tăng là không bền vững? Tại sao sự bất bình đẳng ngày càng mở rộng và làm thế nào để giảm bất bình đẳng theo quan điểm thực chứng? Hợp tác quốc tế có khả năng sẽ đóng vai trò cụ thể nào cho sự phát triển?
Sự nổi lên của vấn đề bất bình đẳng như một vấn đề chính trị toàn cầu
Thomas Piketty (1971-)
Trong 10 năm qua, sự gia tăng bất bình đẳng trong thu nhập đã đạt được tầm quan trọng chưa từng có trong cuộc tranh luận công khai. Ngay cả khi có ít người nhớ đến công trình của Piketty và Saez được trích dẫn trong bài phát biểu nhậm chức của ông Barack Obama năm 2009 – trước khi Piketty xuất bản cuốn Capital (Tư bản), gần như không ai có thể làm ngơ sự thật rằng chủ nghĩa tư bản về cơ bản là không công bằng, và Thomas Piketty[2] là một trong những tác giả có sách bán chạy nhất được biết đến trong lĩnh vực khoa học nhân văn (human science). Chủ đề đầu tiên khiến kinh tế học trở nên phổ biến trong thế kỉ XXI chính là vấn đề bất bình đẳng.
Các tổ chức kinh tế quốc tế cũng đã nắm bắt cơ hội này để nhấn mạnh rằng bất bình đẳng đang tăng lên chưa từng thấy, mặc dù những tổ chức này được coi là “tự do” và các khuyến nghị của họ thường tập trung vào việc tạo ra của cải thông qua cạnh tranh hơn là vào những tác động có thể có của việc phân phối mà việc tạo ra của cải thông qua cạnh tranh chính là ngòi nổ [đối với việc phân phối của cải]. Các tổ chức của Bretton Woods [gồm World Bank và IMF] đã cảnh báo về tác động của sự bất bình đẳng đang gia tăng đối với sự phát triển thông qua báo cáo thường niên đầu tiên của Ngân hàng Thế giới (WB) về chủ đề này trong năm 2006 (World Bank, 2006); tại những nước giàu, hồi chuông cảnh báo cũng được gióng lên qua các tài liệu của OECD vài năm sau đó (OECD 2011, 2012). Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tổ chức mà người bình thường cũng biết là không theo cánh tả, cũng không chậm chân lắm khi xuất bản một tài liệu vào năm 2015 nhấn mạnh một số tác hại nhất định của trường phái tự do chính thống (liberal orthodoxy) (IMF, 2015) trước khi xuất bản một báo cáo vào tháng 6 năm 2016 với tiêu đề hùng hồn – ngay cả khi có dấu chấm hỏi: Chủ nghĩa tân tự do: liệu có bị đề cao quá mức? Thông điệp được đưa ra là giống nhau: “thay vì tạo ra sự tăng trưởng, một số chính sách tân tự do nhất định đã làm gia tăng sự bất bình đẳng và đe dọa sự phát triển kinh tế bền vững” (IMF, 2016).
Tất cả cuốn sách và báo cáo này thống nhất rằng bất bình đẳng thu nhập gia tăng là một sự thật không thể chối cãi. Dù sử dụng chỉ số nào (hệ số Gini, tỉ lệ phần trăm thu nhập quốc nội của nhóm 1% dân số, hay tỉ lệ Palma)[3] thì lịch sử 30 năm qua là sự bất bình đẳng trong nội bộ các quốc gia tăng lên trong khi sự bất bình đẳng giữa các quốc gia với nhau lại giảm xuống: nếu coi Trái Đất như một quốc gia thì đất nước “Trái Đất” và hàng tỉ công dân của nó càng ngày càng bất bình đẳng. Mặt khác, nếu ta giả sử rằng Trái Đất là nơi sinh sống của những cá nhân “trung bình” của mỗi quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc – nghĩa là khoảng gần 200 người – thì nó càng ngày càng bình đẳng. Sự bất bình đẳng toàn cầu đang gia tăng, nhưng sự bất bình đẳng giữa các quốc gia lại có xu hướng giảm. Về mặt lô-gích, để 2 hiện tượng này tương thích với nhau thì sự bất bình đẳng trong nội bộ các quốc gia phải gia tăng theo thời gian (Hình 1 | Đo lường bất bình đẳng toàn cầu).
Đo lường sự bất bình đẳng toàn cầu

Cái giá của sự bất bình đẳng – Của 1%, do 1%, vì 1% [Sách]

Cái giá của sự bất bình đẳng – Của 1%, do 1%, vì 1%

(Nguồn: https://laodong.vn)

Có người nghĩ tiêu đề bài viết này sao kỳ vậy. Xin nói ngay “của 1%, do 1%, vì 1%” là tiêu đề một bài báo của J. E. Stiglitz, nhà kinh tế học Mỹ đoạt giải Nobel, được đăng năm 2011 và cũng tóm gọn nội dung chính của cuốn sách “Cái giá của sự bất bình đẳng” (The Price of Inequality) của ông vừa ra mắt bạn đọc ngày 11.6.2012. Ông nhại lại cụm từ “của dân, do dân, vì dân” của Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln được phát biểu ngày 19.11.1863.

Joseph E. Stiglitz không xa lạ với nhiều người Việt Nam. Ông đã thăm Việt Nam không dưới hai lần và lần nào cũng được các lãnh đạo Việt Nam tiếp đón trọng thị. Ông đã từng là Phó Chủ tịch và kinh tế gia trưởng của Ngân hàng Thế giới, chủ tịch Hội đồng Tư vấn kinh tế của Tổng thống Mỹ Clinton. Nhiều sách của ông đã được dịch ra tiếng Việt. Cuốn “Cái giá của sự bất bình đẳng” là cuốn sách bình dân, với 290 trang chính và hơn 100 trang chú giải cho các bạn đọc kỹ tính muốn tìm hiểu vô số bằng chứng và nghiên cứu sâu hơn về mặt hàn lâm, có thể nói là “phiên bản” đầy đủ được mở rộng rất nhiều của bài báo nói trên.

Ba chủ đề không mới và được nhiều người biết đến: các thị trường không hoạt động như các lý thuyết kinh tế đến nay đã giả thiết, chúng không hiệu quả cũng chẳng ổn định; hệ thống chính trị đã không sửa được các khuyết tật thị trường; các hệ thống kinh tế và chính trị là bất công một cách cơ bản.

Cuốn sách của Stiglitz tập trung phân tích sự bất bình đẳng hiện nay ở Mỹ, ở một số nước công nghiệp tiên tiến khác, và giải thích ba chủ đề trên liên hệ mật thiết với nhau thế nào: sự bất bình đẳng là nguyên nhân và hệ quả của sự thất bại của hệ thống chính trị, và nó tạo ra sự bất ổn của hệ thống kinh tế, đến lượt sự bất ổn kinh tế lại làm tăng sự bất bình đẳng. Một vòng luẩn quẩn khá quen thuộc. Muốn bứt phá ra khỏi cái vòng luẩn quẩn này cốt yếu vẫn là ở những cải cách chính trị.

Về mặt kinh tế, bất bình đẳng dễ nhận thấy nhất là bất bình đẳng về lương, thu nhập và của cải. Trong giai đoạn 1979-2006, lương của 90% tăng trung bình 15% còn của 1% trên đỉnh tăng 144% và của 0,1% trên đỉnh tăng 324%! Năm 2007, trước khủng hoảng, thu nhập của 0,1% hộ gia đình trên đỉnh bằng 220 lần thu nhập trung bình của 90% hộ gia đình dưới cùng (con số tương ứng của năm 1979 “chỉ là” 50 lần và của năm 2010 còn là 164 lần). Do sự bất bình đẳng về của cải không ngạc nhiên là sự bất bình đẳng về thu nhập từ vốn: trong năm 2007, 1% trên đỉnh hưởng khoảng 57% thu nhập từ vốn.

Bất bình đẳng không đơn thuần xảy ra mà được tạo ra. Bất bình đẳng có nhiều nguyên nhân. Các lực lượng thị trường góp phần tạo ra sự bất bình đẳng, nhưng rốt cuộc các chính sách của nhà nước định hình các lực lượng thị trường đó.

Trục lợi (rent-seeking) là một trong những nguyên nhân chính gây ra bất bình đẳng. Stiglitz để một chương cho chủ đề này với phân tích rất thấu đáo từ việc cấp phép, hợp đồng mua sắm của chính phủ, trao độc quyền, đánh thuế, bán tài nguyên quốc gia…, cho đến các loại bao cấp. Không phải mọi hành động trục lợi đều sử dụng chính phủ để moi tiền của người dân. Khu vực tư nhân cũng có trăm phương nghìn cách để trục lợi, nhất là khu vực ngân hàng, kỹ thuật cao. Nhưng ngay cả ở đây chính phủ cũng đóng vai trò lớn: không ngăn chặn các hành động ấy.

Các lực lượng thị trường góp phần tạo ra sự bất bình đẳng và Stiglitz dành trọn một chương để phân tích. Ông đả phá quan điểm cho rằng các thị trường là động lực chính (gây ra bất bình đẳng và những người ở dưới đáy và ở giữa chỉ “không gặp may”). Các lực lượng thị trường đúng thực (là nguyên nhân gây ra bất bình đẳng), nhưng các quá trình chính trị định hình chúng. Những thay đổi xã hội, như những thay đổi về các chuẩn mực và các định chế cũng góp phần, nhưng cuối cùng vẫn là chính sách, là chính trị.

Ngược với ý kiến của một số học giả cho rằng sự bất bình đẳng là cần thiết, vì nó tạo khuyến khích cho sự “vươn lên”, ông phân tích tác hại của sự bất bình đẳng đối với sự phát triển kinh tế và với nền dân chủ. Chúng ta phải trả giá rất đắt cho sự bất bình đẳng. Các xã hội bất bình đẳng không hoạt động hiệu quả, nền kinh tế của chúng không ổn định cũng chẳng bền vững trong dài hạn. Sự bất bình đẳng làm giảm năng suất, giảm hiệu quả, giảm tăng trưởng và làm tăng sự bất ổn; làm xói mòn ý thức về cộng đồng, về cuộc chơi công bằng, làm xói mòn sự bình đẳng cơ hội.

Sự bất bình đẳng gây nguy hiểm cho nền dân chủ, làm giảm sự tin cậy, tước quyền của người dân. 1% có nguồn lực, phương tiện và động cơ để định hình lòng tin của dân chúng nhằm phục vụ cho lợi ích của họ. Bộ máy tuyên truyền làm 99% người dân tin rằng họ có cùng lợi ích như 1%.

Nó cũng “làm” luật và diễn giải luật cho hợp với lợi ích của mình. Ông dành hẳn 1 chương bàn về cuộc chiến ngân sách, về nợ nần. Và một chương về chính sách kinh tế vĩ mô và ngân hàng trung ương do 1% và cho 1%.

Cuốn sách nói về nước Mỹ, nhưng lưu ý rằng sự bất bình đẳng kinh khủng và kéo dài tồn tại ở các nước đang phát triển và chậm phát triển với mức độ trầm trọng hơn rất nhiều. Bức tranh thật ảm đạm, nhưng những công trình như của Stiglitz (có không ít) lại phản ánh sức mạnh của hệ thống Mỹ. Ông cũng đưa ra cách thức cải cách nhằm phá vỡ vòng luẩn quẩn bất bình đẳng và xây dựng xã hội bình đẳng hơn ở chương cuối. Giá mà chúng ta cũng có các công trình nghiên cứu tương tự.

Đọc cuốn sách này có thể học được nhiều bài học cho Việt Nam, nhưng cũng không loại trừ có những người lợi dụng nó cho mục đích của họ.

NGUYỄN QUANG A

————————-&&&—————————

Kinh tế học có thể học được gì từ các ngành nhân văn?

Kinh tế học có thể học được gì từ các ngành nhân văn?

(Nguồn: http://nghiencuuquocte.org)

Nguồn: Gary Saul Morson & Morton Schapiro, “Economics With a Humanities Face,” Project Syndicate, 28/07/2017.

Biên dịch: Nguyễn Thị Minh Châu | Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng

Trong một cuộc khảo sát năm 2006, giáo sư các trường đại học ở Mỹ được hỏi rằng sở hữu kiến thức trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu thì tốt hơn hay là nên sở hữu kiến thức chỉ trong một lĩnh vực. Trong số các giáo sư tâm lý học tham gia khảo sát, có 79% tỏ ra hứng thú với việc nghiên cứu liên ngành, giống như 73% các nhà xã hội học và 68% các sử gia. Những người ít nhiệt tình nhất? Các nhà kinh tế học: chỉ 42% người được khảo sát cho biết họ đồng ý với nhu cầu hiểu thế giới thông qua một ống kính đa ngành. Như một nhà quan sát đã nói một cách thẳng thừng: “Các nhà kinh tế nghĩ rằng họ không có gì để học hỏi từ bất cứ ai khác.”

Trên thực tế, các nhà kinh tế học sẽ được hưởng lợi rất lớn nếu họ mở rộng trọng tâm của mình. Nghiên cứu với đối tượng con người, kinh tế học có nhiều điều để học hỏi từ các ngành nhân văn. Điều đó không chỉ khiến các mô hình kinh tế học có thể thực tế hơn và dự đoán của nó có thể chính xác hơn, mà các chính sách kinh tế còn có thể hiệu quả hơn và công bằng hơn.

Dù là xem xét cách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong các nền văn hoá đa dạng, các câu hỏi đạo đức phát sinh khi các trường đại học theo đuổi tư lợi và các sinh viên của mình phải trả giá thay, hay là các vấn đề cá nhân sâu sắc liên quan đến chăm sóc sức khoẻ, hôn nhân, và gia đình, những hiểu biết kinh tế là cần thiết nhưng chưa đủ. Nếu những hiểu biết kinh tế này là tất cả những gì chúng ta xem xét thì các chính sách sẽ lúng túng và người dân phải chịu khổ.

Với niềm đam mê dành cho những lý giải dựa trên toán học, các nhà kinh tế học gặp nhiều khó khăn trong ít nhất ba lĩnh vực: diễn giải văn hóa, sử dụng diễn giải tự sự (narrative explanation), và giải quyết các vấn đề đạo đức vốn không thể chỉ xếp vào ngành kinh tế học đơn thuần.

Con người không phải là những sinh vật được tạo ra trước rồi mới được đưa vào một nền văn hóa nào đó như Achilles được nhúng xuống dòng sông Styx. Ngay từ đầu con người đã là những sinh vật văn hoá. Nhưng bởi vì văn hoá không thể được diễn đạt bằng các thuật ngữ toán học nên các nhà kinh tế học thường chấp nhận ý tưởng về một nhân tính tiền văn hóa.

Để hiểu con người như những sinh vật văn hóa, ta phải kể chuyện về họ. Cuộc sống con người không diễn ra theo một cách có thể dự đoán như cách sao Hỏa xoay quanh mặt trời. Các lựa chọn ngẫu nhiên, riêng biệt, và không thể lường trước đóng một vai trò hết sức quan trọng. Cuộc sống thể hiện cái gọi là “tính tự sự” (narrativeness), hàm ý nhu cầu diễn giải theo các câu chuyện. Và sự hiểu biết tốt nhất về điều này có thể thấy trong tiểu thuyết, cái có thể được xem là không chỉ là một hình thức văn chương, mà còn là một cách thức riêng để hiểu thế giới xã hội. Tuy các sự kiện mà tiểu thuyết miêu tả là hư cấu, nhưng hình dạng, trình tự, sự phân nhánh các sự kiện ấy lại thường là câu chuyện chính xác nhất mà chúng ta có về cách cuộc sống diễn ra.

Cuối cùng, kinh tế học tất yếu xoay quanh những câu hỏi đạo đức không thể giản lược thành kinh tế học – hay bất cứ ngành khoa học xã hội nào khác. Các nhà kinh tế học thường lén đưa những mối quan tâm đạo đức vào các mô hình của mình với những khái niệm như giá thị trường “hợp lý.” Nhưng có nhiều cách làm cho các vấn đề này trở nên rõ ràng và mở ra tranh luận về chúng.

Không có nguồn hiểu biết nào về đạo đức tốt hơn các cuốn tiểu thuyết của Tolstoy, Dostoevsky, George Eliot, Jane Austen, Henry James, và các nhà văn hiện thực vĩ đại khác. Tác phẩm của họ chắt lọc sự phức tạp trong các câu hỏi đạo đức vốn quá quan trọng để có thể an tâm giao phó cho một lý thuyết bao trùm – các câu hỏi kêu gọi sự cảm thông và sự đánh giá đúng đắn, thứ được phát triển thông qua kinh nghiệm và không thể hình thức hóa. Chắc chắn, một số lý thuyết đạo đức có thể đề cao sự cảm thông, nhưng đọc văn chương và đồng cảm với các nhân vật trong đó vốn đã bao gồm việc thường xuyên đặt mình vào vị trí của người khác. Nếu một người không cảm thấy đồng cảm với Anna Karenina thì người đó chưa thực sự đọc Anna Karenina.

Khi đọc một cuốn tiểu thuyết vĩ đại và đồng cảm với các nhân vật trong đó, bạn dành vô số giờ tương tác với họ – cảm nhận là người khác thì như thế nào từ bên trong họ. Bạn nhìn thế giới từ góc nhìn của một tầng lớp xã hội, giới tính, tôn giáo, văn hóa, khuynh hướng tình dục, hiểu biết đạo đức khác, hoặc những đặc điểm khác vốn định nghĩa và phân biệt trải nghiệm con người. Bằng cách gián tiếp sống cuộc đời của nhân vật, bạn không chỉ cảm nhận cái cô ta cảm nhận mà còn suy nghĩ về những cảm xúc ấy, xem xét những hành động mà chúng kéo theo, và, bằng cách luyện tập, có được sự thông thái để đánh giá con người thực sự với tất cả những sự phức tạp của họ.

Vấn đề không phải là từ bỏ những thành tựu vĩ đại của kinh tế học, mà là tạo ra cái mà chúng tôi gọi là “humanomics” (kinh tế nhân học), cái cho phép mỗi ngành giữ lại những phẩm chất riêng . Thay vì hợp nhất kinh tế học với nhân văn học, “kinh tế nhân học” tạo ra một cuộc đối thoại giữa hai bên.

Một cuộc trò chuyện như vậy sẽ đưa kinh tế học trở lại với những cội rễ lừng lẫy của mình trong tư tưởng của Adam Smith, người mà trong cuốn The Theory of Moral Sentiments đã công khai phủ nhận việc hành vi của con người có thể được mô tả đầy đủ theo “sự lựa chọn duy lý” của con người nhằm tối đa hóa lợi ích cá nhân của họ. Suy cho cùng, con người thường hành xử một cách ngu ngốc. Quan trọng hơn với Smith, sự quan tâm của con người đối với người khác là một “ước vọng nguyên thủy” không thể đơn giản hóa thành những mối quan tâm ích kỷ.

Các tác phẩm của Smith về kinh tế và đạo đức chia sẻ một cảm giác sâu sắc về những giới hạn của lý trí. Nền kinh tế kế hoạch tập trung chắc chắn sẽ thất bại, các mô hình đại số về hành vi cũng thế. Người ta cần một hiểu biết tinh tế về những cái riêng, kiểu tình cảm được kịch tính hóa nhờ Jane Austen và các nhà văn theo sau, nửa thế kỷ sau khi khảo luận đạo đức của Smith ra đời. Là một nhà tâm lý học vĩ đại, Smith biết chúng ta cần cả tiền bạc và tình cảm.

Các phương pháp kinh tế lượng và các mô hình toán học dạy chúng ta nhiều điều, nhưng không phải là tất cả. Đối với cuộc sống con người, với nét đặc trưng là tính ngẫu nhiên và tính tự sự của nó, câu chuyện là một cách tìm hiểu không thể thiếu. Đó là lý do tại sao tính nghiêm ngặt về định lượng, trọng tâm chính sách, và logic của kinh tế học phải được bổ sung bằng sự cảm thông, sự đánh giá, và sự thông thái vốn là tinh hoa định hình nên các ngành nhân văn học. Các nhà kinh tế phải “lên tiếng” với các ngành khác – và để các ngành khác “trả lời” lại.

Gary Saul Morson, giáo sư các ngành nghệ thuật và nhân văn tại Đại học Northwestern, là đồng tác giả cuốn Cents and Sensibility: What Economics Can Learn from the Humanities.

Morton Schapiro, giáo sư kinh tế học và hiệu trưởng trường Đại học Northwestern, là đồng tác giả cuốn Cents and Sensibility: What Economics Can Learn from the Humanities.

Copyright: Project Syndicate 2017 – Economics With a Humanities Face

———————-&&&———————-