Kinh tế học vĩ mô mới (New Macroeconomics)

Kinh tế học vĩ mô mới (New Macroeconomics)

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

® Giải Nobel: FRIEDMAN, 1976 – HAYEK, 1974 – LUCAS, 1995

Có lẽ ngày nay việc giảng dạy kinh tế vĩ mô là khó hơn cách đây ba mươi hay bốn mươi năm trước khi mà phân tích dựa trên một mô hình keynesian đơn giản hoá: biểu đồ 450, rồi mô hình IS-LM (hay mô hình Hicks-Hansen) được bổ sung trước tiên bằng một đường Phillips rồi sau đó tính đến những quan hệ với nước ngoài, thường là trong khuôn khổ của mô hình Mundell-Fleming, vốn chỉ là một biến thể của mô hình IS-LM.

Mô hình của sự tổng hợp và việc xét lại mô hình này

Trong nhiều thập niên, trình bày trên là cơ sở của kinh tế học vĩ mô. Cho đến tận những năm 1960, người ta chủ yếu quan tâm đến việc cải tiến và tinh vi hoá những hàm kinh tế vĩ mô chính (hàm tiêu dùng, hàm đầu tư, v.v.). Người ta chứng minh, với giả thiết tính cứng nhắc của lương danh nghĩa, rằng những kết quả “keynesian” chính hoàn toàn tương hợp với một mô hình tân cổ điển truyền thống. Do điều thường được chấp nhận là lương còn xa mới linh hoạt trong ngắn hạn, nên hình như là một điều tự nhiên khi xem rằng lí thuyết keynesian là xác đáng cho việc nghiên cứu những biến động và mất cân bằng ngắn hạn, còn mô hình cân bằng chung vẫn còn xác đáng để phân tích dài hạn; như thế người ta có thể là một nhà keynesian trong ngắn hạn và là một nhà tân cổ điển trong dài hạn; đó là điều được gọi là trường phái của sự tổng hợp.

Alvin Hansen (1887-1975)
Robert Clower (1926-2011)

Trong những năm 1960, nổi lên nhiều nghi ngờ nghiêm trọng về cơ sở của sự phân biệt trên. Clower nhấn mạnh tính không tương thích của hàm tiêu dùng keynesian, điểm mấu chốt của hệ thống, với một mô hình cân bằng chung: thật vậy, người ta giả định rằng hộ gia đình xem thu nhập của hộ như là cho trước trong lúc trong một mô hình cân bằng chung hộ gia đình được giả định là chọn lượng nhân tố lao động mà hộ muốn cung cấp. Làm thế nào hoà giải một hàm tiêu dùng như thế với lí thuyết kinh tế vi mô“chuẩn”?

Đề xuất của Clower là hình dung những cầu “thực tế” các tác nhân khi hệ thống không ở thếcân bằng. Nếu những giá của cân bằng chung không được xác định, nếu những giao dịch được tiến hành ở “ngoài” thế cân bằng thì, với những dư cung và dư cầu này, các tác nhân không thể triển khai những kế hoạch được họ dự tính từ các ràng buộc ngân sách của họ. Thật vậy các tác nhân bị “ràng buộc”, bị “hạn mức”: những dự án mua sắm (hay bán buôn) những nhân tố hay sản phẩm không thể tiến hành được. Tóm lại, do những hạn mức trên số lượng này các tác nhân sẽ vấp phải những ràng buộc mới. Người lao động bị thất nghiệp sẽ phát ra những cầu (sản phẩm tiêu dùng) không phải trên cơ sở lương lao động người này muốn bán, nhưng trên cơ sở của lương lao động thật sự bán được.

Những gợi ý của Clower được Barro và Grossman (1971), và tại châu Âu được Bénassy, Drèze và Malinvaud lấy lại đã có tiếng vang lớn. Những gợi ý này đã cho phép trang bị những cơ sởkinh tế vi mô cho kinh tế học vĩ mô kiểu keynesian, đồng thời không giải quyết vấn đề dài hạn. Tuy nhiên, lí thuyết mất cân bằng và chương trình nghiên cứu “tân keyensian” này đã bị sự phát triển của “kinh tế học cổ điển mới” che khuất trên bình diện quốc tế.

Ở cội nguồn của kinh tế học cổ điển mới

William Phillips (1914-1975)
Robert Barro (1944-)

“Kinh tế học cổ điển mới” thường bị lẫn lộn với – hay được nhận diện như – giả thiết“dự kiến duy lí”, xuất hiện trong những năm 1970 tại Hoa Kì; trào lưu này đã làm thay đổi sâu sắc bộ máy phân tích và có một ảnh hưởng chính trị đáng kể, như được minh chứng qua nhiều cuộc tranh luận về chính sách kinh tế đương đại.

Công trình nghiên của A. W. Phillips năm 1958 đặt một mối quan hệ giữa thất nghiệp và tỉ suất lương danh nghĩa ở Anh từ 1861 đến 1957 và dẫn đến kết luận là “tỉ suất biến thiên của lương danh nghĩa có thể được giải thích bằng mức thất nghiệp và tỉ suất biến thiên của mức này”.

Tất nhiên ý tưởng cho rằng có một sự đánh đổi giữa gia tăng của lương danh nghĩa và thất nghiệp không phải là một ý hoàn toàn mới. Nếu bài viết trên có được tiếng vang lớn như thế trước hết là vì, theo một cách nào đó, nó khép lại “học thuyết Keynes của sự tổng hợp” hay“tổng hợp tân cổ điển”; trong lúc trong học thuyết Keynes đơn giản hoá lương là bất định thì quan hệ Phillips cho phép trang bị phương trình còn thiếu; hơn nữa quan hệ này cho phép trả lời một loạt câu hỏi quan trọng: trong chừng mực nào có một liên hệ giữa gia tăng của lương và sự căng thẳng trên thị trường việc làm? Một mức thất nghiệp có là cần thiết cho sự ổn định của giá cả không? Phải chăng ta có thể lựa chọn giữa việc có ít người thất nghiệp hơn và một lạm phát cao hơn?

Edmund Phelps (1933-)
Milton Friedman (1912-2006)

Nhưng bài viết của Phillips, theo một nghĩa nào đó, là sự đăng quang của học thuyết Keynes của sự tổng hợp cũng là nguyên nhân thất bại của học thuyết này. Chính những phân tích được một số chức trách rút ra từ học thuyết này là đối tượng của nhiều phê phán và “kinh tế học cổ điển mới” sẽ tập trung tấn công vào đó, từ sự kết hợp của những đóng góp khác nhau của M. Friedman, E. Phelps và J. Muth: vai trò của chính sách tiền tệ, “ngụ ngôn các đảo”, “lí thuyết những dự kiến duy lí”.

Bài diễn văn của M. Friedman, được công bố năm 1968, có một tiếng vang rất lớn: một số tác giả tìm thấy trong đó lời giải thích (tiên tri) của hiện tượng “đình đốn và lạm phát”, của sự trượt dài của các đường Phillips đặc trưng cho thập niên 1970. Tác giả lấy lại khái niệm về “lãi suất tự nhiên” được Wicksell đề xuất và chỉ ra là phân tích của ông có một khái niệm tương đương chính xác cho thị trường lao động. Từ đó có định nghĩa nổi tiếng về “tỉ suất thất nghiệp tự nhiên”: “mức do một hệ thống cân bằng chung walrasian tạo ra miễn là hệ thống này bao gồm những đặc điểm cấu trúc của thị trường sản phẩm và của thị trường lao động, kể cả những khiếm khuyết, những thay đổi ngẫu nhiên của cầu và cung, chi phí tìm kiếm thông tin về những việc làm còn trống chỗ và nhân công sẵn sàng làm việc, những chi phí cơ động, v.v.”. Từ đó có phê phán vào niềm tin về tính ổn định của quan hệ Phillips: “Bao giờ cũng có một đánh đổi tạm thời giữa lạm phát và thất nghiệp, song đánh đổi này là không thường xuyên. Việc đánh đổi tạm thời không bắt nguồn từ bản thân lạm phát, nhưng từ lạm phát không được dự kiến“. Có lẽ đây là mệnh đề then chốt và điểm chốt của dòng tư duy sẽ dẫn đến “kinh tế học cổ điển mới” mà ta thấy rằng Friedman là người tạo cảm hứng nhưng không vì thế mà là nhà sáng lập trường phái này.

Axel Leijonhufvud (1933-)
Knut Wicksell (1851-1926)

Tiếng vang của phê phán của Friedman không thể làm cho ta quên được là có một phê phán song song của E. Phelps (tác giả này có những quan điểm khá xa với những quan điểm trọng tiền) đối với tính ổn định của đường Phillips vừa tìm cách trang bị cho kinh tế học vĩ mô một cơ sở kinh tế vi mô. Phản ứng lại kinh tế học vĩ mô của một học thuyết Keynes đơn giản hoá, ông minh hoạ giá trị của phương pháp tân cổ điển được ông dùng lại bằng cách bỏ đi tiên đề walrasian về thông tin hoàn hảo. Cũng vào thời kì đó, Clower và Leijonhufvud và trường phái mất cân bằng cũng chứng minh là nên từ bỏ giả thiết người rao giá chi phối toàn bộ các thị trường bằng cách cung cấp một thông tin tức thì và hoàn hảo. Nhưng trong lúc Clower và Leijonhufvud suy ra từ đó rằng tính không hoàn hảo của thông tin dẫn đến những thị trường mất cân bằng thì Phelps lại tìm cách trình bày sự sụt giảm của việc làm và của hoạt động kinh tế trong khuôn khổ tân cổ điển, nghĩa là bằng cách tôn trọng giả thiết cho rằng các tác nhân là duy lí và các thị trường tự cân bằng thông qua giá cả.

Đối với Phelps, thông tin là không hoàn hảo và do đó là tốn kém; có những khoảng cách, xã hội cũng như địa lí, tách biệt các thị trường với nhau. Để dùng lại hình ảnh của chính tác giả, đó là “ngụ ngôn về các đảo”: để biết lương trả trên một hòn đảo bên cạnh, một người lao động phải mất một ngày để đến đảo ấy. Như vậy xuất hiện một “thất nghiệp tìm kiếm”: đối mặt với một sụt giảm của lương thực tế, người lao động sẽ không ra đi vì họ không biết rằng sụt giảm của hoạt động có tính bộ phận hay là tổng quát; nếu họ đi tìm một thù lao tốt hơn chỗ khác, bằng cách chèo sang một đảo khác, thì cung lao động giảm và thất nghiệp tìm kiếm sẽ tăng.

Đóng góp thứ ba có thể được xem như đóng góp trung tâm cho sự nổi lên của kinh tế học cổ điển mới là xưa hơn và tầm quan trọng của nó chỉ hiện ra một cách hồi cố: thật vậy ngay từ 1961, J. F. Muth đã trình bày giả thiết dự kiến duy lí, giả thiết này sẽ cho phép đi xa hơn phê phán của Friedman-Phelps, vốn dựa trên những “dự kiến thích nghi”. Đối với các tác giả này, chính vì lạm phát không được dự kiến nên mới có khả năng tạm thời đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp; chính vì những dự kiến thay đổi dần theo diễn tiến của quá trình lạm phát mà, trong dài hạn, đường Phillips trở thành thẳng đứng. Muth, khi nghiên cứu những dữ liệu liên quan đến các dự kiến kết luận: “[…], trong một ngành, các dự kiến trung bình tốt hơn những dự kiến của những mô hình ngây thơ“. Do đó, xuất phát từ một phê phán những cách hình thức hoá “chuẩn” – của thời bấy giờ – những dự kiến, tác giả gợi ý rằng “những dự kiến là những tiên đoán có cơ sở về những biến cố tương lai và chủ yếu giống với những tiên đoán của lí thuyết kinh tế xác đáng” và ông đề nghị gọi những dự kiến này là những “dự kiến duy lí”.

Lev Pontryagin (1908-1988)

Do đó có công thức: t-1Xt* = E(Xt\It-1). Giá trị dự kiến của Xt tại thời điểm (t-1), được kí hiệu là t-1Xt*, như vậy là kì vọng toán học của Xt, được tính từ thông tin sẵn có tại thời điểm (t-1), thông tin này được kí hiệu là It-1; do X* là giá trị cân bằng và et là một biến ngẫu nhiên với kì vọng toán học bằng không nên giá trị dự kiến này còn được viết như:

t-1Xt* = X* + et*

Bởi thế trường phái cổ điển mới là sự kết hợp của học thuyết trọng tiền, với giả thiết thông tin không hoàn hảo và tốn kém và cuối cùng với giả thiết những dự kiến duy lí. Có lẽ để đầy đủ hơn phải kể thêm vai trò của những công cụ mới (nguyên lí gọi là “cực đại” phát triển từ những công trình của nhà toán học Nga L. Pontryagin) được phát triển trong những năm 1960 và cho phép xử lí một cách đầy đủ và dễ dàng hơn việc tối ưu hoá liên thời gian. Khái niệm cân bằng yên ngựa, một khái niệm làm đổi mới hoàn toàn khái niệm cân bằng, dường như chỉ tìm được sự biện minh đầy đủ khi được liên kết với giả thiết dự kiến duy lí.

Thông điệp kép của kinh tế học cổ điển mới

Friedrich Hayek (1899-1992)
Robert Lucas (1937-)

Trào lưu này được phát triển từ giữa những năm 1970 từ Hoa Kì; những nhà lãnh đạo chính của trào lưu là R. Lucas (giải Nobel 1995), Th. Sargent, N. Wallace và R. Barro. Các nhà kinh tế này tự nhận họ là những nhà “cổ điển” vì muốn chỉ rõ sự thừa kế về mặt tri thức với những nhà tiền keynesian, đặc biệt là với Hayek, và đóng lại dấu ngoặc mà Keynes đã, một cách bất chính, mở ra. Điều được nhấn mạnh là những hành vi cá thể, do các thị trường luôn ở thế cân bằng nên giá cả tự điều chỉnh rất nhanh. Những hiệu ứng bất ngờ và thay thế liên thời gian sẽ có một vai trò vô cùng quan trọng. Ở đây chúng tôi đặt ưu tiên cho một thông điệp kép: một mặt, chính sách điều tiết tình thế, theo các nhà cổ điển mới, hoàn toàn không có hiệu quả (nguyên lí “bất biến”); mặt khác, phải từ bỏ cách mô hình hoá kinh trắc vĩ mô truyền thống.

Neil Wallace (1939-)
Thomas Sargent (1943-)

Về điểm thứ nhất, ở đây cần phải trích dẫn Sargent và Wallace (1976): “Trong hệ thống này, không có chỗ cho một chính sách ngược chu kì. Để tận dụng đường Phillips, bằng cách này hay cách khác, phải đánh lừa công chúng. Nhưng, do có giả thiết những dự kiến duy lí, các giới chức trách không thể sử dụng bất kì quy tắc nào có tác động ngược với hi vọng đánh lừa được công chúng một cách có hệ thống. Điều này có nghĩa là giới chức trách không thể khai thác đường Phillips, cho dù chỉ trong một thời kì. Như thế, việc kết hợp giả thiết tỉ suất tự nhiên và giả thiết dự kiến duy lí làm cho giả thiết đầu, từ một điều lạ lùng … biến thành một giả thiết có những hệ quả tức thì và triệt để đối với tính khả thi của một chính sách ngược chu kì”.

Trước hết đoạn trích dẫn trên là lí thú vì chỉ ra cơ sở của điều đôi lúc được gọi là “nguyên lí bất biến, hay tính không hiệu quả của những chính sách ngược chu kì”; kinh tế cổ điển mới đi xa hơn những đề xuất của Friedman về tính không ổn định của đường Phillips; đối với Friedman, còn có một đánh đổi tạm thời giữa lạm phát và thất nghiệp; đường Phillips dài hạn tất nhiên là thẳng đứng nhưng vẫn có một họ những đường Phillips ngắn hạn có những đặc tính tốt. Ngược lại, đối với Lucas và kinh tế học cổ điển mới thì đường Phillips là thẳng đứng, trong dài hạn cũng như trong ngắn hạn.

Đoạn trích dẫn trên còn có một ích lợi khác, đó là lời nhắc nhở của ngay chính những tác giả tạo lập trường phái này là không thể đồng hoá “kinh tế học cổ điển mới” với “giả thiết những dự kiến duy lí” hay qui “kinh tế học cổ điển mới” về “giả thiết những dự kiến duy lí”. Tính không hiệu quả của chính sách ngược chu kì quả thật là kết quả của việc vận dụng đồng thời hai giả thiết, giả thiết tỉ suất tự nhiên và giả thiết những dự kiến duy lí. Do đó ta sẽ bớt ngạc nhiên hơn trước việc những mô hình hoá khá xa với những mô hình hoá của kinh tế học cổ điển mới thường xuyên sử dụng giả thiết những dự kiến duy lí.

Thông điệp trung tâm thứ hai là phê phán việc sử dụng truyền thống các mô hình kinh trắc. Quan điểm của Lucas (1972) là không nhập nhằng: “Do cấu trúc của một mô hình kinh trắc gồm những qui tắc ra quyết định tối ưu của các tác nhân kinh tế và những qui tắc tối ưu thay đổi một cách có hệ thống với những thay đổi của cấu trúc của những chuỗi xác đáng đối với người ra quyết định, nên mọi thay đổi của chính sách sẽ làm thay đổi một cách triệt để cấu trúc của các mô hình kinh trắc […] [kết luận này] kéo theo là những so sánh, với sự hỗ trợ của những mô hình kinh trắc hiện nay, những hiệu ứng của những qui tắc chính sách là không có giá trị mặc dù hiệu năng của những mô hình này trên thời kì quan sát hay của việc dự báo ngắn hạn ex ante”.

Tóm lại, những mô phỏng, từ những mô hình hiện có, về mặt nguyên tắc, không thể cho được bất kì thông tin có ích nào về những hệ quả thực tế của những chính sách đối chọn khác nhau.

Kết luận trên được suy ra từ việc xem xét chính những phương trình được sử dụng trong các mô hình kinh trắc tiêu biểu. Lucas nói rằng cách làm thông thường là ước lượng một hàm (ví dụ hàm tiêu dùng) và tiếp đó sử dụng quan hệ đã được làm rõ bằng cách này để tiến hành những dự báo tiêu dùng với những giả thiết hay kịch bản khác nhau.

Kiểu sử dụng như thế dựa trên một giả thiết ngầm: quan hệ kinh trắc được giả định là ổn định trong những giả thiết khác nhau hình dung được. Lucas bảo vệ ý là những giáo huấn của lí thuyết động cho thấy rằng không thể giữ lại giả thiết này – và do đó ta có thể chờ đợi là những phương trình hành vi thay đổi khi những giả thiết được chọn thay đổi. Những thay đổi trong các quan hệ hành vi xuất phát từ những thay đổi trong các quan hệ và phản ứng của các tác nhân đối mặt với một chân trời kinh tế đã thay đổi.

Bên kia kinh tế học cổ điển mới (NCE) là kinh tế học keynesian mới (NKE)

David Romer (1958-)
Gregory Mankiw (1958-)

Tuy nhiên nếu kinh tế học cổ điển mới tỏ ra thống trị trong thế giới anglo-saxon trong những năm 1980 thì mười năm sau đó ảnh hưởng của trường phái này bị những trào lưu tự nhận là kế thừa tư tưởng Keynes đồng thời kế thừa một vài yếu tố của “kinh tế học cổ điển mới” công kích kịch liệt. Tên gọi “kinh tế học keynesian mới” chỉ mới xuất hiện gần đây, dù cho thuật ngữ đã được dùng vào đầu những năm 1980 và một trong những lần xuất hiện đầu tiên của thuật ngữ này là trong tựa đề một bài viết của L. Ball, M. G. Mankiw và D. Romer.

Sự đoạn tuyệt với “học thuyết keynesian của sự tổng hợp” hoàn toàn to lớn: thật vậy, điểm xuất phát nằm ở lăng kính kinh tế vi mô, cá nhân luận (phương pháp luận cá thể), đối lập với truyền thống keynesian trước đó vốn dựa trên phương pháp luận tổng thể, lập luận nhiều hơn trên toàn bộ hệ thống kinh tế và xã hội.

Sự đối lập chủ yếu với các nhà cổ điển mới không liên quan đến sự hình thành những dự kiến lẫn việc viện đến phương pháp luận cá thể. Trung tâm của sự đối lập nằm ở chỗ khác: vai trò của các thị trường. Thật vậy, đối với kinh tế học cổ điển mới, giả thiết cơ bản là các thị trường phải được “dọn sạch” (cleared) [ND] hay nếu muốn – nhưng thành ngữ là ít hàn lâm hơn –được “tẩy thoát sạch” bằng sự điều chỉnh của giá cả. Đối với kinh tế học keynesian mới, trái lại, hoạt động của các thị trường không cho phép đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả của hệ thống. Trên điểm này, còn phải phân biệt trong nhóm tác giả này, những ai quan tâm đến tính không ổn định của các đường cung với những ai nhấn mạnh đến những vấn đề phối hợp, và cuối cùng với những ai nhấn mạnh đến những thời gian điều chỉnh của giá cả, tức là những hiện tượng nhờn. Nhưng vượt lên trên những khác biệt này là một quan điểm chung: thị trường không đảm bảo cho hệ thống hoạt động có hiệu quả.

Cũng phải làm rõ sự đối lập với các nhà “tân keynesian”. Trong lúc trào lưu “tân keynesian” coi tính “cứng nhắc” (trong ngắn hạn) của giá cả như một dữ kiện cho trước và muốn rút ra từ đó những hệ quả thì các nhà keyesian mới đi tìm những cơ sở kinh tế vi mô của sự điều chỉnh chậm chạp và từng bước này. Đối với nhiều tác giả tự nhận mình thuộc trào lưu kinh tế học keynesian mới thì giá cả có tính “nhờn” (sticky); việc điều chỉnh giá cả với những biến thiên của số lượng, còn xa mới là tức thì, đòi hỏi thời gian và chính tính “nhờn” này của những biến giá cả và thù lao cần phải được giải thích. Do đó có sự đồng ý (ít nhất là một phần) với một phần những quan tâm của kinh tế học cổ điển mới, tức là những cơ sở kinh tế vi mô của kinh tế học vĩ mô.

Có thể cũng nên nói thêm là những tính nhờn nói đến ở đây liên quan đến thị trường sản phẩm (giả thiết menu cost) lẫn thị trường tín dụng (hạn mức tín dụng) cũng như đến thị trường lao động (mô hình “người trong cuộc-người ngoài cuộc”, những vấn đề thương thảo, lí thuyết lương hiệu quả). Nằm ở trung tâm của những mối quan tâm của kinh tế học keynesian mới không chỉ có vấn đề những đặc thù của hợp đồng lao động. Hoạt động của những kiểu thị trường khác nhau cũng được phân tích kĩ (học thuyết keynesian “thông tin”), cho dù các tác giả ít nhiều tự coi mình thuộc trào lưu kinh tế học keynesian mới không gắn một tầm quan trọng bằng nhau, tuỳ trường hợp, cho những hiện tượng nhờn, tính cứng nhắc danh nghĩa hay thực tế. Trong số này, một số tác giả thăm dò một hướng khác, vả lại hướng này đã được chính Keynes gợi ý: họ nhấn mạnh là không thể loại trừ rằng việc gia tăng của tính linh hoạt của giá cả có thể làm tăng, chứ không giảm bớt, tính không ổn định. Đặc biệt điều này hiện lên trong việc phân tích những vấn đề mà nợ nần và thị trường tín dụng đặt ra. Cuối cùng, rõ ràng là những vấn đề phối hợp nằm ở trung tâm của nhiều mối quan tâm.

Mặt khác, điều được thừa nhận là những dự kiến duy lí là một ứng dụng của nguyên lí hành vi duy lí vào việc thu thập và xử lí thông tin và sự hình thành của những dự kiến. Điều cũng được công nhận là nguyên lí không hiệu quả, tính bất lực của chính sách điều tiết kinh tế bằng cầu không trực tiếp gắn với giả thiết những dự kiến duy lí và do đó không thể nào lẫn lộn hay đồng nhất kinh tế học cổ điển mới với những dự kiến duy lí: nếu kết hợp những dự kiến duy lí với biểu trưng “cổ điển” của nền kinh tế chủ yếu dựa trên giả thiết tỉ suất tự nhiên thì không phải là một điều ngạc nhiên khi đi đến kết luận kiểu Lucas-Sargent-Wallace về tính bất lực, không hiệu quả của chính sách kinh tế. Nhưng thử giả định rằng các tác nhân có một biểu trưng“keynesian” (chứ không còn là một biểu trưng cổ điển nữa) về hoạt động của nền kinh tế thì, trong trường hợp này, những dự kiến duy lí, thay vì làm cho chính sách kinh tế bất lực, ngược lại, lại làm cho chính sách này hiệu quả hơn. Đối với nhiều tác giả tự nhận mình thuộc trào lưu“kinh tế học keynesian mới”, khái niệm dự kiến hiện nay là một điểm xuất phát có ích cho việc mô hình hoá.

Đi đến một trường phái tổng hợp mới?

Trong hai mươi năm nữa, trong số tất cả những phát triển tinh vi này, phát triển nào sẽ được các nhà kinh tế hợp nhất vào biểu trưng về hoạt động của thế giới? “Tổng hợp cổ điển keynesian”, một trào lưu tư tưởng thống trị rộng rãi cách đây vài thập niên đã thấy ảnh hưởng của nó bị đánh bạt bởi sự phê phán và lớn mạnh của trường phái trọng tiền (M. Friedman) rồi của kinh tế học cổ điển mới. Đến lượt kinh tế học cổ điển mới bị phản bác, ta có thể tự hỏi phải chăng vào đầu thế kỉ XXI đang xuất hiện điều có thể gọi là một “trường phái tổng hợp mới”? Phải chăng sự hợp nhất của kinh tế học vĩ mô đã ló dạng? Hiện nay có nhiều câu hỏi được đặt ra. Có khả năng là những kiểu mô hình hoá sắp tới sẽ dành một chỗ xứng đáng cho những dự kiến, những quan tâm liên quan đến tính thay thế liên thời gian và tính tiền hậu bất nhất động, những vấn đề tính tin cậy và danh tiếng;cũng phải hình dung đến việc tính đến những hiện tượng có tính dai dẳng và những hiện tượng trễ, việc đưa vào những động thái phi tuyến tính. Do đó phải làm thất vọng những ai hi vọng thấy xuất hiện trở lại một biểu trưng đơn giản kiểu IS-LM; tuy nhiên mô hình thế hệ đan chéo, không được đề cập ở đây, có thể cấu thành một khuôn khổ phân tích sử dụng được ở nhiều cấp độ.

▶ ABRAHAM-FROIS G., chủ biên, La macroéconomie après Lucas, Paris, Economica, 1998. – ARTUS P.,Macroéconomie, Paris, Économica, 1995. –BLANCHARD O. J. & FISHER S., Lectures on Macroeconomics, Cambridge, MIT Press, 1989. – MANKIW N. G. & ROMER D., New Keynesian Economics, Cambridge, MIT Press, 1991. – ROMER D., Macroéconomie approfondie, McGraw-Hill/Ediscience, 1997.

Gilbert ABRAHAM-FROIS

Giáo sư đại học Nanterre (Paris 10)

Nguyễn Đôn Phước dịch

® Chu kì kinh tế; Duy lí hạn chế (tính); Duy lí tân cổ điển (tính); Dự kiến duy lí; Hệ động trong kinh tế; Keynes (học thuyết); Kinh tế học vi mô.

Nguồn: Dictionnaire des sciences économiques, sous la direction de Claude Jessua, Christian Labrousse, Daniel Vitry, PUF, Paris, 2001

—————-&&&—————–

Niết bàn của các nhà kinh tế học (3): Các hiệu ứng

Niết bàn của các nhà kinh tế học (3): Các hiệu ứng

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Xin được nói rõ: các nhà kinh tế đã sáng tạo hoặc tưởng tượng cả khối hiệu ứng (hiệu ứng tích tụ, tập huấn, bất ngờ, lấn thế, thu nhập, giá cả…). Chúng tôi chỉ đề cập dưới đây những hiệu ứng mang tên của những tác giả đã xây dựng chúng.

Hiệu ứng Balassa (hay hiệu ứng Balassa-Samuelson)

Ở những nước nghèo, giá cả đi xe taxi, giá cả ăn uống ở nhà hàng và giá cả các dịch vụ khác của địa phương đặc biệt rẻ so với giá cả ở những nước như Pháp hay Hoa KỳTại sao? Đối với Bela Balassa (1928-1991), một nhà kinh tế học người Hungary từng làm việc tại Hoa Kỳ cùng với Paul A. Samuelson (được “giải thưởng Nobel kinh tế” năm 1970), điều đó không sai, nhưng chưa đủ. Một phần khác của câu trả lời xuất phát từ tỷ giá hối đoái có hiệu lực tại quốc gia đó. Tỷ giá hối đoái được xác định bởi nhu cầu cân đối các hoạt động xuất nhập khẩu. Nhưng những người lao động sản xuất ra các hàng hoá xuất khẩu, nói chung, có năng suất lao động thấp hơn đáng kể so với những người lao động ở Pháp, dẫn đến tỷ giá hối đoái thấp hơn giữa nước có liên quan và Pháp, nếu không thì giá bán các sản phẩm được Pháp nhập khẩu sẽ đắt quá và sẽ không bán được hoặc bán không nhiều.

Bela Balassa (1928-1991)
Paul Samuelson (1915-2009)

Ngược lại, trong các dịch vụ của địa phương, năng suất lao động không khác biệt nhiều giữa hai nước: người lái xe taxi người Miến Điện (ví dụ) lái xe với vận tốc cũng nhanh gần bằng so với người lái xe taxi người Pháp, và không cần nhiều hơn thời gian (thậm chí thường mất ít thời gian hơn) để chuẩn bị và phục vụ một bữa ăn tại một nhà hàng Ấn Độ so với tại một nhà hàng Pháp. Nhưng khách du lịch đến Ấn Độ, nhờ tỷ giá hối đoái thấp, đổi được nhiều đồng nội tệ hơn với đồng euro. Khi mua dịch vụ [ở Ấn Độ], giá cả sẽ đặc biệt rẻ hơn rất nhiều so với những dịch vụ tương tự ở Pháp. Đây là hiệu ứng Balassa, giải thích rằng, về “tiêu chuẩn sức mua”, một người phương Tây có thể sống như một vương công ở Ấn Độ… nhưng với điều kiện là mua các sản phẩm của địa phương, chứ không phải các sản phẩm nhập khẩu. Tuy nhiên, ngược lại, khi mà khoảng cách phát triển giữa các nước thu hẹp càng nhiều, thì hiệu ứng Balassa càng ít hiệu quả, bởi vì khi đó tỷ giá hối đoái giữa đồng nội tệ và đồng euro có xu hướng tăng lên.

Hiệu ứng Pigou (và hiệu ứng Keynes)

Alfred Marshall (1842-1924)
Arthur C. Pigou (1877-1959)

Là một người bạn và đối thủ của Keynes, Arthur Cecil Pigou (1877-1959), giáo sư tại Đại học Cambridge (nơi ông đã kế thừa Alfred Marshall ở vị trí nổi tiếng là giáo sư chuyên ngành kinh tế của Đại học Cambridge, một vị trí mà Keynescũng quan tâm) đã cố bảo vệ một cách tuyệt vọng tư tưởng tân cổ điển chính thống vào những năm 40, thậm chí trong khi cuộc cách mạng keynesian đã cuốn đi tất cả trên đường đi của nó. Hiệu ứng mang tên ông là một trong những nỗ lực của ông. Hiệu ứng đó bắt đầu từ một giả thuyết: giả định rằng tất cả giá cả đều giảm, điều mà chúng ta gọi là “giảm phát”. Đây là một tin tốt lành đối với mỗi cá nhân, nhưng, theo lời giải thích của Keynes vào thời đó, đó không phải là một tin tốt lành đối với nền kinh tế nói chung (hay nền kinh tế vĩ mô). Người mua, khi thấy giá cả giảm, có xu hướng trì hoãn một phần khả năng mua hàng của họ, với hy vọng hưởng lợi sau này khi giá cả giảm thêm nữa. Ngoài ra, một số khoản chi tiêu khác lại đắt hơn, bởi vì trái với việc thu nhập có xu hướng giảm, các khoản chi tiêu đó không giảm giá khi mà các hợp đồng đã ký không được đàm phán lại: trả nợ vay, tiền thuê nhà, thuế thu nhập, tiền bảo hiểm, v.v. bao nhiêu hậu quả dẫn đến việc hạ thấp hơn mức sống của các hộ gia đình và giảm mức hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, làm cho toàn bộ nền kinh tế rơi vào vòng xoáy suy thoái.

John M. Keynes (1883-1946)
Don Patinkin (1922-1995)

Đối với Pigou, sự lo sợ này không có cơ sở. Khi giá giảm, thì sức mua của tiền mặt (tiền giấy và tiết kiệm có tính thanh khoản) của cá nhân (doanh nghiệp và hộ gia đình) tăng. Mỗi cá nhân sẽ không thấy cần thiết phải giữ một lượng tiền mặt quan trọng để đối phó với các khoản chi tiêu đã được tính trước và họ sẽ chuyển một phần tiền mặt dư thừa này cho các khoản chi tiêu nhu cầu bổ sung. Đây là hiệu ứng Pigou, một hiệu ứng có thể phá sạch vòng tròn luẩn quẩn giảm phát được Keynes mô tả. Ngoại trừ một điều cho thấy có lẽ Pigou hơi quá lạc quan. Và nếu mọi người đều nghĩ rằng giá cả sẽ tiếp tục giảm nữa và chờ đợi để chi tiêu lượng tiền mặt dư thừa của mình, hoặc tranh thủ để trả nợ? Còn gì nữa đâu sự bật dậy của khả năng tiêu thụ: bị đóng khung trong cái vòng giảm phát, người tiêu dùng sẽ tiếp tục chìm sâu [vào cái vòng đó]. Và trên thực tế, tình trạng giảm phát thực tế (ở Nhật Bản, ví dụ) xác thực cách tiếp cận của Keynes hơn là hiệu ứng Pigou.

Tuy nhiên, hiệu ứng Pigou đã có một cuộc sống thứ hai, nhưng bằng một cách nào đó theo chiều ngược lại. Khi giá của một số tài sản nào đó tăng – bất động sản, ví dụ –, thì chủ sở hữu của các tài sản này làm giàu. Điều mà Don Patinkin, một nhà kinh tế học người Mỹ, đặt tên (vào những năm 1960) là “hiệu ứng tiền mặt thực tế”, có thể thúc đẩy một số chủ sở hữu, những người nắm giữ những tài sản bảo đảm vững chắc hơn trong con mắt của các ngân hàng, vay tiền để làm giàu hơn nữa. Sự tăng giá tài sản này, và được duy trì như vậy (sự tăng giá duy trì sự tăng giá), có thể dẫn đến hiện tượng bong bóng đầu cơ mà sớm muộn gì cũng bùng nổ, như cuộc khủng hoảng các khoản cho vay dưới chuẩn đã chứng minh. Trớ trêu thay, hiệu ứng Pigou đảo ngược này (bởi vì nó có hiệu lực khi giá các tài sản tăng) từ nay được gọi là hiệu ứng Keynes. Sự báo thù là một món ăn lạnh.

Hiệu ứng Veblen

Thorstein Veblen (1857-1929)

Thorstein Veblen (1857-1929) là một nhà kinh tế học người Mỹ, có lẽ do nhìn xã hội mà ông sống bằng con mắt phê phán (ông xuất thân từ một gia đình gốc Na Uy sống rất giản dị), ông đã xuất bản vào năm 1899 một cuốn sách đã làm cho ông nổi tiếng: The Theory of The Leisure Class [Lý thuyết về tầng lớp nhàn rỗi]. Trong cuốn sách đó, ông bóc vỏ một ngàn lẻ một cách mà một người đã từng thành công về mặt vật chất trong cuộc sống bộc lộ sự thành công đó: các quần áo, các bữa ăn, sử dụng từ vựng, giọng nói, nhà ở, v.v.. Nhưng ông cũng chỉ ra rằng các tầng lớp xã hội ngay dưới tầng lớp nói trên cũng bắt chước lối sống ấy để cố tiếp cận sự thừa nhận tương tự về mặt xã hội: đó là hiệu ứng Veblen, dựa trên cơ sở của sự bắt chước, mỗi người rập khuôn theo lối sống của tầng lớp xã hội cao hơn mình một bậc.

Hiệu ứng Q của Tobin

James Tobin (1918-2002)

Việc truyền tải sang nghĩa đen của tiếng Pháp đối với các thuật ngữ Mỹ không phải là điều thanh lịch nhất, và người ta cũng không chắc là nó có biểu dương hay không sự vinh quang củaJames Tobin, nhà kinh tế học người Mỹ (1918-2002, được “giải thưởng Nobel kinh tế” vào năm 1981), ít nhất là tại các nước nói tiếng Pháp (mẫu tự Q trong tiếng Pháp phát âm tương tự như từ “cul”, có nghĩa là moont – ND). Chữ “Q” (không có ý nghĩa đặc biệt nào) đo lường mối quan hệ giữa giá trị trên thị trường chứng khoán của một doanh nghiệp với giá trị kinh tế được gọi là giá trị “thay thế” (cần phải tốn bao nhiêu tiền để khôi phục lại một doanh nghiệp tương tự nếu chẳng may nó phá sản?). Nếu giá trị trên thị trường chứng khoán (điều thường được gọi là “thị giá vốn cổ phần”) vượt quá giá trị thay thế, thì các nhà lãnh đạo doanh nghiệp có lợi khi đầu tư, bởi vì thị trường (chứng khoán) sẽ làm tăng giá trị các tài sản nhiều hơn so với giá trị hiện có của chúng. Và nếu là điều ngược lại (giá trị trên thị trường chứng khoán thấp hơn giá trị thay thế), thì các cổ đông có lợi khi bán chúng, bởi vì doanh nghiệp sẽ thu về ít hơn so với giá trị hiện có của nó. Hiệu ứng “Q” này trái với định lý Modigliani-Miller (xem Định lý Modigliani-Miller), nhưng hiệu lực của nó dựa trên một giả thuyết đặc biệt bấp bênh: thị trường chứng khoán đánh giá khá chính xác giá trị của một doanh nghiệp. Đó là điều mà chúng ta có thể nghi ngờ…

Trên thực tế, Tobin nổi tiếng hơn vì đề xuất của ông về việc đánh thuế các giao dịch ngoại hối, nhằm “gây rắc rối một chút cho hoạt động của các thị trường tiền tệ quốc tế” được ông đánh giá, trong đường lối của Keynes, là gây bất ổn định do tạo ra quá nhiều hoạt động đầu cơ.

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: Les lois, les théorèmes, les courbes…, Les Dossiers d’Alternatives Economiques, Hors-série no 4, septembre 2016.

——————–&&&—————–

Niết bàn của các nhà kinh tế học (3): Các định lý

Niết bàn của các nhà kinh tế học (3): Các định lý

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Định lý bất khả của Arrow

Kenneth Arrow, nhà kinh tế học người Mỹ (1921-2017), là một thiên tài. Ông có thể nhận mười lần “giải thưởng Nobel về kinh tế” khi mà những đóng góp của ông cho phân tích kinh tế là rất đa dạng và sâu sắc. Nhưng ông chỉ nhận giải thưởng Nobel về kinh tế có một lần, vào năm 1972. Là một nhà kinh tế học tự do (hiểu theo kiểu Mỹ, có nghĩa là có tư tưởng khuynh tả), tân cổ điển nhưng có một số xu hướng theo chủ nghĩa can thiệp, ông rất khó để phân loại. Định lý của ông mang tính chính trị thực sự. Định lý đó dựa nhiều vào những gì được gọi là nghịch lý Condorcet. Đó là việc ba người cùng ăn sáng với nhau. Họ chỉ có một cái thìa để phết một cái gì đó lên lát bánh mì. Ségolène thích mứt dâu tây, không ghét mứt Nutella [mứt sô-cô-la hạt dẻ] và không thể ngửi được mùi mật ong. François rất thích mứt Nutella, không ghét mật ong, nhưng đặc biệt lại không thích mứt dâu tây. Cuối cùng, Nicolas rất thích mật ong, nhưng không thích mứt dâu tây và ghét mứt Nutella. Đầu tiên, bà chủ nhà giới thiệu mứt Nutella: đương nhiên là Nicolas từ chối, nhưng hai người kia thì đồng ý, một người với tất cả sự thích thú, và người kia với tâm trạng tự nhủ “dù sao đi nữa, tại sao không thử? Hãy thử mứt Nutella vậy”. Nhưng bà chủ nhà cũng có thể giới thiệu mứt dâu tây: sẽ có hai người chấp nhận và một người từ chối. Và nếu bà ấy giới thiệu mật ong, thì kịch bản cũng giống vậy, nhưng khác người lựa chọn. Nói tóm lại, do sự đa dạng của sở thích, sự lựa chọn cuối cùng phụ thuộc vào thứ tự mà các đề xuất được giới thiệu để tán thành hay không. Điều mà mọi chủ tọa có tiếp xúc một ít với chuyện điều hành việc công đều phải biết rằng: chương trình nghị sự là điều quan trọng.

Kenneth Arrow (1921-)

Nhưng Arrow rút ra một kết luận khác, không kém phần quan trọng. Do định luật đa số không nhất quán (không thể có một đa số nhất quán khi có hơn hai lựa chọn liên tiếp để chọn) do sở thích riêng của cá nhân, cách duy nhất để đạt được một sự lựa chọn tập thể có tính nhất quán là dựa vào một người độc tài nhân từ. Là người độc tài, ông ta sẽ không cần tranh thủ sự chấp thuận của người dân, nhưng là người nhân từ, ông ta sẽ quan tâm để cho các quyết định của mình tối đa hóa được phúc lợi của toàn xã hội. Chẳng hạn như chế độ độc tài thị trường. Arrow đã mở ra chiếc hộp Pandora: chế độ dân chủ đôi khi không có giá trị bằng thị trường. Ngoại trừ là, trên thị trường, Nicolas, Ségolène và François không cân nặng bằng nhau (Nicolas [Sarkozy], Ségolène [Royale] và François [Hollande] là tên của 3 ứng viên trong cuộc bầu cử tổng thống Pháp năm 2012 – ND).Định lý bất khả, nếu đi đến cùng, chỉ có thể được chấp nhận trong kinh tế nếu tình trạng bất bình đẳng được giảm thiểu.

Định lý Coase

Ronald Coase (1910-2013)
George Stigler (1911-1991)

Ronald Coase (1910-2013), nhà kinh tế học người Anh, được trao “Giải thưởng Nobel về kinh tế” vào năm 1991 nhờ định lý này, định lý đã được một nhà kinh tế khác được “Giải thưởng Nobel” vào năm 1982, George Stigler, đặt tên. Trong một dòng sông cá hương, đó là sự tàn phá: một xưởng thuộc da đe dọa đặt cơ sở chế biến trên thượng nguồn và gây ô nhiễm cho dòng sông. Một thảm kịch đối với những người đam mê câu cá hương. Họ có thể nỗ lực cầu cứu sự can thiệp của các cơ quan chức năng để áp đặt các quy định bảo vệ [môi trường]. Nhưng điều đó sẽ mất nhiều năm và sẽ làm phật lòng một bộ phận dân cư mà đối với họ xưởng thuộc da tượng trưng cho những việc làm mới.

Một giải pháp khác là hiệp hội những người câu cá – bao gồm khoảng một trăm người – sẽ tiến hành đàm phán với người chủ xưởng thuộc da để người này xây dựng một bể xử lý nước thải hiệu quả. Do cuộc đàm phán có thể được tiến hành giữa ​​hai thực thể – doanh nghiệp và hiệp hội – các “chi phí giao dịch” sẽ được giảm thiểu: chẳng hạn như người chủ xưởng không phải đi gặp từng người câu cá một để thương lượng với họ về một sự đóng góp cho kinh phí xây dựng bể xử lý nước thải, do từng người sẽ cố thoái thác trách nhiệm cho các đồng nghiệp của mình. Người ta sẽ nhanh chóng tìm ra một thỏa thuận dân sự: tất cả các bạn sẽ tài trợ cho bể xử lý nước thải và tất cả các bạn có thể tiếp tục đánh bắt cá.

Vì vậy, định lý Coase rất đơn giản: nếu các chi phí giao dịch thấp hoặc bằng không và có các quyền sở hữu rõ ràng, thì người ta có thể đề xuất với những người gây ô nhiễm các giải pháp để ngăn chặn tình trạng ô nhiễm bằng cách đền bù cho họ những chi phí có liên quan. Điều này sẽ rẻ hơn và hiệu quả hơn so với việc viết ra một quy định pháp luật, rồi làm cho nó được tuân thủ. Thay cho các luật, nghị định, tiền bảo vệ, tiền phạt và hàng ngàn sự can thiệpkhác của Nhà nước, thì chỉ cần thiết lập các thủ tục vận hành của thị trường và tư nhân hóa không gian công cộng. Chúng ta đều hiểu rằng định lý này sẽ làm cho các nhà bảo vệ môi trường tức giận và làm những người theo khuynh hướng tự do vui mừng. Nhưng hai bên cần phải bình tĩnh lại: những trường hợp mà chi phí giao dịch thấp hoặc bằng không là những trường hợp khan hiếm đáng kinh ngạc. Một điều đáng tiếc cho những con cá hương.

Định lý Haavelmo

Trygve Haavelmo (1911-1999)
John M. Keynes (1883-1946)

Lại thêm một nhà kinh tế khác được “Giải thưởng Nobel” (1989) vinh danh: Trygve Haavelmo (1911-1999), nhà kinh tế học người Na Uy nghiên cứu gần như mọi thứ, nhưng chịu ảnh hưởng sâu sắc của Keynes. Keynes đã bảo vệ ý tưởng cho rằng, khi cầu hiệu quả không đủ trong một nền kinh tế nhất định, khiến tăng trưởng kinh tế chậm lại (một cuộc suy thoái), thậm chí là suy sụp (hoạt động kinh tế giảm xuống), Nhà nước có thể kích hoạt lại guồng máy bằng cách chi tiêu nhiều tiền hơn so với những gì mà họ thu được. Mứcthâm hụt công phát sinh từ sự việc nói trên chỉ là tạm thời, bởi vì việc thúc đẩy lại hoạt động kinh tế làm tăng nguồn thu thuế, sẽ cho phép làm giảm mức thâm hụt này. Các nhà kinh tế học tân cổ điển đã vặn lại, vào những năm 1980, rằng người dân không điên: khi thấy mức thâm hụt công tăng lên, họ biết rằng, vào một ngày nào đó, họ sẽ phải trả giá cho hiện tượng này; họ ghim tiền lại, một điều làm vô hiệu hiệu ứng kích hoạt lại các chi tiêu công bổ sung (một hiện tượng thường được gọi là “tương đương Ricardo”, do đã được Ricardo nêu lên).

Nhưng đó là không tính đến Haavelmo. Tại sao phải vay tiền để tài trợ cho các chi tiêu công bổ sung nhằm kích hoạt lại nền kinh tế, ông ngạc nhiên thốt lên? Chúng ta cũng có thể đạt được mục tiêu đề ra nếu tăng thuế đánh vào thu nhập hoặc tài sản của những thành phần giàu có nhất trong dân số, mà tầm quan trọng của việc tiết kiệm là nguyên nhân của cầu không đủ. Các mức thuế bổ sung sẽ được dùng để tài trợ cho gói kích thích kinh tế trong khi Nhà nước không cần phải vay tiền. Điều này chỉ khả thi với điều kiện là việc thu thuế bổ sung này không dẫn đến việc các đối tượng nộp thuế cắt giảm những khoản đầu tư (“hiệu ứng lấn thế”, theo cách nói của các nhà kinh tế học). Bởi vì nếu Nhà nước kích hoạt lại nền kinh tế, trong khi những người giàu có (cá thể hoặc doanh nghiệp) cắt giảm các khoản đầu tư của họ cũng chừng mức ấy, thì việc này sẽ vô hiệu việc kia và chúng ta sẽ quay trở lại điểm khởi đầu. Ngoài ra, Haavelmo cũng nhấn mạnh rằng, trong một nền kinh tế mở, hoàn toàn có khả năng là mức thặng dư chi tiêu công sẽ dẫn đến việc nhập khẩu nhiều hơn so với những gì được sản xuất trong nước. Ông là một nhà keynesian thận trọng.

Định lý Modigliani-Miller

F. Modigliani (1918-2003)
M. H. Miller (1923-2000)

Đây không phải là định lý kinh tế nổi tiếng nhất, nhưng nó đã đóng một vai trò to lớn đối với các chuyên gia tài chính.Franco Modigliani (1918-2003) và Merton Miller (1923-2000), hai nhà kinh tế được “Giải thưởng Nobel” vào năm 1985 và năm 1990, đã chỉ ra rằng giá trị trên thị trường chứng khoán của một doanh nghiệp không phụ thuộc vào cách thức doanh nghiệp được tài trợ, bất luận là bằng cách vay nợ, bằng lợi nhuận thu được (tự cung cấp tài chính) hoặc bằng cách kêu gọi cổ đông góp vốn. Nhiều nhà kinh tế cho rằng, khi lãi suất thấp, thì giải pháp đầu tiên là thích hợp hơn: nếu tôi vay với lãi suất 4% và hoạt động đầu tư được tài trợ từ khoản vay này mang lại 6 hoặc 8%, thì tôi là người thắng cuộc và doanh nghiệp của tôi có giá trên thị trường. Đây là điều mà chúng ta thường gọi là hiệu ứng đòn bẩy. Sai, hai nhà tài chính của chúng ta đáp lại, các bạn quên đi một điều: dù trời nắng hay mưa, doanh nghiệp vay nợ sẽ phải trả lãi và trả lại vốn vay. Các chi phí cố định này làm cho doanh nghiệp trở nên bấp bênh hơn trước những diễn biến bất ngờ của đời sống kinh tế, như tất cả những ai đã từng vay nợ mua nhà ở đều biết rất rõ. Một số cổ đông sẽ bán cổ phần của mình, làm cho giá cổ phiếu giảm trên thị trường, điều này sẽ vô hiệu hóa sự tăng giá do hiệu ứng đòn bẩy tạo ra: cuối cùng giá trị của doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán không bị tác động.

Tất nhiên, giống như mọi định lý, định lý này phụ thuộc vào một điều kiện: sự thiếu vắng các chi phí giao dịch và thông tin. Có nghĩa là ý tưởng cho rằng các thị trường tài chính vừa mang tính hữu hiệu (chuyển tải tất cả các thông tin có sẵn và tất cả mọi người biết được thông tin đó) vừa mang tính hoàn hảo (không có bất cứ chi phí gì để mua hoặc bán những chứng khoán có liên quan). Những giả thuyết mạo hiểm, như mọi người đều có thể thấy khi các bong bóng bị vỡ.

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: Les lois, les théorèmes, les courbes…, Les Dossiers d’Alternatives Economiques, Hors-série no 4, septembre 2016.

——————-&&&—————–

Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế – Economic Growth

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

® Giải Nobel: ALLAIS, 1988 – FRISCH, 1969 – HAAVELMO, 1989 – HAYEK, 1974– HICKS, 1972 – KLEIN, 1980 –KOOPMANS, 1975 – LUCAS, 1985 –MODIGLIANI, 1985 – SAMUELSON, 1970– SEN, 1998 – SOLOW, 1987 – TOBIN, 1981

Tăng trưởng thường được định nghĩa như gia tăng liên tục, trong một hay nhiều thời kì dài, của một chỉ báo chiều kích, tổng sản phẩm thực tế. Khái niệm tăng trưởng là hạn hẹp hơn khái niệm phát triển, một khái niệm chỉ toàn bộ những thay đổi kĩ thuật, xã hội và văn hoá đi kèm với tăng trưởng của sản xuất. Hơn nữa, tăng trưởng, một khái niệm không tương đương với sự “tiến bộ” lẫn với việc cải thiện phúc lợi, dường như là một hiện tượng tương đối mới.

Những chỉ báo chính

Chỉ báo thường được chọn là hoặc GDP (tổng sản phẩm trong nước) hoặc là GNP (tổng sản phẩm quốc gia) hay còn có thể là GDP (hay GNP) trên đầu người. GDP danh nghĩa, còn được gọi là theo giá hiện hành, không phải là biến thích đáng; thật thế, ta có được biến này bằng cách nhân những sản lượng của năm hiện hành với những giá cả của năm hiện hành. Do đó một gia tăng của tổng sản phẩm danh nghĩa có thể là do một gia tăng của giá cả cũng như là do một gia tăng của sản xuất. Để phân biệt giữa hai hiệu ứng này, cần phân biệt GDP danh nghĩa với GDP thực tế. Trong lúc GDP danh nghĩa được tính từ những giá bán thật sự thì GDP thực tế lấy những giá quan trắc trong một năm đặc biệt gọi là năm gốc làm giá qui chiếu. Như thế, mọi gia tăng của GDP thực tế tương ứng với một gia tăng khối lượng.

Tuy nhiên chỉ báo còn xa mới là hoàn hảo. Trước hết vì một số hoạt động không được tính đến (đặc biệt là lao động trong gia đình) và sai số còn xa mới là không đổi trong thời gian. Hơn nữa, việc cải tiến những sản phẩm hiện có, sự xuất hiện của những sản phẩm mới đôi lúc gây khó khăn cho việc xác định một số thành phần của sản phẩm thực tế. Phương thức đánh giá nêu trên đây dẫn đến việc xem những sản phẩm được sản xuất trong hai năm được xem xét, năm hiện hành và năm gốc, là tương dương. Có lẽ xấp xỉ hoá này là chấp nhận được dưới hai điều kiện: các sản phẩm không có những cải tiến công nghệ mạnh, khoảng cách giữa hai năm (năm hiện hành và năm gốc) là không quá lớn. Một máy tính năm 1996 và một máy tính năm 1986 phải chăng là cùng một “sản phẩm”? Một số tinh vi hoá nhất định phải được đưa vào để tính đến khó khăn này. Như vậy phải chọn năm gốc một cách thận trọng. Một năm gốc quá gần ngăn cản mọi so sánh; một năm gốc quá xưa cũng làm cho so sánh thành sai lạc vì giá cả của thời kì qui chiếu không còn quan hệ nào với giá cả của năm hiện hành; thế mà giá cả của năm gốc được dùng làm quyền số trong việc ước lượng GDP thực tế hiện hành. Ví dụ, lấy năm 1911 làm năm gốc sẽ không có ý nghĩa gì cả: vào thời đó không chỉ không có máy tính mà ngay cả xe ôtô cũng còn là một sản phẩm xa xỉ.

Do đó những ước lượng trong dài hạn đặt ra những vấn đề gai góc. Thế mà tăng trưởng là một hiện tượng dài hạn, cần phân biệt với sự bành trướng tư bản là một hiện tượng ngắn hạn hơn. Trong cả hai trường hợp này, tỉ suất tăng trưởng của đại lượng tổng gộp được xem xét là một yếu tố trung tâm; thường đó là một tỉ suất tăng trưởng hàng năm. Một tỉ suất tăng trưởng cao không nhất thiết kéo theo một gia tăng của mức sống vì tăng trưởng dân số có thể mạnh hơn tăng trưởng của sản xuất khiến cho mức sống giảm. Như thế, tỉ suất tăng trưởng của GDP trên đầu người, được định nghĩa như tỉ số của GDP trên dân số, là thích đáng hơn.

Jean Fourastié (1907-1990)

Thời kì tăng trưởng sau thế chiến thứ hai, đặc biệt là ở Tây Âu, được xem là một ngoại lệ, do đó có thuật ngữ “ba mươi năm vinh quang”(J. Fourastié). Tỉ suất tăng trưởng trung bình hàng năm của GDP là khoảng 5 % cho toàn bộ các nước của OECD; ở hai cực ta có Nhật Bản với tỉ suất tăng trưởng trung bình hàng năm là 11 % và Vương quốc Anh với tỉ suất này là 3 %, tỉ suất này của Pháp là khoảng 5,5%. Những năm 1970 đánh dấu sự khởi đầu của điều mà ta có thể gọi là, để đối lập với những thập niên trước, “hai mươi năm nhão nhẹt”; trong thế giới tây phương sự đình đốn và lạm phát sống chung với nhau; lạm phát phát triển và những hình thức nghèo khác xuất hiện. Cuối thế XX được đặc trưng bằng một hiện tượng kép: bần cùng hoá trong những nước châu Âu và toàn cầu hoá của tăng trưởng mà minh hoạ hiển nhiên nhất là châu Á với trường hợp của “bốn con rồng”(Hong Kong, Hàn quốc, Singapore, Taiwan); và gần đây hơn, Ấn Độ và Trung Quốc, hai nước đông dân nhất hành tinh, tăng trưởng với những tỉ suất lạ kì từ 7 % đến 10 % năm.

Thất nghiệp và không ổn định

Evsey Domar (1914-1997)
Roy F. Harrod (1900-1978)

Ở cội nguồn của những lí thuyết đương đại về tăng trưởng là những mưu toan của Harrod và Domar, hai tác giả ngay sau thế chiến thứ hai đã thử nối tiếp trong dài hạn những phân tích của Keynes vốn chỉ giới hạn ở những mất cân bằng trong ngắn hạn. Ý chung của những mô hình tạo lập này là xem trường hợp những nền kinh tế thị trường tăng trưởng đều đặn trong tình thế toàn dụng lao động là những ngoại lệ. Cách nhìn của những tác giả này gần với cách nhìn của Keynes; đối với Keynes do thiếu cầu thực tế nên thiểu dụng lao động là qui tắc chung và toàn dụng lao động là ngoại lệ. Đối với hai tác giả trên, đạt được tăng trưởng cân bằng toàn dụng lao động chỉ có thể là một ngoại lệ, một phép lạ. Nhưng còn hơn thế nữa: chế độ tăng trưởng cân bằng toàn dụng lao động không chỉ là ngoại lệ, đó còn là một chế độ không ổn định. Người ta nói đến cân bằng “trong đường tơ kẽ tóc”, mọi khoảng cách với chế độ đặc biệt này có xu hướng tăng lên một cách cộng dồn, dẫn hệ thống kinh tế được xem xét hoặc đến một bành trướng tăng tốc, hoặc đến một suy thoái ngày càng trầm trọng. Những công trình này được những tác giả tự nhận thuộc trường phái Cambridge mới (N. Kaldor, J. Robinson) tiếp nối, đặc biệt làm rõ tầm quan trọng của phân tích về phân phối bằng cách kết hợp những đóng góp của Kalecki và của Keynes: những quan hệ giữa lợi nhuận và tích luỹ tư bản, những cuộc đối đầu giữa những nhóm xã hội (người làm công ăn lương và các nhà tư bản), phân tích lạm phát nằm ở trung tâm của những mối quan tâm của họ.

Robert Solow (1924-)
James Tobin (1918-2002)

Một đổi mới quan trọng trong phân tích tăng trưởng xuất hiện vào giữa những năm 1950. Những cách tiếp cận tạo lập của Harod và Domar kết luận tính chất mất ổn định một cách cơ bản của những nền kinh tế thị trường bị xét lại. Cách đặt vấn đề chung bị thay đổi. Mô hình Solow (1956) –một mô hình có thể xem là tiền thân của những mô hình tăng trưởng đương đại – là một mô hình có một cương vị nhập nhằng: một cách điển hình nó thuộc về điều được gọi một cách qui ước là “tổng hợp cổ điển-keynesian”, cũng còn được minh hoạ bởi tên của những nhà kinh tế như Hicks, Hansen, Patinkin, Tobin, Modigliani, Samuelson, Klein. Trong những năm 1950-1960, toàn thể những tác giả này (và phương pháp của Solow là hoàn toàn đặc trưng cho họ) tìm cách hoà giải những đóng góp của Keynes với những đóng góp của phân tích tân cổ điển.

Alvin Hansen (1887-1975)
Don Patinkin (1922-1995)

So với mô hình Harrod-Domar, có hai thay đổi được đưa vào làm thay đổi hoàn toàn động thái. Trong khi hai tác giả này sử dụng một hàm sản xuất với những nhân tố bổ sung nhau thì Solow, để đặc trưng hàm sản xuất kinh tế vĩ mô, viện đến một hàm sản xuất với những nhân tố thay thế cho nhau được. Hơn nữa, trong lúc mô hình tân keynesian dựa trên giả thiết một hàm đầu tư khác với hàm tiết kiệm thì mô hình của sự tổng hợp giả định rằng đầu tư bắt nguồn từ tiết kiệm. Đây là hai thay đổi duy nhất được đưa vào, những giả thiết khác là giống nhau.

Michal Kalecki (1899-1970)
Nicholas Kaldor (1908-1986)

Nhưng điều này đủ để thay đổi đáng kể logic của mô hình và động thái suy ra từ mô hình này. Những mô hình tân keynesian về cơ bản là những mô hình cầu: tăng trưởng chủ yếu bị chi phối bởi những hành vi tiêu dùng và đầu tư, tổng cung chỉ hiện ra như một giới hạn mà cầu có thể vấp phải. Ngược lại mô hình của tổng hợp có thể được đặc trưng như một mô hình cung trong đó những vấn đề tiêu trường không được đề cập đến; trong khuôn khổ này, qui luật Say theo giả thiết được kiểm chứng, cung không thể nào khác với cầu được. Còn trên thị trường lao động cân bằng được đảm bảo kể từ lúc ta viện đến một hàm sản xuất với những nhân tố thay thế cho nhau được với tính linh hoạt hoàn toàn của những thù lao. Trong những điều kiện này, cân bằng động, một cân bằng có thể được làm rõ, là một chế độ tăng trưởng cân bằng toàn dụng lao động hội tụ về (dưới một số giả thiết) một tình thế ổn định, một chế độ tăng trưởng theo tỉ suất không đổi. Bởi thế cách nhìn chung đã bị thay đổi một cách sâu sắc.

Dự kiến và tối ưu hoá liên thời gian

Maurice Allais (1911-2010)
Edmund Phelps (1933-)

Vấn đề tối ưu hoá, tìm kiếm chế độ tăng trưởng tốt nhất có thể đã được M. Allais, P. Desrousseaux và E. Phelps đề cập gần như đồng thời vào đầu những năm 1960; các tác giả này làm rõ qui tắc vàng của sự tích luỹ. Chế độ thường xuyên tăng trưởng cân bằng toàn dụng lao động được định nghĩa như chế độ cho phép có được mức tiêu dùng trên đầu người cao nhất; để đạt đến chế độ này người ta chứng minh là năng suất cận biên thuần của tư bản, và do đó lãi suất, phải bằng với tỉ suất tăng trưởng; đó là “qui tắc vàng của tích luỹ”, từ đó sinh ra điều kiện bằng nhau của tỉ suất tiết kiệm của cộng đồng với tỉ trọng của những thu nhập không phải là lương trong thu nhập quốc gia. Tầm quan trọng của qui tắc này có vẻ là hạn chế: thật thế qui tắc được xác lập trong khuôn khổ của việc tìm kiếm chế độ thường xuyên tốt nhất có thể, và do đó không tính đến một động thái thật sự. Nhiều nghiên cứu tinh vi hơn được tiến hành kể từ giữa những năm 1960 trong khuôn khổ của một tối ưu hoá liên thời gian, đặt lên hàng đầu việc tính đến những dự kiến.

Frank Ramsey (1903-1930)
Tjalling Koopmans (1910-1985)

Hướng thứ nhất đã được D. Cass và T. Koopmans đồng thời vận dụng vào năm 1965. Hai tác giả này nối tiếp những công trình tạo lập của F. Ramsey (1928) bằng cách sử dụng những công cụ toán học mới với nguyên lí cực đại do Pontryagin làm rõ vài năm trước đó cung cấp. Những tác giả này hình dung một tác nhân tiêu biểu tìm cách tối ưu hoá trên một chân trời xác định (hữu hạn hay vô hạn) tổng hiện tại hoá những lợi ích thu được từ mức tiêu dùng của tác nhân này: do đó, một phần của thu nhập từ nỗ lực sản xuất được tiêu dùng, phần kia được tiết kiệm và do đó được đầu tư. Dưới những giả thiết chuẩn (lợi ích cận biên dương và giảm dần, hàm sản xuất có hành vi tốt, tăng trưởng của dân số theo tỉ suất không đổi), chế độ tăng trưởng được làm rõ có những đặc tính lí thú. Trong khi với những mô hình trước đây (dù cho đó là mô hình Solow hay những mô hình tân keynesian) khuynh hướng tiêu dùng là cố định thì trong trường hợp này khuynh hướng này bắt nguồn từ một lựa chọn liên thời gian xác định tại mỗi thời điểm một lựa chọn tối ưu giữa tiêu dùng và đầu tư.

Lev Pontryagin (1908-1988)
Joan Robinson (1903-1983)

Như thế chế độ động hiện ra là rất đặc biệt: đây là một “cân bằng điểm yên ngựa”, có nghĩa là từ một kho tư bản nhất định, chỉ có một mức tiêu dùng duy nhất cho phép nền kinh tế hội tụ về một tình thế tăng trưởng cân bằng với tỉ suất không đổi. Bất kì lựa chọn nào khác sẽ kéo nền kinh tế trôi dạt hoặc về một tiêu dùng bằng không, hoặc về một kho tư bản bằng không. Do đó tối ưu hoá liên thời gian đã vinh danh trở lại chủ đề mất ổn định động (một chủ đề đã ít nhiều biến mất khỏi những mối quan tâm kể từ khi có mô hình Solow) nhưng trong một bối cảnh khác xa với bối cảnh của Harrod. Mặc dù ở đây có cân bằng trên thị trường sản phẩm lẫn trên thị trường việc làm, thì vẫn có khả năng mất ổn định động trừ khi các tác nhân lựa chọn một cách tự phát quĩ đạo tốt (độc nhất) dẫn họ đến chế độ thường xuyên. Lợi ích của kiểu cân bằng này hiện ra dưới một góc độ mới kể từ lúc giả thiết dự kiến duy lí được đưa vào trong phân tích kinh tế; thật thế, sự hội tụ đến chế độ thường xuyên tăng trưởng cân bằng với tỉ suất không đổi chỉ có thể được biện minh bằng cách giả định là các tác nhân có những dự kiến duy lí khi họ biết (do có những dự kiến duy lí) là mọi chênh lệch với quĩ đạo sẽ đưa họ rời xa khỏi trạng thái tối ưu. Cần thêm rằng trạng thái tối ưu này được đặc trưng bằng “qui tắc vàng mở rộng”, khi mà lãi suất bằng với tổng của tỉ suất tăng trưởng của nền kinh tế và của tỉ suất hiện tại hoá.

Paul Samuelson (1915-2009)
Peter Diamond (1940-)

Một cách nhìn đối chọn là cách nhìn của những “thế hệ đan chéo”, do P. Diamond đề xuất (1965), lấy lại những phân tích trước đó của P. A. Samuelson (1958) và M. Allais (1947). Ta giả định là mỗi tác nhân sống qua hai thời kì (thời kì hoạt động và hưu trí); tác nhân lao động và sản xuất trong thời kì đầu; một phần thu nhập của tác nhân được tiêu dùng, phần còn lại được tiết kiệm và đầu tư; trong thời kì thứ hai, tác nhân tiêu dùng tiết kiệm đã tích luỹ được chi trả theo lãi suất. Tác nhân tối đa hoá tổng hiện tại hoá của những lợi ích thu được từ việc tiêu dùng trên hai thời kì. Lần này chân trời là hữu hạn, bị giới hạn bởi tuổi thọ trung bình của tác nhân tiêu biểu (tác nhân này, trong những phiên bản tinh vi hơn, để lại di sản và thừa hưởng gia tài); tác nhân này san bằng tiêu dùng của bản thân trên hai thời kì, tiết kiệm (nhằm về hưu) và đầu tư tiết kiệm hợp thành kho tư bản. Đây là một mô hình có cân bằng trên thị trường sản phẩm lẫn trên thị trường việc làm. Tên gọi mô hình “thế hệ đan chéo” là do ở mỗi thời kì có sự hiện diện đồng thời của hai loại tác nhân, hai thế hệ, “người trẻ” và “người già”, người hoạt động và người không hoạt động. Và khi một thế hệ trẻ trở nên “già” thì được thay thế bằng một thế hệ “trẻ”mới trong lúc thế hệ “già” trước đó biến mất. Động thái của mô hình là khá đơn giản: dưới những giả thiết “chuẩn”, cũng như trong mô hình của sự tổng hợp, ta hội tụ về một chế độ thường xuyên tăng trưởng cân bằng toàn dụng lao động, với tính ổn định của sản phẩm trên đầu người; nghịch lí là chế độ thường xuyên này, thu được tiếp sau việc tối ưu hoá liên thời gian, đôi lúc được đặt trưng bằng một “tính không hiệu quả động” (đây không tất yếu là một tối ưu Pareto).

Lí thuyết chu kì cân bằng

J. Schumpeter (1883-1950)
Robert Lucas (1937-)

Tối ưu hoá liên thời gian và việc tính đến những dự kiến đã có một vai trò trung tâm trong mưu toan hợp nhất những chu kì với tăng trưởng nảy sinh từ những công trình của Lucas và của trường phái cổ điển mới trong những năm 1970. Tất nhiên những nguồn gốc của cách tiếp cận này đã có từ lâu; năm 1939, J. Schumpeter từng làm rõ tầm quan trọng của những đợt đổi mới lớn trong việc giải thích những chu kì dài, những chu kì “Kondratieff” của hoạt động kinh tế; ngay từ 1933, Frisch đã thử minh hoạ cách giải thích ngoại sinh những chu kì bằng một ngụ ngôn rất đơn giản tuy vô cùng ấn tượng: “Nếu bạn đánh một con ngựa bập bênh bằng một cây gậy đánh golf, thì chuyển động của con ngựa sẽ rất khác với chuyển động của cây gậy”. Những phát triển gần đây lấy lại sự phân biệt nổi tiếng này giữa xung lượng và truyền tải trong cách nhìn của những “chu kì cân bằng” theo đó giá cả có một vai trò tín hiệu trung tâm. Thật thế, trong cách tiếp cận này, những vấn đề tiêu trường, “cầu thực tế” không được đặt ra; những biến động bắt nguồn từ phản ứng của các tác nhân trước những cú sốc ngoại sinh. Việc qui chiếu về thị trường việc làm cho phép minh hoạ việc thay đổi cách tiếp cận: nếu trong cách biểu trưng truyền thống sụt giảm của việc làm dẫn đến một sụt giảm (hay một gia tăng chậm hơn) của lương thì trong cách nhìn của lí thuyết chu kì cân bằng có một sự đổi chiều của tính nhân quả: việc làm giảm vì, khi lương giảm, các tác nhân kinh tế chọn làm việc ít hơn.

Những cú sốc có thể có nguồn gốc tiền tệ: đó là mưu toan của Lucas muốn giải thích các chu kì trên cơ sở của những hiệu ứng bất ngờ và thay thế liên thời gian tiếp sau một cú sốc tiền tệ. Vào đầu những năm 1980, điều được nhấn mạnh là những cú sốc “thực tế”; lí thuyết những “chu kì kinh doanh thực tế” (real business cycles) hình dung một khuôn khổ thống nhất để hiểu hiện tượng tăng trưởng lẫn hiện tượng biến động. Khuôn khổ phân tích này lấy mô hình Solow năm 1956 làm điểm qui chiếu với ba đổi thay. Thứ nhất, tỉ suất tiết kiệm không được ấn định một cách tiên nghiệm như trong mô hình Solow nhưng do tác nhân tiêu biểu chọn từ một qui hoạch tối ưu hoá liên thời gian lợi ích của tác nhân này. Tiếp đến tăng trưởng của cung lao động ở đây cũng phụ thuộc vào lựa chọn của tác nhân; cuối cùng những tiến bộ năng suất, thay vì được thể hiện đều đặn dưới dạng một hàm mũ trong những phân tích truyền thống về tiến bộ kĩ thuật ngoại sinh, nay là không liên tục, ngẫu nhiên.

Một đặc điểm của kiểu mô hình này là thường không thể giải chúng bằng giải tích. Nhiều phần mềm mô phỏng đã được phát triển, vận dụng mạnh mẽ vi tính. Người ta đã triển khai nhiều kiểu mô hình kinh trắc mới vận dụng nhiều việc nghiên cứu những chuỗi thời gian (mô hình VAR, có nghĩa là mô hình “vectơ tự hồi qui”). Có nhiều phát triển và phê phán đương đại có tính kích thích: bên cạnh những cú “sốc năng suất”, còn tính thêm những cú “sốc ngân sách”, “sốc tài chính”, “sốc sở thích”.

Cách hợp nhất những chu kì vào trong lí thuyết tăng trưởng vẫn trung thành với truyền thống thừa hưởng từ Frisch theo đó những chu kì được giải thích bằng những cú sốc ngoại sinh. Một sự đổi mới song song của phân tích chu kì xuất hiện cùng với việc đưa vào những công cụ mới (động thái phi tuyến tính, “hỗn độn”) cho phép tính đến sự tồn tại của những chu kì được gọi là “nội sinh” bắt nguồn, không từ những cú sốc bên ngoài, những cú sốc ngoại sinh, mà từ chính ngay hoạt động của nền kinh tế.

Tăng trưởng: nội sinh hay ngoại sinh?

Sự đối lập giữa cách giải thích “nội sinh” và “ngoại sinh” không chỉ liên quan đến lí thuyết chu kì, mà còn liên quan đến bản thân lí thuyết tăng trưởng. Theo truyền thống người ta phân biệt tăng trưởng theo chiều rộng, kết quả của việc gia tăng lượng nhân tố sản xuất được sử dụng (nhiều tư bản và nhiều người lao động cho phép sản xuất được một số lượng lớn hơn) và tăng trưởng theo chiều sâu, khi sự gia tăng sản xuất bắt nguồn từ việc sử dụng có hiệu quả hơn những nhân tố sản xuất hiện có, nói tóm lại là từ tiến bộ của năng suất. Đương nhiên là hai loại hiện tượng này không loại trừ nhau; ta có thể có vừa nhiều tư bản và lao động hơn được kết hợp với nhau một cách có hiệu quả hơn. Những ước lượng được tiến hành vào cuối những năm 1950, từ những công trình của Denison và Solow, đã thử lượng hoá tầm quan trọng tương đối của hai loại tăng trưởng này. Nhiều nghiên cứu so sánh cũng được tiến hành trên nhiều nước và nhiều thời kì khác nhau. Từ những công trình này nổi lên hai kết luận.

Thứ nhất, những quĩ đạo quốc gia và những lịch sử tăng trưởng hiện ra khá đa dạng. Như thế, trong những năm 1870-1914 và cho toàn thể các nước phát triển, tiến bộ kĩ thuật dường như có một vai trò ít quan trọng hơn những yếu tố của tăng trưởng “theo chiều rộng”, tư bản và lao động. Tương tự như thế, khoảng hai phần ba của tăng trưởng gần đây của Singapore là do tiết kiệm cực lớn mà chính phủ nước này đã huy động để phục vụ cho việc tích luỹ tư bản. Ngược lại, những ước lượng của Solow trong trường hợp của Hoa Kì cho thấy là tăng trưởng ghi nhận được trong thời kì 1909-1949 được qui cho tiến bộ kĩ thuật; cũng chính nhân tố này đóng góp đến khoảng 70 % vào sự tăng trưởng mạnh của Pháp từ 1950 đến 1973.

Thứ hai, những nghiên cứu được tiến hành dường như cho thấy là, trong hầu hết những nước phát triển, gia tăng của năng suất vào cuối những năm 1970 đã chậm lại một cách nghiêm trọng; trong trường hợp của Hoa Kì, đây là một sự sụp đổ thật sự mà phần lớn không giải thích được; trong trường hợp của Pháp, sự chuyển hướng của những tiến bộ của năng suất, vừa ít đậm nét và trễ hơn, chủ yếu đã đi sau, chứ không đi trước như ở Hoa Kì, sự chuyển hướng của tăng trưởng.

Kể từ những năm 1980, những công trình của R. Romer và R. Lucas đã đổi mới những cách tiếp cận; các tác giả này nhấn mạnh thiếu sót của những phân tích trước đây trong đó tăng trưởng được giải thích phần lớn bằng một hiện tượng “ngoại sinh”, tiến bộ kĩ thuật, một nhân tố tất nhiên có tính quyết định nhưng không rõ nguồn gốc. Để đối lập với cách tiếp cận này người ta nói đến tăng trưởng “nội sinh”; các tác giả trên đã thử cung cấp những giải thích khác nhấn mạnh đến khiá cạnh vai trò của những “ngoại ứng”, bị những phân tích trước đây coi nhẹ, vai trò của đổi mới công nghệ, thông qua việc đa dạng hoá sản phẩm cũng như vai trò của “vốn con người”. Vấn đề là giải thích tăng trưởng, và đặc biệt là tính chất tự nuôi dưỡng của tăng trưởng từ những đặc điểm nội bộ của hệ thống (hàm lợi ích, mức độ nóng ruột của các tác nhân, những đặc thù của hàm sản xuất). Một phần những công trình này cho phép tìm lại một số khiá cạnh đặc biệt lí thú của phân tích schumpeterian (“huỷ hoại sáng tạo”) và giải thích vì sao một sự tăng tốc của tăng trưởng không tất yếu kéo theo một sụt giảm của thất nghiệp. Hơn nữa, những phân tích này cung cấp những cách chiếu sáng mới, trong kinh tế học quốc tế, cho việc phân tích những vấn đề “hội tụ” (các nước phương “Nam”đuổi kịp các nước phương “Bắc”) và cung cấp những biện minh mới cho những chính sách công cộng.

▶ ABRAHAM-FROIS G. Dynamique économique, Paris, Dalloz, 6è éd., 1995. – AGHION Ph. & HOWITT,Endogenous Growth Theory, New York, McGraw-Hill, 1998. – BARRO R. J. & SALA I. MARTIN X., Economic Growth, New York, McGraw-Hill, 1995. –GAFFARD J.-L., Croissance et fluctuations économiques, Paris, Montchrestien, 2è éd., 1997. – MUET P. A., Croissance et cycles, Paris, Économica, 1993. – SCHUBERT K.,Macroéconomie contemporaine et croissance, Paris, Vuibert, 1996.

Gilbert ABRAHAM-FROIS

Giáo sư đại học Nanterre (Paris 10)

Nguyễn Đôn Phước dịch

® Cân bằng; Dự kiến; Kinh tế học vĩ mô; Thất nghiệp; Tình thế kinh tế; Toàn cầu hoá và công ti đa quốc gia; Tối ưu hoá và phân tích nhiều mục tiêu; Tổng sản phẩm trong nước (GDP); Tư bản; Vốn con người

Nguồn: Dictionnaire des sciences économiques do Claude Jessua, Christian Labrousse và Daniel Vitry chủ biên, Paris, Presses Universitaires de France, 2001.

——————&&&——————-

Niết bàn của các nhà kinh tế học (2): Các định luật

Niết bàn của các nhà kinh tế học (2): Các định luật

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Định luật sắt của tiền lương

Người ta thường gán định luật này cho Marx, trong khi nó được phát biểu (và được sử dụng rộng rãi trong các cuộc mít tinh của những nhà xã hội chủ nghĩa) bởi Ferdinand Lassalle (1825-1864), một chính trị gia người Đức thuộc cánh cực tả. Ông cho rằng, trên thị trường lao động, sự cạnh tranh giữa người lao động với nhau sẽ không tránh khỏi việc kéo tiền lương trở về mức lương tối thiểu, một mức lương chỉ đủ đảm bảo tái tạo sức lao động. Trong thực tế, lập luận này đã được David RicardoThomas Malthus sử dụng, nhưng đã được biện minh bằng các quan điểm nhân khẩu học: dân số, do đó là số lượng người lao động, được cho là sẽ tăng nhanh hơn năng lực sản xuất nông nghiệp, do lợi tức giảm dần của đất khi lần lượt đưa vào canh tác những vùng đất kém mầu mỡ. Về phần mình, Lassalle đặt định luật của ông trên cơ sở ngưỡng của tương quan sức mạnh: các chủ sử dụng lao động có nhiều quyền lực hơn so với người làm công ăn lương, vì vậy người lao động cần phải phối hợp với nhau và lật đổ hệ thống tư bản chủ nghĩa để thay thế nó bằng hệ thống của các nghiệp đoàn lao động.

F. Lassalle (1825-1864)
Karl Marx (1818-1883)

Luận đề này không phải là của Marx. Đối với Marx, thù lao của sức lao động (mức lương) phụ thuộc vào những yếu tố mang tính “đạo đức và lịch sử”, cũng như vào trình độ lao động. Đó là điều không tương thích với “định luật sắt về tiền lương”, một định luật, mà giống như một la bàn, được cho là làm cho mức lương trở lại cùng một điểm cố định một cách tất yếu: mức lương tối thiểu đủ để người lao động và gia đình họ sinh tồn. Lassalle, người muốn qua mặt Marx từ cánh tả, cuối cùng đã qua mặt Marx từ cánh hữu, khi trở thành người sáng lập Đảng Dân chủ Xã hội Đức. Nhưngnhà hoạt động [chính trị] này cũng là một người tình cảm. Phải lòng yêu con gái của một nhà ngoại giao, hơn nữa lại thuộc dòng dõi quý tộc, ông vấp phải sự từ chối của người cha, người có ý định gả con gái mình cho một người quý tộc khác. Điên tiết, Lassalle thách đấu tay đôi với người cha [của cô gái] và đối thủ của mình. Đó là một ý tồi: trận đấu là một thảm bại đối với ông, và ông chết ba ngày sau đó, ở tuổi 39.

Định luật về chi phí so sánh (hay định luật về lợi thế so sánh)

Sẽ là điều đáng tiếc khi Mozart, người dường như nấu ăn rất giỏi, lại dành thời gian của mình để nấu ăn, trong khi ông có khả năng sáng tác âm nhạc tuyệt vời. Ngay cả nếu (đây không phải là trường hợp này) ông là người nấu ăn giỏi nhất thế giới, thì thực tế là ông chỉ hơn các đối thủ nấu ăn của ông có một cái đầu [nhỏ], trong khi trong lĩnh vực âm nhạc không có ai đạt đến trình độ ở mắt cá chân của ông. Và như thế Salieri, mặc dù kém tài nấu ăn hơn Mozart, đã có thể chuyên tâm vào việc nấu ăn, bởi vì, nói cho cùng, ưu thế âm nhạc của Mozart đã bù đắp lớn hơn nhiều mọi phẩm chất nấu ăn của Salieri.

Bertil Ohlin (1899-1979)
Eli Heckscher (1879-1952)

Đó là kiểu lý luận hình thành nên định luật các chi phí so sánh, được David Ricardo (1772-1823) phát triển vào năm 1817: trong giao dịch quốc tế, nếu mỗi quốc gia chuyên sản xuất một hoặc nhiều mặt hàng mà họ có lợi thế so sánh lớn nhất (chớ không phải tuyệt đối) so với các đối thủ cạnh tranh, thì toàn thể thế giới sẽ hưởng lợi nhiều hơn, bởi vì mỗi quốc gia sẽ sản xuất những mặt hàng mà họ có lợi thế nhất (một cách tương đối). Và, cảm ơn trời đất, thương mại tự do giúp phát hiện những lợi thế so sánh của từng quốc gia, nhờ vào sự cạnh tranh giữa các quốc gia: như thế mỗi quốc gia có thể chuyên môn hóa trong những lĩnh vực mà mình có lợi thế nhất một cách tương đối, và từ bỏ những lĩnh vực khác, bởi vì họ có thể nhập khẩu các sản phẩm này với giá rẻ hơn so với việc nếu phải tự thân sản xuất ra. Eli Heckscher, Bertil Ohlin và Paul A. Samuelson đã hiện đại hóa định luật (hai nhà kinh tế học sau đã được trao “Giải thưởng Nobel”, lần lượt vào năm 1977 và năm 1970) bằng cách đưa vào một sự khác biệt giữa người lao động có tay nghề thấp và người lao động có tay nghề cao: khi một nền sản xuất đặc biệt đòi hỏi một công việc chuyên môn thấp, thì tốt hơn nên khu biệt nền sản xuất đó tại một nước thuộc phương “Nam” có rất nhiều lao động có tay nghề thấp, và khu biệt nền sản xuất có chất lượng cao tại các nước thuộc phương “Bắc”, nơi mà lực lượng lao động có tay nghề cao hơn.

Maurice Allais (1911-2010)
Paul Samuelson (1915-2009)

Về mặt lý thuyết, đây là điều không tránh được, nhưng khi phải đóng cửa hoặc di dời các doanh nghiệp, thì cái giá phải trả là rất cao, vì lẽ không bao giờ biết chắc được các hoạt động khác có thể tiếp tục vận hành được không. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi hầu hết các quốc gia đều xem định luật này như là kẻ trộm dòm ngó người hiến binh: tự hỏi làm thế nào để thoát khỏi viên hiến binh đó. Những lợi ích đạt được về mặt kinh tế sẽ được trả giá bằng các tổn thất về mặt xã hội ở phương Bắc và về mặt môi trường ở phương Nam, như lời nhấn mạnh của Maurice Allais (người được trao “Giải thưởng Nobel” vào năm 1988), cho rằng những lợi ích kinh tế từ sự chuyên môn hóa sẽ làm nghèo hơn là làm giàu thêm đất nước.

Friedrich List (1789-1846)
Paul Krugman (1953-)

Paul Krugman, tuy ủng hộ thương mại tự do, cũng phê phán định luật này, định luật mà ông cho là mang tính quá tĩnh: một đất nước khởi động trong một lĩnh vực nào đó không tránh khỏi hoạt động kém hiệu quả so với một đất nước đã làm chủ được lĩnh vực đó trong một thời gian dài và, ngoài ra, còn có thể hưởng lợi từ tính kinh tế theo quy mô. Nhưng một khi đã ổn định tình hình, thì họ có thể làm tốt hơn so với các nhà sản xuất lâu năm và do đó kích thích sự cạnh tranh (ví dụ như Airbus gây khó khăn cho Boeing). Đó là lập luận đã được Friedrich List, một nhà kinh tế học người Đức, người muốn bảo vệ “các ngành công nghiệp non trẻ” sử dụng trong thế kỷ 19. Có quánhiều dấu “giáng” làm suy yếu tầm quan trọng của định luật Ricardo này.

Định luật Engel

Ernst Engel (1821-1896)
Friedrich Engels (1820-1895)

Ernst Engel (1821-1896), không nên nhầm lẫn với người bạn của Marx, Friedrich Engels, là một nhà thống kê người Phổ, người đã tiến hành các đo đạc đầu tiên về tiêu dùng và thu nhập của các hộ gia đình. Ông nhận thấy rằng, khi thu nhập tăng, các khoản chi cho ăn uống chiếm một tỷ lệ giảm dần trong tổng chi của các hộ gia đình, trong khi đó là điều ngược lại đối với những khoản chi mà ông gọi là “xa xỉ” (cho việc di chuyển, mua sách báo, đi chơi…), còn đối với các khoản chi cho quần áo thì tăng dần theo cùng một nhịp với mức thu nhập. Các nhận định thực nghiệm này đã dẫn đến sự ra đời của định luật Engel.

Kể từ một thế kỷ rưỡi nay (định luật được trình bày lần đầu tiên vào năm 1857), bộ ba nhận định trên thực ra đã không bị phủ định, cho dù cần phải diễn đạt nó một cách tinh vi hơn. Như vậy, sự gia tăng thu nhập sẽ khuyến khích một chế độ ăn uống phong phú hơn, thậm chí thay đổi các chế độ ăn uống: chúng ta đi ăn ở nhà hàng nhiều hơn, chúng ta mua các thức ăn đông lạnh, chúng ta uống rượu sâm-banh vào những dịp lễ lạt, và tất cả những điều này sẽ tốn nhiều tiền hơn. Tuy nhiên, các khoản chi cho ăn uống (tất nhiên không bao gồm các bữa ăn ở nhà hàng) đã không ngừng chiếm một tỷ lệ giảm dần trong ngân sách của các hộ gia đình trong vòng một thế kỷ rưỡi qua: từ khoảng 60% vào năm 1860, xuống 33% một thế kỷ sau đó, 17% hiện nay (và 20% với các bữa ăn ở nhà hàng).

Đối với các khoản chi cho nhà ở (tiền thuê nhà, tiền cho hệ thống sưởi ấm, tiền cho trang thiết bị nội thất), thì tỷ lệ của chúng trong tổng chi đã không ngừng tăng dần: khoảng 5% vào năm 1860, đã tăng lên 22% vào năm 1960 và 31% hiện nay. Liệu nhà ở có là một khoản chi xa xỉ? Các hiệp hội của người tiêu dùng ủng hộ Engel trên điểm này.

Định luật Gresham

Thomas Gresham (1519-1579)

Thomas Gresham (1519-1579) là một chủ ngân hàng người Anh sống vào thời điểm mà tiền tệ được đúc hoàn toàn bằng kim loại; vào thời đó người ta sử dụng đồng thời các đồng tiền vàng và đồng tiền bạc (một hệ thống tiền tệ được gọi là “bản vị kép”). Thông thường, một đồng tiền có 31 gram bạc nguyên chất có mệnh giá giống như một đồng tiền có 2 gram vàng nguyên chất (người ta để sang một bên những rắc rối gắn với việc không bao giờ có đồng tiền nào có kim loại nguyên chất). Nhưng có tình trạng là đồng tiền vàng hay đồng tiền bạc được đánh giá thấp một chút so với đồng tiền kia. Ví dụ, việc những người chinh phục châu Mỹ phát hiện ra các mỏ bạc ở Bolivia vào thế kỷ 16 đã làm giảm giá kim loại này so với vàng. Khi đồng tiền vàng trở nên tương đối đắt hơn, thì các chủ ngân hàng thích chi tiền hoặc thanh toán bằng đồng tiền bạc có giá trị tương đối ít đắt hơn. Kết quả tất yếu là các đồng tiền vàng ngày càng trở nên khan hiếm hơn, trong khi đồng tiền bạc thì được lưu hành nhiều hơn: “đồng tiền xấu [đồng tiền bị mất giá, là đồng tiền bạc trong ví dụ này] đuổi đồng tiền tốt”, Gresham khẳng định, và từ đó cho ra đời định luật mang tên ông.

Định luật này có thể đã biến mất cùng với chế độ bản vị kép, nhưng nó lại xuất hiện mỗi khi mà hai hình thức tiền tệ cùng tồn tại có khả năng thấy được sự dao động của các giá trị trao đổi tương ứng của chúng: ví dụ, tại Argentina, vào những năm 1990, một đạo luật đã thiết lập một quy tắc đơn giản: đồng peso trị giá chính thức ngang với một đô-la. Vì vậy, ngườiArgentina không phân biệt việc trả tiền mua hàng bằng đồng peso hay bằng đồng đô-la. Nhưng do lạm phát, đồng peso bị mất giá một chút, đến mức tất cả người Argentina, những người có khả năng [tài chính] sẽ chi trả bằng đồng peso và giữ lại những đồng đô-la quý báu của họ. Chỉ cần mất tám ngày để các đồng đô-la biến mất khỏi lưu thông: đồng tiền xấu đã đuổi đồng tiền tốt và Nhà nước Argentina đã buộc phải phá giá đồng peso. Không phải không có lý do mà Gresham, một chủ ngân hàng, đã trở nên giàu có.

Định luật King

Gregory King (1648-1712), không phát minh ra định định luật nào mang tên ông cả.Nhưng định luật đã được đặt tên như vậy để tưởng nhớ đến công trình của ông. Thực vậy, nhà thống kê học người Anh này đã tiến hành những ước tính nghiêm túc đầu tiên về dân số và mức tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, và đặc biệt đã quan tâm đến các mối quan hệ giữa việc sản xuất lúa mì và giá cả của lúa mì trên thị trường. Ông thấy rằng giá lúa mì tăng cao khi mùa thu hoạch kém, và giảm mạnh khi mùa thu hoạch tốt. Việc giải thích điều này rất đơn giản: vào thời đó, lúa mì là thực phẩm thiết yếu cơ bản. Là một yếu tố then chốt của cuộc sống (và sinh tồn), người ta phải mua lúa mì bằng bất cứ mọi giá. Trong trường hợp mùa thu hoạch kém, cầu chỉ giảm nhẹ, trong khi cung có thể giảm nhiều: từ đó mà giá cả tăng mạnh. Ngược lại, những mùa thu hoạch tốt trôi qua một cách khó khăn, bởi vì dạ dày của người tiêu dùng không mở rộng được: vì vậy giá cả cần phải giảm mạnh để một số người có thể mua nhiều hơn nhằm cho gia cầm ăn chẳng hạn.

Định luật King so sánh điều được gọi là độ co dãn của cầu (khi giá giảm xuống 1%, thì liệu cầu có tăng nhiều hơn hoặc ít hơn 1% không, và khi giá tăng lên 1%, thì liệu cầu có giảm nhiều hơn hoặc ít hơn 1% không?) và độ co dãn của cung (khi giá tăng lên 1%, thì liệu cung có tăng nhiều hơn hoặc ít hơn 1% không?). Lúa mì chính là sản phẩm mà độ co dãn của cung và độ co dãn của cầu đều rất thấp, có nghĩa là cung và cầu biến động rất ít khi giá cả biến động. Như vậy, phải có một biến động giá rất lớn để có thể cân bằng cung và cầu, bởi vì chi phí vận chuyển (để nhập khẩu lúa mì trong trường hợp mùa thu hoạch kém, hoặc xuất khẩu lúa mì trong trường hợp mùa thu hoạch tốt) cao và sản phẩm dễ hư hỏng. Hầu hết các sản phẩm nông nghiệp đều ở trong trường hợp tương tự. Tuy nhiên, định luật King vẫn còn tính thời sự. Tại sao?

Chủ yếu là vì sự chậm chạp của một số quá trình điều chỉnh và chi phí xã hội của các quá trình ấy. Ví dụ, khi giá lợn tăng, báo hiệu một nguồn cung không đủ, thì sẽ có rất nhiều nhà sản xuất phát triển trang trại để tận dụng xu hướng này. Nhưng khi thu hoạch bổ sung này đến với thị trường, thì trong thực tế nó tạo ra một cung mạnh hơn so với cầu, vì vậy giá cả giảm mạnh, loại bỏ những nhà sản xuất nào yếu kém nhất hoặc hoạt động kém hiệu quả nhất. Khi thu hoạch giảm, thì giá cả tăng lên và như vậy chu kỳ (được gọi là chu kỳ “thịt lợn”, nhưng điều này cũng đúng đối với các mặt hàng ngô, củ cải đường, hạt có dầu, v.v.) có thể tái diễn, đến vô tận. Thị trường thường xuyên tạo ra một loạt các biến động theo hướng đi lên hoặc đi xuống. Đó là định luật King, định luật mà trong những năm sau chiến tranh, đã biện minh cho các chính sách nông nghiệp nhằm giảm thiểu sự biến động giá cả. Nhưng hiện nay là thời điểm của toàn cầu hóa và King không còn nằm trong nghị trình. Người nông dân hối tiếc nó, nhưng không biết định luật này.

Định luật cung cầu

John Stuart Mill (1806-1873)

Trong tất cả các định luật, đây là định luật được biết đến nhiều nhất: không có ngày nào mà định luật không được một nhà bình luận đề cập đến, để ca ngợi những phẩm chất của thị trường, hoặc cáo buộc những tệ nạn của nó. Tuy nhiên, thuật ngữ này không được sinh ra dưới ngòi bút của những nhà sáng lập phân tích kinh tế. John Stuart Mill (1806-1873), trong cuốn Principes d’économie politique[Các nguyên lý kinh tế chính trị] (1848) của ông, đã nói đến “phương trình cung cầu.”

F. von Hayek (1899-1992)
Alfred Marshall (1842-1924)

Mãi cho đến Alfred Marshall (1842-1924) và cuốn sách của ông vào năm 1890, có tựa đề giống với tựa đề cuốn sách của Mill và là cuốn sách giáo khoa đầu tiên của kinh tế học tân cổ điển, ta mới tìm thấy thuật ngữ “định luật cung cầu”. Ông đề xuất một đường biểu diễn bằng đồ thị đã trở nên phổ quát: đường cong về cầu giảm khi giá cả tăng, còn đường cong về cung đi theo con đường ngược lại và vì vậy chắc chắn sẽ xảy ra một thời điểm khi mà hai đường cong này sẽ giao nhau, xác định một mức giá và một lượng cân bằng. Há chẳng phải là điều hiển nhiên? Khi mà mặt hàng dâu tây hiếm [trên thị trường], thì giá tăng cao, điều này cho phép loại bỏ những người mua quá nhiều. Như vậy, định luật cung cầu hoạt động như một nam châm (khi giá cả tăng, thì sẽ kích thích sản xuất tăng). Sự thay đổi đồng thời giữa giá cả và số lượng cho phép dẫn đến một tình huống mà, với một mức giá nhất định nào đó, toàn bộ cung sẽ được tiêu thụ và toàn bộ cầu sẽ được thỏa mãn. Phép mầu của thị trường, Hayek thốt lên.

Trừ phi mọi chuyện không phải lúc nào cũng đơn giản như vậy. Đôi khi, khi giá giảm, cầu cũng giảm theo, bởi vì những người mua tiềm tàng diễn giải sự giảm giá này như là một sự suy giảm chất lượng (trong trường hợp của rượu vang, pho mát hoặc ô tô cũ đã qua sử dụng, ví dụ). Trong một số trường hợp, một hàng hóa đắt tiền giúp phân biệt người mua nó với những người khác không có phương tiện [để mua nó], và do đó, hưởng lợi từ mức cầu cao từ phía những người muốn được phân biệt (“hiệu ứng Veblen”, được đặt tên theo tên của nhà kinh tế học người Mỹ đã làm rõ nó).

Nói chung, cơ chế thời trang giúp làm tăng đồng thời giá cả và mức cầu. Trên các thị trường tài chính, một chứng khoán đang tăng giá sẽ thu hút người tìm kiếm một món hời và hy vọng vào một sự tăng giá tiếp theo, trong khi một chứng khoán đang mất giá sẽ khiến một số người sở hữu nó muốn loại bỏ nó: trong cả hai trường hợp, động thái mang tính tự duy trì. Nhưng ngược lại, khi giá của một nhu yếu phẩm hàng đầu (ví dụ như bánh mì) tăng, thì mức tiêu thụ của nó cũng tăng, bởi vì sự tăng giá đó chắc chắn không giới hạn ở mặt hàng bánh mì, mà còn ảnh hưởng đến các mặt hàng thực phẩm khác, đã trở nên quá đắt đỏ, và mức cầu sẽ giảm để giành tiền mua những mặt hàng nào ít tốn kém hơn là bánh mì (“hiệu ứng Giffen”, được đặt tên theo tên của nhà kinh tế học người Scotland, người đã làm rõ nó).

Nói tóm lại, định luật cung cầu thường bị vi phạm. Nhưng điều này không có nghĩa là nó không tồn tại, nhưng bố cục tốt đẹp của nó không phải là điều phổ quát, nó gần hơn với ẩn dụ này của Mill: “ở khắp mọi nơi, đại dương luôn có xu hướng cân chỉnh mực nước biển, nhưng chưa bao giờ giữ được mực nước đó; bề mặt của đại dương luôn gợn sóng và thường bị động bởi những cơn bão.

Định luật Okun

Arthur Okun (1928-1980)

Arthur Okun (1928-1980) là một nhà kinh tế học người Mỹ thuộc trường phái keynesian. “Định luật” của ông không hẳn là một định luật thực sự: nó chỉ đo lường, trong một quốc gia nhất định, diễn tiến của số lượng việc làm khi tăng trưởng tăng hoặc giảm một điểm, từ đó cho phép suy ra một tỷ suất tăng trưởng kinh tế tối thiểu để đẩy lùi tình trạng thất nghiệp, tại quốc gia đó. Vì vậy, đó là một phép đo hơn là một định luật. Ví dụ, tại Pháp, định luật Okun đưa ra một tỷ suất tăng trưởng tối thiểu là 1,3%. Nhưng tỷ suất này có thể thay đổi theo thời gian, bởi vì nó phụ thuộc vào diễn tiến của năng suất, tỷ lệ việc làm bán thời gian, v.v.. Okun đã trở nên nổi tiếng vì một đóng góp khác, dưới hình thức một ẩn dụ: nếu bạn có một khu vườn nằm xa nhà mà bạn chỉ có thể tưới tiêu bằng một cái thùng nước bị rò rỉ, thì bạn sẽ ngưng việc tưới tiêu đó từ một tỷ lệ phần trăm lượng nước bị thất thoát nào trên đường? Diễn dịch: từ những mức thất thoát nào mà chính phủ cần phải loại bỏ một khoản trợ cấp xã hội? Ông trả lời: đó là một vấn đề thuộc về niềm tin cá nhân. Một số người không chấp nhận một sự thất thoát nào dù nhỏ nhất; đối với cá nhân tôi, ông nói, tôi có thể chấp nhận đến mức 50%. Điều không tránh khỏi là sẽ luôn luôn có những kẻ khôn lỏi để được hưởng một cách không chính đáng những trợ giúp, nhưng điều đó không phải là một cái cớ để ngừng cố gắng làm giảm sự bất bình đẳng, đặc biệt đối với những người ở tận cùng của thang thu nhập. Ông không phải là người quá khoan hòa (ông khuyến nghị thắt chặt các quy định và kiểm soát), nhưng thứ bậc hóa các ưu tiên: không được bỏ rơi công bằng xã hội nhân danh cuộc chiến chống gian lận.

Định luật Pareto

Léon Walras (1834-1910)
Vilfredo Pareto (1848-1923)

Là người nối nghiệp Walras tại Đại học Lausanne, hầu tước Vilfredo Pareto(1848-1923) vào năm 1896, khi nghiên cứu về các dữ liệu thống kê thuế vụ, nhận thấy rằng trong hầu hết các nước mà ông có dữ liệu, có 20% những người đóng thuế trả 80% thuế. Tò mò, ông lại tìm ra một sự phân phối tương tự về di sản và thu nhập, và đưa ra kết luận cho rằng sự phân phối này có lẽ tương ứng với một “định luật tự nhiên”, mà ông gọi là “nguyên lý phân phối”, phản ánh sự phân phối không đồng đều về năng lực và trí tuệ thực hành trong một dân số nhất định. Ngụ ý, chỉ có một lượng nhỏ người mới thuộc tầng lớp tinh hoa, điều mà bản thân ông cũng không nghi ngờ. Nhưng phải đến năm 1956 thì Joseph Juran, một chuyên gia người Mỹ về kiểm soát chất lượng trong ngành công nghiệp, mới đặt tên cho nguyên lý phân phối này là “định luật Pareto”, sau khi tìm thấy rằng 80% những hỏng hóc của cùng một họ sản phẩm (một động cơ điện, ví dụ) xuất phát từ 20% các sản phẩm.

Định luật về dân số (hay định luật Malthus)

T. Malthus (1766-1834)

Cuốn sách của Robert Thomas Malthus (1766-1834) được xuất bản lần đầu (vào năm 1798), cuốn sách đã làm cho ông trở nên nổi tiếng, có tiêu đề là An Essay on the Principle of Population, as it affects the future improvement of society with remarks on the speculations of Mr. Godwin, M. Condorcet, and other writers [Tiểu luận về nguyên lý dân số bởi vì nó ảnh hưởng đến sự tiến bộ của xã hội trong tương lai với những nhận xét về các lý thuyết của các ông Godwin, Condorcet và của các tác giả khác] (ouf, tựa quả là khá dài!). Chính những người hâm mộ ông đã biến nguyên lý thành định luật: tỷ lệ sinh đẻ đạt đến mức mà số lượng người sống có xu hướng tăng nhanh hơn số lượng thực phẩm được sản xuất. Đối với Malthus, quy tắc này, áp dụng đối với tất cả các mọi người sống, phải dẫn đến một sự hạn chế sinh đẻ tự nguyện, đặc biệt qua việc lùi tuổi kết hôn và một sự kiêng khem quan hệ tình dục (Malthus là một mục sư). Nếu không, chính việc thiếu thốn thực phẩm nuôi sống sẽ loại bỏ số người dư thừa.

Malthus đã rút ra những kết luận gây sốc, ngay cả vào thời đó: chớ có giúp đỡ người nghèo, bởi vì điều này sẽ khuyến khích họ sinh đẻ, từ đó làm tăng tỷ lệ dân số bị nạn đói và nghèo khổ đe dọa. Malthus đã thổi điệu sáo dễ nghe này ở tất cả mọi nơi mọi lúc vào lỗ tai của người nộp thuế: sẽ là vô ích khi giúp đỡ người nghèo, nếu không muốn làm gia tăng nạn nghèo đói. Nhưng ông đã không tính đến việc con người có thể tự nguyện làm giảm khả năng sinh đẻ bằng các phương thức khác ngoài sự kiêng khem quan hệ tình dục, và khi tỷ lệ tử vong giảm xuống và khi tỷ lệ học thức tăng lên, thì họ lại có xu hướng làm điều đó [giảm tỷ lệ sinh đẻ]. Điều mà ngày nay chúng ta gọi là “sự quá độ dân số”, một thực tế khi mà tỷ lệ sinh đẻ giảm khi tỷ lệ tử vong giảm xuống, nhưng với một độ trễ trong thời gian.

Định luật này lại nổi lên trong cuộc tranh luận công cộng với “sự bùng nổ dân số” của thế giới thứ ba, trong những năm 1950. Với cảnh ngộ tương tự: mức sinh (số lượng con được sinh của một phụ nữ) trong phần lớn các nước thuộc phương Nam từ nay đã giảm xuống dưới 3 [đứa con] và đến gần với ngưỡng sinh mới bảo đảm số dân được giữ nguyên (trung bình cao hơn 2 con một chút cho một phụ nữ). Một lần nữa, sự quá độ dân số đã tiến nhanh trên diện rộng và đã được thực hiện trong 50 năm, trong khi châu Âu phải mất đến một thế kỷ. Và duy chỉ còn Châu Phi Hạ Sahara là vùng mà sự quá độ về dân số mới chỉ vừa bắt đầu.

Định luật về lợi tức giảm dần

David Ricardo (1772-1823)

Chính David Ricardo – lại ông ấy nữa! – là người phát minh ra định luật này. Khi dân số tăng, thì cần phải khai thác những vùng đất mới để nuôi sống con người, ông nói. Những vùng đất [mới] này kém năng suất hơn so với những vùng đất cũ, bởi vì hiển nhiên là người nông dân thích bắt đầu khai thác những vùng đất mầu mỡ nhất, những vùng đất làm cho họ làm việc ít nặng nhọc hơn. Lợi ích nhỏ, hậu quả lớn. Bởi vì, nếu phải mất hai giờ công để sản xuất thêm một ký lúa mì theo mức cầu của dân số, trong khi chỉ cần một giờ công cho những ký lúa mì khác, thì giá lúa mì trong tổng thể sẽ tăng lên, do không thể xem xét đến việc bán một ký lúa mì với một mức giá khác với mức giá của cậu em sinh đôi của mình, với lý do là nó có giá thành sản xuất đắt hơn. Vì vậy lợi tức giảm dần sẽ thúc đẩy giá cả tăng, đặc biệt là giá cả các mặt hàng thực phẩm. Đây là điều rất đáng buồn cho người lao động, Ricardo nói thêm, bởi vì điều đó sẽ làm cho họ càng nghèo thêm (và làm giàu cho các chủ đất, những người sẽ có dịp cho họ thuê lại những vùng đất có năng suất cao nhất với giá đắt hơn: đó là tô chênh lệch). Nhưng sự việc đã rồi.

Ricardo quan tâm đến vấn đề đất đai, các nhà kinh tế học tân cổ điển thì quan tâm đến việc khái quát hóa khái niệm. Trong một doanh nghiệp, khi sản lượng tăng, thì chi phí cận biên (chi phí của việc thêm một đơn vị đầu vào) bắt đầu giảm: bởi vì chúng ta có thể dàn trải các chi phí cố định trên một số lượng đơn vị sản xuất lớn hơn rất nhiều, cũng có thể bởi vì kinh nghiệm cho phép tiết kiệm được thời gian và nâng cao chất lượng (hiệu ứng tập huấn). Kết quả: chi phí trung bình giảm và giá bán cũng có thể dễ dàng giảm, ví dụ nếu người mua đặt mua những đơn hàng với số lượng lớn (những người cho thuê xe ô-tô, ví dụ, sẽ mua với giá rẻ hơn nhiều so với những người mua cá thể). Than ôi, những điều tốt đẹp không bao giờ kéo dài lâu. Đến một lúc nào đó thì chi phí cận biên bắt đầu tăng lên: giờ làm việc phụ trội trở nên đắt hơn, các dây chuyền sản xuất bắt đầu bão hòa, các kỹ sư không còn tìm được cách làm tăng những năng suất khả dĩ mới, v.v.. Theo các nhà kinh tế học tân cổ điển, định luật về lợi tức giảm dần có một giá trị phổ quát và việc sản xuất nhiều hơn cuối cùng cũng dẫn đến một chi phí cao hơn đối với một đơn vị sản xuất, từ đó thúc đẩy giá tăng lên.

Cần lưu ý rằng định luật này là khá thuận tiện: nó cho phép giải thích đường cong về cung. Khi cầu tăng, đó không chỉ vì tính cơ hội mà các doanh nghiệp tăng giá sản phẩm của mình, mà còn vì tình thế bắt buộc, bởi vì các chi phí cho một đơn vị sản xuất của họ cũng tăng. Những người thực lợi của Ricardo là những người bóc lột, bởi vì họ kiếm lời từ sự tăng giá các mặt hàng thực phẩm theo mức cầu tăng dần, và họ hưởng lợi mà chẳng cần phải làm bất cứ điều gì. Nhưng những doanh nhân của các nhà kinh tế học tân cổ điển là những gã đáng thương: họ chỉ tác động đến giá cả khi nhận thấy các chi phí của họ đã tăng. Nếu không, họ sẽ biến mất. Họ không có lựa chọn.

Joseph Schumpeter (1883-1950)

Tuy nhiên cũng có một nhược điểm. Lợi tức giảm dần không phải là một điều gì rõ ràng. Hầu hết các doanh nghiệp cắt giảm chi phí bằng cách mở rộng quy mô sản xuất-kinh doanh lớn hơn: điều này đúng cho các ngành công nghiệp, ngân hàng, bảo hiểm, các trung tâm mua sắm, quảng cáo, v.v.. Chỉ một nhà máy cán kim loại lớn cũng đã liên tục sản xuất ra nhiều sản phẩm tôn hơn so với nhiều nhà máy cán kim loại nhỏ. Chưa nói đến tính kinh tế theo quy mô (khấu hao các chi phí cố định trên một số lượng lớn các đơn vị sản xuất), các hiệu ứng tập huấn (xem ở phần trên), các cải tiến kỹ thuật (tự động hóa…). Với những công nghệ mới, chi phí cận biên gần bằng không: chi phí sản xuất cận biên của một phần mềm được giảm xuống bằng với chi phí bao bì và vận chuyển. Tất cả các phần còn lại là lợi nhuận. Vả lại Schumpeter đã hiểu được cách thức vận hành của chủ nghĩa tư bản, không phải với những doanh nghiệp chịu phải lợi tức giảm dần. Trong một số trường hợp, sự độc quyền là cách thức để sản xuất với mức chi phí thấp nhất: một mạng lưới đường sắt độc quyền, một mạng lưới điện thoại độc quyền, một mạng lưới cung cấp nước sinh hoạt độc quyền (ở tầm của một thành phố). Điều này được gọi là sự độc quyền tự nhiên.

Jean Tirole (1953-)
J.-J. Laffont (1947-2004)

Nhưng những doanh nghiệp nắm độc quyền, không có đối thủ cạnh tranh, có thể hưởng lợi từ vị thế không chính đáng này. Liệu nên chăng quốc hữu hóa chúng không? Jean Tirole và Jean-Jacques Laffont đã cho thấy rằng điều này không giải quyết được vấn đề, bởi vì Nhà nước (hay thị trấn) không nhất thiết có được tất cả các thông tin cần thiết để xác định một mức giá công bằng; vì thế các nhà quản lý mạng lưới nắm hết các tiền tô do các chi phí sản xuất của họ sẽ cho phép bán sản phẩm với mức giá rẻ hơn. Lợi tức tăng dần vận hành theo kiểu một cơn sóng thần: đặt lại vấn đề hiệu quả của sự cạnh tranh, định luật cung cầu, sự vượt trội về năng suất của doanh nghiệp tư nhân, v.v.. Thật tội cho Ricardo…

Định luật Say (hay định luật tiêu trường)

Adam Smith (1723-1790)
Jean B. Say (1767−1832)

Định luật Say được đặt theo tên của Jean Baptiste Say (1767-1832), nhà kinh tế học người Pháp trở nên nổi tiếng với việc phổ biến các phân tích của Adam Smithtrên lục địa (châu Âu – ND). Định luật của ông được tóm tắt như sau: sản phẩm được trao đổi với sản phẩm, hay là cung sẽ tạo ra chính cầu của nó. Để sản xuất, một doanh nghiệp mới phải mua hàng hóa hoặc dịch vụ và phải thuê nhân viên: làm như vậy, họ phải bỏ tiền ra. Đến lượt những số tiền được chi ra đó sẽ được những người thụ hưởng chi cho các khoản thanh toán. Việc cung tăng thêm là động cơ và tạo ra cầu tăng thêm với tầm quan trọng bằng nhau. Không thể có khủng hoảng thừa, nhưng chỉ có những bất điều chỉnh tạm thời theo khu vực, ví dụ như do sản xuất ra quá nhiều sản phẩm này nhưng không đủ đối với sản phẩm kia.

Các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển tin chắc vào những điều trên, vốn dẫn họ đến việc phủ nhận khả năng xảy ra những cuộc khủng hoảng lâu dài do chính bản thân hệ thống kinh tế gây ra. Các cuộc khủng hoảng chỉ có thể đến từ những nguyên nhân bên ngoài, chẳng hạn như việc ít khám phá ra các mỏ vàng (đã đóng một vai trò tiền tệ then chốt trong thế kỷ XIX), một cú sốc dầu hỏa… hoặc một chính sách kinh tế tồi tệ của Nhà nước (cách giải thích cuộc khủng hoảng vào năm 1929 của Milton Friedman). Keynes đã bác bỏ sự phân tích này, làm nổi bật khả năng của một tình trạng dư thừa tiết kiệm (không được chuyển thành đầu tư), vì vậy sinh ra không đủ cầu.

Béatrice Majnoni Intignano
Milton Friedman (1912-2006)

Những nhà kinh tế học trọng tiền và những nhà kinh tế học tân cổ điển đã tiến hành phục hồi định luật Say, gợi ý rằng phải làm mọi thứ để giải phóng cung, cầu sẽ luôn luôn đi theo sau. Ở Pháp, chúng ta thậm chí đã thấy một nữ kinh tế gia (Béatrice Majnoni Intignano) nhắc đến một “định luật Say về việc làm”: số lượng người lao động tham gia thị trường lao động càng lớn (cung lao động, thường được gọi là cầu việc làm), thì tốc độ tăng trưởng kinh tế càng cao. Bởi vì tất cả những người lao động đó hiển nhiên sẽ tạo ra một cầu lao động (tạo công ăn việc làm) nếu các tham vọng của họ không quá đáng. Vì vậy, chỉ cần một ứng viên lao động xuất hiện trên thị trường thì họ sẽ tìm được việc làm, nhờ vào bàn tay vô hình của thị trường và việc hàng ngàn doanh nhân chỉ chờ có điều đó. Một sự lạc quan đáng ngưỡng mộ hay là một chuyện cổ tích? Những người tìm việc sẽ quyết định.

Định luật về giá trị

Định luật thực ra được Marx phát triển, nó đã trở thành, đối với hầu hết những người công nhận ông, tiêu chí mang tính quyết định để phân biệt các “nhà kinh tế học tư sản” với các “nhà kinh tế học khoa học” (có nghĩa là “mác-xít”). Là một thứ vũ khí chiến đấu đồng thời là công cụ trí tuệ, định luật này khẳng định rằng giá trị của mọi nền sản xuất được xác định bởi lượng lao động xã hội cần thiết để tạo ra nó, cho dù đó là lao động trực tiếp hoặc gián tiếp (để sản xuất các hàng hóa trung gian và các trang thiết bị được sử dụng). Thuật ngữ “xã hội” có nghĩa là không đề cập đến một nhà sản xuất cụ thể nào hết, mà là tất cả những nhà sản xuất cùng một sản phẩm hoặc dịch vụ: những nhà sản xuất nào phát triển được các kỹ thuật tiết kiệm công sức lao động sẽ có cơ hội bán sản phẩm với mức giá thấp hơn giá trị trung bình, sẽ loại bỏ những nhà sản xuất nào, mà để tạo ra sản phẩm, cần đến nhiều công sức lao động hơn so với mức giá trung bình của các nhà sản xuất. Giá thật sự trên thị trường biến động theo cung và cầu, nhưng giá trị lao động, theo một cách nào đó, là trọng tâm của lực hấp dẫn. Vấn đề là khối lượng lao động có thể khỏa lấp vấn đề phẩm chất lao động vốn rất khác nhau, giữa phẩm chất của người kỹ sư và phẩm chất của người công nhân.

Là một loại định luật thiêng liêng đối với hầu hết các nhà kinh tế học mác-xít, “định luật về giá trị” đã tạo ra những cuộc tranh cãi bất tận, khó hiểu đối với hầu hết các nhà kinh tế học đương đại, có phần giống một chút với các cuộc tranh luận về giới tính của các thiên thần vào thời Trung Cổ. Nhưng vẫn luôn còn đó một vài người hoài cổ.

Định luật Wagner

Adolph Wagner (1835-1917)

Khi xã hội càng văn minh, Nhà nước càng phải chi tiêu nhiều hơn,” đó là nhận định của Adolph Wagner (1835-1917), một nhà kinh tế học người Đức, vào năm 1872. Một nhận xét mà ông đã biến thành “định luật” tất yếu vì hai lý do. Một mặt, bởi vì hoạt động của nền kinh tế, để phát triển, cần đến những cơ sở hạ tầng mà chỉ có Nhà nước mới có thể thúc đẩy và tài trợ: đường bộ giao thông, đường sắt, hệ thống nước sinh hoạt và thoát nước (ngày nay chúng ta có thể thêm vào sân bay, hệ thống cung cấp điện, mạng 4G, v.v.). Mặt khác, bởi vì mức sống, khi tăng cao, sẽ tạo ra những nhu cầu mới (về giáo dục, y tế), mà mức độ hài lòng sẽ đồng thời kích thích và tạo điều kiện cho mức độ tăng trưởng kinh tế.

Gần một thế kỷ rưỡi sau đó, định luật này đã bị đưa ra tranh cãi dữ dội, và các nhà kinh tế học tự do vui mừng trước việc các chi tiêu công có xu hướng giảm dần trong cơ cấu của GDP. Nhưng nên lưu ý là mức giảm này đi kèm với sự gia tăng bất bình đẳng và nhiều hình thức loại trừ khác nhau gây thiệt hại cho những tầng lớp dễ bị tổn thương nhất. Trong khi định luật Wagner dựa trên một nền móng chủ yếu có tính kinh tế, thì việc đặt lại vấn đề định luật này sẽ gây ra hoặc làm trầm trọng thêm các vấn đề xã hội.

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: Les lois, les théorèmes, les courbes…, Les Dossiers d’Alternatives Economiques, Hors-série no 4, septembre 2016.

———————–&&&———————

Hệ số Gini

Hệ số Gini

(Nguồn: https://vi.wikipedia.org)

Hệ số/Chỉ số Gini là gì?

Hệ số Gini dùng để biểu thị độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập. Nó có giá trị từ 0 đến 1 và bằng tỷ số giữa phần diện tích nằm giữa đường cong Lorenz và đường bình đẳng tuyệt đối với phần diện tích nằm dưới đường bình đẳng tuyệt đối. Hệ số này được phát triển bởi nhà thống kê học người Ý Corrado Gini và được chính thức công bố trong bài viết năm 1912 của ông mang tên “Variabilità e mutabilità”. Chỉ số Gini (Gini Index) là hệ số Gini được thể hiện dưới dạng tỷ lệ phần trăm, được tính bằng hệ số Gini nhân với 100.

Hệ số Gini (hay còn gọi là hệ số Loren) là hệ số dựa trên đường cong Loren (Lorenz) chỉ ra mức bất bình đẳng của phân phối thu nhập giữa cá nhân và hệ kinh tế trong một nền kinh tế.

Khái quát

Hệ số Gini thường được sử dụng để biểu thị mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa các tầng lớp cư dân. Số 0 tượng trưng cho sự bình đẳng thu nhập tuyệt đối (mọi người đều có cùng một mức thu nhập), số 1 tượng trưng cho sự bất bình đẳng thu nhập tuyệt đối (một người có toàn bộ thu nhập, trong khi tất cả mọi người khác không có thu nhập).

Hệ số Gini cũng được dùng để biểu thị mức độ chênh lệch về giàu nghèo. Khi sử dụng hệ số Gini trong trường hợp này, điều kiện yêu cầu phải thỏa mãn không tồn tại cá nhân nào có thu nhập ròng âm. Hệ số Gini còn được sử dụng để đo lường sự sai biệt của hệ thống xếp loại trong lĩnh vực quản lý rủi ro tín dụng.

Tuy hệ số Gini đã lượng hóa được mức độ bất bình đẳng về sự phân phối thu nhập, nhưng các nhà kinh tế nhận thấy, hệ số Gini mới chỉ phản ánh được mặt tổng quát nhất của sự phân phối thu nhập, trong một số trường hợp, chưa đánh giá được các vấn đề cụ thể.

Cách tính

Gọi diện tích giữa đường bình đẳng tuyệt đối và đường Lorenz là A, phần diện tích bên dưới đường cong Lorenz là B, hệ số Gini là G. Ta có: G = A/(A+B).

Vì A+B = 0,5 (do đường bình đẳng tuyệt đối hợp với trục hoành một góc 45°), nên hệ số Gini: G = A/(0,5) = 2A = 1-2B.

Nếu đường cong Lorenz được biểu diễn bằng hàm số Y=L(X), khi đó giá trị của B là hàm tích phân:

{\displaystyle G=1-2\int _{0}^{1}L(X)\,dX}

Trong một số trường hợp, đẳng thức này có thể dùng để tính toán hệ số Gini trực tiếp không cần đến đường cong Lorenz.

Vídụ:

– Gọi dân số là {\displaystyle y_{i}}, với i = 1 đến n và y thỏa thứ tự không giảm{\displaystyle (y_{i}\leq \ y_{i+1})}, khi đó:

{\displaystyle G={1 \over n}(n+1-2{\sum _{i=1}^{n}(n+1-i)y_{i} \over \sum _{i=1}^{n}y_{i}})}

– Với hàm xác suất rời rạc f(y), i = 1 đến n, là các điểm có xác suất khác 0 và được sắp theo thứ tự tăng dần {\displaystyle (y_{i}<\ y_{i+1})}, khi đó:

{\displaystyle G=1-{\sum _{i=1}^{n}f(y_{i})(S_{i-1}+S_{i}) \over \sum _{i=1}^{n}y_{i}}}

Hệ số Gini trên thế giới hiện nay

400px-2014_Gini_Index_World_Map,_income_inequality_distribution_by_country_per_World_Bank.svg.png (400×205)

Countries’ income inequality (2014) according to their Gini index values:

red = high, green = low inequality

Ứng dụng

Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc gần đây trong năm 2009, công bố bản báo cáo về khoảng cách thu nhập của thế giới. Công cụ thông thường để tính toán về sự bất bình đẳng là hệ số Gini. Hệ số này càng cao, xã hội càng thiếu công bằng. Kết quả năm nay cho thấy, Đan Mạch là một trong những nền kinh tế phát triển nhất thế giới và đồng thời cũng có khoảng cách thu nhập thấp nhất thế giới. Hệ số Gini của quốc gia Bắc Âu này chỉ là 24,7%. Tại châu Á, quốc gia có khoảng cách giàu – nghèo thấp nhất là Nhật Bản với hệ số Gini là 24,9%.[1]

———————–&&&——————–

Giải mã cuộc khủng hoảng của kinh tế học

Giải mã cuộc khủng hoảng của kinh tế học

(Nguồn: http://nghiencuuquocte.org)

Nguồn: Paola Subacci, “Economic Crises and the Crisis of Economics”, Project Syndicate, 13/01/2017.

Biên dịch: Ngô Việt Nguyên | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Có thật là ngành kinh tế học “đang gặp khủng hoảng”? Nhiều người làm chính sách, như là Andy Haldane, kinh tế trưởng của Ngân hàng Anh, tin rằng điều đó là sự thật. Thật vậy, một thập niên trước, các nhà kinh tế học đã không dự báo được một cơn bão lớn sắp xảy ra, cho đến khi nó trở thành cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lớn nhất trong gần 80 năm. Gần đây hơn, họ đã nhận định sai về những ảnh hưởng tức thời mà cuộc trưng cầu Brexit sẽ gây ra cho nền kinh tế Anh.

Dĩ nhiên là những dự báo hậu Brexit không hẳn là sai hoàn toàn, nhưng với điều kiện là chúng ta nhìn vào ảnh hưởng dài hạn của cuộc trưng cầu Brexit. Đúng là một số nhà kinh tế học cho rằng nền kinh tế Anh sẽ sụp đổ trong sự hoảng loạn diễn ra sau kết quả trưng cầu, nhưng các hoạt động kinh tế đã chứng minh rằng nó tương đối vững vàng, với GDP tăng khoảng 2,1% trong năm 2016. Nhưng giờ đây khi Thủ tướng Anh Theresa May ngụ ý rằng bà muốn một Brexit “cứng”, tiên lượng dài hạn ảm đạm dường như là nhận định đúng.

Không may là trách nhiệm của các nhà kinh tế học đối với khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và cuộc suy thoái sau đó không chỉ nằm ở các sai lầm về dự báo. Nhiều người đã ủng hộ về mặt tri thức cho những sự quá đà đã thúc đẩy suy thoái, cũng như cho các sai lầm về mặt chính sách – đặc biệt là việc nằng nặc đòi duy trì chính sách tài khóa thắt lưng buộc bụng và việc bất chấp khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng – vốn xảy ra sau khủng hoảng.

Một số nhà kinh tế học đã bị lạc lối bởi sự ngạo mạn tri thức: niềm tin rằng họ luôn luôn có thể giải thích được những phức tạp trong thế giới thực. Những người khác thì bị vướng vào những vấn đề về phương pháp luận – “hiểu lầm cái đẹp là sự thật,” như Paul Krugman từng quan sát thấy – hay là đã đặt quá nhiều niềm tin vào lý trí của con người và tính hiệu quả của thị trường.

Mặc cho khát vọng muốn đạt được sự chắc chắn của khoa học tự nhiên, kinh tế học vẫn là, và vẫn sẽ tiếp tục, là một ngành khoa học xã hội. Các nhà kinh tế học đã nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề đã được gắn chặt vào những cấu trúc xã hội và chính trị rộng lớn hơn. Phương pháp luận của họ dựa vào quan sát, và từ đó họ nhận ra những mẫu hình và suy ra các mẫu hình và hành vi khác nhau, nhưng họ sẽ không bao giờ đạt được những thành công về mặt dự đoán như của ngành hóa học hay sinh học chẳng hạn.

Con người phản ứng với thông tin mới theo nhiều cách khác nhau, và theo đó mà chỉnh sửa hành vi của mình. Vì thế, kinh tế học không thể cung cấp – và nó cũng không nên tuyên bố rằng mình có thể cung cấp – những hiểu biết sâu sắc về những xu hướng và mẫu hình tương lai. Các nhà kinh tế học chỉ có thể nhìn thoáng qua vào tương lai bằng cách nhìn ngược lại, vì thế khả năng dự báo của họ bị giới hạn trong việc suy ra những xác suất dựa trên các sự kiện trong quá khứ, chứ không phải những quy luật vượt thời gian.

Và bởi vì kinh tế học là một ngành khoa học xã hội, nó có thể được sử dụng một cách dễ dàng để phục vụ những lợi ích chính trị và kinh doanh. Trong những năm trước khủng hoảng tài chính, tăng trưởng kinh tế toàn cầu và lợi nhuận doanh nghiệp cao đến mức mà tất cả mọi người – từ những nhà đầu tư nhỏ đến những ngân hàng lớn nhất- đều bị che mắt bởi bởi viễn cảnh về những khoản lợi nhuận lớn hơn.

Các nhà kinh tế học làm cho các ngân hàng, quỹ phòng hộ, và các doanh nghiệp khác đều phải cung cấp một “quan điểm” về ngắn hạn cho giới chủ và khách hàng, và phân phát “sự uyên thâm” của họ đến công chúng qua những bài phỏng vấn và lần xuất hiện trên các phương tiện truyền thông. Cùng lúc đó, ngành kinh tế bắt đầu sử dụng các công cụ toán ngày càng phức tạp và các biệt ngữ ngày càng chuyên sâu, điều làm cho khoảng cách giữa các nhà kinh tế học và các nhà khoa học xã hội khác ngày càng lớn hơn.

Trước cuộc khủng hoảng tài chính, khi mà nhiều lợi ích tư nhân và cơ hội lợi nhuận được đưa ra đong đếm, nhiều nhà kinh tế học bảo vệ một mô hình tăng trưởng dựa vào sự “hồ hởi phi lý” (irrational exuberance) hơn là những thông số căn bản vững vàng. Tương tự như thế, khi nhắc đến Brexit, nhiều nhà kinh tế học lầm tưởng ảnh hưởng dài hạn của cuộc trưng cầu dân ý với các ảnh hưởng ngắn hạn, bởi vì họ đã đưa ra dự báo vội vàng để phù hợp với các tranh luận chính trị.

Bởi vì những sai lầm nêu trên và những sai lầm khác nữa, các nhà kinh tế – và ngành kinh tế học – đã bị mất danh tiếng một cách đau đớn. Từng một thời được xem là các phù thủy với những kiến thức đặc thù, các nhà kinh tế học giờ đây là những “chuyên gia” bị xem thường nhất.

Chúng ta sẽ đi đến đâu từ đây? Dù chúng ta phải đánh giá cao sự công nhận thẳng thắn của Haldane, nhưng xin lỗi cho những sai lầm trong quá khứ vẫn không đủ. Các nhà kinh tế học, đặc biệt những ai tham dự vào các tranh luận về chính sách, phải chịu trách nhiệm cho các hành vi chuyên môn của họ. Để đạt được mục đích đó, họ phải buộc mình vào một bộ quy tắc ứng xử.

Hơn tất cả, bộ quy tắc này phải công nhận rằng kinh tế học quá phức tạp để có thể được biến thành những phát ngôn hay là các kết luận gấp gáp. Các nhà kinh tế học nên chú ý hơn về lúc nào và ở đâu họ sẽ nêu quan điểm của mình, và những hệ quả của việc làm như thế. Và họ nên luôn luôn công khai những lợi ích của mình, để những phân tích cho lợi ích riêng không bị hiểu lầm là một quan điểm độc lập.

Hơn thế nữa, các tranh luận về kinh tế sẽ được hưởng lợi từ nhiều tiếng nói hơn. Kinh tế học là một ngành rộng lớn bao gồm các nhà nghiên cứu và những người thực hành với phạm vi công việc bao gồm những quan điểm vĩ mô đến vi mô và các cách tiếp cận lý thuyết lẫn ứng dụng. Giống như bất kỳ môn học tri thức nào, nó cũng tạo ra các kết quả tuyệt vời, tốt, hay chỉ thường thường bậc trung.

Nhưng phần lớn những nghiên cứu trên không được thẩm thấu vào giới hoạch định chính sách hay ra quyết định, như là các bộ tài chính, ngân hàng trung ương, hay là các cơ quan quốc tế. Ở trên thượng tầng, những tranh luận về chính sách kinh tế vẫn bị thống trị bởi một nhóm người da trắng tương đối nhỏ từ các trường đại học Mỹ và các viện nghiên cứu chính sách, hầu hết đều là những người ủng hộ kinh tế học dòng chính.

Những quan điểm của phái này được trình bày một cách áp đảo trên các phương tiện truyền thông đại chúng, thông qua những bài bình luận và phỏng vấn. Nhưng trao đổi ý kiến trong một phạm vi nhỏ và nông như thế dẫn đến một cuộc tranh luận lòng vòng và tự mãn, và nó có thể thôi thúc những nhà kinh tế học ít được biết đến hơn chỉnh sửa lại nghiên cứu của họ để có thể tham gia vào nhóm đó.

Cộng đồng xứng đáng có, và cần phải có, một thị trường ý tưởng, nơi mà những quan điểm chính thống và phi chính thống đều được chú ý tương đương nhau và được thảo luận một cách cân bằng. Chắc chắn là điều này cần sự dũng cảm, trí tưởng tượng và sự năng động – đặc biệt là về phần các phóng viên. Nhưng một cuộc tranh luận về các ý tưởng kinh tế công bằng hơn và đa nguyên hơn có thể sẽ là điều mà chính các nhà kinh tế học cũng cần.

Paola Subacci là Giám đốc nghiên cứu về Kinh tế quốc tế tại Chatham House và là Giáo sư kinh tế tại Đại học Bologna. Bà là tác giả cuốn The People’s Money: How China is Building an International Currency.

Xem thêm: 

Copyright: Project Syndicate 2017 – Economic Crises and the Crisis of Economics

————–&&&————–