Niết bàn của các nhà kinh tế học (5): Các đường biểu diễn

Niết bàn của các nhà kinh tế học (5): Các đường biểu diễn

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com/)

Đường Beveridge

Lord William Beveridge (1879-1963) được biết đến nhiều nhất vì là người đặt cơ sở (năm 1942) cho hệ thống bảo hiểm xã hội của Anh, như nó được thiết lập kể từ năm 1945, dưới sự thúc đẩy của chính phủ thuộc Đảng Lao động của Clement Attlee. Vả lại người ta gọi mô hình Beveridge (đối lập với mô hình Bismarck) mọi hệ thống bảo hiểm xã hội theo khuynh hướng phổ quát (tất cả mọi người đều được trợ cấp và kinh phí cho chế độ bảo hiểm xã hội được lấy từ tiền thuế), trong khi đó hệ thống Bismarck dựa trên việc làm và các khoản đóng góp về an sinh xã hội, mỗi thành viên trong gia đình được giới hạn trợ cấp theo chế độ người hưởng quyền.

Nhưng đường biểu diễn được đặt tên theo Nam tước không liên quan đến chế độ bảo hiểm xã hội. Nó kết nối tỷ lệ việc làm còn trống tại một thời điểm nhất định với tỷ lệ thất nghiệp. Thông thường, khi tỷ lệ thất nghiệp tăng, thì tỷ lệ việc làm còn trống giảm: người thất nghiệp phải chấp nhận những vị trí công việc này, bởi vì họ không có sự lựa chọn. Ngược lại, khi tỷ lệ thất nghiệp giảm, thì tỷ lệ việc làm còn trống tăng. Nhưng nếu tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ việc làm còn trống đều tăng, thì điều đó có nghĩa là có tình trạng thất nghiệp cơ cấu: trình độ chuyên môn hoặc kinh nghiệm nghề nghiệp của người thất nghiệp và các vị trí việc làm còn trống không phù hợp, và điều này dẫn đến một sự tiến hóa của hệ thống đào tạo để tạo điều kiện cho việc chuyển đổi ngành nghề.

Đường Kuznets

Simon Kuznets (1901-1985), nhà kinh tế học người Mỹ gốc Ukraine đã được trao “Giải thưởng Nobel về kinh tế” vào năm 1971 vì những công trình thống kê của ông về sự tăng trưởng, các chu kỳ kinh tế và sự phát triển. Đường biểu diễn của ông, kết quả của nhiều quan sát về mặt thống kê liên quan đến sự bất bình đẳng. Đường biểu diễn có hình một đường cong chữ “U” ngược: đường cong này thấp khi một quốc gia ở trong hoàn cảnh nghèo, tình trạng bất bình đẳng, trong thời gian đầu, gia tăng dần dần khi đất nước phát triển, sau đó giảm xuống với quá trình hiện đại hóa của toàn xã hội. Một nhận xét mà ông giải thích như sau: giai đoạn đầu (bất bình đẳng đậm nét) phát sinh từ việc, trong một xã hội truyền thống, sự bất bình đẳng về thu nhập kích thích sự phát triển kinh tế bởi vì (vài) người rất giàu có thể tiết kiệm và tài trợ vào những khoản đầu tư cơ bản rất đắt tiền (các cơ sở hạ tầng giao thông, chẳng hạn); trong khi đó, đám đông người nghèo thì không có khả năng tiết kiệm bất cứ điều gì và vì vậy không thể tiết kiệm được, ngay cả khi số tiền được những người giàu tài trợ đã được phân phối cho họ. Nhưng đến một lúc nào đó khi mà ngay cả nguồn tài trợ của giới nhà giàu không kham nỗi do lượng vốn cần tài trợ trở nên quá lớn, và đặc biệt, quá khác biệt: việc giảm bớt sự bất bình đẳng cho phép nổi lên một tầng lớp trung lưu có khả năng tài trợ đồng thời nhiều dự án đầu tư tại địa phương (các khu dân cư, các doanh nghiệp vừa và nhỏ) và khả năng tiêu thụ trong nước cần thiết cho sự tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, chính nhờ vào sự tiến triển của các tầng lớp trung lưu mà chúng ta có thể theo đuổi sự phát triển kinh tế. Sự bất bình đẳng, ban đầu thuận lợi cho sự phát triển, trở thành một trở ngại khi mà mức độ phát triển đạt đến một ngưỡng nhất định.

Nếu trường hợp của Trung Quốc minh họa khá đúng phân tích của Kuznets, thì phân tích này từ nay bị phủ nhận bởi những diễn biến đang diễn ra ở các nước công nghiệp hóa cũ, với một sự tăng mạnh của bất bình đẳng trong thu nhập theo hướng có lợi cho giới giàu nhất và theo hướng bất lợi cho toàn bộ các tầng lớp trung lưu, như các công trình của Thomas Piketty đã cho thấy. Liệu giới giàu, trước đây được tôn vinh như là những người cung cấp nhiên liệu cho sự tăng trưởng kinh tế, có trở thành những kẻ săn mồi không? Trong bất kỳ trường hợp nào, đó là luận thuyết của một số các nhà kinh tế học, như Joseph Stiglitz và Thomas Piketty.

Đường Laffer

Arthur Laffer (1940-) là một nhà kinh tế học đương đại người Mỹ, người nổi tiếng vì đã vẽ, hình như vậy, trên một khăn trải bàn của nhà hàng(may mắn là khăn trải bàn được làm bằng giấy!) một đường có dạng là một hình bán nguyệt đặt trên một đường nằm ngang. Đường ngang này thể hiện mức thuế đánh trên thu nhập có thể dao động từ 0 đến 100%. Tung độ của biểu đồđo lường các khoản thu thuế. Dưới một thuế suất nào đó, bất kỳ gia tăng nào của thuế suất đó đều kích thích người dân làm việc nhiều hơn để bù đắp cho khoản thu thuế, một điều có lợi kép cho thu nhập của Nhà nước: không chỉ nguồn thu thuế tăng, mà cơ sở để tính thuế cũng tăng.

Tuy nhiên, khi mà thuế suất càng tăng, thì điều này càng ít thích hợp: người dân sẽ ngày càng có ít động lực để làm việc và kiếm thêm tiền, bởi vì Nhà nước thu về một phần ngày càng tăng của số thu nhập thặng dư đó. Đến một lúc nào đó khi mà việc tăng tiền thuế vượt quá mức tối đa chấp nhận được: cơ quan thuế siết cổ con gà đẻ trứng vàng, đến mức nó đẻ ít đi. Khi vượt quá ngưỡng thu thuế tối đa chấp nhận được, thì người dân ngừng nổ lực để kiếm nhiều tiền hơn, vì biết rằng cơ quan thuế sẽ thu nhiều tiền đến mức là không còn đáng phải lao lực cho khoản thu nhập nhỏ nhoi còn lại, “Quá nhiều thuế sẽ triệt tiêu thuế.”

Rõ ràng, đường này có cơ sở: ai sẽ đồng ý tiếp tục nổ lực làm việc nếu Nhà nước thu tất cả? Vấn đề duy nhất là xác định từ mức độ nào thì sự dị ứng thuế này phát huy tác dụng: 10% hay 90%? Laffer đề xuất mức 30% và, vào đầu những năm 1980, ông đã thuyết phục được Tổng thống Hoa Kỳ lúc đó là Ronald Reagan. Đây là sự khởi đầu của kinh tế học trọng cung. Tại Pháp, Thomas Piketty đã chứng minh rằng việc nhiều chính phủ liên tiếp, từ năm 1986 đến năm 1996, chấp thuận cắt giảm các thuế suất cao đánh vào thu nhập, đã không có ảnh hưởng nào đến sự tăng trưởng kinh tế, mà chỉ tác động đến mức độ thâm hụt công không thôi. Nói tóm lại, đường Laffer là một chủ đề vẫn còn được tranh cãi: đó là một biểu trưng sát với thực tế hay là một ảo ảnh của tư tưởng tự do?

Đường Phillips

Đây có lẽ là đường nổi tiếng nhất trong phân tích kinh tếĐó là kết quả của các công trình của một nhà kinh tế học người New Zealand, Alban William Phillips (1914-1975), trên khoảng một thế kỷ các dữ liệu số về tiền lương và việc làm ở Vương quốc Anh, và đã được Franco Modigliani (xem “định lý Modigliani-Miller”) tổng kết như sau: “Tỷ suất lạm phát sẽ tăng khi tỷ suất thất nghiệp giảm, và ngược lại”. Đường Phillips đã ra đời, với tỷ suất lạm phát trên trục dọc và tỷ suất thất nghiệp trên trục ngang. Đối với Modigliani, và toàn bộ các nhà kinh tế học keynesian của sự tổng hợp, thì kết luận rất rõ: chính phủ phải phân định giữa tình trạng thất nghiệp nhiều hơn hay lạm phát nhiều hơn.

Milton Friedman phản bác cách nhìn này: Lạm phát phát sinh từ khối lượng tiền tệ được phát hành, trong khi thất nghiệp là kết quả của khoảng cách ít nhiều lớn hay nhỏ giữa một nền kinh tế như nó vận hành trong thực tế và sự cạnh tranh hoàn hảo. Tình trạng độc quyền, các nghiệp đoàn, mức lương tối thiểu, bảo hiểm thất nghiệp, các quy định do Nhà nước áp đặt (trên xe taxi, ví dụ) sản sinh ra tô, tất cả những điều này làm méo mó thị trường và tạo ra tình trạng thất nghiệp, được Friedman gọi là tình trạng thất nghiệp “tự nhiên”. Trong trường hợp tốt nhất, khi tăng lương, bạn sẽ làm hài lòng những người làm công ăn lương, những người sẽ chi tiêu nhiều hơn, và sẽ làm giảm tỷ suất thất nghiệp… trong một thời gian ngắn. Nhưng sự gia tăng cầu cũng sẽ dẫn đến việc tăng giá (khối lượng tiền tệ nhiều hơn trong lưu thông = tình trạng lạm phát nhiều hơn). Và đến một lúc nào đó giá cả sẽ bắt kịp tiền lương, khiến cho sức mua của người làm công ăn lương sẽ trở lại mức trước đây, và tỷ suất thất nghiệp cũng vậy. Đường Phillips đích thực duy nhất có hiệu lực, theo kết luận của người được “Giải thưởng Nobel” năm 1976, là một đường thẳng đứng: tỷ suất thất nghiệp độc lập với tỷ suất lạm phát.

Cuộc “chiến tranh bốn mươi năm” này giữa những nhà kinh tế học keynesian và những nhà kinh tế học trọng tiền, chưa kết thúc. Ban đầu, những nhà kinh tế học keynesian đã thua trận: vào những năm 1970, tình trạng lạm phát cao không làm cho tình trạng thất nghiệp giảm đi. Nhưng cuộc khủng hoảng năm 2008 đã đưa họ trở lại: chính việc các ngân hàng trung ương phát hành một lượng lớn tiền tệ đã ngăn cuộc Đại khủng hoảng (cuộc khủng hoảng của những năm 1930) tái diễn và đã ngăn hệ thống tài chính sụp đổ. Kết quả hòa? Trong thực tế, từ nay vấn đề không còn là lạm phát nữa mà là có thể tin vào thị trường hay là phải để Nhà nước thận trọng cảnh giác và điều tiết nền kinh tế. Phillips và đường mang tên ông ở rất xa.

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: Les lois, les théorèmes, les courbes…, Les Dossiers d’Alternatives Economiques, Hors-série no 4, septembre 2016.

—————————-&&&————————

Thời của thương mại điện tử: Ở Trung Quốc, người ta còn bán cả nợ xấu online

Thời của thương mại điện tử: Ở Trung Quốc, người ta còn bán cả nợ xấu online

(Nguồn: http://cafef.vn)

Trong số những mặt hàng thường ngày bán trên trang thương mại điện tử lớn nhất Trung Quốc Taobao, ngoài những sản phẩm như giày thể thao, tã trẻ em thì nay khách hàng còn có thể mua được cả nợ xấu.

Mới đây, trang web của tập đoàn Alibaba đã chào bán khoản nợ 4,15 triệu Nhân dân tệ(610.000 USD) của một nhà máy sản xuất theo tại tỉnh Chiết Giang. Công ty này đã thất bại trong việc thanh toán khoản vay 9,95 triệu Nhân dân tệ bao gồm lãi vay, qua đó buộc các nhà quản lý tài sản phải đem bán đấu giá trực tuyến.

Theo tính toán của Bloomberg, khoảng 1 tỷ Nhân dân tệ hàng hóa được giao dịch mỗi ngày qua trang Taobao này bao gồm mọi thứ từ quần áo cho đến các khoản nợ xấu. Khoảng 118 khoản nợ xấu từ các công ty ở tỉnh Vân Nam, một biệt thự ở Thiệu Hưng bị ngân hàng siết nợ hay một bất động sản ở Bắc Kinh là những loại tài sản không hề mới lạ đang được rao bán trên trang này.

Hiện tượng này đang làm ngạc nhiên nhiều chuyên gia Phương Tây. Hãng Banco Bilbao Vizcaya Argentaria nhận định công nghệ tài chính và thương mại điện tử của Trung Quốc đã đạt đến mức độ tinh vi khá cao. Đặc biệt, các nền tảng trực tuyến trên thị trường tín dụng đang được phát triển mạnh trước nhu cầu trong nước.

 Nợ khó đồi của ngành ngân hàng Trung Quốc đang ở mức cao nhất trong 12 năm qua (tỷ Nhân dân tệ)

Nợ khó đồi của ngành ngân hàng Trung Quốc đang ở mức cao nhất trong 12 năm qua (tỷ Nhân dân tệ)

Xu thế này cũng là dễ hiểu khi thương mại điện tử có thể giúp chính phủ giải quyết một trong những vấn đề khiến nước này đau đầu nhất là nợ xấu.

Tăng trưởng giảm tốc trong khi tình trạng vỡ nợ ngày một nhiều đã làm thị trường tín dụng Trung Quốc trở nên ngày càng phức tạp. Tổng số nợ khó đòi của các ngân hàng thương mại nước này đã tăng hơn 100% trong 2 năm qua lên 1,6 nghìn tỷ Nhân dân tệ tính đến cuối tháng 3 vừa qua.

Chính quyền Bắc Kinh đang hối thúc những chủ nợ tìm kiếm đầu ra cho các tài sản thế chấp trong khi lãi suất ngày một đi lên do rủi ro cao trên thị trường. Điều này khiến các ngân hàng và nhà quản lý tài sản phải tìm đến những kênh sáng tạo như đấu giá trực tuyến.

Số liệu của PwC cho thấy trong 6 tháng đầu năm 2016, sự dẫn đầu của Taobao đã kéo theo hơn 50 website trực tuyến quảng cáo dịch vụ đấu giá đến ngân hàng cũng như các chủ nợ khác. Trong khi đó, hơn 20 công ty tài chính đã trở thành khách hàng của Taobao trong mảng đấu giá nợ xấu này, bao gồm ngân hàng bảo hiểm Ping An Bank, ngân hàng MBC, ngân hàng CCB…

Tuy nhiên, kinh doanh nợ xấu trực tuyến không hề dễ dàng khi những khoản nợ này không dễ dàng định giá, đánh giá rủi ro như cổ phiếu hay trái phiếu.

Theo ShoreVest Capital Partners, dù kinh doanh nợ xấu trực tuyến có thể thúc đẩy thị trường tín dụng nhưng người mua vẫn phải gặp người bán và hợp đồng có thể tốn vài tháng mới hoàn thành. Thêm vào đó, liệu những nền tảng kinh doanh nợ xấu trực tuyến này có đánh giá chuẩn các khoản nợ cũng như phân tích chính xác các thông tin hay không còn là một dấu hỏi.

Trên trang Taobao, những tài sản thanh lý nợ xấu thường được quảng cáo vài tuần hay vài tháng trước ngày đấu giá. Trong trường hợp của nhà máy thép tại Chiết Giang, những nhà đầu tư có nhu cầu tìm hiểu có thể gọi cho văn phòng của công ty Cinda nhằm biết thêm thông tin chi tiết.

Một ví dụ khác là ngân hàng Industrial Bank có trụ sở tại Phúc Kiến đã ký hợp đồng bán nợ xấu với Taobao vào tháng 5 vừa qua và giải quyết được 232 triệu Nhân dân tệ nợ khó đòi chỉ trong khoảng 20/5- cuối tháng 6/2017.

Những nền tảng thương mại điện tử giúp những chủ nợ dễ dàng bán được nợ xấu hơn khi các khoản nợ này gặp khó trên thị trường truyền thống. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng vì có khá nhiều nhà đầu tư cá nhân không có kinh nghiệm mua nợ xấu trên Taobao nên những khoản tài sản thế chấp này mới được tiêu thụ nhanh như vậy.

Tuy nhiên, nói thế nào thì những nền tảng trực tuyến như Taobao cũng đã giúp các ngân hàng và chủ nợ giải quyết nhanh hơn nợ xấu, qua đó giúp giảm căng thẳng trong nền kinh tế Trung Quốc.

Theo cô Song Lingling thuộc hãng DCL Investments, việc xử lý nợ xấu thông qua các nền tảng trực tuyến có vẻ ít phức tạp hơn so với bán qua các nhà đấu giá, vốn thu phí hoa hồng cao với quy trình kiểm định dài dòng.

“Đấu giá nợ xấu trực tuyến đang ngày càng trở thành xu hướng mới. Ngày càng nhiều nhà đầu tư sử dụng Taobao làm nền tảng vì sự đơn giản, minh bạch cũng như tính riêng tư của các nhà đấu thầu”, cô Song nói.

Theo AB

Thời Đại

——————&&&——————-

On Economic Inequality [GT Sách]

On Economic Inequality [GT Sách]

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Sen Amartya K.

On Economic Inequality

The Radcliffe Lectures Delivered in the University of Warwick,

1972, Oxford, Clarendon Press, 1973

Phiên bản mới có bổ sung một phụ lục đáng kể của Foster James E. và Sen Armata K.,

Oxford, Clarendon Press, 1997

Amartya Sen sinh năm 1933 ở Bengale (Ấn Độ). Thuở nhỏ, nạn đói lớn năm 1943 để lại ấn tượng sâu sắc nơi ông, và dù bản thân không bị đói, năm 9 tuổi ông đã nhận thấy rằng những nạn nhân của nạn đói là những người nghèo. Nhận xét này có vẻ là tiểu tiết nhưng việc lựa chọn các chủ đề nghiên cứu của Sen trái lại chứng minh tầm quan trọng của nó. Amartya Sen tốt nghiệp tiến sĩ ở đại học Cambridge (Anh) năm 1959 và từng là giáo sư kinh tế ở Ấn Độ, London School of Economics (nhiệm sở của ông vào lúc On Economic Inequality được xuất bản) và đại học Oxford. Tiếp đó, ông là giáo sư kinh tế và triết học tại đại học Harvard, trước khi quay trở lại, năm 1998, Trinity College ở Cambridge (mà ông từng làfellow – [nghiên cứu sinh – ND] – từ 1957 đến 1963). Ông được vinh danh nhiều lần trong suốt sự nghiệp của ông, trong đó có giải Nobel kinh tế do Hàn lâm viện Thụy Điển trao năm 1998 vì sự đóng góp cho kinh tế học phúc lợi.

Là một lí thuyết gia lớn, một nhà triết học quan tâm đến công bằng xã hội và một nhà kinh tế phát triển, Sen đã tham gia tích cực vào vài cuộc tranh luận lớn của khoa học kinh tế đương đại. Những đóng góp của ông trong trường của kinh tế học chuẩn tắc theo hai hướng. Một mặt, là tác giả chủ yếu của lí thuyết lựa chọn xã hội được phát triển tiếp theo sau định lí bất khả của Arrow, ông đã đóng góp, trong các công trình trong những năm 1960, những bước tiến lí thuyết về việc gộp những sở thích cá nhân và việc tôn trọng các quyền tự do (Sen, 1970). Mặt khác, theo một hướng do các công trình đầu này mở ra, trong những nghiên cứu gần đây hơn, ông duy trì một cuộc đối thoại phong phú giữa kinh tế học và triết học, đặc biệt chung quanh việc đánh giá những trạng thái của xã hội trên quan điểm công bằng (Sen, 1992 và 1999). Sen cũng đã tham gia vào việc phát triển những ứng dụng như thước đo sự bất bình đẳng (đối tượng của On Economic Inequality) và nguồn gốc của các nạn đói và nghèo khó (Sen, 1981; Sen và Drèze, 1980).

Cuối cùng trên quan điểm phương pháp luận, điều lí thú là nhận xét rằng Sen đã vượt qua những đường biên thông thường khi kết hợp một cách tài hoa lí thuyết kinh tế, chính sách kinh tế và kinh tế học ứng dụng. Không những vận dụng các công cụ toán học (đặc biệt là logic và đại số), tất nhiên bao giờ cũng phân tích các giả thiết và bàn luận các kết quả và hệ luỵ của chúng, song ông cũng phát triển những luận chứng triết học đạo đức và luôn thể hiện sự quan tâm và cảm thông thật sự đối với những ai liên quan đến các nghiên cứu của mình, đặc biệt là đối với người nghèo.

Kinh tế học phúc lợi đối mặt với sự bất bình đẳng

Thật ra tác phẩm On Economic Inequality gồm có hai tác phẩm về những bất bình đẳng kinh tế: quyển thứ nhất, xuất bản năm 1973 và quyển thứ hai một phụ lục quan trọng khi tái bản năm 1977 và có đồng tác giả là James A. Foster. Các bài Radcliffe Lectures mà Sen giảng năm 1972 tại đại học Warwick phân tích bằng khái niệm phúc lợi xã hội những chỉ số bất bình đẳng khác nhau trong việc phân phối thu nhập, làm rõ những giải thiết và đòi hỏi thống kê, những nội dung và hệ quả kinh tế. Phụ lục “On Economic Inequality After A Quarter Century” điểm lại những phát triển chính về mặt phân tích được công bố từ lần xuất bản đầu.

Ngay từ 1973, trong bối cảnh xuất hiện của những phản bác vững chắc đối với sự thống trị của thuyết công lợi trong triết học và trong kinh tế học, Sen chứng minh rằng kinh tế học phúc lợi truyền thống là ít ích lợi cho việc nghiên cứu những bất bình đẳng do chấp nhận thuyết công lợi được các nhà kinh tế thừa nhận. Thuyết công lợi chủ trương việc tối đa hóa phúc lợi tập thể được định nghĩa như tổng của những lợi ích cá nhân. Nhấn mạnh đến tổng lợi ích, thuyết này không quan tâm đến sự phân phối lợi ích và do đó không quan tâm đến những bất bình đẳng về lợi ích giữa các cá thể. Đặc biệt, chứng minh dựa trên tiên đề yếu về công bằng (WEA: Weak Equity Axiom) hình thức hóa nỗi ghê tởm nhất định sự bất bình đẳng: xét một cá nhân icó một phúc lợi thấp hơn một cá nhân j cho mọi mức thu nhập, phân bổ tối ưu các nguồn lực giữa n cá nhân, kể cả i và j, phải phân bổ một thu nhập quan trọng hơn cho i (chênh lệch thu nhập có thể là rất nhỏ). Thế mà, thuyết công lợi, trong nhiều trường hợp vi phạm sở thích như được thể hiện trong WEA. Thật ra, thuyết công lợi được đặc trưng bằng ba yếu tố: hệ quả luận (giá trị được đánh giá tùy theo kết quả); phúc lợi luận (chiều kích thích đáng để đo kết quả là lợi ích); sắp xếp thứ tự bằng phép tổng hay sum ranking. Việc bàng quan đối với vấn đề phân phối là do thành tố thứ ba này. Trong thời gian đầu, và cho dù trong kinh văn đã có những phê phán hệ quả luận và phúc lợi luận – đặc biệt là của Rawls –, Sen vẫn giữ khuôn khổ chuẩn và chỉ từ bỏ nguyên tắc xếp hạng sau khi tổng cộng. Hệ quả chủ yếu của điều này là, trong lần xuất bản đầu tiên của On Economic Inequality và trong những phần đầu của phụ lục chỉ có việc mở rộng những kết quả đã có trong kinh văn, đặc biệt là những kết quả của Atkinson (1970) như khái niệm thu nhập tương đương được phân phối đồng đều hay sự phân tích quan hệ khống chế của Lorenz. Sau đó – và mặc dù có những phê phán của những người bảo vệ thuyết công lợi như Harsanyi – Sen (1980) sẽ đào sâu sự phê phán thuyết công lợi và đặc biệt là phản bác phúc lợi luận; các bàn luận này được trình bày lại trong phần cuối của phụ lục (xem dưới đây).

Về phần mình, kinh tế học phúc lợi mới (lợi ích thứ tự), khi từ chối những so sánh liên cá thể, kéo theo là tất cả những trạng thái tối ưu Pareto không thể so sánh được. Như vậy, việc đưa vào một hàm lợi ích xã hội nhằm thể hiện những sở thích tập thể hầu xếp hạng các trạng thái tối ưu này. Sen nhắc lại rằng không thể thu được hàm này từ việc gộp những sở thích cá thể, như định lí bất khả của Arrow đã chứng minh (bản thân Sen (1970) cũng đã mở rộng tính bất khả này ra trường hợp mà quan hệ thứ tự không còn có tính bắc cầu mà chỉ có tính tựa bắc cầu). Đối với Sen, vấn đề là do hàm lợi ích xã hội có tính thứ tự: hàm này chỉ phụ thuộc vào những sắp xếp cá thể mà không qui chiếu về những cường độ sở thích, nghĩa là về những so sánh liên cá thể. Như vậy, kinh tế học phúc lợi mới càng ít có khả năng hơn thuyết công lợi cổ điển để xử lí những bất bình đẳng, một lĩnh vực bắt buộc phải tiến hành những so sánh liên cá thể. Con đường Sen chọn là theo những hàm phúc lợi xã hội bản số cho phép làm rõ những so sánh liên cá thể cần thiết về phúc lợi.

Bởi thế, để đánh giá bất bình đẳng bằng khái niệm phúc lợi xã hội, Sen đồng nhất các so sánh liên cá thể ngầm ẩn với những chỉ số bất bình đẳng và xác định xem chúng có tuân thủ những điều kiện thể hiện lí lẽ thông thường về bất bình đẳng không. Cốt lõi của việc nghiên cứu này bằng khái niệm phúc lợi xã hội là nghiên cứu những tương ứng giữa những tính chất của các hàm phúc lợi xã hội W và những tính chất của các chỉ số bất bình đẳng I, biết rằng một chỉ số bất bình đẳng I có thể cho được một hàm W và một hàm W có thể xác định một chỉ số I.

Một tích chất khá logic đòi hỏi là mọi chuyển nhượng thu nhập từ một người nghèo sang một người giàu hơn (tất cả những biến khác không thay đổi) được xem như là sự xuống cấp của phân phối và do đó làm tăng mức độ bất bình đẳng: đó là nguyên tắc của Pigou-Dalton. Nguyên tắc này được hệ số biến thiên C tuân thủ, do việc lấy bình phương những khoảng cách với giá trị trung bình càng làm tăng sức nặng của những khoảng cách lớn. Tổng quát hơn, có thể kết nối nguyên tắc này với những điều kiện về tính lõm của hàm W.

Một tính chất bổ sung (nguyên tắc những chuyển nhượng giảm dần) liên quan đến tính nhạy cảm của những chuyển nhượng tùy theo mức thu nhập: có thể cho rằng chuyển nhượng giữa hai người có thu nhập thấp có tầm quan trọng lớn hơn sự chuyển nhượng cùng số tiền đó giữa hai nhà tỉ phú. Thế mà có những chỉ số (như C) không tôn trọng trực giác này do gán một quyền số giống nhau cho những chuyển nhượng được tiến hành tùy theo mức thu nhập. Phương sai của các loga chỉnh sửa tính trung lập này, nhưng lại vi phạm nguyên tắc Pigou-Dalton và do đó không còn được sử dụng. Còn hệ số Gini G, tuy tuân thủ điều kiện Pigou-Dalton nhưng tính nhạy cảm với các chuyển nhượng không được bảo đảm vì phụ thuộc vào số người có liên quan: thật vậy, nguyên lí xây dựng G là sắp xếp mỗi người theo vị thế của mình, một chuyển nhượng giữa A và B được đánh giá khác nhau tùy theo vị thế của mỗi người (theo số người nằm giữa A và B) và ngay cả khi chênh lệch thu nhập giữa hai người là không đổi. Một số chỉ số bất bình đẳng khác cũng được xem xét, đặc biệt những chỉ số phái sinh từ thu nhập tương đương được phân phối đồng đều của Atkinson và sự khái quát hóa khái niệm này của Sen. Một số tiên đề khác, đặc biệt tiên đề bất biến (đối với đơn vị đo lường hay với quy mô của tổng thể thống kê) được trình bày và bàn luận một cách hệ thống hơn trong phụ lục năm 1997.

Sen còn nhấn mặnh rằng một thước đo sự bất bình đẳng không nhất thiết phải là một sắp xếp đầy đủ (so sánh tất cả các cặp). Nếu không thỏa mãn điều kiện đầy đủ (không thể sắp xếp tất cả các cặp) thì tiền thứ tự bộ phận thu được vẫn thể hiện lí lẽ thông thường của chúng ta về bất bình đẳng. Đó là trường hợp của việc so sánh những đường Lorentz, một nguyên lí sắp xếp tuy không đầy đủ, nhưng ít phản bác được trong những trường hợp đơn giản.

Cuối cùng, nếu trong lần xuất bản đầu tiên vấn đề thước đo sự nghèo khó không được đề cập một cách rõ ràng thì phụ lục xem xét những công trình được công bố từ lần xuất bản ấy. Đối với Sen, xác định một ngưỡng nghèo và đếm số người sống dưới ngưỡng này là chưa đủ, còn phải đo cường độ và sự phân phối của cái nghèo, nghĩa là phải tìm ra một phương thức tổng gộp để có được mức nghèo khó của cộng đồng. Phụ lục trình bày chỉ số Sen (cho các cá thể dưới ngưỡng của hệ số Gini G và một chỉ số chênh lệch thu nhập), những tính chất được thỏa mãn (tính đơn điệu, tính phân tích được) hay không và nhiều chỉ số khác để bổ khuyết cho các thiếu sót ấy (ví dụ, thay thế G bằng những thước đo bất bình đẳng khác)[1].

 

Đào sâu sự phê phán thuyết công lợi: bình đẳng của những năng lực và sự phát triển con người

Giữa hai lần xuất bản của On Economic Inequality, kinh văn về những vấn đề bất bình đẳng và công bằng trở nên cực kì phong phú. Có thể quy một phần sự đổi mới này cho tiểu luận của Sen, trong chừng mực mà đóng góp của ông vào việc phê phán thuyết công lợi đã cho thấy rằng tính hiệu quả, được xem một cách sai lầm là trung tính, cũng đã là một đánh giá giá trị và rằng kinh tế học có đủ thẩm quyền và được trang bị để xử lí những vấn đề công bằng. Phụ lục năm 1997 cho thấy là những biến đổi được khơi mào năm 1973 tiếp tục làm gia tăng hiểu biết kinh tế về những bất bình đẳng, công bằng, nghèo khó đến dường nào.

Trong lần xuất bản đầu tiên, việc đánh giá sự bất bình đẳng được thực hiện trong khuôn khổ một phân tích phúc lợi xã hội với giả định là mức phúc lợi xã hội do vectơ những thu nhập ấn định. Thế mà, sau đó, Sen (1980, 1992, phụ lục 1997) mở rộng phê phán của ông đối với thuyết công lợi vượt ra ngoài vấn đề cộng các lợi ích: nay, vấn đề nằm chính ngay ở không gian đo những bất bình đẳng. Giới hạn phân tích ở thu nhập che khuất những khía cạnh mấu chốt của sự bất bình đẳng. Cần phải đưa vào những yếu tố khác (tự do, các quyền, chất lượng cuộc sống). Khi phê phán phúc lợi luận, Sen giải thích rằng không chỉ phúc lợi là giá trị duy nhất cần phải tính đến mà, hơn nữa, khái niệm lợi ích dẫn đến một tầm nhìn khiếm khuyết về phúc lợi do tác động của những tình huống ngẫu nhiên. Chẳng hạn, một người gánh trải những đau đớn mãnh liệt, tự bằng lòng với những hạnh phúc cỏn con và ít ham muốn sẽ thấy những thiếu hụt của mình bị hạ thấp trên thước đo của lợi ích.

John Rawls (1921-2002)

Hệ quả đầu tiên của phê phán triệt để hơn này đối với thuyết công lợi có tính lí thuyết: Sen bảo vệ một quan niệm về công bằng dựa trên sự bình đẳng của những năng lực (capability). Tự do thực tế của các cá nhân là điều cơ bản nhưng không thể được đảm bảo bằng việc đơn giản cung cấp cho các cá nhân cùng một lượng nguồn lực: việc thực thi tự do thật sự không chỉ phụ thuộc duy nhất vào những phương tiện ta có được, mà còn vào năng lực biến đổi các phương tiện này và chuyển hóa chúng thành những quyền tự do hay thành quả (functionnings). Do đó, một lí thuyết về sự công bằng phải vượt qua ý niệm nguồn lực hay sản phẩm ban đầu (primary goods) (do Rawls (1971) bảo vệ) và phải tính đến những biến động của các năng lực. Phải đo sự bất bình đẳng (và chủ trương bình đẳng) trong không gian các năng lực, nghĩa là những quyền tự do thực chất cho phép một cá nhân sống kiểu sống mà mình mong muốn. Tất nhiên một số vấn đề vẫn còn bỏ ngõ và nhằm vào, ví dụ, việc quyền số hóa những thành quả khác nhau mà một cách chính đáng ta có thể công nhận giá trị, hay việc nên chăng kết hợp cách tiếp cận bình đẳng về cơ hội thành quả của Sen với cách tiếp cận bình đẳng về cơ hội nguồn lực của Rawls.

Hệ quả thứ hai có tính thực tiễn hơn. Những phê phán đối với các thước đo phúc lợi dựa trên thu nhập cũng liên quan đến những chỉ số nghèo khó (kể cả chỉ số của Sen). Nghèo khó không đơn giản chỉ là sự yếu kém của thu nhập mà cơ bản hơn là sự thiếu hụt những năng lực sơ đẳng. Tất nhiên thiếu hụt thu nhập là nguồn gốc chính của sự thiếu hụt năng lực, nhưng mối liên hệ giữa thu nhập và năng lực bị chi phối bởi nhiều nhân tố khác: tuổi tác, giới tính và vai trò xã hội, bối cảnh dịch tễ học, khuyết tật, tài năng, v.v.

Những công trình trên có một ứng dụng trực tiếp trong các báo cáo về sự phát triển con người của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) mà Sen từng tư vấn. Được xuất bản kể từ 1990, báo cáo này trình bày chỉ số phát triển con người (HDI), có tính đến, với những quyền số bằng nhau, mức sống (GDP thực trên đầu người được điều chỉnh cho ngang bằng sức mua (PPP) tùy theo là GDP trên đầu người có thấp hay không trung bình thế giới), cũng như kì vọng sống lúc chào đời và mức độ giáo dục (tỉ suất biết đọc của người lớn và số năm học trung bình). So sánh các kết quả thứ hạng của các nước theo tiêu chí của HDI và GDP trên đầu người cho thấy là ở những mức GDP tương đương có thể ứng những mức phát triển con người khác nhau tùy theo việc sử dụng và phân bổ những thành quả của tăng trưởng. Kể từ 1993, UNDP cũng tính chỉ số phát triển giới (Gender-related Development Index hay GDI): HDI được chỉnh sửa nhằm phản ánh những khác biệt giữa nam và nữ về kì vọng sống, thu nhập và giáo dục. Cuối cùng kể từ 1997, UNDP công bố một chỉ số nghèo đói con người (Human Poverty Index hay HPI) từ những chỉ báo kì vọng sống (tỉ lệ người có nguy cơ chết trước 40 tuổi), mức độ giáo dục (tỉ lệ người biết đọc) và những điều kiện sống (tỉ lệ người không tiếp cận được những dịch vụ y tế, nước sạch, tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị thiếu dinh dưỡng). Như vậy, phù hợp với các công trình của Sen, HPI nhấn mạnh rằng nghèo khó không chỉ là việc thiếu hay yếu kém của những nguồn lực tiền tệ mà còn được xác định bằng thiếu hay yếu kém của những cơ hội cho phép thụ hưởng một cuộc sống chấp nhận được.

Không thể phủ nhận ảnh hưởng của các công trình trên nhất là khi đến lượt nhiều tổ chức quốc tế khác ngày càng có nỗ lực đưa vào các điều kiện sống (xem các báo cáo hằng năm của Unicef vể đời sống trẻ em hay báo cáo năm 1993 của Ngân hàng thế giới về y tế). Hơn nữa các nhà nghiên cứu tiếp tục thiết kế những chỉ số, như chỉ số Bip 40, “phong vũ biểu của những bất bình đẳng và nghèo khó” được một hệ thống cảnh báo ở Pháp thiết lập năm 2002 từ nhiều chuỗi thống kê (việc làm và điều kiện lao động, y tế, giáo dục, nhà ở, tư pháp) với một mục tiêu kép là cải tiến hiểu biết về những bất bình đẳng và nghèo khó và để chống lại sự hiện diện mọi lúc mọi nơi của những chỉ số chứng khoán. Chính sự tồn tại của các chỉ báo mới này làm thay đổi cách đề cập những vấn đề nghèo khó và bất bình đẳng và các quan hệ kinh tế giữa các quốc gia. Các chuỗi thống kê HDI và HPI cung cấp những yếu tố cụ thể cho một tầm nhìn mở rộng về sự phát triển nay không còn có thể đồng nhất với sự tăng trưởng của sản xuất (cho dù, có nên nhắc lại chăng, sản xuất theo nghĩa GDP không chỉ quy về sản xuất hàng hóa). Diễn biến của quan điểm của Ngân hàng thế giới và của Quỹ tiền tệ quốc tế vào cuối những năm 1990 và đặc biệt hơn là việc xét lại điều khoản có điều kiện[2] vào năm 2001 là một dấu hiệu tốt cho sự phát triển con người (nghĩa là cho các chính sách ủng hộ giáo dục, y tế và việc cải thiện những điều kiện sống). Tất nhiên, khi tính đến những được mất kinh tế và địa-chính trị, các chỉ báo mới chưa sẵn sàng để thay thế cho các thước đo truyền thống là GDP và GDP trên đầu người trong việc phân bổ viện trợ cho phát triển hay, ví dụ, cho việc phân chia quyền lực trong nội bộ các tổ chức quốc tế. Còn cần nhiều bước tiến nữa để chuyển thành chính sách kinh tế những tiến bộ về mặt khái niệm và thực nghiệm về thước đo bất bình đẳng và nghèo khó.

Claude Scheider-Bunner

Đại học Bourgogne

Nguyễn Đôn Phước dịch

Thư mục

Atkinson A. B. (1970), “On the Measurement of Inequality”, Journal of Economic Theory, 2, p. 244-263.

Drèze J. và Sen A. K. (1995), Hunger and Public Action, Oxford, Clarendon Press.

Fleurbaey M. (1996), Théories économiques de la justice, Paris, Economica.

Kolm S. C. (1976), “Unequal Inequalities”, Journal of Economic Theory12, p.416-442 và 13, p.82-111.

Marcus V. và Duval C. (2002), “Le BIP 40, un baromètre des inégalités et de la pauvreté”,Alternatives économiques, 202, avril, p. 44-53.

Rawls J. (1971), A Theory of Justice, Harvard, Harvard University Press.

Royal Swedish Academy of Sciences (1998), “Social Choices, Social Distributions and Poverty”, bản dịch tiếng Pháp: “La valorisation de la philosophie en économie: Amartya Sen, prix Nobel d’économie, 1998”, Problèmes économiques, n02.588, 28 oct., p.1-3.

Sen A. K. (1970), Collective Choice and Social Welfare, San Francisco, Holden-Day.

Sen A. K (1980), “Equality of What ?”, in Mc Maurin S. M. (ed.), Tanner Lectures on Human Nature I, Salt Lake City, University of Utah Press và Cambridge, Cambridge University Press và Cambridge, in lại tại các trang 353-369 trong Sen A. K. (1982), Choice, Welfare and Measurement, Oxford, Blackwell and Cambridge, MIT Press, bản dịch tiếng Pháp, “Quelle égalité?”, p.189-213 in Sen A. K. (1993), Éthique et économie et autres essais, Paris, PUF.

Sen A. K (1980), Poverty and Famines: An Essay on Entitlement and Deprivation, Oxford, Clarendon Press.

Sen A. K (1992), Inequality Reconsidered, Oxford, Oxford University Press, bản dịch tiếng Pháp, Repenser l’inégalité, Paris, Le Seuil, 2000.

Sen A. K (1999), Development and Freedom, Alfred Knopf Inc., bản dịch tiếng Pháp, Un nouveau modèle économique. Développement, Justice, Liberté, Paris, Odile Jacob, 2000, [bản dịch tiếng Việt, Phát triển là quyền tự do, NXB Thống Kê, Hà Nội, 2002 – ND].

Arrow, Social Choice and Individual Values, Hayek, Law, Legislation and Liberty, Pareto,Manuel d’économie politique

Nguồn: Xavier Greffe, Jérôme Lallement, Michel de Vroey, Dictionnaire des grandes oeuvres économiques, Dalloz, Paris, 2002, trang 508-515.
[1] Xem các bài “Bất bình đẳng” và “Bất bình đẳng thu nhập” (ND).

[2] Điều khoản có điều kiện (conditionality) chỉ toàn bộ những điều kiện mà IMF và WB áp đặt cho các khoản vay của các nước đang phát triển theo tinh thần của “đồng thuận Washington”, chẳng hạn thông qua các chính sách “điều chỉnh cấu trúc” (structural adjustment) (ND).

———————–&&&———————

Bất bình đẳng trong thu nhập [Đọc “TƯ BẢN Thế kỷ XXI”]

Bất bình đẳng trong thu nhập [Đọc “TƯ BẢN Thế kỷ XXI”]

(Tác giả: Nguyễn Quang – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com]

Trong các lực phân kỳ, ta đã thấy có bất đẳng thức r > g, thể hiện động lực của sự tích lũy tư bản [“quy luật phân kỳ” (có tính chất thực nghiệm), thể hiện bằng bất đẳng thức r > g, trong đó r chỉ tỉ suất lợi tức của tư bản và g tỉ suất tăng trưởng thu nhập quốc dân]. Nó đòi hỏi phải nghiên cứu sự bất bình đẳng không những về tài sản, mà cả về thu nhập. Kể từ thập niên 1980 và cuộc “cách mạng bảo thủ” của Reagan & Thatcher, hầu như cuộc tranh luận nào về bất bình đẳng cũng xoáy quanh (để tán thành hay phản đối) lập luận “trickle down (chảy ròng từ trên xuống dưới), một cách diễn giải Lý thuyết về Công lý của John Rawls (1971): bất bình đẳng tăng lên thực ra không có gì đáng chê trách nếu như sự tập trung của cải rốt cuộc tạo ra được một động lực có lợi cho toàn bộ xã hội thông qua việc tạo ra những doanh nghiệp mới, công nghiệp mới, của cải mới. Người ta minh họa bằng hình ảnh của cải như dòng suối chảy từ đỉnh tháp xuống chân tháp. Ở các nước Anh-Mỹ, người ta ưa dùng một hình ảnh “nước đẩy thuyền lên” rất ư là Nguyễn Trãi: “Tăng trưởng là làn sóng thủy triều đẩy mọi con thuyền lên cao (Growth is a rising tide that lifts all boats). Cũng nên nhắc lại lập luận này chỉ là phóng tác kiểu “tân tự do” của một lý thuyết dựa trên “đường cong Kuznets”(1955) dùng để tiên đoán rằng sự bất bình đẳng về thu nhập sẽ “tự nhiên” giảm bớt đi khi bước vào những thời kỳ chủ nghĩa tư bản phát triển (bất luận chính sách nào được chọn hay đặc điểm riêng của mỗi nước) để rồi cuối cùng sẽ bình ổn ở một mức chấp nhận được. Kuznets căn cứ vào một công trình thống kê chi ly, lập ra những chuỗi số liệu về phân bố thu nhập ở Hoa Kỳ trong thời gian 35 năm (1913-1948) để tính toán diễn biến thu nhập của những tầng lớp phần trăm và phần mười giàu nhất. Kuznets đã phát hiện ra điều gì? Thu nhập của tầng lớp này đã tụt hẳn xuống trong thời gian 35 năm đó, “tụt xuống hơn 10 điểm bách phân của thu nhập quốc gia, tức là rất nhiều, tương đương với thu nhập của toàn bộ 50% người Mỹ nghèo nhất (tr. 33). Piketty nhận xét: Kuznets thừa biết rằng sự giảm cách biệt này không phải ngẫu nhiên mà có (hai cuộc thế chiến, đại khủng hoảng kinh tế, chính sách thuế má mang tính“tịch thu” của Roosevelt, thuế suất lên tới 94% đánh vào những thu nhập cao nhất), nhưng vì những lý do thuần túy ý thức hệ (đọc tình tiết trong các trang 34-37), Kuznets đã làm ngơ, để mặc cho lan truyền “lý thuyết đường cong Kuznets”, theo đó “trong quá trình công nghiệp hóa và phát triển kinh tế, các bất bình đẳng ở nơi nào cũng thế, sẽ đi theo một đường biểu diễn hình chuông, nghĩa là lúc đầu thì tăng lên, rồi sau đó giảm xuống. Nhưng khi người ta áp dụng chính những phương pháp mà Kuznets sử dụng, nhưng mở rộng quy mô không gian và thời gian, thì lại được “đường cong Piketty thứ nhì” mô tả diễn biến tỉ suất thu nhập của phần mười giàu nhất, phô bày ra một thực tại ngược lại hẳn! Đó là: không hề có một quy trình có tính “cấu trúc” nào của sự giảm bớt bất bình đẳng, đặc biệt ở nước Mỹ vẫn tự vỗ ngực mình là xứ sở của “giai cấp trung lưu”, sang đầu thế kỷ XXI này, đã trở thành quốc gia bất bình đẳng nhất thế giới. (Về mặt phương pháp luận, cuộc tranh luận này khiến ta liên tưởng tới cuộc tranh luận ở phần trên, về tỉ suất lợi nhuận có xu hướng giảm).

Biểu đồ I.1 Bất bình đẳng trong thu nhập ở Hoa Kỳ, 1910-2010

Cách đọc: Tỉ lệ trong thu nhập toàn quốc của phần mười giàu nhất Mỹ, trong những năm 1910-1920 chiếm 45-50%, sang thập niên 1950, đã xuống dưới mức 35% (đó là những đo lường của chính Kuznets); sau đó từ thập niên 1970 sang những năm 2000-2010, nó đi từ dưới mức 35% lên 45-50%

(Nguồn: piketty.pse.ens.fr/fr/capital21c)

Đường cong đi lên rất ấn tượng, tự nhiên là ta tự hỏi nó sẽ leo lên tới đâu: nếu cứ theo nhịp độ này, thì phần bách phân của phần mười giàu nhất, đến năm 2030, sẽ chiếm hơn 60% thu nhập quốc gia (tr.464).

Đến đây, có lẽ không thừa nếu cung cấp cho bạn đọc một ý niệm cụ thể về mức độ thu nhập trung bình (từ đó, muốn tính ra tài sản bình quân, chỉ cần nhân lên với hệ số β ) và trung vị. Đầu thập niên 2010, thu nhập trung bình ở các nước phát triển là vào khoảng 2500 €/tháng, còn thu nhập trung vị* thấp hơn khoảng 20%-30%, tức là khoảng 1800 €/tháng. Để thấy được sự chênh lệch, thì khái niệm trung vị có ý nghĩa hơn khái niệm trung bình. Bạn hãy tưởng tượng một ngày đẹp trời bạn đi cùng chuyến bay với Bill Gates. Và ngồi tính thu nhập trung bình của hành khách trong chuyến bay ấy, thì bạn sẽ rất phấn khởi khi thấy “thu nhập” của mình bỗng được nhân lên gấp ít nhất một triệu lần!

Nhìn vào bậc thang thu nhập theo cả hai chiều, ta hãy ghi nhận Eurostat định nghĩa ngưỡng nghèo khó ở mức 60% thu nhập trung vị; tại Pháp, viện thống kê INSEE định nghĩa “người thu nhập cao” là phần mười giàu nhất trong các bảng của Piketty (mức thu nhập thấp nhất của những người này ở vào khoảng gấp đôi thu nhập trung vị, nghĩa là cũng không có gì ghê gớm). Nhưng đó là nhìn thống kê bằng kính lúp. Phải dùng kính hiển vi mới có thể mổ xẻ bên trong tầng lớp phần mười, bởi vì “ta không thể tiếp cận sự giàu sang thực thụ bằng cách leo từng bậc thang đều đặn, bởi vì ở phần trên cùng của cái thang, không còn sự liên tục nữa ([P], tr.29). Trong các bảng và biểu đồ, Piketty chia phần mười trên cùng làm ba nhóm: 5% thấp nhất, 4% trên đó, và 1% trên cùng (tại Hoa Kỳ, thu nhập trung bình tính theo “hộ đóng thuế”của những người thuộc phần trăm trên cùng này là 1,5 triệu USD). Đo bằng cách này, ta mới hiểu rõ hơn quy mô sự chuyển dịch thu nhập quốc gia Mỹ – khoảng 15 % tổng thu nhập quốc gia – diễn ra giữa 90% là những người nghèo nhất và 10% là những người giàu nhất từ thập niên 1970 trở đi. Cụ thể là, nếu ta tính tổng cộng sự tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ trong suốt 30 năm trước cuộc khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn “subprime (tức là từ 1977 đến 2007), sẽ thấy 10% giàu nhất thôn tính 75% tăng trưởng; và nhìn soi mói hơn nữa: nhóm 5% ở “dưới” chiếm từ 5 đến 6%; nhóm 4% ở giữa chiếm khoảng 16%, còn một mình 1% “top” xơi gần 60%; kết quả là tỉ suất tăng trưởng của thu nhập trung bình ở vào khoảng 0,5% mỗi năm cho nhóm 90% dân số còn lại (tr. 469). Nói như Serge Halimi (nguyệt san Le Monde Diplomatique), đúng là thủy triều lên cao, nước đã dâng thuyền, nhưng trước hết là các du thuyền hạng sang.

Cảnh sát đứng canh tượng con bò tót khi phong trào “Chiếm phố Wall
tuần hành gần đó ngày 17 tháng 11-2011 ở New York. Ảnh Getty Images.

Sự “đăng quang” của phần trăm thượng đỉnh tự nhiên là một hiện tượng có tính chất toàn cầu. “Tuy thoạt trông có vè hơi trừu tượng, nhưng hiện tượng này chiếu rọi vào những diễn biến ngoạn mục của những sự bất bình đẳng, vào những hiện thực kỳ thú, qua đó nó mang lại một cách đọc khá bổ ích về xã hội, trong bối cảnh những cuộc vận động xã hội – chính trị lớn [như phong trào Occupy Wall Street, xem hình trên], phát huy từ những khẩu hiệu tiên thiên khá bất ngờ (“We are the 99%”/Chúng tôi là bọn 99%), nhưng cuối cùng không khỏi làm người ta nhớ tới tinh thần bài bút chiến của tu sĩ Sieyès công bố hồi tháng giêng năm 1789: “‘Tiers état’[đẳng cấp thứ ba trong xã hội Pháp trước cách mạng] là gì? Là tất cả. Cho đến nay, như về mặt chính trị, nó là gì? Chẳng là gì cả. Nó đòi hỏi cái gì? Nó muốn trở thành cái gì đó trong đời sống chính trị” (p.399).

Phân tích cái phần mười bên trên một cách tế vi sẽ cho ta những bài học bổ ích về sự phân chia lao động – tư bản, trong chừng mực mà nó làm hiện hình “hai thế giới rất khác nhau, một bên là 9% vẫn chịu sự chi phối của thu nhập lao động, và bên kia là 1% tột đỉnh, là thành phần mà thu nhập tư bản lấn át dần thu nhập lao động. Mọi sự chuyển tiếp đều diễn ra một cách tuần tự, ranh giới phân chia đầy lỗ trống để sự thẩm thấu có thể diễn ra, nhưng khác biệt thì rất rõ ràng và có tính hệ thống (…). Sự phân bố 80%-20% giữa lao động và tư bản tương đối tiêu biểu cho cơ cấu thu nhập của nhóm 9% (…). Ngược lại, trong nội bộ nhóm 1%, thu nhập từ lao động dần dần trở thành thu nhập thứ yếu, thu nhập từ tư bản dần dần trở thành thu nhập chủ yếu (tr. 442).

Cũng như trong trường hợp các tài sản, chúng ta hãy dành vài câu cho phần nghìn (tức là 0,1%) có thu nhập cao nhất, cũng là khu vực mà thu nhập tăng mạnh nhất. Ở Châu Âu lục địa và ở Nhật chẳng hạn, trong mấy thập niên gần đây, thu nhập của số phần nghìn này đã tăng gần gấp đôi, từ 1,5% lên tới 2,5%. Nhưng ở Hoa Kỳ, là cả một sự bùng nổ: từ 2% lên 10% (cùng thời kỳ). Để bạn đọc cảm nhận rõ nét hơn, xin nhắc lại là 2% (hay 10%) thu nhập quốc gia dành cho 0,1% dân số có nghĩa là: thu nhập của mỗi người trong nhóm này có thu nhập gấp 20 lần (hay 100 lần) thu nhập trung bình. Và để cho con số “hiển ngôn” hơn nữa, có thể nói ở Pháp, mỗi người trong nhóm này mỗi tháng thu nhập gấp 50 lần SMIC (mức lương tối thiểu), và hàng năm, thu nhập của người ấy lớn hơn thu nhập cả đời lao động của một người ăn lương SMIC. Nếu tính theo tình hình bên Mỹ, lương tối thiểu theo quy định của chính phủ liên bang bằng khoảng một phần ba SMIC Pháp, thì thu nhập một năm của 0,1% Mỹ bằng 12 đời ky cóp của cháu, con, cha, ông, cụ, kỵ…. Mỹ ăn lương tối thiểu.

Tóm tắt: Tuy không lớn bằng bất bình đẳng về tài sản, nhưng bất bình đẳng trong thu nhập (nhất là sự “đứt phanh” của phần trăm phần nghìn thu nhập cao nhất) hàm chứa một cơ chế mạnh mẽ, kết hợp với khoảng cách (r – g), sẽ đẩy mạnh sự phân kỳ trong phân phối tài nguyên. Ta có những lí do chính đáng để nghi vấn về sự bền lâu của một xã hội, một nền kinh tế bị chi phối bởi những lực li khai như thế.

——————–&&&——————-

Những bất bình đẳng về giới làm tăng bất bình đẳng về thu nhập và kìm hãm tăng trưởng

Những bất bình đẳng về giới làm tăng bất bình đẳng về thu nhập và kìm hãm tăng trưởng

Tác giả: Christian Gonzales et al. – Người dịch: Huỳnh Thiện Quốc Việt – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

“Làm cho xã hội công bằng hơn và giảm thiểu sự bất bình đẳng giới là hai vấn đề đã nhận được rất nhiều sự chú ý của các nhà hoạch định chính sách tại nhiều nước. Người ta ngày càng nhận thức được rằng việc theo đuổi hai mục tiêu này không chỉ là điều mong ước từ một quan điểm công bằng xã hội, mà còn có những tác động có lợi ở cấp độ kinh tế vĩ mô. Vì vậy, đã có nhiều phân tích xem xét các mối liên hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng, cũng như giữa sự tham gia của lực lượng lao động nữ và hệ quả của điều đó với nền kinh tế toàn cầu. (…)

Bất bình đẳng thu nhập và bất bình đẳng giới: hai hiện tượng với những hậu quả sâu sắc về kinh tế vĩ mô

Bất bình đẳng thu nhập có thể kìm hãm tăng trưởng kinh tế. Kinh văn đã nêu bật nhiều kênh khác nhau qua đó sự bất bình đẳng thu nhập có thể tác động đến tăng trưởng: bất bình đẳng cao có thể dẫn đến việc đầu tư thấp vào vốn hữu hình và vốn con người (Galor và Zeira, 1993;Galor và Moeav 2004Aghion và các đồng tác giả, 1999); các bất bình đẳng này gắn với các mức độ cơ động thấp hơn qua các thế hệ (Corak, 2013) và có thể làm giảm tổng cầu (Carvalho và Rezai, 2014). Mặt khác, các bất bình đẳng cũng có thể kích thích tăng trưởng bằng cách khuyến khích các tác nhân đầu tư và tham gia vào công việc kinh doanh (…) (Lazear và Rosen, 1981; Barro, 2000). Trong khi những tác động của sự bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng còn mơ hồ về mặt lý thuyết, thì hai nghiên cứu gần đây của IMF đã chứng minh về mặt thực nghiệm rằng một sự phân phối bất bình đẳng lớn về thu nhập sẽ làm giảm tăng trưởng. Đặc biệt, bất bình đẳng thu nhập ròng thấp luôn gắn chặt với sự tăng trưởng mạnh hơn và bền vững hơn (Ostry, và Tsangarides Berg, 2014). (…) Một gia tăng của tỉ trọng thu nhập của 20% những người khá giả nhất gắn với một tăng trưởng GDP thấp hơn trong trung hạn, trong khi sự gia tăng thu nhập của 20% những nghèo nhất sẽ gắn với một tăng trưởng GDP cao hơn (Dabla-Norris và các đồng tác giả, 2015). Sử dụng các dữ liệu của người Mỹ, van der Weide và Milanovic (2014) cho thấy rằng bất bình đẳng thu nhập làm giảm tăng trưởng thu nhập của người nghèo, chứ không làm giảm tăng trưởng thu nhập của người giàu.

Biểu đồ 1. Mối quan hệ giữa bất bình đẳng giới và GDP bình quân đầu người

Những chiều kích khác nhau của bất bình đẳng giới cũng dẫn đến những hậu quả sâu sắc về mặt kinh tế vĩ mô và phát triển. Bất bình đẳng giới có thể ảnh hưởng đến tình hình kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau (Elborgh-Woytek và các đồng tác giả, 2013):

  • Về mặt phát triển. Có một sự liên hệ tiêu cực giữa bất bình đẳng giới và GDP bình quân đầu người, giữa mức độ cạnh tranh và các chỉ số phát triển con người (WEF, 2014;Duflo, 2012, xem biểu đồ 1). Phụ nữ có khả năng đầu tư một phần lớn thu nhập của họ cho việc giáo dục con cái hơn nam giới; do đó sự tham gia của phụ nữ nhiều hơn vào đời sống kinh tế và sự gia tăng tiền lương của họ có thể dẫn đến một chi tiêu cao hơn trong việc giáo dục con cái họ (Aguirre và các đồng tác giả, 2012Miller 2008Rubalcava và các đồng tác giả, 2004;Thomas, 1990).
  • Tăng trưởng kinh tế. Bất bình đẳng giới trong hoạt động tham gia kinh tế sẽ hạn chế một lượng lớn người tài trên thị trường lao động. Qua đó, nó làm giảm hiệu quả của sự phân bổ nguồn lực và dẫn đến những thiệt hại cho tổng năng suất các nhân tố và một tăng trưởng GDP thấp hơn (Cuberes và Teignier, 2015;Esteve-Volart, 2004). Trong một nghiên cứu từ một loạt các nước, Klasen (1999) chỉ ra rằng có thể lý giải khoảng cách từ 0,4 đến 0,9 điểm về tỷ lệ tăng trưởng giữa các nước thuộc vùng Đông Nam Á, châu Phi cận Sahara, Nam Á và các nước thuộc vùng Trung Đông, bằng một cường độ mạnh hay yếu của bất bình đẳng giới trong giáo dục. Biểu đồ 2 (…) nêu bật rằng một mức độ bất bình đẳng giới cao hơn (được đo bằng chỉ số bất bình đẳng giới đa chiều) gắn với một tăng trưởng kinh tế thấp hơn. Phát hiện này phù hợp với IMF (2015), tổ chức  này cho thấy rằng bất bình đẳng giới có tương quan tiêu cực với tăng trưởng, đặc biệt tại những nước có mức thu nhập thấp, và như vậy xác thực những phát hiện của Amin, Kuntchev và Schmidt (2015), được tiến hành trên cơ sở một loạt các nước.
  • n định kinh tế vĩ mô. Tại các nước đang đối mặt với một sự suy giảm của dân số hoạt động, việc gia tăng tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế, đặc biệt đối với phụ nữ, có thể trực tiếp tạo ra tăng trưởng bằng cách giảm nhẹ tác động của một suy giảm của lực lượng lao động trên tiềm năng tăng trưởng và đảm bảo sự ổn định của hệ thống chi trả lương hưu (Steinberg và Nakane, 2012).

Biểu đồ 2. Mối quan hệ giữa bất bình đẳng giới và tăng trưởng GDP bình quân đầu người

Hai mặt của một đồng xu: bất bình đẳng giới và bất bình đẳng thu nhập gắn với nhau như thế nào?

Mặc dù các khái niệm bất bình đẳng giới và bất bình đẳng thu nhập chủ yếu đã được nghiên cứu một cách riêng rẻ, nhưng chúng có thể tác động qua lại thông qua các kênh sau đây:

  • Bất bình đẳng về hoàn cảnh kinh tế. Bất bình đẳng giới về tiền lương góp phần trực tiếp vào bất bình đẳng thu nhập. Ngoài ra, sự khác biệt lớn về tỷ lệ tham gia lực lượng lao động giữa nam và nữ có nhiều khả năng được thể hiện bằng sự bất bình đẳng về tiền lương giữa nam và nữ, tạo ra hoặc làm trầm trọng thêm bất bình đẳng thu nhập. Ngoài ra, việc phụ nữ có nhiều khả năng làm việc trong các khu vực phi chính thức, nơi có mức lương thấp hơn, càng đào sâu thêm khoảng cách về tiền lương giữa nam và nữ và làm gay gắt thêm sự bất bình đẳng thu nhập.
  • Bất bình đẳng về cơ hội.Bất bình đẳng về cơ hội, chẳng hạn như bất bình đẳng trong việc tiếp cận giáo dục, dịch vụ y tế, thị trường tài chính và các nguồn lực tài chính cũng như sự khác biệt về quyền tự chủ, có mối liên hệ rất chặt với sự bất bình đẳng thu nhập (Mincer 1958; Becker và Chiswick, 1966; Galor và Zeira, 1993Brunori, Ferreira và Peragine, 2013;Murray, Lopez và Alvarado, 2013Castello-Climent và Domenech, 2014). Chúng ta thấy rằng những bất bình đẳng này về cơ hội có mối liên hệ rất chặt với bất bình đẳng giới về mặt cơ hội. Vì vậy, sự khác biệt về mặt hoàn cảnh kinh tế cũng có thể dẫn đến những điều kiện bất bình đẳng về mặt năng lực đối với nam và nữ, cũng như đối với những đứa bé trai và bé gái. Cụ thể là:
  • Giáo dục.Bất bình đẳng giới trong giáo dục vẫn tồn tại, dẫn đến bất bình đẳng lớn hơn về cơ hội (khi những đứa bé trai và bé gái đến trường, thì cơ hội sẽ bình đẳng hơn khi chỉ có những đứa bé trai được đi học). Nếu một bộ phận dân cư không có được cơ hội để tiếp cận với giáo dục, thì mức thu nhập trong tương lai từ quần thể thứ cấp này sẽ thấp hơn so với phần còn lại của dân số, từ đó dẫn đến những bất bình đẳng thu nhập lớn hơn.
  • Sự tiếp cận tài chính và hòa nhập tài chính. Phụ nữ, tính trung bình, luôn có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ tài chính ít hơn so với nam giới, làm tăng thêm những khó khăn để họ trở thành nữ doanh nhân hoặc đầu tư vào giáo dục, từ đó làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng về cơ hội và làm giảm các mức tiền lương và các khoản thu nhập khác đối với phụ nữ, khiến cho bất bình đẳng thu nhập thêm gay gắt.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng có nhiều chiều kích bất bình đẳng giới khác nhau liên quan đến bất bình đẳng thu nhập trong thời gian và không gian (…). Khi theo dõi các lập luận trên đây, phân tích thực nghiệm của chúng tôi xem xét những hiệu ứng khác biệt về hoàn cảnh kinh tế và cơ hội đối với nam và nữ trên sự bất bình đẳng thu nhập. Khi xem xét các động lực của những bất bình đẳng đã được kinh văn nêu bật trước đây qua các tài liệu, kết quả của chúng tôi chứng minh rằng bất bình đẳng giới có mối liên hệ rất chặt với bất bình đẳng thu nhập. Những kết quả này được quan sát trong những nước thuộc tất cả các cấp độ phát triển; tuy nhiên, các chiều kích xác đáng biến đổi tùy theo mức độ phát triển. Đối với những nước phát triển (khi bất bình đẳng giới đã hầu như biến mất trong giáo dục và các cơ hội kinh tế diễn ra bình đẳng hơn giữa các giới), bất bình đẳng thu nhập chủ yếu phát sinh từ những khoảng cách về giới trong tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế. Ở những nước đang phát triển và những nước có mức thu nhập thấp, bất bình đẳng về cơ hội, đặc biệt là khoảng cách về giới trong giáo dục, quyền tự chủ chính trị và y tế, có vẻ là trở ngại chính cho một sự phân phối công bằng hơn về thu nhập.

Những kết quả được rút ra từ nghiên cứu này gợi ý rằng giảm nhẹ mức độ bất bình đẳng giới, khi đặt nam và nữ ngang hàng nhau về mặt kinh tế, cũng có thể đi theo hướng làm giảm bất bình đẳng tổng thể về phân phối thu nhập. Nói cách khác, ngoài việc tự nó là một mục tiêu phát triển, làm giảm bất bình đẳng giới cũng gắn với một sự suy giảm về bất bình đẳng thu nhập. Khi giới thiệu một bình đẳng về cơ hội và giới, nghiên cứu của chúng tôi kêu gọi đặt nam và nữ ngang hàng nhau về mặt cơ hội và hoàn cảnh kinh tế. (…)”

Christian Gonzales, Sonali Jain-Chandra, Kalpana Kochhar, Monique Newiak et Tlek Zeinullayev (2015), trích toàn văn nghiên cứu “Catalyst for change: Empowering women and tackling income inequality”, FMI, staff discussion note, n° 15/20, octobre 2015.

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: Les inégalités de genre alimentent les inégalités de revenu et freinent la croissance,annotations.blog.free, 03/11/2015.

———————–&&&———————

Bất bình đẳng về thu nhập (Income Inequalities)

Bất bình đẳng về thu nhập (Income Inequalities)

(Tác giả: Christian MORRISON – Người dịch: Nguyễn Đôn Phước – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

® Giải Nobel: SEN, 1998

Trong một tác phẩm như quyển sách này, thuật ngữ trên tất yếu qui chiếu về những bất bình đẳng kinh tế. Tuy nhiên cần nhắc lại rằng có nhiều hình thức bất bình đẳng khác trong xã hội, gắn liền hay không với những bất bình đẳng về thu nhập. Ví dụ, trong châu Âu ở thế kỉ XVIII, là thành viên của một đẳng cấp là một điều quan trọng hơn thu nhập. Trong một số nước châu Phi, những khác biệt sắc tộc quyết định thứ bậc: người định cư, thường là cựu nô lệ của người chăn nuôi, ít được coi trọng bằng người chăn nuôi cho dù có thu nhập cao hơn. Mặt khác có hai hình thức bất bình đẳng, bất bình đẳng thu nhập hay bất bình đẳng di sản. Trước khi trình bày những bất bình đẳng thu nhập, cần nói vắn tắt về những bất bình đẳng di sản. Những bất bình đẳng di sản bao giờ cũng lớn hơn những bất bình đẳng thu nhập. Những bất bình đẳng này biến đổi nhiều tuỳ theo tuổi tác, cho nên nên so sánh những hộ gia đình thuộc cùng lứa tuổi. Cuối cùng, ở cùng một mức thu nhập, người lao động độc lập hay người sử dụng lao động trung bình có một di sản lớn hơn người làm công ăn lương.

Hai câu hỏi đầu tiên phải trả lời khi nghiên cứu những bất bình đẳng về thu nhập là: chọn chỉ báo bất bình đẳng nào? chọn đơn vị thu nhập nào?

Những chỉ báo đơn giản nhất qui chiếu về một sắp xếp các cá thể tuỳ theo thu nhập. Ví dụ, nếu ta so sánh 1.000 cá thể thì ta sẽ phân bố họ thành những điểm thập phân: 100 người nghèo nhất hợp thành điểm thập phân đầu, 100 người giàu nhất hợp thành điểm thập phân thứ 10 (được sắp xếp từ 901 đến 1.000). Sau đó ta tính tỉ phần của mỗi điểm thập phân trong tổng những thu nhập. Nếu tỉ phần của điểm thập phân đầu là 2% của tổng những thu nhập và tỉ phần của điểm thập phân thứ 10 là 30% của tổng những thu nhập, thì ta suy ra là thu nhập trung bình của 100 người giàu nhất lớn hơn gấp 15 lần thu nhập trung bình của 100 người nghèo nhất. Nếu thu nhập trung bình của một điểm thập phân bằng với thu nhập trung bình Y của 1.000 cá thể thì tỉ phần của điểm thập phân trong tổng những thu nhập là 10%. Mặt khác, ta có thể so sánh giới hạn YL của những điểm thập phân: ví dụ YL1 cho điểm thập phân đầu là thu nhập của cá thể xếp thứ 100 và YL9 cho điểm thập phân thứ 9 là thu nhập của cá thể xếp thứ 900. Điều này dẫn đến việc tính tỉ số giữa những thu nhập của hai cá thể này hay cho phép nói rằng 100 người nghèo nhất có một thu nhập bằng hay thấp hơn YL1 (rằng 100 người giàu nhất có một thu nhập lớn hơn YL9).

Những chỉ báo này thuần tuý có tính mô tả. Ví dụ, người ta tính đơn giản những tỉ số như những tỉ phần của 20% những người nghèo nhất và của 20% những người giàu nhất: 40/10 = 4. Nhưng những chỉ báo khác gán một tầm quan trọng đặc biệt cho phần này hay phần khác của phân phối khiến cho sự sắp xếp các nước về mặt bất bình đẳng có thể biến đổi tuỳ theo chỉ báo được chọn. Một số chỉ báo coi trọng phần của những điểm thập phần đầu và điểm thập phân 2 trong sự phân bổ thu nhập, như khoảng cách lôga trung bình (tức là trung bình của những logarithm của Y/Yi, với Yi là thu nhập của một cá thể). Bởi thế, một phân phối có thể là bất bình đẳng hơn một phân phối khác theo chỉ báo này, cho dù 10% những nguời giàu nhất là nhỏ hơn chút ít. Trái lại, một số chỉ báo khác nhạy cảm hơn với số của điểm thập phân thứ 10, như chỉ báo T của Theil được tính cho 10 điểm thập phân mà những phần trong tổng thu nhập là Y1, Y2, …, Y9, Y10: tổng [(ln Yi /0,1 ´ Yi)]/100. Theo biểu thức này, ta thấy là T biến đổi nhiều nếu Y10 = 0,5 thay vì 0,4 trong lúc T lại biến đổi ít nếu Y1 = 0,02 thay vì 0,04.

Tất cả những chỉ báo này đều chỉ phụ thuộc vào phân phối thu nhập quan trắc được. Nhưng ta có thể đưa một đánh giá giá trị vào trong một chỉ báo, để tính đến nỗi ngại bất bình đẳng. Đó là điều Atkinson đã làm, với chỉ báo A = 1 – Ye/Y, Ye là thu nhập trung bình mà, nếu được phân phối một cách bình đẳng, sẽ mang lại cùng một mức phúc lợi cho dân chúng bằng với mức đạt được với phân phối thu nhập hiện nay, Y là thu nhập trung bình. Ví dụ, nếu A = 0,3 thì điều này có nghĩa là một phân phối bình đẳng tương ứng với một mức phúc lợi của một thu nhập trung bình là 0,3 Y, bằng với mức phúc lợi đạt được với Y và phân phối được quan trắc. Nếu ta ngại rủi ro thì A bằng hay lớn hơn 0,3 trong lúc nếu ít ngại rủi ro hơn (ta đánh giá rằng bất bình đẳng không phải là một điều bất tiện) thì A = 0,1. Trong trường hợp này, ta chuộng sự phân phối bất bình đẳng quan trắc được hơn là một phân phối bình đẳng tương ứng với một thu nhập trung bình thấp hơn, với một sụt giảm hơn 10 %. Một chỉ báo có tính chuẩn tắc như thế soi sáng sự lựa chọn giữa hiệu quả và bình đẳng vì sự bình đẳng hoàn toàn, bằng cách làm biến mất mọi kích thích, sẽ kéo theo một sụt giảm ít nhiều quan trọng của sản xuất và do đó của thu nhập trung bình.

Dữ liệu về thu nhập liên quan đến những người hoạt động, những hộ gia đình hay những cá thể. Người hoạt động là người nắm giữ một hay nhiều nhân tố sản xuất (lao động, tư bản, đất đai) và nhận từ đó những thu nhập gọi là thu nhập ban đầu. Khái niệm “người hoạt động kinh tế” loại trừ người thất nghiệp vì người này chỉ có một nhân tố (lao động) không được đưa vào sản xuất, nhưng lại bao gồm người chủ 10 căn nhà sống nhờ tiền cho thuê nhà. Thường các hộ gia đình nhận những thu nhập ban đầu, mặt khác, họ còn trả thuế và nhận những chuyển nhượng (như trợ cấp gia đình) của Nhà nước, được gọi là thu nhập thứ hai. Thu nhập sử dụng của một hộ gia đình là tổng đại số của những thu nhập ban đầu, thứ hai và thuế. Do kích cỡ các hộ gia đình biến đổi, người ta tính thu nhập sử dụng trên đầu người, tức là thu nhập của gia đình chia cho số thành viên của gia đình bằng cách quyền số hoá (ví dụ chủ gia đình có quyền số bằng 1, những người lớn khác có quyền số bằng 0,7 và trẻ con dưới 14 tuổi có quyền số bằng 0,5). Những bất bình đẳng về thu nhập giữa những người hoạt động tuỳ thuộc vào sự phân phối những nhân tố sản xuất giữa những người hoạt động và giá của những nhân tố này. Nếu ta nâng một giá như lương tối thiểu thì những bất bình đẳng này giảm xuống. Những bất bình đẳng về thu nhập giữa các cá thể tuỳ thuộc vào bất bình đẳng về thu nhập giữa những người hoạt động, vào những cấu trúc gia đình và sự can thiệp của Nhà nước. Nếu tất cả các chủ gia đình ở cương vị một người hoạt động có một thu nhập rất cao có sáu thay vì một người con thì những bất bình đẳng giảm bớt. Nếu Nhà nước tăng (giảm) những chuyển nhượng cho các gia đình có thu nhập thấp thì những bất bình đẳng này giảm (tăng).

Những bất bình đẳng về thu nhập giữa những người hoạt động được biết đến rõ nhất là những bất bình đẳng về thu nhập giữa những người làm công ăn lương. Hơn nữa những bất bình đẳng về thu nhập giữa tất cả người hoạt động phụ thuộc vào những bất bình đẳng trên vì 80% đến 85% những người hoạt động là những người làm công ăn lương. Tại Đức và Anh, tỉ phần của điểm thập phân thứ nhất và điểm thập phân thứ 10 trung bình là 6% và 18%, như vậy lương trung bình của 10% người làm công hưởng lương cao nhất cao gấp ba lần lương trung bình của 10% người làm công hưởng lương thấp nhất. Tại Hoa Kì khoảng cách này là từ 1 đến 5 với 4% và 20%. Nhưng tỉ suất thất nghiệp tại Hoa Kì thấp hơn hai lần tỉ suất thất nghiệp trung bình ở châu Âu, và điều này không được những thống kê này tính đến vì chỉ liên quan đến những người làm công ăn lương có việc làm. Những bất bình đẳng về lương chủ yếu là kết quả của thời gian học tập cần thiết cho chuyên môn được đòi hỏi, của kinh nghiệm trong nghề, của sự nặng nhọc hay rủi ro gắn với việc làm và của những năng lực khác nhau của người làm công ăn lương (hai người làm công ăn lương có cùng một trình độ đào tạo, cùng một kinh nghiệm có thể có một năng suất khác nhau). Cuối cùng, những cách biệt về lương được giải thích bằng những méo mó trên thị trường lao động: ví dụ người sử dụng lao động phân biệt đối xử nhân công phụ nữ không có chuyên môn bằng cách trả lương rẻ hơn nam giới, và điều này càng làm tăng những bất bình đẳng về lương.

Những bất bình đẳng về thu nhập giữa những người hoạt động không làm công ăn lương (nông dân, nghề tự do, thương nhân hay nghệ nhân độc lập, chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ) bao giờ cũng lớn hơn những bất bình đẳng về thu nhập giữa những người hoạt động làm công ăn lương: khoảng cách thu nhập trung bình giữa điểm thập phân thứ nhất và điểm thập phân thứ 10 rõ ràng vượt quá 1 đến 10. Như thế ở Pháp có một số khá lớn nông dân hay người hành nghề tự do mà thu nhập (trừ đi những chi phí nghề nghiệp rồi) là thấp hơn lương tối thiểu, trong lúc một số khác lại có thu nhập lớn hơn một triệu quan mỗi năm. Bất bình đẳng lớn này được giải thích bằng vai trò của tư bản. Một phần thu nhập của những người hoạt động này được trả cho tư bản, thế mà sự phân phối nhân tố sản xuất này là bất bình đẳng hơn sự phân phối của thu nhập. Mặt khác, những thu nhập này biến động mạnh năm này sang năm khác (đối với nông dân, từ 1 đến 3 hay 4 do khí hậu) trong lúc đó không phải là trường hợp của người làm công ăn lương có việc làm.

Báo chí thường nói đến những bất bình đẳng về thu nhập hằng năm hay hằng tháng. Nhưng những bất bình đẳng trong dài hạn hay trên cả cuộc đời rõ ràng là thấp hơn nhiều. Giả sử tất cả người làm công ăn lương cùng tuổi đều nhận một lương bằng nhau và lương này biến thiên từ 1 đến 3 giữa thời kì đầu và thời kì cuối cuộc đời hành nghề. Tỉ số giữa những lương trung bình của điểm thập phân thứ nhất và điểm thập phân thứ 10 là gần từ 1 đến 3. Nhưng tổng lương nhận được trong suốt cuộc đời thì giống nhau cho mọi người. Theo những nghiên cứu trên những mẫu không đổi người làm công ăn lương được theo dõi suốt ba mươi chín năm thì bất bình đẳng đo được trên tổng lương là thấp hơn khoảng một nửa bất bình đẳng được tính cho phân phối lương trên một năm.

Bức tranh những bất bình đẳng về thu nhập giữa những người hoạt động sẽ thay đổi nếu ta đưa số người thất nghiệp vào dân số hoạt động vì ta sẽ có 5 đến 15% người hoạt động mà thu nhập lần đầu bằng 0. Trong trường hợp này, tỉ phần của điểm thập phân đầu có thể rơi xuống 0 và tỉ phần của 20% những người nghèo nhất sẽ là rất nhỏ.

Những bất bình đẳng về thu nhập lần đầu giữa các gia đình giống với những bất bình đẳng về thu nhập lần đầu giữa những người hoạt động. Ở châu Âu, tỉ phần của 20% những người nghèo nhất và của 20% những nguời giàu nhất trung bình là 5% và 40%, tức là một khoảng cách từ 1 đến 8. Nhưng những bất bình đẳng về thu nhập sử dụng trên đầu người là nhỏ hơn nhiều vì hai lí do. Những gia đình thu nhập thấp có ít thành viên hơn những gia đình có thu nhập cao và Nhà nước cung cấp những chuyển nhượng quan trọng cho những gia đình đầu trong lúc lại thu thuế trên những gia đình sau nếu vượt quá mức những chuyển nhượng mà các gia đình này nhận được. Ví dụ trong bốn nước Bắc Âu, ở Bỉ, Hà Lan và Đức, tỉ phần của 20% những người nghèo nhất và của 20% những nguời giàu nhất trong việc phân phối những thu nhập thuần trên đầu người theo thứ tự trung bình là 10% và 33%. Điều này có nghĩa là khoảng cách mức sống giữa hai nhóm này là từ 1 đến 3,3.

Những bất bình đẳng về thu nhập giữa những người hoạt động hay giữa các gia đình trong các nước phát triển đã giảm từ một trăm năm mươi năm nay: lúc bấy giờ tỉ phần của 20% những người nghèo nhất và của 20% những nguời giàu nhất trung bình là 5% và 55%, tức là một khoảng cách từ 1 đến 11. Tỉ phần của 20% những nguời giàu nhất đã giảm, có lợi cho các hộ gia đình nằm trong những điểm thập phân vị 5, 6, 7 và 8. Những bất bình đẳng về thu nhập sử dụng giữa các cá thể còn giảm nhiều hơn nữa vì trong thế kỉ XIX Nhà nước không can thiệp còn nay Nhà nước làm giảm nhiều những bất bình đẳng bằng những chuyển nhượng và thuế khoá.

Những bất bình đẳng về thu nhập trong các nước đang phát triển, ngoại trừ một số nước châu Á (Sri Lanca, Đài Loan, Hàn quốc), lớn hơn những bất bình đẳng về thu nhập trong các nước phát triển. Trong những nước có bất bình đẳng cao nhất (Brazil, Equateur, Peru) tỉ phần của 20% những người giàu nhất vượt quá 60% so với 4% cho 20% những người nghèo nhất, tức là một khoảng cách từ 1 đến 15 giữa những người hoạt động hay giữa những hộ gia đình, và những bất bình đẳng này không được sự can thiệp của Nhà nước thu hẹp, như trong các nước phát triển. Mặt khác, những gia đình nghèo có số thành viên bằng hoặc cao hơn những gia đình giàu. Từ đó, những bất bình đẳng giữa các cá thể cũng cao hơn. Cuối cùng trong những nước này những bất bình đẳng càng không thể chịu nổi vì tính cơ động rất thấp: người nghèo vẫn nghèo cả cuộc đời khiến cho bất bình đẳng trên vòng đời cũng mạnh gần bằng bất bình đẳng trên một năm.

Christian MORRISON

Giáo sư danh dự Đại học Panthéon-Sorbonne (Paris I)

Nguyễn Đôn Phước dịch

® Kinh tế học phát triển; Thống kê

Nguồn: Dictionnaire des sciences économiques, sous la direction de Claude Jessua, Christian Labrousse, Daniel Vitry, PUF, Paris, 2001

————————–&&&————————-

Bất bình đẳng (Economic inequalities)

Bất bình đẳng (Economic inequalities)

(Tác giả: Thibault GAJOS – Người dịch: Nguyễn Đôn Phước – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

♦ Giải Nobel: DEBREU, 1983 –MIRRLEES, 1996 –SEN, 1998

Việc tìm kiếm một thước đo khách quan những bất bình đẳng rập theo khuôn những thước đo vật lí là vô vọng: thật vậy, thước đo những bất bình đẳng phụ thuộc vào quan điểm của các thành viên xã hội về công bằng phân phối. Do đó điều đáng mong muốn là những quan điểm làm chỗ dựa cho các thước đo những bất bình đẳng phải được xác định rõ ràng nhất có thể. Chính sựquan tâm này nằm ở cội nguồn của một số lớn công trình kể từ đầu những năm 1970 mà mục tiêu chung là xây dựng và đặc trưng hoá những chỉ số thoả mãn một số đặc tính được đặt thành bấy nhiêu tiên đề. Bài viết dưới đây trình bày những chỉ số này mà ta sẽ gọi là những chỉ số chuẩn tác.
Quan điểm về công bằng phân phối
XétD^n tập những phân phối thu nhập trong một tổng thể kích cỡ n nhất định. Một phân phối như thế được kí hiệu bằng X= (x, x, …, x), với xlà thu nhập của cá thể i (tuy nhiên tất cả những gì được trình bày dưới đây có thể được mở rộng ra cho những phân phối tổng quát hơn). Kí hiệu bằng \bar{X} trung bình của phân phối X và bằng \tilde{X} = (\tilde{x}_1, \tilde{x}_2, ...,\tilde{x}_n) phân phối thu được bằng một hoán vị của X sao cho \tilde{x}_1 \leq \tilde{x}_2 \leq ... \leq \tilde{x}_n) .  Tập những phân phối \tilde{X}  được kí hiệu là \tilde{X}^n .
Giả định là tồn tại một quan hệ sở thích ≿ trên D^n phản ảnh một quan điểm nhất định về công bằng phân phối. Quan hệ này được giả định là thoả mãn bốn tiên đề sau:

Tiên đề 1 (tính thứ tự): Quan hệ ≿ xác định một tiền thứ tự đầy đủ trên D^n.
Tiên đề 2 (tính liên tục): Quan hệ ≿ là tiên tục trên D^n.
Tiên đề 3 (tính vô tư): Cho mọi ma trận hoán vị Π, ∀ X ∈ D^n, ΠX ∼X
Tiên đề 4 (tính đơn điệu) : Nếu ta tăng (ngặt) thu nhập của ít nhất một cá thể, mà không giảm thu nhập của một ai khác thì phân phối thu được phải được ưa thích ngặt hơn phân phối ban đầu.
Giả thiết theo đó thứ tự trên D^n là đầy đủ đặc biệt sẽ thu hẹp tập những hàm có khả năng biểu trưng cho thứ tự này. Thế mà, như Sen (1973) đã nhận xét, ta có thể nghĩ rằng không tồn tại một thứ tự đầy đủ như thế và chỉcó thểxác định một thứ tự bộ phận trên tập những phân phối (ví dụ thứ tự Lorentz, theo đó một phân phối thu nhập được ưa thích hơn một phân phối khác nếu, và chỉ nếu, có thể chuyển từ phân phối đầu sang phân phối sau bằng một loạt chuyển nhượng thu nhập của những cá thể nghèo sang những cá thể giàu mà không làm thay đổi thứ tự những thu nhập). Mặt khác, giả thiết theo đó thứ tựn hằm trực tiếp vào những phân phối thu nhập là không trung lập: điều này có nghĩa là ta loại khỏi trường của thước đo những bất bình đẳng tất cảnhững nhận định không nhắm trực tiếp vào việc phân phối thu nhập. Nếu hơn nữa ta giả định rằng tiên đềtính liên tục được thoảmãn thì có thể chứng minh rằng có tồn tại một hàm liên tục F: D^n → ℝ, được xác định li lai một biến đổi tăng, biểu trưng cho thứtự ≿. (xem Debreu, 1959). Ta nói rằng F là một hàm đánh giá những phân phối thu nhập.

Tiên đề tính vô tư (không thiên vị) chỉ rõ rằng danh tính của các tác nhân không được có bất kì vai trò nào trong việc đánh giá một phân phối thu nhập. Từ Đạo đức của Nicomaque của Aristote cho đến Lí thuyết công bằng của John Rawls, tính vô tư hiện ra như là không thể tách rời được khỏi ý tưởng công bằng. Tiên đề này kéo theo rằng F là đối xứng. Cuối cùng hai phân phối thu nhập có thể khác nhau ởtổng thu nhập được phân phối giữa các cá thể và ở cách mà tổng thu nhập này được phân phối. Chấp nhận tiên đề liên tục là ưu tiên cho khiá cạnh đầu hơn là cho khiá cạnh sau.

Debreu (1959) đã chứng minh rằng, nếu bốn tiên đề trên được thoả mãn, thì tồn tại một hàm F: D^n → ℝ, đối xứng, liên tục, đơn điệu và tăng với mỗi một agumen của nó, biểu trưng cho thứ tự ≿. Như thế ta có thể xây dựng một chỉ số bất bình đẳng tương thích với quan niệm về công bằng phân phối được tượng trưng bằng F.

Download bài viết đầy đủ: link

——————–&&&——————