Kinh tế học vĩ mô mới (New Macroeconomics)

Kinh tế học vĩ mô mới (New Macroeconomics)

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

® Giải Nobel: FRIEDMAN, 1976 – HAYEK, 1974 – LUCAS, 1995

Có lẽ ngày nay việc giảng dạy kinh tế vĩ mô là khó hơn cách đây ba mươi hay bốn mươi năm trước khi mà phân tích dựa trên một mô hình keynesian đơn giản hoá: biểu đồ 450, rồi mô hình IS-LM (hay mô hình Hicks-Hansen) được bổ sung trước tiên bằng một đường Phillips rồi sau đó tính đến những quan hệ với nước ngoài, thường là trong khuôn khổ của mô hình Mundell-Fleming, vốn chỉ là một biến thể của mô hình IS-LM.

Mô hình của sự tổng hợp và việc xét lại mô hình này

Trong nhiều thập niên, trình bày trên là cơ sở của kinh tế học vĩ mô. Cho đến tận những năm 1960, người ta chủ yếu quan tâm đến việc cải tiến và tinh vi hoá những hàm kinh tế vĩ mô chính (hàm tiêu dùng, hàm đầu tư, v.v.). Người ta chứng minh, với giả thiết tính cứng nhắc của lương danh nghĩa, rằng những kết quả “keynesian” chính hoàn toàn tương hợp với một mô hình tân cổ điển truyền thống. Do điều thường được chấp nhận là lương còn xa mới linh hoạt trong ngắn hạn, nên hình như là một điều tự nhiên khi xem rằng lí thuyết keynesian là xác đáng cho việc nghiên cứu những biến động và mất cân bằng ngắn hạn, còn mô hình cân bằng chung vẫn còn xác đáng để phân tích dài hạn; như thế người ta có thể là một nhà keynesian trong ngắn hạn và là một nhà tân cổ điển trong dài hạn; đó là điều được gọi là trường phái của sự tổng hợp.

Alvin Hansen (1887-1975)
Robert Clower (1926-2011)

Trong những năm 1960, nổi lên nhiều nghi ngờ nghiêm trọng về cơ sở của sự phân biệt trên. Clower nhấn mạnh tính không tương thích của hàm tiêu dùng keynesian, điểm mấu chốt của hệ thống, với một mô hình cân bằng chung: thật vậy, người ta giả định rằng hộ gia đình xem thu nhập của hộ như là cho trước trong lúc trong một mô hình cân bằng chung hộ gia đình được giả định là chọn lượng nhân tố lao động mà hộ muốn cung cấp. Làm thế nào hoà giải một hàm tiêu dùng như thế với lí thuyết kinh tế vi mô“chuẩn”?

Đề xuất của Clower là hình dung những cầu “thực tế” các tác nhân khi hệ thống không ở thếcân bằng. Nếu những giá của cân bằng chung không được xác định, nếu những giao dịch được tiến hành ở “ngoài” thế cân bằng thì, với những dư cung và dư cầu này, các tác nhân không thể triển khai những kế hoạch được họ dự tính từ các ràng buộc ngân sách của họ. Thật vậy các tác nhân bị “ràng buộc”, bị “hạn mức”: những dự án mua sắm (hay bán buôn) những nhân tố hay sản phẩm không thể tiến hành được. Tóm lại, do những hạn mức trên số lượng này các tác nhân sẽ vấp phải những ràng buộc mới. Người lao động bị thất nghiệp sẽ phát ra những cầu (sản phẩm tiêu dùng) không phải trên cơ sở lương lao động người này muốn bán, nhưng trên cơ sở của lương lao động thật sự bán được.

Những gợi ý của Clower được Barro và Grossman (1971), và tại châu Âu được Bénassy, Drèze và Malinvaud lấy lại đã có tiếng vang lớn. Những gợi ý này đã cho phép trang bị những cơ sởkinh tế vi mô cho kinh tế học vĩ mô kiểu keynesian, đồng thời không giải quyết vấn đề dài hạn. Tuy nhiên, lí thuyết mất cân bằng và chương trình nghiên cứu “tân keyensian” này đã bị sự phát triển của “kinh tế học cổ điển mới” che khuất trên bình diện quốc tế.

Ở cội nguồn của kinh tế học cổ điển mới

William Phillips (1914-1975)
Robert Barro (1944-)

“Kinh tế học cổ điển mới” thường bị lẫn lộn với – hay được nhận diện như – giả thiết“dự kiến duy lí”, xuất hiện trong những năm 1970 tại Hoa Kì; trào lưu này đã làm thay đổi sâu sắc bộ máy phân tích và có một ảnh hưởng chính trị đáng kể, như được minh chứng qua nhiều cuộc tranh luận về chính sách kinh tế đương đại.

Công trình nghiên của A. W. Phillips năm 1958 đặt một mối quan hệ giữa thất nghiệp và tỉ suất lương danh nghĩa ở Anh từ 1861 đến 1957 và dẫn đến kết luận là “tỉ suất biến thiên của lương danh nghĩa có thể được giải thích bằng mức thất nghiệp và tỉ suất biến thiên của mức này”.

Tất nhiên ý tưởng cho rằng có một sự đánh đổi giữa gia tăng của lương danh nghĩa và thất nghiệp không phải là một ý hoàn toàn mới. Nếu bài viết trên có được tiếng vang lớn như thế trước hết là vì, theo một cách nào đó, nó khép lại “học thuyết Keynes của sự tổng hợp” hay“tổng hợp tân cổ điển”; trong lúc trong học thuyết Keynes đơn giản hoá lương là bất định thì quan hệ Phillips cho phép trang bị phương trình còn thiếu; hơn nữa quan hệ này cho phép trả lời một loạt câu hỏi quan trọng: trong chừng mực nào có một liên hệ giữa gia tăng của lương và sự căng thẳng trên thị trường việc làm? Một mức thất nghiệp có là cần thiết cho sự ổn định của giá cả không? Phải chăng ta có thể lựa chọn giữa việc có ít người thất nghiệp hơn và một lạm phát cao hơn?

Edmund Phelps (1933-)
Milton Friedman (1912-2006)

Nhưng bài viết của Phillips, theo một nghĩa nào đó, là sự đăng quang của học thuyết Keynes của sự tổng hợp cũng là nguyên nhân thất bại của học thuyết này. Chính những phân tích được một số chức trách rút ra từ học thuyết này là đối tượng của nhiều phê phán và “kinh tế học cổ điển mới” sẽ tập trung tấn công vào đó, từ sự kết hợp của những đóng góp khác nhau của M. Friedman, E. Phelps và J. Muth: vai trò của chính sách tiền tệ, “ngụ ngôn các đảo”, “lí thuyết những dự kiến duy lí”.

Bài diễn văn của M. Friedman, được công bố năm 1968, có một tiếng vang rất lớn: một số tác giả tìm thấy trong đó lời giải thích (tiên tri) của hiện tượng “đình đốn và lạm phát”, của sự trượt dài của các đường Phillips đặc trưng cho thập niên 1970. Tác giả lấy lại khái niệm về “lãi suất tự nhiên” được Wicksell đề xuất và chỉ ra là phân tích của ông có một khái niệm tương đương chính xác cho thị trường lao động. Từ đó có định nghĩa nổi tiếng về “tỉ suất thất nghiệp tự nhiên”: “mức do một hệ thống cân bằng chung walrasian tạo ra miễn là hệ thống này bao gồm những đặc điểm cấu trúc của thị trường sản phẩm và của thị trường lao động, kể cả những khiếm khuyết, những thay đổi ngẫu nhiên của cầu và cung, chi phí tìm kiếm thông tin về những việc làm còn trống chỗ và nhân công sẵn sàng làm việc, những chi phí cơ động, v.v.”. Từ đó có phê phán vào niềm tin về tính ổn định của quan hệ Phillips: “Bao giờ cũng có một đánh đổi tạm thời giữa lạm phát và thất nghiệp, song đánh đổi này là không thường xuyên. Việc đánh đổi tạm thời không bắt nguồn từ bản thân lạm phát, nhưng từ lạm phát không được dự kiến“. Có lẽ đây là mệnh đề then chốt và điểm chốt của dòng tư duy sẽ dẫn đến “kinh tế học cổ điển mới” mà ta thấy rằng Friedman là người tạo cảm hứng nhưng không vì thế mà là nhà sáng lập trường phái này.

Axel Leijonhufvud (1933-)
Knut Wicksell (1851-1926)

Tiếng vang của phê phán của Friedman không thể làm cho ta quên được là có một phê phán song song của E. Phelps (tác giả này có những quan điểm khá xa với những quan điểm trọng tiền) đối với tính ổn định của đường Phillips vừa tìm cách trang bị cho kinh tế học vĩ mô một cơ sở kinh tế vi mô. Phản ứng lại kinh tế học vĩ mô của một học thuyết Keynes đơn giản hoá, ông minh hoạ giá trị của phương pháp tân cổ điển được ông dùng lại bằng cách bỏ đi tiên đề walrasian về thông tin hoàn hảo. Cũng vào thời kì đó, Clower và Leijonhufvud và trường phái mất cân bằng cũng chứng minh là nên từ bỏ giả thiết người rao giá chi phối toàn bộ các thị trường bằng cách cung cấp một thông tin tức thì và hoàn hảo. Nhưng trong lúc Clower và Leijonhufvud suy ra từ đó rằng tính không hoàn hảo của thông tin dẫn đến những thị trường mất cân bằng thì Phelps lại tìm cách trình bày sự sụt giảm của việc làm và của hoạt động kinh tế trong khuôn khổ tân cổ điển, nghĩa là bằng cách tôn trọng giả thiết cho rằng các tác nhân là duy lí và các thị trường tự cân bằng thông qua giá cả.

Đối với Phelps, thông tin là không hoàn hảo và do đó là tốn kém; có những khoảng cách, xã hội cũng như địa lí, tách biệt các thị trường với nhau. Để dùng lại hình ảnh của chính tác giả, đó là “ngụ ngôn về các đảo”: để biết lương trả trên một hòn đảo bên cạnh, một người lao động phải mất một ngày để đến đảo ấy. Như vậy xuất hiện một “thất nghiệp tìm kiếm”: đối mặt với một sụt giảm của lương thực tế, người lao động sẽ không ra đi vì họ không biết rằng sụt giảm của hoạt động có tính bộ phận hay là tổng quát; nếu họ đi tìm một thù lao tốt hơn chỗ khác, bằng cách chèo sang một đảo khác, thì cung lao động giảm và thất nghiệp tìm kiếm sẽ tăng.

Đóng góp thứ ba có thể được xem như đóng góp trung tâm cho sự nổi lên của kinh tế học cổ điển mới là xưa hơn và tầm quan trọng của nó chỉ hiện ra một cách hồi cố: thật vậy ngay từ 1961, J. F. Muth đã trình bày giả thiết dự kiến duy lí, giả thiết này sẽ cho phép đi xa hơn phê phán của Friedman-Phelps, vốn dựa trên những “dự kiến thích nghi”. Đối với các tác giả này, chính vì lạm phát không được dự kiến nên mới có khả năng tạm thời đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp; chính vì những dự kiến thay đổi dần theo diễn tiến của quá trình lạm phát mà, trong dài hạn, đường Phillips trở thành thẳng đứng. Muth, khi nghiên cứu những dữ liệu liên quan đến các dự kiến kết luận: “[…], trong một ngành, các dự kiến trung bình tốt hơn những dự kiến của những mô hình ngây thơ“. Do đó, xuất phát từ một phê phán những cách hình thức hoá “chuẩn” – của thời bấy giờ – những dự kiến, tác giả gợi ý rằng “những dự kiến là những tiên đoán có cơ sở về những biến cố tương lai và chủ yếu giống với những tiên đoán của lí thuyết kinh tế xác đáng” và ông đề nghị gọi những dự kiến này là những “dự kiến duy lí”.

Lev Pontryagin (1908-1988)

Do đó có công thức: t-1Xt* = E(Xt\It-1). Giá trị dự kiến của Xt tại thời điểm (t-1), được kí hiệu là t-1Xt*, như vậy là kì vọng toán học của Xt, được tính từ thông tin sẵn có tại thời điểm (t-1), thông tin này được kí hiệu là It-1; do X* là giá trị cân bằng và et là một biến ngẫu nhiên với kì vọng toán học bằng không nên giá trị dự kiến này còn được viết như:

t-1Xt* = X* + et*

Bởi thế trường phái cổ điển mới là sự kết hợp của học thuyết trọng tiền, với giả thiết thông tin không hoàn hảo và tốn kém và cuối cùng với giả thiết những dự kiến duy lí. Có lẽ để đầy đủ hơn phải kể thêm vai trò của những công cụ mới (nguyên lí gọi là “cực đại” phát triển từ những công trình của nhà toán học Nga L. Pontryagin) được phát triển trong những năm 1960 và cho phép xử lí một cách đầy đủ và dễ dàng hơn việc tối ưu hoá liên thời gian. Khái niệm cân bằng yên ngựa, một khái niệm làm đổi mới hoàn toàn khái niệm cân bằng, dường như chỉ tìm được sự biện minh đầy đủ khi được liên kết với giả thiết dự kiến duy lí.

Thông điệp kép của kinh tế học cổ điển mới

Friedrich Hayek (1899-1992)
Robert Lucas (1937-)

Trào lưu này được phát triển từ giữa những năm 1970 từ Hoa Kì; những nhà lãnh đạo chính của trào lưu là R. Lucas (giải Nobel 1995), Th. Sargent, N. Wallace và R. Barro. Các nhà kinh tế này tự nhận họ là những nhà “cổ điển” vì muốn chỉ rõ sự thừa kế về mặt tri thức với những nhà tiền keynesian, đặc biệt là với Hayek, và đóng lại dấu ngoặc mà Keynes đã, một cách bất chính, mở ra. Điều được nhấn mạnh là những hành vi cá thể, do các thị trường luôn ở thế cân bằng nên giá cả tự điều chỉnh rất nhanh. Những hiệu ứng bất ngờ và thay thế liên thời gian sẽ có một vai trò vô cùng quan trọng. Ở đây chúng tôi đặt ưu tiên cho một thông điệp kép: một mặt, chính sách điều tiết tình thế, theo các nhà cổ điển mới, hoàn toàn không có hiệu quả (nguyên lí “bất biến”); mặt khác, phải từ bỏ cách mô hình hoá kinh trắc vĩ mô truyền thống.

Neil Wallace (1939-)
Thomas Sargent (1943-)

Về điểm thứ nhất, ở đây cần phải trích dẫn Sargent và Wallace (1976): “Trong hệ thống này, không có chỗ cho một chính sách ngược chu kì. Để tận dụng đường Phillips, bằng cách này hay cách khác, phải đánh lừa công chúng. Nhưng, do có giả thiết những dự kiến duy lí, các giới chức trách không thể sử dụng bất kì quy tắc nào có tác động ngược với hi vọng đánh lừa được công chúng một cách có hệ thống. Điều này có nghĩa là giới chức trách không thể khai thác đường Phillips, cho dù chỉ trong một thời kì. Như thế, việc kết hợp giả thiết tỉ suất tự nhiên và giả thiết dự kiến duy lí làm cho giả thiết đầu, từ một điều lạ lùng … biến thành một giả thiết có những hệ quả tức thì và triệt để đối với tính khả thi của một chính sách ngược chu kì”.

Trước hết đoạn trích dẫn trên là lí thú vì chỉ ra cơ sở của điều đôi lúc được gọi là “nguyên lí bất biến, hay tính không hiệu quả của những chính sách ngược chu kì”; kinh tế cổ điển mới đi xa hơn những đề xuất của Friedman về tính không ổn định của đường Phillips; đối với Friedman, còn có một đánh đổi tạm thời giữa lạm phát và thất nghiệp; đường Phillips dài hạn tất nhiên là thẳng đứng nhưng vẫn có một họ những đường Phillips ngắn hạn có những đặc tính tốt. Ngược lại, đối với Lucas và kinh tế học cổ điển mới thì đường Phillips là thẳng đứng, trong dài hạn cũng như trong ngắn hạn.

Đoạn trích dẫn trên còn có một ích lợi khác, đó là lời nhắc nhở của ngay chính những tác giả tạo lập trường phái này là không thể đồng hoá “kinh tế học cổ điển mới” với “giả thiết những dự kiến duy lí” hay qui “kinh tế học cổ điển mới” về “giả thiết những dự kiến duy lí”. Tính không hiệu quả của chính sách ngược chu kì quả thật là kết quả của việc vận dụng đồng thời hai giả thiết, giả thiết tỉ suất tự nhiên và giả thiết những dự kiến duy lí. Do đó ta sẽ bớt ngạc nhiên hơn trước việc những mô hình hoá khá xa với những mô hình hoá của kinh tế học cổ điển mới thường xuyên sử dụng giả thiết những dự kiến duy lí.

Thông điệp trung tâm thứ hai là phê phán việc sử dụng truyền thống các mô hình kinh trắc. Quan điểm của Lucas (1972) là không nhập nhằng: “Do cấu trúc của một mô hình kinh trắc gồm những qui tắc ra quyết định tối ưu của các tác nhân kinh tế và những qui tắc tối ưu thay đổi một cách có hệ thống với những thay đổi của cấu trúc của những chuỗi xác đáng đối với người ra quyết định, nên mọi thay đổi của chính sách sẽ làm thay đổi một cách triệt để cấu trúc của các mô hình kinh trắc […] [kết luận này] kéo theo là những so sánh, với sự hỗ trợ của những mô hình kinh trắc hiện nay, những hiệu ứng của những qui tắc chính sách là không có giá trị mặc dù hiệu năng của những mô hình này trên thời kì quan sát hay của việc dự báo ngắn hạn ex ante”.

Tóm lại, những mô phỏng, từ những mô hình hiện có, về mặt nguyên tắc, không thể cho được bất kì thông tin có ích nào về những hệ quả thực tế của những chính sách đối chọn khác nhau.

Kết luận trên được suy ra từ việc xem xét chính những phương trình được sử dụng trong các mô hình kinh trắc tiêu biểu. Lucas nói rằng cách làm thông thường là ước lượng một hàm (ví dụ hàm tiêu dùng) và tiếp đó sử dụng quan hệ đã được làm rõ bằng cách này để tiến hành những dự báo tiêu dùng với những giả thiết hay kịch bản khác nhau.

Kiểu sử dụng như thế dựa trên một giả thiết ngầm: quan hệ kinh trắc được giả định là ổn định trong những giả thiết khác nhau hình dung được. Lucas bảo vệ ý là những giáo huấn của lí thuyết động cho thấy rằng không thể giữ lại giả thiết này – và do đó ta có thể chờ đợi là những phương trình hành vi thay đổi khi những giả thiết được chọn thay đổi. Những thay đổi trong các quan hệ hành vi xuất phát từ những thay đổi trong các quan hệ và phản ứng của các tác nhân đối mặt với một chân trời kinh tế đã thay đổi.

Bên kia kinh tế học cổ điển mới (NCE) là kinh tế học keynesian mới (NKE)

David Romer (1958-)
Gregory Mankiw (1958-)

Tuy nhiên nếu kinh tế học cổ điển mới tỏ ra thống trị trong thế giới anglo-saxon trong những năm 1980 thì mười năm sau đó ảnh hưởng của trường phái này bị những trào lưu tự nhận là kế thừa tư tưởng Keynes đồng thời kế thừa một vài yếu tố của “kinh tế học cổ điển mới” công kích kịch liệt. Tên gọi “kinh tế học keynesian mới” chỉ mới xuất hiện gần đây, dù cho thuật ngữ đã được dùng vào đầu những năm 1980 và một trong những lần xuất hiện đầu tiên của thuật ngữ này là trong tựa đề một bài viết của L. Ball, M. G. Mankiw và D. Romer.

Sự đoạn tuyệt với “học thuyết keynesian của sự tổng hợp” hoàn toàn to lớn: thật vậy, điểm xuất phát nằm ở lăng kính kinh tế vi mô, cá nhân luận (phương pháp luận cá thể), đối lập với truyền thống keynesian trước đó vốn dựa trên phương pháp luận tổng thể, lập luận nhiều hơn trên toàn bộ hệ thống kinh tế và xã hội.

Sự đối lập chủ yếu với các nhà cổ điển mới không liên quan đến sự hình thành những dự kiến lẫn việc viện đến phương pháp luận cá thể. Trung tâm của sự đối lập nằm ở chỗ khác: vai trò của các thị trường. Thật vậy, đối với kinh tế học cổ điển mới, giả thiết cơ bản là các thị trường phải được “dọn sạch” (cleared) [ND] hay nếu muốn – nhưng thành ngữ là ít hàn lâm hơn –được “tẩy thoát sạch” bằng sự điều chỉnh của giá cả. Đối với kinh tế học keynesian mới, trái lại, hoạt động của các thị trường không cho phép đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả của hệ thống. Trên điểm này, còn phải phân biệt trong nhóm tác giả này, những ai quan tâm đến tính không ổn định của các đường cung với những ai nhấn mạnh đến những vấn đề phối hợp, và cuối cùng với những ai nhấn mạnh đến những thời gian điều chỉnh của giá cả, tức là những hiện tượng nhờn. Nhưng vượt lên trên những khác biệt này là một quan điểm chung: thị trường không đảm bảo cho hệ thống hoạt động có hiệu quả.

Cũng phải làm rõ sự đối lập với các nhà “tân keynesian”. Trong lúc trào lưu “tân keynesian” coi tính “cứng nhắc” (trong ngắn hạn) của giá cả như một dữ kiện cho trước và muốn rút ra từ đó những hệ quả thì các nhà keyesian mới đi tìm những cơ sở kinh tế vi mô của sự điều chỉnh chậm chạp và từng bước này. Đối với nhiều tác giả tự nhận mình thuộc trào lưu kinh tế học keynesian mới thì giá cả có tính “nhờn” (sticky); việc điều chỉnh giá cả với những biến thiên của số lượng, còn xa mới là tức thì, đòi hỏi thời gian và chính tính “nhờn” này của những biến giá cả và thù lao cần phải được giải thích. Do đó có sự đồng ý (ít nhất là một phần) với một phần những quan tâm của kinh tế học cổ điển mới, tức là những cơ sở kinh tế vi mô của kinh tế học vĩ mô.

Có thể cũng nên nói thêm là những tính nhờn nói đến ở đây liên quan đến thị trường sản phẩm (giả thiết menu cost) lẫn thị trường tín dụng (hạn mức tín dụng) cũng như đến thị trường lao động (mô hình “người trong cuộc-người ngoài cuộc”, những vấn đề thương thảo, lí thuyết lương hiệu quả). Nằm ở trung tâm của những mối quan tâm của kinh tế học keynesian mới không chỉ có vấn đề những đặc thù của hợp đồng lao động. Hoạt động của những kiểu thị trường khác nhau cũng được phân tích kĩ (học thuyết keynesian “thông tin”), cho dù các tác giả ít nhiều tự coi mình thuộc trào lưu kinh tế học keynesian mới không gắn một tầm quan trọng bằng nhau, tuỳ trường hợp, cho những hiện tượng nhờn, tính cứng nhắc danh nghĩa hay thực tế. Trong số này, một số tác giả thăm dò một hướng khác, vả lại hướng này đã được chính Keynes gợi ý: họ nhấn mạnh là không thể loại trừ rằng việc gia tăng của tính linh hoạt của giá cả có thể làm tăng, chứ không giảm bớt, tính không ổn định. Đặc biệt điều này hiện lên trong việc phân tích những vấn đề mà nợ nần và thị trường tín dụng đặt ra. Cuối cùng, rõ ràng là những vấn đề phối hợp nằm ở trung tâm của nhiều mối quan tâm.

Mặt khác, điều được thừa nhận là những dự kiến duy lí là một ứng dụng của nguyên lí hành vi duy lí vào việc thu thập và xử lí thông tin và sự hình thành của những dự kiến. Điều cũng được công nhận là nguyên lí không hiệu quả, tính bất lực của chính sách điều tiết kinh tế bằng cầu không trực tiếp gắn với giả thiết những dự kiến duy lí và do đó không thể nào lẫn lộn hay đồng nhất kinh tế học cổ điển mới với những dự kiến duy lí: nếu kết hợp những dự kiến duy lí với biểu trưng “cổ điển” của nền kinh tế chủ yếu dựa trên giả thiết tỉ suất tự nhiên thì không phải là một điều ngạc nhiên khi đi đến kết luận kiểu Lucas-Sargent-Wallace về tính bất lực, không hiệu quả của chính sách kinh tế. Nhưng thử giả định rằng các tác nhân có một biểu trưng“keynesian” (chứ không còn là một biểu trưng cổ điển nữa) về hoạt động của nền kinh tế thì, trong trường hợp này, những dự kiến duy lí, thay vì làm cho chính sách kinh tế bất lực, ngược lại, lại làm cho chính sách này hiệu quả hơn. Đối với nhiều tác giả tự nhận mình thuộc trào lưu“kinh tế học keynesian mới”, khái niệm dự kiến hiện nay là một điểm xuất phát có ích cho việc mô hình hoá.

Đi đến một trường phái tổng hợp mới?

Trong hai mươi năm nữa, trong số tất cả những phát triển tinh vi này, phát triển nào sẽ được các nhà kinh tế hợp nhất vào biểu trưng về hoạt động của thế giới? “Tổng hợp cổ điển keynesian”, một trào lưu tư tưởng thống trị rộng rãi cách đây vài thập niên đã thấy ảnh hưởng của nó bị đánh bạt bởi sự phê phán và lớn mạnh của trường phái trọng tiền (M. Friedman) rồi của kinh tế học cổ điển mới. Đến lượt kinh tế học cổ điển mới bị phản bác, ta có thể tự hỏi phải chăng vào đầu thế kỉ XXI đang xuất hiện điều có thể gọi là một “trường phái tổng hợp mới”? Phải chăng sự hợp nhất của kinh tế học vĩ mô đã ló dạng? Hiện nay có nhiều câu hỏi được đặt ra. Có khả năng là những kiểu mô hình hoá sắp tới sẽ dành một chỗ xứng đáng cho những dự kiến, những quan tâm liên quan đến tính thay thế liên thời gian và tính tiền hậu bất nhất động, những vấn đề tính tin cậy và danh tiếng;cũng phải hình dung đến việc tính đến những hiện tượng có tính dai dẳng và những hiện tượng trễ, việc đưa vào những động thái phi tuyến tính. Do đó phải làm thất vọng những ai hi vọng thấy xuất hiện trở lại một biểu trưng đơn giản kiểu IS-LM; tuy nhiên mô hình thế hệ đan chéo, không được đề cập ở đây, có thể cấu thành một khuôn khổ phân tích sử dụng được ở nhiều cấp độ.

▶ ABRAHAM-FROIS G., chủ biên, La macroéconomie après Lucas, Paris, Economica, 1998. – ARTUS P.,Macroéconomie, Paris, Économica, 1995. –BLANCHARD O. J. & FISHER S., Lectures on Macroeconomics, Cambridge, MIT Press, 1989. – MANKIW N. G. & ROMER D., New Keynesian Economics, Cambridge, MIT Press, 1991. – ROMER D., Macroéconomie approfondie, McGraw-Hill/Ediscience, 1997.

Gilbert ABRAHAM-FROIS

Giáo sư đại học Nanterre (Paris 10)

Nguyễn Đôn Phước dịch

® Chu kì kinh tế; Duy lí hạn chế (tính); Duy lí tân cổ điển (tính); Dự kiến duy lí; Hệ động trong kinh tế; Keynes (học thuyết); Kinh tế học vi mô.

Nguồn: Dictionnaire des sciences économiques, sous la direction de Claude Jessua, Christian Labrousse, Daniel Vitry, PUF, Paris, 2001

—————-&&&—————–

Niết bàn của các nhà kinh tế học (3): Các hiệu ứng

Niết bàn của các nhà kinh tế học (3): Các hiệu ứng

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Xin được nói rõ: các nhà kinh tế đã sáng tạo hoặc tưởng tượng cả khối hiệu ứng (hiệu ứng tích tụ, tập huấn, bất ngờ, lấn thế, thu nhập, giá cả…). Chúng tôi chỉ đề cập dưới đây những hiệu ứng mang tên của những tác giả đã xây dựng chúng.

Hiệu ứng Balassa (hay hiệu ứng Balassa-Samuelson)

Ở những nước nghèo, giá cả đi xe taxi, giá cả ăn uống ở nhà hàng và giá cả các dịch vụ khác của địa phương đặc biệt rẻ so với giá cả ở những nước như Pháp hay Hoa KỳTại sao? Đối với Bela Balassa (1928-1991), một nhà kinh tế học người Hungary từng làm việc tại Hoa Kỳ cùng với Paul A. Samuelson (được “giải thưởng Nobel kinh tế” năm 1970), điều đó không sai, nhưng chưa đủ. Một phần khác của câu trả lời xuất phát từ tỷ giá hối đoái có hiệu lực tại quốc gia đó. Tỷ giá hối đoái được xác định bởi nhu cầu cân đối các hoạt động xuất nhập khẩu. Nhưng những người lao động sản xuất ra các hàng hoá xuất khẩu, nói chung, có năng suất lao động thấp hơn đáng kể so với những người lao động ở Pháp, dẫn đến tỷ giá hối đoái thấp hơn giữa nước có liên quan và Pháp, nếu không thì giá bán các sản phẩm được Pháp nhập khẩu sẽ đắt quá và sẽ không bán được hoặc bán không nhiều.

Bela Balassa (1928-1991)
Paul Samuelson (1915-2009)

Ngược lại, trong các dịch vụ của địa phương, năng suất lao động không khác biệt nhiều giữa hai nước: người lái xe taxi người Miến Điện (ví dụ) lái xe với vận tốc cũng nhanh gần bằng so với người lái xe taxi người Pháp, và không cần nhiều hơn thời gian (thậm chí thường mất ít thời gian hơn) để chuẩn bị và phục vụ một bữa ăn tại một nhà hàng Ấn Độ so với tại một nhà hàng Pháp. Nhưng khách du lịch đến Ấn Độ, nhờ tỷ giá hối đoái thấp, đổi được nhiều đồng nội tệ hơn với đồng euro. Khi mua dịch vụ [ở Ấn Độ], giá cả sẽ đặc biệt rẻ hơn rất nhiều so với những dịch vụ tương tự ở Pháp. Đây là hiệu ứng Balassa, giải thích rằng, về “tiêu chuẩn sức mua”, một người phương Tây có thể sống như một vương công ở Ấn Độ… nhưng với điều kiện là mua các sản phẩm của địa phương, chứ không phải các sản phẩm nhập khẩu. Tuy nhiên, ngược lại, khi mà khoảng cách phát triển giữa các nước thu hẹp càng nhiều, thì hiệu ứng Balassa càng ít hiệu quả, bởi vì khi đó tỷ giá hối đoái giữa đồng nội tệ và đồng euro có xu hướng tăng lên.

Hiệu ứng Pigou (và hiệu ứng Keynes)

Alfred Marshall (1842-1924)
Arthur C. Pigou (1877-1959)

Là một người bạn và đối thủ của Keynes, Arthur Cecil Pigou (1877-1959), giáo sư tại Đại học Cambridge (nơi ông đã kế thừa Alfred Marshall ở vị trí nổi tiếng là giáo sư chuyên ngành kinh tế của Đại học Cambridge, một vị trí mà Keynescũng quan tâm) đã cố bảo vệ một cách tuyệt vọng tư tưởng tân cổ điển chính thống vào những năm 40, thậm chí trong khi cuộc cách mạng keynesian đã cuốn đi tất cả trên đường đi của nó. Hiệu ứng mang tên ông là một trong những nỗ lực của ông. Hiệu ứng đó bắt đầu từ một giả thuyết: giả định rằng tất cả giá cả đều giảm, điều mà chúng ta gọi là “giảm phát”. Đây là một tin tốt lành đối với mỗi cá nhân, nhưng, theo lời giải thích của Keynes vào thời đó, đó không phải là một tin tốt lành đối với nền kinh tế nói chung (hay nền kinh tế vĩ mô). Người mua, khi thấy giá cả giảm, có xu hướng trì hoãn một phần khả năng mua hàng của họ, với hy vọng hưởng lợi sau này khi giá cả giảm thêm nữa. Ngoài ra, một số khoản chi tiêu khác lại đắt hơn, bởi vì trái với việc thu nhập có xu hướng giảm, các khoản chi tiêu đó không giảm giá khi mà các hợp đồng đã ký không được đàm phán lại: trả nợ vay, tiền thuê nhà, thuế thu nhập, tiền bảo hiểm, v.v. bao nhiêu hậu quả dẫn đến việc hạ thấp hơn mức sống của các hộ gia đình và giảm mức hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, làm cho toàn bộ nền kinh tế rơi vào vòng xoáy suy thoái.

John M. Keynes (1883-1946)
Don Patinkin (1922-1995)

Đối với Pigou, sự lo sợ này không có cơ sở. Khi giá giảm, thì sức mua của tiền mặt (tiền giấy và tiết kiệm có tính thanh khoản) của cá nhân (doanh nghiệp và hộ gia đình) tăng. Mỗi cá nhân sẽ không thấy cần thiết phải giữ một lượng tiền mặt quan trọng để đối phó với các khoản chi tiêu đã được tính trước và họ sẽ chuyển một phần tiền mặt dư thừa này cho các khoản chi tiêu nhu cầu bổ sung. Đây là hiệu ứng Pigou, một hiệu ứng có thể phá sạch vòng tròn luẩn quẩn giảm phát được Keynes mô tả. Ngoại trừ một điều cho thấy có lẽ Pigou hơi quá lạc quan. Và nếu mọi người đều nghĩ rằng giá cả sẽ tiếp tục giảm nữa và chờ đợi để chi tiêu lượng tiền mặt dư thừa của mình, hoặc tranh thủ để trả nợ? Còn gì nữa đâu sự bật dậy của khả năng tiêu thụ: bị đóng khung trong cái vòng giảm phát, người tiêu dùng sẽ tiếp tục chìm sâu [vào cái vòng đó]. Và trên thực tế, tình trạng giảm phát thực tế (ở Nhật Bản, ví dụ) xác thực cách tiếp cận của Keynes hơn là hiệu ứng Pigou.

Tuy nhiên, hiệu ứng Pigou đã có một cuộc sống thứ hai, nhưng bằng một cách nào đó theo chiều ngược lại. Khi giá của một số tài sản nào đó tăng – bất động sản, ví dụ –, thì chủ sở hữu của các tài sản này làm giàu. Điều mà Don Patinkin, một nhà kinh tế học người Mỹ, đặt tên (vào những năm 1960) là “hiệu ứng tiền mặt thực tế”, có thể thúc đẩy một số chủ sở hữu, những người nắm giữ những tài sản bảo đảm vững chắc hơn trong con mắt của các ngân hàng, vay tiền để làm giàu hơn nữa. Sự tăng giá tài sản này, và được duy trì như vậy (sự tăng giá duy trì sự tăng giá), có thể dẫn đến hiện tượng bong bóng đầu cơ mà sớm muộn gì cũng bùng nổ, như cuộc khủng hoảng các khoản cho vay dưới chuẩn đã chứng minh. Trớ trêu thay, hiệu ứng Pigou đảo ngược này (bởi vì nó có hiệu lực khi giá các tài sản tăng) từ nay được gọi là hiệu ứng Keynes. Sự báo thù là một món ăn lạnh.

Hiệu ứng Veblen

Thorstein Veblen (1857-1929)

Thorstein Veblen (1857-1929) là một nhà kinh tế học người Mỹ, có lẽ do nhìn xã hội mà ông sống bằng con mắt phê phán (ông xuất thân từ một gia đình gốc Na Uy sống rất giản dị), ông đã xuất bản vào năm 1899 một cuốn sách đã làm cho ông nổi tiếng: The Theory of The Leisure Class [Lý thuyết về tầng lớp nhàn rỗi]. Trong cuốn sách đó, ông bóc vỏ một ngàn lẻ một cách mà một người đã từng thành công về mặt vật chất trong cuộc sống bộc lộ sự thành công đó: các quần áo, các bữa ăn, sử dụng từ vựng, giọng nói, nhà ở, v.v.. Nhưng ông cũng chỉ ra rằng các tầng lớp xã hội ngay dưới tầng lớp nói trên cũng bắt chước lối sống ấy để cố tiếp cận sự thừa nhận tương tự về mặt xã hội: đó là hiệu ứng Veblen, dựa trên cơ sở của sự bắt chước, mỗi người rập khuôn theo lối sống của tầng lớp xã hội cao hơn mình một bậc.

Hiệu ứng Q của Tobin

James Tobin (1918-2002)

Việc truyền tải sang nghĩa đen của tiếng Pháp đối với các thuật ngữ Mỹ không phải là điều thanh lịch nhất, và người ta cũng không chắc là nó có biểu dương hay không sự vinh quang củaJames Tobin, nhà kinh tế học người Mỹ (1918-2002, được “giải thưởng Nobel kinh tế” vào năm 1981), ít nhất là tại các nước nói tiếng Pháp (mẫu tự Q trong tiếng Pháp phát âm tương tự như từ “cul”, có nghĩa là moont – ND). Chữ “Q” (không có ý nghĩa đặc biệt nào) đo lường mối quan hệ giữa giá trị trên thị trường chứng khoán của một doanh nghiệp với giá trị kinh tế được gọi là giá trị “thay thế” (cần phải tốn bao nhiêu tiền để khôi phục lại một doanh nghiệp tương tự nếu chẳng may nó phá sản?). Nếu giá trị trên thị trường chứng khoán (điều thường được gọi là “thị giá vốn cổ phần”) vượt quá giá trị thay thế, thì các nhà lãnh đạo doanh nghiệp có lợi khi đầu tư, bởi vì thị trường (chứng khoán) sẽ làm tăng giá trị các tài sản nhiều hơn so với giá trị hiện có của chúng. Và nếu là điều ngược lại (giá trị trên thị trường chứng khoán thấp hơn giá trị thay thế), thì các cổ đông có lợi khi bán chúng, bởi vì doanh nghiệp sẽ thu về ít hơn so với giá trị hiện có của nó. Hiệu ứng “Q” này trái với định lý Modigliani-Miller (xem Định lý Modigliani-Miller), nhưng hiệu lực của nó dựa trên một giả thuyết đặc biệt bấp bênh: thị trường chứng khoán đánh giá khá chính xác giá trị của một doanh nghiệp. Đó là điều mà chúng ta có thể nghi ngờ…

Trên thực tế, Tobin nổi tiếng hơn vì đề xuất của ông về việc đánh thuế các giao dịch ngoại hối, nhằm “gây rắc rối một chút cho hoạt động của các thị trường tiền tệ quốc tế” được ông đánh giá, trong đường lối của Keynes, là gây bất ổn định do tạo ra quá nhiều hoạt động đầu cơ.

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: Les lois, les théorèmes, les courbes…, Les Dossiers d’Alternatives Economiques, Hors-série no 4, septembre 2016.

——————–&&&—————–

Tăng trưởng kinh tế và ngưỡng lạm phát tối ưu

Tăng trưởng kinh tế và ngưỡng lạm phát tối ưu

(Tác giả: Nguyễn Anh Phong – Nguồn: http://tapchitaichinh.vn)

Bài viết nghiên cứu quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại Việt Nam giai đoạn từ năm 1992 đến 2016. Bằng kỹ thuật Bootstrap, nghiên cứu tìm ra ngưỡng lạm phát tối ưu tại Việt Nam là ở mức 3,22%/năm, nghĩa là muốn có tăng trưởng kinh tế tốt, cần duy trì lạm phát ở mức vừa phải (3,22%/năm). Nếu lạm phát cao hơn mức này, khả năng suy giảm tăng trưởng sẽ xuất hiện. Để giữ cho tăng trưởng đạt mục tiêu, Chính phủ buộc phải nới lỏng các chính sách tài khóa và tiền tệ, việc làm này khiến lạm phát lại tăng lên.

Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu

Nghiên cứu của Keynes cho rằng, trong ngắn hạn, sẽ có sự đánh đổi giữa lạm phát và tăng trưởng, theo đó muốn có tăng trưởng cao thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát nhất định. Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng và lạm phát di chuyển cùng chiều.

Về dài hạn, nếu tiếp tục chấp nhận tăng lạm phát để thúc đẩy tăng trưởng thì GDP cũng không tăng thêm, ngược lại còn có xu hướng giảm đi.

Dựa trên quan điểm của Keynes, một số nghiên cứu cho rằng, lạm phát ở mức vừa phải sẽ thúc đẩy tăng trưởng (Mubarik, 2005). Ngược lại, một số nghiên cứu khác cho thấy, lạm phát lại có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế khi nó vượt qua một ngưỡng nhất định (Ocran 2007, Khan và Senhadji, 2001).

ảnh 2

Các nghiên cứu của Sarel (1996), Shan và Senhadji (2001) và một số nhà nghiên cứu khác, đã lượng hóa mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế thông qua tìm ra ngưỡng lạm phát tối ưu. Sarel tìm ra ngưỡng lạm phát là 8%, còn nghiên cứu của Shan và Senhadji tìm ra ngưỡng lạm phát cho các nước đang phát triển là 11 – 12%, các nước công nghiệp khoảng 1 – 3%.

Nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF, 2006) về mức độ lạm phát ở Việt Nam với các nước Đông Nam Á đã chỉ ra rằng, mức lạm phát tối ưu cho tăng trưởng kinh tế ở các nước vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam khoảng 3,6%.

Trương Minh Tuấn (2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế bằng nghiên cứu thực nghiệm Việt Nam với dữ liệu từ quý I/2001 đến quý IV/2011 cho thấy, tồn tại quan hệ dài hạn giữa lạm phát và tăng trưởng.

Nguyễn Đức Độ (2014) cũng đã nghiên cứu về quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát và tiết kiệm, đầu tư tại Việt Nam với dữ liệu từ 2004 đến 2013. Trong mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng của Việt Nam, đầu tư là biến số quyết định tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát CPI, mức nhập siêu cũng như quy mô thu ngân sách nhà nước.

Mô hình định lượng về mối quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát, tiết kiệm và đầu tư (GISI) tại Việt Nam được đề xuất trong bài viết này cho thấy, để đạt được sự tăng trưởng kinh tế bền vững, tốc độ tăng đầu tư cần tương đương với tốc độ tăng trưởng GDP. Hơn nữa, với mức lạm phát mục tiêu đề ra càng thấp, thì tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế sẽ càng cao.

Mô hình, dữ liệu và kết quả nghiên cứu

Dựa vào tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, để đánh giá mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, tác giả áp dụng mô hình như sau:

Trong đó: Inf là tỷ lệ thay đổi của chỉ số CPI năm t so với năm t-1, Inf=(CPIt-CPIt-1)/CPIt-1; g đo lường cú sốc cầu, là tỷ lệ thay đổi của GDP, g= (GDPt-GDPt-1)/GDPt-1; m2gdp đo lường độ sâu tài chính, đại diện cho tác động của chính sách tiền tệ đến tăng trưởng, m2gdp= M2t/GDPt; gegdp đo lường tác động chính sách tài khóa mà đại diện là chi tiêu chính phủ so với GDP, gegdp= GEt/GDPt; αo là tung độ gốc, các giá trị α là hệ số dốc và u là sai số ngẫu nhiên.

Theo Keynes và các nghiên cứu đã phân tích cho thấy, giữa tăng trưởng với lạm pháp có mối quan hệ phi tuyến (đường cong).

Do đó, tác giả sử dụng hồi quy ngưỡng theo phương pháp của Hansen để xác định ngưỡng lạm phát tối ưu cho Việt Nam, với dữ liệu được thu thập từ năm 1992 cho đến năm 2016 (sử dụng phương pháp bootstrap 1000 lần, nhằm tăng số mẫu và độ tin cậy cho bộ dữ liệu nghiên cứu). Kết quả cho thấy, tồn tại quan hệ ngưỡng giữa tăng trưởng và lạm phát, với ngưỡng lạm phát tối ưu là 3,22%/năm.

Như vậy, nếu mức lạm phát được giữ ở mức dưới ngưỡng này sẽ kích thích cho tăng trưởng kinh tế (lạm phát tăng thêm 1% thì kinh tế tăng trưởng thêm 0,45%).

Ngoài ra, trong ngưỡng này thì tăng độ sâu tài chính cũng giúp tăng trưởng (độ sâu tài chính tăng thêm 1% giúp tăng trưởng kinh tế thêm 0,37%), ngược lại tăng chi tiêu chính phủ nếu không đẩy mạnh tăng thu nhập thì tạo hiệu ứng ngược (tỷ lệ chi tiêu chính phủ so GDP tăng 1% làm tăng trưởng giảm 1,33%).

Với mức lạm phát trên 3,22%/năm sẽ tạo hiệu ứng kiềm chế tăng trưởng, tuy nhiên cũng ở mức thấp (lạm phát tăng 1%, tăng trưởng kinh tế giảm 0,005%).

Ngoài ra, nếu mức lạm phát trên 3,22%, các chỉ số về độ sâu tài chính, hay chi tiêu chính phủ so với GDP đều có quan hệ thuận chiều và kích thích tăng trưởng, đặc biệt ảnh hưởng của chi tiêu chính phủ/GDP lên tăng trưởng rất cao (tỷ lệ này tăng 1%, tăng trưởng kinh tế thêm 0,84%).

Kết quả nghiên cứu này khá tương đồng với nghiên cứu của Khan (2005) tìm ra ngưỡng lạm phát tối ưu ở các nước Trung Đông và Trung Á là khoảng 3,2%/năm, hay nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (2006) về mức độ lạm phát ở Việt Nam với các nước Đông Nam Á.

Một số hàm ý về chính sách

Năm 2017, Chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức 4%. Tuy nhiên, đây vẫn là mức cao hơn mức ngưỡng tối ưu (3,22%) đề cập trong nghiên cứu này.

Bên cạnh đó, tỷ lệ nhập siêu cũng ở mức cao so với dự trữ, mức thâm hụt ngân sách vẫn duy trì mức cao (thâm hụt chủ yếu từ kênh tiêu dùng), chính sách tiền tệ vẫn chưa thật sự linh hoạt, tăng trưởng tín dụng vẫn duy trì ở mức cao nhằm kích tăng trưởng.

Như đã phân tích, khi chỉ số lạm phát vượt ngưỡng tối ưu sẽ tạo hiệu ứng ngược lên tăng trưởng, Chính phủ muốn duy trì tăng trưởng cao buộc phải nới lỏng chính sách tài khóa hay tiền tệ, nhưng khi nới lỏng chính sách lại tạo cú hích cho lạm phát tăng trở lại.

Như vậy, trong năm 2017 và các năm tiếp theo, Chính phủ cần chú trọng các giải pháp tổng hợp, tiếp tục kiềm chế lạm phát đạt dưới 4% và tiến tới tiệm cận ngưỡng lạm phát tối ưu, có như vậy mới thật sự phát triển kinh tế đi kèm với ổn định giá cả và thu nhập cho người dân.

Tài liệu tham khảo:
 1.Friedman, Milton (1970) “A theoretical framework for Monetery Analysis”, Journal of Political Economy 78(2), 193-238;
2.Barnett, Vincent. John Maynard Keynes. London: Routledge, 2013. ISBN 978-0415567695;
3.Phan Lê Trung và Phạm Lê Thông (2014), Các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến lạm phát Việt Nam, Tạp chí Công nghệ ngân hàng, số 102 tháng 9/2014;
4.Nguyễn Đức Độ (2014), Quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát, tiết kiệm và đầu tư tại Việt Nam, Tạp chí Tài chính, số 2/2014.
———————-&&&———————

Các nhân tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng thành thị nông thôn ở Việt Nam từ 1992-2006

Các nhân tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng thành thị nông thôn ở Việt Nam từ 1992-2006

(Tác giả: Rui Takahash – Nguồn: http://vienthongke.vn)

1. Giới thiệu

Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, do vậy các chính sách hiện nay của Việt Nam đang tích cực đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa để đạt được mục tiêu này. Về lý thuyết, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thường kéo theo quá trình đô thị hóa. Thực vậy, theo lý thuyết của mô hình Harris-Torado, quá trình công nghiệp hóa kéo theo quá trình đô thị hóa và cũng là lúc xuất hiện dòng di cư từ nông thôn ra thành phố dẫn tới sự giảm dân số ở nông thôn. Trong một nghiên cứu thực tế ở Việt Nam nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc hiểu rõ khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ở Việt Nam rằng nếu khoảng cách này càng gia tăng thì sẽ càng thúc đẩy hiện tượng di cư từ nông thôn ra thành thị. Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi, dân số ở khu vực nông thôn ở Việt Nam tương đối ổn định trong thời kỳ đô thị hóa. Chúng tôi gọi đây là hiện tượng dân số nông thôn ổn định. Vậy, câu hỏi đặt ra là tại sao điều này lại diễn ra ở Việt Nam?

Bài nghiên cứu của chúng tôi sẽ tập trung đánh giá khoảng cách bất bình đẳng ở thành thị và nông thôn. Đồng thời, chúng tôi cũng sẽ xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khoảng cách bất bình đẳng này.

2. Thực trạng di cư từ nông thôn ra thành phố ở Việt Nam

3. Phương pháp đánh giá bất bình đẳng

4. Các nhân tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng ở thành thị và nông thôn

5. Kết luận

Thứ nhất, khoảng cách bất bình đẳng giữa thành thị nông thị ở Việt Nam gia tăng đến đầu những năm 2000 do quá trình công nghiệp hóa, tuy nhiên khu vực nông thôn không hấp thụ hết dân số nông thôn. Tuy nhiên, khoảng cách này là không lớn ở Việt Nam.

Thứ hai, lạm phát làm gia tăng mức chi tiêu cho đời sống của người dân là một nhân tố cản trở tình hình di cư từ nông thôn ra thành thị.

Thứ ba, sự gia tăng bất bình đẳng trong từng khu vực ở Việt Nam theo thời gian sẽ tạo nhiều cơ hội việc làm mới cho người dân ở nông thôn đặc biệt là ở các làng nghề thủ công mỹ nghệ hoặc trang trại ở khu vực nông thôn.

Trong nghiên cứu sắp tới, chúng tôi sẽ tiến hành tìm hiểu sâu hơn những nhân tố ảnh hưởng đến khoảng cách bất bình đẳng thành thị và nông thôn ở Việt Nam theo phương pháp tiếp cận của Blinder-Oaxaca.

Tài liệu tham khảo:

1. Số liệu thống kê, website Tổng cục Thống kê: http://www.gso.gov.vn, truy cập ngày 5/12/2014;

2. Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương, 2010, trang 278-280;

3. Cơ sở dữ liệu Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam qua các năm.

Biên dịch: Nghiêm Thị Vân – Vụ Thống kê Tổng hợp

Nguyễn Thị Phương – Trung tâm Tin học KV1

download bài viết đầy đủ: link



Ứng dụng của phương pháp phân rã chênh lệch Blinder-Oaxaca trong kinh tế

Mô hình Oaxaca – Blinder trong phân tích kinh tế

Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển

Phân tích sự khác biệt về đầu tư của doanh nghiệp theo hình thức sở hữu bằng phương pháp phân rã Oaxaca-Blinder

Phân rã chênh lệch tiền lương thành thị – nông thôn ở Việt Nam bằng phương pháp hồi quy phân vị

Phân tích chênh lệch thu nhập theo giới tính ở TP. Hồ Chí Minh bằng hồi quy phân vị

————————–&&&—————————

Sự tạo tiền trong nền kinh tế hiện đại

Sự tạo tiền trong nền kinh tế hiện đại

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Michael McLeay, Amar Radia và Ryland Thomas thuộc Ban Giám đốc Phân tích Tiền tệ của Ngân hàng[1].

  • Bài viết này cho thấy đa số tiền trong nền kinh tế hiện đại được tạo ra thông qua việc cho vay của các ngân hàng thương mại như thế nào.
  • Việc tạo tiền trong thực tế khác với một vài quan niệm sai lầm phổ biến- các ngân hàng không chỉ đơn thuần là như những trung gian, cho vay tiền gửi mà người gửi tiền kí gởi cho nó, và nó cũng không “nhân” (“multiply up”) tiền ngân hàng trung ương lên để tạo ra các khoản vay mới và tiền gửi mới.
  • Lượng tiền được tạo ra trong nền kinh tế rốt cuộc phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Trong thời kỳ bình thường, điều này được thực hiện bằng cách thiết lập những mức lãi suất. Ngân hàng trung ương cũng có thể tác động trực tiếp đến lượng tiền thông qua việc mua tài sản hay “nới lỏng định lượng” (“quantitative easing”).

Tổng quan

Trong nền kinh tế hiện đại, hầu hết tiền tồn tại dưới dạng tiền gửi ngân hàng (bank deposits). Nhưng cách thức mà những khoản tiền gửi ngân hàng được tạo ra đó thường bị hiểu sai: cách chính là thông qua việc cho vay của các ngân hàng thương mại. Bất cứ khi nào một ngân hàng tiến hành cho vay, nó đồng thời tạo ra một lượng tiền gửi tương ứng trong tài khoản ngân hàng của người đi vay, do đó tạo ra tiền mới.

Thực tế cách thức mà tiền được tạo ra ngày nay khác với sự mô tả trong một số giáo trình kinh tế học:

  • Thay vì các ngân hàng nhận tiền gửi khi hộ gia đình tiết kiệm và sau đó cho vay chúng, việc cho vay của ngân hàng tạo ra tiền gửi.
  • Trong thời kỳ bình thường, ngân hàng trung ương không ấn định lượng tiền lưu thông, tiền ngân hàng trung ương cũng không “nhân lên” thành nhiều khoản vay và tiền gửi.

Mặc dù các ngân hàng thương mại tạo tiền thông qua việc cho vay, nhưng nó không thể làm như vậy một cách tự do như không hề có ràng buộc gì. Các ngân hàng bị giới hạn lượng tiền mà nó có thể cho vay nếu nó muốn duy trì khả năng sinh lời trong một hệ thống ngân hàng cạnh tranh. Quy định thận trọng cũng đóng vai trò như một ràng buộc về các hoạt động của các ngân hàng nhằm duy trì khả năng phục hồi của hệ thống tài chính. Bên cạnh đó, hộ gia đình và doanh nghiệp, những chủ thể nhận tiền được tạo ra từ việc cho vay mới có thể có những hành động làm ảnh hưởng đến lượng cung tiền (stock of money). Ví dụ, họ có thể “phá hủy” tiền một cách nhanh chóng bằng cách sử dụng chúng để trả khoản nợ hiện tại của họ.

Chính sách tiền tệ đóng vai trò như ràng buộc cuối cùng của việc tạo tiền. Ngân hàng Anh cố gắng đảm bảo lượng tiền tạo ra trong nền kinh tế phù hợp với mức lạm phát thấp và ổn định. Trong thời kỳ bình thường, Ngân hàng Anh thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách qui định mức lãi suất đối với các khoản dự trữ ở ngân hàng trung ương. Điều này sau đó tác động đến một loạt các lãi suất trong nền kinh tế, bao gồm cả mức lãi suất cho vay của các ngân hàng.

Trong những trường hợp đặc biệt, khi các lãi suất nằm ở ngưỡng giới hạn thấp hơn hiệu quả (effective lower bound), sự tạo tiền và chi tiêu trong nền kinh tế vẫn có thể quá thấp để phù hợp với các mục tiêu của chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Một phản ứng có thể là thực hiện việc thu mua một loạt tài sản, hay “nới lỏng định lượng” (“quanlitative easing”- QE). QE được kì vọng nhằm tăng lượng tiền trong nền kinh tế một cách trực tiếp thông qua việc mua tài sản, chủ yếu là từ các công ty tài chính phi ngân hàng.

QE ban đầu làm tăng lượng tiền gửi ngân hàng mà những công ty đó nắm giữ (thay vì các tài sản mà nó bán). Những công ty đó sau đó sẽ muốn tái cấu trúc danh mục tài sản của nó bằng cách mua những tài sản có tỷ suất sinh lợi cao hơn. Điều này làm tăng giá của các tài sản đó và kích thích chi tiêu trong nền kinh tế.

Như một phụ phẩm của QE, những khoản dự trữ mới ở ngân hàng trung ương được tạo ra. Nhưng chúng không phải là một phần quan trọng của cơ chế truyền dẫn. Bài viết này giải thích làm thế nào, cũng giống như trong những thời kỳ bình thường, những khoản dự trữ này không thể được nhân thành nhiều khoản vay và tiền gửi, và làm thế nào những khoản dự trữ này không đại diện cho “tiền tự do – free money” của các ngân hàng.

Nhấp vào đây để xem một đoạn video ngắn, được quay ở các hầm vàng của Ngân hàng, thảo luận về một số chủ đề chính từ bài viết này.

Giới thiệu

“Tiền trong nền kinh tế hiện đại: một lời giới thiệu”, một bài viết đi kèm với bài viết này, cung cấp một cái nhìn tổng quan về những gì là tiền và các loại tiền khác nhau tồn tại trong một nền kinh tế hiện đại. Đồng thời nó đề cập ngắn gọn cách thức mà mỗi loại tiền được tạo ra. Bài viết này tìm hiểu sự tạo tiền trong nền kinh tế hiện đại một cách chi tiết hơn.

Bài viết này mở đầu bằng việc phác họa hai quan niệm sai lầm phổ biến về sự tạo tiền, và giải thích tại sao, trong nền kinh tế hiện đại, phần lớn tiền được tạo ra bởi việc cho vay của các ngân hàng thương mại.[2] Kế đến thảo luận về các ràng buộc đối với khả năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng, cũng như vai trò quan trọng của các chính sách của ngân hàng trung ương trong việc đảm bảo tăng trưởng tín dụng và tiền phù hợp với sự ổn định tiền tệ và tài chính trong nền kinh tế. Phần cuối cùng của bài viết này thảo luận về vai trò của tiền trong cơ chế truyền dẫn tiền tệ trong thời kỳ nới lỏng định lượng (QE), và xua tan những chuyện hoang đường xung quanh việc tạo tiền và QE. Một đoạn video ngắn giải thích một số chủ điểm được trình bày trong bài viết này.[3]

Hai quan niệm sai lầm về việc tạo ra tiền

Hầu hết tiền mà công chúng nắm giữ nằm dưới dạng tiền gửi ngân hàng. Nhưng “xuất thân” của lượng tiền gửi ngân hàng thường bị hiểu sai. Một quan niệm sai lầm phổ biến là các ngân hàng chỉ đơn thuần là những trung gian, cho vay tiền gửi mà người gửi tiền kí gởi cho nó. Theo quan điểm này tiền gửi điển hình được “tạo ra” thông qua các quyết định tiết kiệm của hộ gia đình, và sau đó các ngân hàng cho những người đi vay, ví dụ như cho các doanh nghiệp đang tìm kiếm nguồn tài trợ cho các khoản đầu tư, hay các cá nhân muốn mua nhà, “vay” những khoản tiền gởi hiện có.

Trong thực tế, khi các hộ gia đình lựa chọn để tiết kiệm thêm tiền trong tài khoản ngân hàng, những khoản tiết kiệm đó đơn giản chỉ gây thiệt thòi cho tiền kí gởi, vì nếu không tiết kiệm chúng đã được chuyển đến các doanh nghiệp nhằm thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ. Tiết kiệm không tự nó làm tăng tiền gởi hay “vốn khả dụng- funds available” để các ngân hàng cho vay. Thật vậy, việc xem các ngân hàng đơn thuần chỉ là những trung gian đã lờ đi sự thật rằng, trong thực tế của nền kinh tế hiện đại, các ngân hàng thương mại là những người tạo tiền gửi. Bài viết này cho thấy, hành động cho vay của các ngân hàng tạo ra tiền gửi, chứ không phải là các ngân hàng cho vay tiền gửi mà nó huy động được như thường được mô tả trong các giáo trình.[4]

Một quan niệm sai lầm phổ biến khác là ngân hàng trung ương quyết định lượng cho vay và tiền gửi trong nền kinh tế bằng cách kiểm soát lượng tiền ngân hàng trung ương- mà thường được gọi là phương pháp tiếp cận “số nhân của tiền”. Theo quan điểm đó, các ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách chọn một lượng dự trữ. Và, với giả định là tỉ lệ giữa lượng tiền theo nghĩa rộng và tiền cơ sở là không đổi, những khoản dự trữ này sau đó được “nhân lên” một sự thay đổi lớn hơn nhiều trong các khoản cho vay và tiền gửi ngân hàng. Theo lý thuyết đó, lượng dự trữ phải là một ràng buộc chặt đối với việc cho vay, và ngân hàng trung ương phải trực tiếp quyết định lượng dự trữ. Trong khi lý thuyết số nhân của tiền có thể là một cách hữu hiệu để giới thiệu tiền và ngân hàng trong các giáo trình kinh tế, nó không phải là một mô tả chính xác cách thức mà tiền được tạo ra trong thực tế. Thay vì kiểm soát lượng dự trữ, các ngân hàng trung ương ngày nay thường thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách thiết lập giá của các khoản dự trữ – tức các lãi suất.

Trong thực tế, dự trữ không phải là một ràng buộc chặt đối với việc cho vay, và cũng không phải ngân hàng trung ương cố định lượng dự trữ có sẵn. Giống như mối quan hệ giữa tiền gửi và tiền cho vay, mối quan hệ giữa dự trữ và tiền cho vay thường vận hành theo cách ngược với những gì được mô tả trong một số giáo trình kinh tế học. Các ngân hàng quyết định cho vay bao nhiêu trước hết phụ thuộc vào các cơ hội cho vay có khả năng sinh lời mà nó có – điều này sẽ phụ thuộc chủ yếu vào lãi suất được thiết lập bởi Ngân hàng (trung ương – ND) Anh. Những quyết định cho vay này quyết định bao nhiêu tiền gửi ngân hàng được tạo ra bởi hệ thống ngân hàng. Lượng tiền gửi ngân hàng tác động trở lại lượng tiền ngân hàng trung ương mà các ngân hàng muốn nắm giữ dưới dạng dự trữ (để đáp ứng việc rút tiền của công chúng, thanh toán cho các ngân hàng khác, hay đáp ứng các qui định về thanh khoản), mà trong thời kì bình thường, nó được cung ứng bởi Ngân hàng Anh. Phần còn lại của bài viết này thảo luận các vấn đề thực tiễn này một cách chi tiết hơn. Sự tạo tiền.

Sự tạo tiền trong thực tế

Cho vay tạo ra tiền gửi – Xác định tiền theo nghĩa rộng ở cấp độ tổng gộp

Như đã giải thích trong phần “Tiền trong nền kinh tế hiện đại: một lời giới thiệu”, tiền theo nghĩa rộng là thước đo của tổng lượng tiền mà hộ gia đình và doanh nghiệp trong nền kinh tế nắm giữ. Tiền theo nghĩa rộng bao gồm tiền gửi ngân hàng – mà chủ yếu là các giấy nợ (IOUs) từ các ngân hàng thương mại cho các hộ gia đình và doanh nghiệp – và tiền – phần lớn là các IOU từ ngân hàng trung ương.[5],[6] Trong hai loại tiền theo nghĩa rộng, tiền gửi ngân hàng chiếm đại đa số – 97% lượng tiền hiện đang lưu thông.[7] Và trong nền kinh tế hiện đại, các khoản tiền gửi ngân hàng đó chủ yếu do chính các ngân hàng thương mại tạo ra.

Các ngân hàng thương mại tạo tiền, dưới dạng tiền gửi ngân hàng, bằng cách cho vay mới. Khi một ngân hàng cho vay, ví dụ như cho một người nào đó vay thế chấp để mua nhà, thì thường không thực hiện theo cách đưa cho người đó hàng ngàn bảng Anh tiền giấy. Thay vào đó, nó ghi có trong tài khoản ngân hàng của người đó một khoản tiền gửi ngân hàng bằng khoản vay thế chấp. Khi đó, tiền mới được tạo ra. Vì lý do này, một số nhà kinh tế học đã xem khoản tiền gửi ngân hàng như là “bút tệ” – loại tiền được tạo ra từ nét bút của ngân hàng khi nó phê duyệt các khoản vay.[8]

Quá trình này được minh họa trong Hình 1, nó cho thấy việc cho vay mới tác động đến bảng cân đối kế toán của các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế như thế nào (sơ đồ bảng cân đối kế toán tương tự được giới thiệu trong phần “Tiền trong nền kinh tế hiện đại: một lời giới thiệu”). Như thể hiện trong hàng thứ ba của Hình 1, các khoản tiền gửi mới làm tăng tài sản của người tiêu dùng (ở đây đại diện cho hộ gia đình và doanh nghiệp) – các thanh màu đỏ thêm – và khoản vay mới làm tăng nợ của họ – các thanh màu trắng thêm. Tiền theo nghĩa rộng mới đã được tạo ra. Tương tự như vậy, cả hai bên trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng thương mại tăng lên bởi tiền mới và các khoản cho vay mới được tạo ra. Điều quan trọng cần lưu ý là mặc dù sơ đồ đơn giản của Hình 1 cho thấy lượng tiền mới được tạo ra đồng nhất với số tiền cho vay mới, trong thực tế sẽ có một vài yếu tố có thể khiến số tiền gởi khác với số tiền cho vay. Những điều này sẽ được thảo luận chi tiết trong phần tiếp theo.

Trong khi tiền theo nghĩa rộng mới được tạo ra trên bảng cân đối kế toán của người tiêu dùng, dòng đầu tiên của Hình 1 cho thấy rằng không có – ít nhất là ban đầu – bất kỳ sự thay đổi nào trong lượng tiền ngân hàng trung ương hay “tiền cơ sở”. Như đã thảo luận ở trên, lượng tiền gửi cao hơn có thể có nghĩa là các ngân hàng muốn hoặc bị bắt buộc nắm giữ thêm tiền ngân hàng trung ương để đáp ứng sự rút tiền của công chúng hoặc để thanh toán cho các ngân hàng khác. Và trong thời kỳ bình thường, các khoản dự trữ được Ngân hàng Anh đáp ứng “theo yêu cầu” của các ngân hàng thương mại thông qua việc trao đổi các tài sản khác trên bảng cân đối kế toán của nó. Chẳng có cách nào tổng lượng dự trữ ràng buộc trực tiếp lượng cho vay của ngân hàng hay sự tạo tiền gửi.

Mô tả về sự tạo tiền này trái ngược với quan niệm cho rằng các ngân hàng chỉ có thể cho vay tiền có sẵn từ trước (pre-existing money), như nêu ở phần trên. Tiền gửi ngân hàng chỉ đơn giản là một sự ghi nhận về số tiền mà chính ngân hàng nợ khách hàng. Vì vậy, chúng là một khoản nợ của ngân hàng, chứ không phải là một tài sản có thể cho vay. Một quan niệm sai lầm liên quan là các ngân hàng có thể cho vay khoản dự trữ của họ. Khoản dự trữ chỉ có thể được cho vay giữa các ngân hàng, vì người tiêu dùng không có tài khoản dự trữ tại Ngân hàng Anh.[9]

Hình 1: Sự tạo tiền từ việc cho vay thêm của khu vực ngân hàng(a)

Các cách khác để tạo và phá hủy tiền gửi

Cũng giống như việc cho vay mới tạo ra tiền, thì việc hoàn trả khoản vay ngân hàng sẽ phá hủy tiền.[10] Ví dụ, giả sử một người tiêu dùng đã tiêu tiền trong siêu thị suốt cả tháng bằng thẻ tín dụng. Mỗi lần mua hàng bằng thẻ tín dụng sẽ làm tăng dư nợ trên bảng cân đối kế toán của người tiêu dùng và tiền gửi trên bảng cân đối kế toán của siêu thị (theo cách tương tự như trong Hình 1). Nếu người tiêu dùng sau đó thanh toán đầy đủ hóa đơn thẻ tín dụng của họ vào cuối tháng, thì ngân hàng sẽ giảm lượng tiền gửi trong tài khoản của người tiêu dùng một lượng đúng bằng giá trị của hóa đơn thẻ tín dụng, do đó phá hủy tất cả số tiền mới được tạo ra.

Các ngân hàng cho vay và người tiêu dùng hoàn trả chúng là những cách quan trọng nhất để tạo ra và phá hủy tiền gửi ngân hàng trong nền kinh tế hiện đại. Nhưng chúng không phải là những cách duy nhất. Sự tạo tiền gửi hay phá hủy cũng sẽ xảy ra bất cứ lúc nào khi khu vực ngân hàng (bao gồm cả ngân hàng trung ương) mua hay bán tài sản hiện có từ hay cho người tiêu dùng, hoặc thường xuyên hơn là từ các doanh nghiệp hay chính phủ.

Các ngân hàng mua và bán trái phiếu chính phủ là một cách đặc biệt quan trọng trong việc mua hay bán tài sản hiện có bởi các ngân hàng để tạo và phá hủy tiền. Các ngân hàng thường mua và nắm giữ trái phiếu chính phủ như là một phần trong danh mục các tài sản thanh khoản của họ, cái mà có thể bán được nhanh chóng để lấy tiền ngân hàng trung ương, ví dụ như những người gửi tiền muốn rút tiền với số tiền lớn.[11] Khi các ngân hàng mua trái phiếu chính phủ từ khu vực tư nhân phi ngân hàng, nó thanh toán cho người bán dưới dạng tiền gửi ngân hàng.[12] Và, như sẽ thảo luận ở phần sau của bài báo này, việc mua tài sản của ngân hàng trung ương, được gọi là nới lỏng định lượng (QE), có những hệ quả tương tự như sự tạo tiền.

Tiền cũng có thể bị phá hủy thông qua việc phát hành các công cụ nợ dài hạn và vốn cổ phần của ngân hàng. Ngoài khoản tiền gửi, các ngân hàng còn giữ các khoản nợ khác trên bảng cân đối kế toán của mình. Các ngân hàng quản lý các khoản nợ của mình để đảm bảo rằng nó có ít nhất một số vốn và nợ dài hạn để giảm thiểu những rủi ro nhất định và đáp ứng các yêu cầu pháp lý. Bởi vì những khoản nợ “không phải là khoản tiền gửi” này thể hiện các khoản đầu tư dài hạn vào hệ thống ngân hàng của các hộ gia đình và doanh nghiệp nên chúng không thể chuyển thành tiền dễ dàng như tiền gửi ngân hàng và do đó làm tăng khả năng hồi phục của ngân hàng. Khi các ngân hàng phát hành các công cụ nợ dài hạn và vốn cổ phần này cho các công ty tài chính phi ngân hàng, thì các công ty đó phải trả cho các ngân hàng bằng tiền gửi ngân hàng. Điều đó làm giảm lượng tiền gửi, hay tiền, hay nợ trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng và làm tăng nợ không phải là tiền gửi.[13]

Mua bán tài sản hiện có và phát hành nợ dài hạn có thể dẫn đến khoảng cách giữa lượng tiền cho vay và tiền gửi trong nền kinh tế đóng. Bên cạnh đó, trong một nền kinh tế mở như Anh, tiền gửi có thể chuyển từ người dân trong nước cho người nước ngoài, hoặc tiền gửi bằng đồng bảng Anh có thể được chuyển thành tiền gửi ngoại tệ. Bản thân các giao dịch này không phá hủy tiền, nhưng tiền gửi của người nước ngoài và tiền gửi ngoại tệ không phải lúc nào cũng được tính như một phần của cung tiền của một quốc gia.

Những ràng buộc đối với sự tạo tiền theo nghĩa rộng

Mặc dù các ngân hàng thương mại tạo tiền thông qua hành vi cho vay của nó, nhưng nó không thể thực hiện điều đó mà không có ràng buộc gì. Cụ thể, giá của khoản vay – tức là lãi suất (bao gồm tất cả các loại phí) mà các ngân hàng tính – quyết định lượng tiền mà hộ gia đình và các doanh nghiệp muốn vay. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giá của khoản vay mới. Đặc biệt là chính sách tiền tệ của Ngân hàng Anh, nó tác động đến các mức lãi suất khác nhau trong nền kinh tế.

Các ràng buộc của việc tạo tiền từ hệ thống ngân hàng đã được thảo luận trong một bài báo của nhà kinh tế học đoạt giải Nobel – James Tobin, và chủ đề này gần đây đã là đề tài tranh luận giữa các nhà bình luận kinh tế với các blogger.[14] Trong nền kinh tế hiện đại, có ba nhóm ràng buộc chính hạn chế lượng tiền mà các ngân hàng có thể tạo ra.

(i)    Bản thân các ngân hàng phải đối mặt với ràng buộc về số tiền mà nó có thể cho vay. Đặc biệt:

  • Các tác lực thị trường hạn chế cho vay, bởi vì mỗi ngân hàng phải có khả năng cho vay sinh lãi trong một thị trường cạnh tranh.
  • Cho vay cũng bị ràng buộc bởi vì các ngân hàng phải thực hiện các bước để giảm thiểu các rủi ro liên quan đến việc cho vay thêm.
  • Chính sách pháp lý đóng vai trò như một ràng buộc đối với các hoạt động của ngân hàng nhằm giảm thiểu rủi ro có thể đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính.

(ii)   Việc tạo tiền cũng bị ràng buộc bởi hành vi của những người nắm giữ tiền – hộ gia đình và doanh nghiệp. Hộ gia đình và doanh nghiệp nhận tiền mới được tạo ra có thể phản ứng bằng cách thực hiện các giao dịch phá huỷ tiền ngay lập tức, ví dụ bằng cách hoàn trả các khoản dư nợ.

(iii)  Ràng buộc cuối cùng đối với việc tạo tiền là chính sách tiền tệ. Thông qua việc tác động đến các mức lãi suất trong nền kinh tế, chính sách tiền tệ của Ngân hàng Anh tác động đến số tiền mà hộ gia đình và doanh nghiêp muốn vay. Điều này không chỉ xảy ra trực tiếp thông qua việc tác động đến các lãi suất cho vay của các ngân hàng, mà còn xảy ra gián tiếp thông qua tác động tổng thể của chính sách tiền tệ đối với hoạt động kinh tế trong nền kinh tế. Kết quả là Ngân hàng Anh có thể đảm bảo tăng trưởng tiền tệ phù hợp với mục tiêu lạm phát thấp và ổn định.

Phần còn lại của mục này giải thích xem trong thực tiễn mỗi cơ chế này hoạt động như thế nào.

(i)  Các ràng buộc đối với số tiền mà các ngân hàng có thể cho vay.

Các tác lực thị trường mà mỗi ngân hàng đang phải đối mặt.

Hình 1 cho thấy, đối với toàn khu vực ngân hàng, các khoản vay được tạo ra ban đầu tương thích với các khoản tiền gửi như thế nào. Nhưng điều đó không có nghĩa là bất kỳ một ngân hàng nào cũng có thể tự do cho vay và tạo ra tiền mà không ràng buộc gì. Đó là vì các ngân hàng phải có khả năng cho vay sinh lời trong một thị trường cạnh tranh và đảm bảo rằng nó có thể quản lý đầy đủ những rủi ro liên quan đến việc cho vay.

Các ngân hàng nhận được các khoản thanh toán lãi đối với tài sản của nó, chẳng hạn như các khoản cho vay, nhưng nó cũng thường phải trả lãi trên các khoản nợ của nó, chẳng hạn như các tài khoản tiết kiệm. Mô hình kinh doanh của một ngân hàng dựa vào việc nhận được lãi suất đối với các khoản cho vay (hoặc các tài sản khác) cao hơn so với lãi suất phải trả cho tiền gửi (hoặc các khoản nợ khác). Cả lãi suất đối với tài sản và lãi suất đối với nợ của các ngân hàng đều phụ thuộc vào lãi suất chính sách do Ngân hàng Anh đưa ra, điều này đóng vai trò như ràng buộc cuối cùng trong việc tạo tiền. Ngân hàng thương mại sử dụng khoản chênh lệch, hay sai lệch lãi, giữa tiền lãi kỳ vọng trên tài sản và tiền lãi đối với nợ để trang trải cho chi phí hoạt động của nó và tạo ra lợi nhuận.[15] Để cho vay thêm, mỗi ngân hàng thường phải giảm lãi suất cho vay xuống thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh của nó nhằm thúc đẩy hộ gia đình và doanh nghiệp vay nhiều hơn. Và một khi nó đã cho vay, nó có thể “mất” tiền gửi mà nó đã tạo ra “về tay” các ngân hàng cạnh tranh đó. Tất cả các yếu tố này đều tác động đến khả năng sinh lời trong việc cho vay của mỗi ngân hàng và tác động đến lượng tiền cho vay.

Ví dụ, giả sử một ngân hàng nào đó giảm lãi suất cho vay của mình, và thu hút một hộ gia đình thực hiện một khoản vay thế chấp để mua nhà. Tại thời điểm khoản vay thế chấp được xác lập, tài khoản của hộ gia đình được ghi có tiền gửi mới. Và một khi họ mua nhà, họ chuyển khoản tiền gửi mới của họ cho người bán nhà. Tình huống này được mô tả trong hàng đầu tiên của Hình 2. Người mua sở hữu một tài sản mới dưới hình thức một ngôi nhà và một khoản nợ mới dưới hình thức một khoản vay mới. Người bán sở hữu tiền dưới hình thức tiền gửi ngân hàng thay vì một ngôi nhà. Nhiều khả năng tài khoản của người bán và tài khoản của người mua không phải được mở ở cùng một ngân hàng. Vì vậy, khi giao dịch diễn ra, các khoản tiền gửi mới sẽ được chuyển đến ngân hàng của người bán, như mô tả trong dòng thứ hai của Hình 2. Ngân hàng của người mua sau đó sẽ có ít tiền gửi hơn tài sản. Ban đầu, ngân hàng của người mua sẽ thanh toán cho ngân hàng của người bán bằng cách chuyển những khoản dự trữ. Nhưng điều đó sẽ khiến ngân hàng của người mua có ít dự trữ và khoản cho vay so với tiền gửi hơn trước. Đây có thể là vấn đề đối với ngân hàng vì nó sẽ làm tăng rủi ro không thể đáp ứng được tất cả các dòng tiền khả dĩ. Và, trong thực tế, mỗi ngày các ngân hàng thực hiện nhiều khoản cho vay như vậy. Bởi vậy, nếu một ngân hàng nào đó tài trợ tất cả các khoản cho vay mới theo cách này, nó sẽ nhanh chóng hết sạch dự trữ.

Hình 2: Sự tạo tiền khi một ngân hàng nào đó tiến hành cho vay thêm.

Do đó, các ngân hàng cố gắng thu hút hoặc dành lại nợ bổ sung song song với khoản cho vay mới. Trên thực tế, các ngân hàng khác cũng sẽ cho vay mới và tạo ra các khoản tiền gửi mới, vì vậy có một cách để họ có thể thực hiện điều này là cố gắng thu hút một vài khoản tiền gửi mới được tạo ra. Trong một thị trường ngân hàng cạnh tranh, điều đó có thể làm tăng lãi suất tiết kiệm dành cho hộ gia đình. Thông qua việc thu hút các khoản tiền gửi mới, ngân hàng có thể tăng dư nợ tín dụng mà không bị cạn kiệt dự trữ, như mô tả trong hàng thứ ba của Hình 2. Ngoài ra, một ngân hàng có thể vay từ các ngân hàng khác hoặc thu hút các hình thức nợ khác, ít nhất là tạm thời. Tuy nhiên, dù thông qua các khoản tiền gửi hay các khoản nợ khác, ngân hàng cần đảm bảo thu hút và giữ lại một số loại vốn để tiếp tục cho vay. Và chi phí của nó cần phải được đo lường dựa trên lãi suất mà ngân hàng dự kiến ​​sẽ kiếm được từ các khoản cho vay mà nó đang thực hiện, và mức lãi suất này phụ thuộc vào mức Lãi suất Ngân hàng được qui định bởi Ngân hàng Anh. Ví dụ, nếu một ngân hàng tiếp tục thu hút những người đi vay mới và tăng cường cho vay bằng cách giảm lãi suất đối với các khoản vay thế chấp, và tìm cách thu hút các khoản tiền gửi mới bằng cách tăng lãi suất đối với tiền gửi của khách hàng thì nó có thể sớm nhận ra rằng việc tiếp tục mở rộng cho vay sẽ không có lời. Bởi vậy, sự cạnh tranh cho vay và tiền gửi, cũng như mong muốn có lợi nhuận, sẽ hạn chế việc tạo tiền của các ngân hàng.

Quản lý rủi ro liên quan đến việc cho vay

Các ngân hàng cũng cần phải quản lý các rủi ro liên quan đến việc cho vay mới. Một cách để thực hiện điều này là đảm bảo rằng họ thu hút các khoản tiền gửi tương đối ổn định để phù hợp với các khoản cho vay mới của họ, đó là các khoản tiền gửi không có xu hướng hoặc không thể được rút ra với một lượng lớn. Điều này có thể đóng vai trò như một ràng buộc bổ sung đối với số tiền mà các ngân hàng có thể cho vay. Ví dụ, nếu tất cả các khoản tiền gửi mà ngân hàng nắm giữ đều ở dạng tài khoản rút tiền nhanh (tức rút tiền mà không cần báo trước – instant access accounts), chẳng hạn như tài khoản vãng lai, thì ngân hàng có thể sẽ phải gánh chịu rủi ro đối với nhiều khoản tiền gửi này trong trường hợp chúng được rút ra trong một khoảng thời gian ngắn. Bởi vì các ngân hàng có xu hướng cho vay với kì hạn nhiều tháng hoặc nhiều năm, nên ngân hàng có khả năng không thể hoàn trả tất cả các khoản tiền gửi đó – nó sẽ phải đối mặt với rất nhiều rủi ro thanh khoản. Để giảm rủi ro thanh khoản, các ngân hàng cố gắng đảm bảo rằng một số khoản tiền gửi của họ ổn định trong một khoảng thời gian nhất định hoặc kỳ hạn.[16] Người tiêu dùng có khuynh hướng yêu cầu sự bù đắp cho sự bất tiện khi nắm giữ các khoản tiền gửi dài hạn. Tuy nhiên, những điều này có khuynh hướng làm tăng chi phí cho các ngân hàng, hạn chế số lượng các ngân hàng cho vay muốn thực hiện. Và như đã thảo luận ở trên, nếu các ngân hàng phòng ngừa rủi ro thanh khoản bằng cách phát hành nợ dài hạn, điều này có thể phá hủy tiền trực tiếp khi các doanh nghiệp thanh toán chúng bằng cách sử dụng tiền gửi.

Việc cho vay của mỗi ngân hàng cũng bị giới hạn bởi sự cân nhắc đến rủi ro tín dụng. Đây là rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt khi những người đi vay không có khả năng trả nợ. Phần nào, các ngân hàng có thể phòng ngừa rủi ro tín dụng bằng cách có đủ vốn để hấp thụ bất kỳ tổn thất không mong đợi nào đối với các khoản cho vay của họ. Nhưng vì các khoản cho vay sẽ luôn tồn tại một vài rủi ro khiến các ngân hàng chịu tổn thất, chi phí của những tổn thất này sẽ được tính đến khi định giá các khoản cho vay. Khi một ngân hàng cho vay, lãi suất mà nó tính sẽ thường bao gồm khoản bù đắp cho tổn thất tín dụng trung bình mà ngân hàng dự kiến sẽ gánh chịu. Tỷ trọng của thành phần này trong lãi suất sẽ lớn hơn khi các ngân hàng ước tính họ sẽ phải gánh chịu tổn thất cao hơn, ví dụ như khi cho người vay thế chấp vay với tỷ lệ cho vay/giá trị tài sản thế chấp cao. Khi các ngân hàng mở rộng cho vay, tổn thất dự kiến trung bình trên mỗi đơn vị tín dụng có khuynh hướng tăng lên, khiến cho các khoản cho vay này giảm khả năng sinh lời. Điều này càng hạn chế số lượng các ngân hàng cho vay có thể kiếm được lợi nhuận, và lượng tiền nó có thể tạo ra.

Các tác lực thị trường không phải lúc nào cũng khiến cho mỗi ngân hàng phòng ngừa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng một cách thích đáng. Do đó, quy định thận trọng nhằm đảm bảo rằng các ngân hàng không chấp nhận rủi ro quá mức khi cho vay mới, bao gồm thông qua các yêu cầu về vốn của ngân hàng và các trạng thái thanh khoản (liquidity positions). Bởi vậy, các yêu cầu này có thể đóng vai trò như một sự kiềm hãm bổ sung đối với số tiền mà các ngân hàng thương mại tạo ra bằng cách cho vay. Khung pháp lý thận trọng, cùng với chi tiết về vốn và tính thanh khoản, được mô tả trong Farag, Harland và Nixon (2013).

Cho đến phần này, chúng ta đã được xem xét trường hợp của một ngân hàng riêng lẻ thực hiện các khoản cho vay thêm bằng cách đưa ra mức lãi suất cạnh tranh – cả lãi suất vay lẫn lãi suất tiền gửi. Nhưng nếu tất cả các ngân hàng đồng loạt quyết định nỗ lực để cho vay nhiều hơn, sự tăng trưởng tiền có thể không bị giới hạn theo cách tương tự. Mặc dù mỗi ngân hàng có thể mất các khoản tiền gửi “về tay” các ngân hàng khác, nhưng chính nó cũng có thể nhận được một số khoản tiền gửi khi các ngân hàng khác cho vay.

Có nhiều lý do khiến nhiều ngân hàng có thể lựa chọn tăng cho vay một cách đáng kể cùng một lúc. Ví dụ, khả năng sinh lời của việc cho vay ở một mức lãi suất nào đó có thể tăng do sự cải thiện chung về các điều kiện kinh tế. Hoặc các ngân hàng có thể quyết định cho vay nhiều hơn nếu họ nhận thấy những rủi ro liên quan đến việc cho hộ gia đình và doanh nghiệp vay đã giảm. Kiểu tiến triển này đôi khi được cho là một trong những lý do khiến ngân hàng mở rộng cho vay nhiều đến mức dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính.[17] Nhưng nếu nhận thức về một môi trường ít rủi ro hơn là thiếu cơ sở,  thì có thể khiến cho hệ thống tài chính trở nên mong manh hơn.[18] Một trong những phản ứng đối với cuộc khủng hoảng ở Vương quốc Anh là sự thành lập một cơ quan chuyên trách sự thận trọng vĩ mô (macroprudential authority), Ủy ban Chính sách Tài chính, để xác định, giám sát và hành động nhằm giảm hoặc loại bỏ các rủi ro đe dọa khả năng phục hồi của toàn hệ thống tài chính.[19]

(ii) Những ràng buộc phát sinh từ phản ứng của hộ gia đình và doanh nghiệp

Ngoài nhóm ràng buộc từ phía các ngân hàng trong việc hạn chế sự tạo tiền, hành vi của hộ gia đình và doanh nghiệp đối với việc tạo tiền của ngành ngân hàng cũng có thể rất quan trọng, như lập luận của Tobin. Hành vi của khu vực tư phi ngân hàng ảnh hưởng đến tác động cuối cùng của việc tạo tín dụng của ngành ngân hàng lên cung tiền vì có thể tạo ra nhiều tiền hơn (hoặc ít hơn) lượng họ muốn giữ so với các tài sản khác (như của cải hoặc cổ phần). Bởi hộ gia đình và doanh nghiệp vay nợ vì họ muốn chi tiêu nhiều hơn, họ sẽ nhanh chóng chuyển tiền cho người khác khi họ chi tiêu. Cách thức mà hộ gia đình và doanh nghiệp phản ứng sẽ quyết định lượng cung tiền trong nền kinh tế, và có khả năng tác động đến chi tiêu cũng như lạm phát.

Có hai khả năng chính cho những gì có thể xảy ra đối với các khoản tiền gửi mới được tạo ra. Thứ nhất, theo ý kiến của Tobin, tiền có thể nhanh chóng bị phá hủy nếu hộ gia đình hay doanh nghiệp nhận tiền sau khi khoản vay được phê duyệt và sử dụng nó để trả nợ ngân hàng. Điều này đôi khi được gọi là “lý thuyết hồi lưu” (“reflux theory”).[20] Ví dụ, người mua nhà lần đầu có thể thực hiện một khoản vay thế chấp để mua một ngôi nhà từ một người cao tuổi, người mà sau đó hoàn trả khoản vay thế chấp hiện tại của mình và cùng gia đình dọn đến nơi ở mới. Như đã thảo luận ở trên, việc hoàn trả khoản vay ngân hàng sẽ phá huỷ tiền giống y như việc cho vay tạo ra nó. Vì vậy, trong trường hợp này, bảng cân đối kế toán của người tiêu dùng trong nền kinh tế sẽ trở lại trạng thái giống như trước khi khoản vay được thực hiện.

Khả năng thứ hai có thể xảy ra là việc tạo thêm tiền của các ngân hàng có thể thúc đẩy chi tiêu trong nền kinh tế. Để khoản tiền mới tạo ra bị phá hủy, nó cần phải chuyển đến hộ gia đình và doanh nghiệp mà muốn hoàn trả những khoản vay hiện tại. Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào cũng đúng, bởi vì tài sản và nợ mà các chủ thể trong nền kinh tế nắm giữ có xu hướng khác nhau đáng kể.[21] Thay vào đó, ban đầu tiền có thể chuyển đến tay những hộ gia đình hay những doanh nghiệp có tài sản tài chính lạc quan: người cao tuổi có thể đã trả hết khoản vay thế chấp của họ, hay một công ty nhận được tiền thanh toán và có đủ tài sản thanh khoản để trang trải những chi phí hợp lý. Khi đó, họ có thể nắm giữ nhiều tiền hơn họ muốn, và cố gắng giảm số tiền “dư thừa- excess” bằng cách tăng chi tiêu cho hàng hoá và dịch vụ. (Trong trường hợp đối với một doanh nghiệp, nó có thể mua các tài sản khác mà có khả năng sinh lời cao hơn).

Hai kịch bản cho những gì có thể xảy ra với tiền mới được tạo ra này – bị phá hủy nhanh chóng hoặc được luân chuyển qua con đường chi tiêu – có những hệ quả rất khác nhau đối với hoạt động kinh tế. Trong trường hợp thứ hai, tiền có thể tiếp tục được luân chuyển giữa các hộ gia đình và các doanh nghiệp khác nhau, kết quả là mỗi chủ thể có thể tăng cường chi tiêu. Quá trình này – đôi khi được gọi là hiệu ứng “khoai tây nóng – hot potato” – có thể dẫn đến, sự gia tăng áp lực lạm phát của nền kinh tế.[22] Ngược lại, nếu tiền bị phá hủy nhanh như trong kịch bản thứ nhất thì sẽ không có tác động gì thêm đối với nền kinh tế.

Cho đến phần này chúng ta đã thảo luận hành động của các ngân hàng, hộ gia đình và doanh nghiệp có thể tác động đến lượng tiền trong nền kinh tế, và do đó ảnh hưởng đến áp lực lạm phát như thế nào. Nhưng yếu tố quyết định cuối cùng của những trạng thái tiền tệ trong nền kinh tế chính là chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương.

(iii)         Chính sách tiền tệ- ràng buộc cuối cùng đối với việc tạo tiền

Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của Ngân hàng Trung ương Anh là đảm bảo ổn định tiền tệ bằng cách giữ cho mức lạm phát giá tiêu dùng theo đúng lộ trình nhằm đạt mục tiêu 2% mà Chính phủ đề ra. Và, như đã thảo luận trong hộp ở các trang 16-21 (của nguyên tác – ND), qua từng thời kỳ, các thước đo khác nhau của tiền đã tăng trưởng với tốc độ tương đương với chi tiêu danh nghĩa – chỉ tiêu quyết định áp lực lạm phát của nền kinh tế trong trung hạn. Bởi vậy, thiết lập chính sách tiền tệ thích hợp để đạt được mục tiêu lạm phát cần phải đảm bảo tốc độ tăng trưởng tín dụng và sự tạo tiền ổn định, phù hợp với mục tiêu đó. Phần này giải thích mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và các loại tiền khác nhau.

Trong những giai đoạn bình thường, Ủy ban Chính sách Tiền tệ (MPC), giống như hầu hết các cơ quan tương đương với nó ở các nước khác, thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách thiết lập các mức lãi suất ngắn hạn, cụ thể thiết lập mức lãi suất mà ngân hàng trung ương phải trả cho các ngân hàng thương mại khi nắm giữ các khoản dự trữ của ngân hàng thương mại.Có thể làm được điều này là vì vị thế của Ngân hàng như là nhà cung cấp độc quyền về tiền ngân hàng trung ương ở Vương quốc Anh. Và bởi vì tồn tại nhu cầu về tiền ngân hàng trung ương – phương tiện thanh toán cuối cùng của các ngân hàng, những chủ thể tạo tiền theo nghĩa rộng – điều này khiến cho giá của các khoản dự trữ có tác động có ý nghĩa đối với các mức lãi suất khác trong nền kinh tế.

Lãi suất mà các ngân hàng thương mại có thể kiếm được từ việc kí gởi tiền tại ngân hàng trung ương tác động đến lãi suất mà họ sẵn sàng cho vay với các điều khoản tương tự trong các thị trường đồng bảng Anh – thị trường mà ở đó Ngân hàng và các ngân hàng thương mại cho nhau vay và cho các định chế tài chính khác vay. Chi tiết chính xác về cách thức Ngân hàng sử dụng hoạt động thị trường tiền tệ để thực hiện chính sách tiền tệ đã thay đổi theo thời gian, và các quy trình hoạt động của ngân hàng trung ương ngày nay khác nhau ở các nước khác nhau, như đã thảo luận trong Clews, Salmon và Weeken (2010).[23] Sự thay đổi trong lãi suất liên ngân hàng sau đó làm thay đổi hàng loạt lãi suất ở các thị trường khác nhau và ở các kì hạn khác nhau, bao gồm cả lãi suất cho vay và lãi suất huy động của các ngân hàng.[24] Bằng cách ảnh hưởng đến giá tín dụng theo cách này, Chính sách tiền tệ tác động đến việc tạo tiền theo nghĩa rộng.

Sự mô tả mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và tiền này khác với sự mô tả được đề cập trong nhiều giáo trình, mà ở đó các ngân hàng trung ương quyết định lượng tiền theo nghĩa rộng qua một “số nhân của tiền” bằng cách chủ động thay đổi lượng dự trữ.[25] Theo quan điểm đó, các ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách chọn lượng dự trữ. Và với giả định tỷ số giữa tiền theo nghĩa rộng và tiền cơ sở là không đổi, những khoản dự trữ này sẽ được “nhân lên” dẫn đến sự thay đổi lớn hơn trong tiền gửi ngân hàng do các ngân hàng tăng cho vay và tiền gửi.

Không phải bước nào trong câu chuyện đó cũng mô tả chính xác mối liên hệ giữa tiền và chính sách tiền tệ trong nền kinh tế hiện đại. Các ngân hàng trung ương thường không chọn một lượng dự trữ để đạt được mức lãi suất ngắn hạn mong muốn.[26] Thay vào đó, họ tập trung vào giá – thiết lập các mức lãi suất.[27] Ngân hàng Anh kiểm soát các mức lãi suất bằng cách cung ứng và trả lãi cho những khoản dự trữ ở mức lãi suất chính sách đã chọn. Cung về cả dự trữ và tiền (chúng cùng tạo nên tiền cơ sở) được quyết định thông qua cầu về dự trữ của các ngân hàng nhằm thanh toán các khoản trả và đáp ứng cầu tiền của khách hàng- cầu mà ngân hàng trung ương thường phải thích ứng.

Bởi vậy, cầu về tiền cơ sở này có xu hướng là hệ quả chứ không phải là nguyên nhân của việc các ngân hàng cho vay và tạo tiền theo nghĩa rộng. Điều này là do các quyết định mở rộng tín dụng của các ngân hàng được dựa trên các cơ hội cho vay sinh lời hiện có ở bất kỳ thời điểm nào. Khả năng sinh lời của việc cho vay sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như đã thảo luận ở trên. Một trong số đó là chi phí của các nguồn vốn mà các ngân hàng phải gánh chịu, chi phí này liên quan mật thiết đến lãi suất trả cho các khoản dự trữ, lãi suất chính sách.

Ngược lại, lượng dự trữ hiện có trong hệ thống không ràng buộc việc tạo tiền theo nghĩa rộng thông qua hoạt động cho vay.[28] Trụ đỡ này của số nhân của tiền đôi khi được thúc đẩy bằng cách thu hút các yêu cầu dự trữ của ngân hàng trung ương, theo đó các ngân hàng có nghĩa vụ nắm giữ một lượng tiền dự trữ tối thiểu theo một tỷ lệ cố định với lượng tiền gửi mà họ nắm giữ. Tuy nhiên, các yêu cầu dự trữ không phải là một khía cạnh quan trọng của khung chính sách tiền tệ ở hầu hết các nền kinh tế tiên tiến hiện nay.[29]

Một quan điểm mơ hồ hơn của chính sách tiền tệ là có thể làm tăng lượng tiền theo nghĩa rộng bằng cách giảm lãi suất vay và tăng dư nợ cho vay. Và một lượng tiền theo nghĩa rộng lớn hơn, đi cùng với mức chi tiêu tăng lên trong nền kinh tế, có thể khiến các ngân hàng và khách hàng có nhu cầu về dự trữ và tiền nhiều hơn.[30] Bởi vậy, trên thực tế, lý thuyết về số nhân của tiền hoạt động ngược với cách thức mà thường được mô tả.

QE – Sự tạo tiền theo nghĩa rộng trực tiếp với chính sách tiền tệ

Phần trước đã thảo luận chính sách tiền tệ có thể được xem như ràng buộc cuối cùng đối với việc tạo tiền của các ngân hàng thương mại như thế nào. Nhưng các ngân hàng thương mại vẫn còn có thể tạo một khoản tiền quá nhỏ để phù hợp với việc đáp ứng mục tiêu lạm phát của nền kinh tế. Trong những thời kỳ bình thường, MPC có thể phản ứng bằng cách hạ lãi suất chính sách để khuyến khích cho vay nhiều hơn và do đó tạo ra nhiều tiền hơn. Nhưng, để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính, MPC đã giảm lãi suất Ngân hàng xuống còn 0.5%- thường được gọi là giới hạn thấp hơn hiệu quả (the so-called effective lower bound).

Một khi các lãi suất ngắn hạn đạt đến mức giới hạn thấp hơn hiệu quả, ngân hàng trung ương không thể cung cấp thêm kích thích cho nền kinh tế bằng cách giảm lãi suất đối với các khoản dự trữ được hưởng lãi.[31] Một cách có thể cung cấp thêm kích thích tiền tệ cho nền kinh tế là thông qua một chương trình mua tài sản (QE). Giống như việc giảm lãi suất Ngân hàng, việc mua tài sản là cách mà MPC có thể nới lỏng quan điểm chính sách tiền tệ nhằm kích thích hoạt động kinh tế và đạt được mục tiêu lạm phát. Nhưng vai trò của tiền trong hai chính sách là không giống nhau.

Thông tin về các loại tiền khác nhau và tổng khối lượng tiền

Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của Ngân hàng Anh là đảm bảo ổn định tiền tệ bằng cách giữ lạm phát theo đúng lộ trình nhằm đạt được mục tiêu 2% của Chính phủ. Milton Friedman (1963) đã đưa ra lập luận nổi tiếng rằng “lạm phát luôn luôn và bất kì đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ”. Vì vậy, sự thay đổi trong cung tiền có thể chứa đựng thông tin có giá trị về chi tiêu và áp lực lạm phát trong nền kinh tế. Vì tiền là thứ thiết yếu để mua hàng hoá và dịch vụ, nên có thể chứa đựng thông tin xác thực (corroborative information) về mức chi tiêu danh nghĩa hiện tại trong nền kinh tế. Nó cũng có thể cung cấp thông tin bổ sung (incremental information) về các biến động trong tương lai của chi tiêu danh nghĩa và do đó có thể là một chỉ báo hữu ích về áp lực lạm phát trong tương lai. Cuối cùng, hành vi của tiền có thể giúp tiết lộ bản chất của cơ chế truyền dẫn tiền tệ, đặc biệt khi chính sách tiền tệ được vận hành thông qua “nới lỏng định lượng” (QE).

Trên thực tế, khó khăn chính là đánh giá xem những thước đo nào của tiền là những thước đo thích hợp để xem xét cho từng mục đích khác nhau. Ngân hàng gần đây xây dựng nhiều loại đại lượng tổng gộp về tiền và công bố một loạt các dữ liệu giúp tính được chúng, được tóm tắt trong Bảng 1. Biểu đồ A cho thấy một số chuỗi thời gian dài hạn trong quá khứ của sự tăng trưởng tổng khối lượng tiền so với mức chi tiêu danh nghĩa trong nền kinh tế.[32] Với những thay đổi khác nhau trong cơ chế tiền tệ của Anh trong 150 năm qua, rất có thể với một chỉ báo tiền tệ đơn nhất không thể nắm bắt tất cả thông tin xác thực và thông tin bổ sung về tiền một cách đầy đủ. Ngành tài chính Anh cũng đã trải qua những thay đổi cấu trúc khác nhau, và điều này cần phải được lưu ý khi xem xét mối liên hệ cơ bản giữa tiền và chi tiêu. Ví dụ, trong những giai đoạn khi mà lĩnh vực tài chính tăng trưởng tương đối so với phần còn lại của nền kinh tế (chẳng hạn như vào đầu những năm 1980 và những năm 2000), tiền theo nghĩa rộng có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn so với chi tiêu danh nghĩa một cách ổn định.

Về nguyên tắc, các thước đo hẹp hơn của tiền, chẳng hạn như tiền giấy và tiền kim loại và tiền gửi không kì hạn (những tài khoản có thể rút ngay lập tức mà không bị phạt) tốt hơn các chỉ báo xác thực về chi tiêu, bởi đây là những loại tiền được sử dụng để thực hiện đa số các giao dịch về hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế. Tổng lượng tiền giấy, tiền kim loại và tiền gửi không kì hạn được nắm giữ bởi khu vực tư nhân phi ngân hàng thường được gọi là tiền có kì đáo hạn ngay lập tức (zero maturity money) hay “MZM”.[33]

Các thước đo rộng hơn của tiền có thể thích hợp hơn các chỉ báo bổ sung về chi tiêu trong tương lai và tiết lộ nhiều hơn về bản chất của cơ chế truyền dẫn. Ví dụ, M2, bổ sung thêm các khoản tiền gửi có kì hạn của hộ gia đình như các tài khoản tiết kiệm.[34] Và M4 lại là một thước đo rộng hơn, bao gồm cả tiền gửi có kì hạn và không kì hạn được nắm giữ bởi các doanh nghiệp phi tài chính và các doanh nghiệp phi ngân hàng. Bài báo chính mô tả cách thức QE vận hành bằng cách tăng tiền gửi của các công ty tài chính ở bước đầu tiên. Khi các công ty này tái cấu trúc danh mục của họ, giá tài sản có khuynh hướng tăng và, với một độ trễ, dẫn đến sự gia tăng trong chi tiêu của hộ gia đình cũng như doanh nghiệp. Vì vậy, việc giám sát tiền theo nghĩa rộng là một phần quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả của QE.[35]

Nhiều nghiên cứu kinh trắc đã chỉ ra rằng những thay đổi trong lượng tiền theo nghĩa rộng cũng có thể cung cấp thông tin bổ sung có giá trị về mức chi tiêu trong nền kinh tế.[36] Ví dụ, tiền gửi của các doanh nghiệp phi tài chính dường như là một chỉ báo hàng đầu về đầu tư của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Người ta cũng có thể kiểm tra và cân đối các loại tiền hẹp và rộng với nhau bằng cách sử dụng một vài tham số về lượng tiền mà mỗi loại tiền được sử dụng trong các giao dịch – được gọi là chỉ số Divisia.[37] Trong thực tế, lãi suất trả cho một loại tiền nào đó thường được sử dụng như một thước đo gia quyền (weight metric). Đó là bởi vì các cá nhân và doanh nghiệp chỉ có khuynh hướng nắm giữ tiền, loại tài sản có lãi suất thấp so với các công cụ tài chính khác, nếu nó bù đắp cho họ bằng cách cung cấp các dịch vụ giao dịch ấn tượng hơn.

Việc xác định thước đo phù hợp của tiền đã trở nên phức tạp do sự phát triển không ngừng của ngành tài chính. Nó đã mở rộng hàng loạt công cụ có thể đối xử như tiền và hàng loạt định chế tài chính có thể vay và gởi tiền từ hệ thống ngân hàng truyền thống. Ví dụ, các hợp đồng bán và mua lại (được biết như repos) – ở đó một công ty đồng ý mua một khoản bảo đảm từ một ngân hàng với cam kết sẽ bán lại nó sau đó – hiện đang được xếp vào M4 bởi khoản bồi thường được nắm bởi ngân hàng có thể được coi là tiền bảo chứng.

Bên cạnh đó, một số nhà kinh tế học đã lập luận rằng, một loạt các công cụ cung cấp tài sản thế chấp cho các hình thức vay và cho vay khác nhau cũng có thể được đưa vào một thước đo rộng hơn về tiền tệ.[38] Hơn nữa, nhiều định chế phi ngân hàng chủ yếu nắm tiền gửi trung gian giữa các ngân hàng. Các khoản tiền gửi của các định chế này, được biết như “các tổ chức tài chính trung gian khác” (IOFCs), có khuynh hướng phản ánh các hoạt động trong hệ thống ngân hàng, chứ không liên quan trực tiếp đến chi tiêu trong nền kinh tế.[39] Vì lý do này, thước đo tổng quát của Ngân hàng về tiền theo nghĩa rộng là M4 mở rộng (M4ex), không bao gồm tiền gửi IOFC.

Bảng 1. Các đại lượng tổng gộp về tiền phổ biến có thể được tính toán từ các số liệu hiện có của Anh(a)

Tên Định nghĩa Mô tả(b) Hiệu lực
Tiền giấy và tiền kim loại Tiền giấy và tiền kim loại lưu thông bên ngoài Ngân hàng Anh. Thước đo hẹp nhất của tiền và được sử dụng như một chỉ báo của các giao dịch dựa trên tiền mặt. 1980- hiện tại(c)
M0 Tiền giấy và tiền kim loại cộng với dự trữ tại ngân hàng trung ương. Thước đo cơ bản mang tính lịch sử của tiền được sử dụng trong tính toán số nhân của tiền. Thường được sử dụng như một thước đo gần đúng về quy mô của bảng cân đối kế toán của Ngân hàng Anh.

Không còn được xuất bản bởi Ngân hàng Anh nhưng có thể được khôi phục.(d)

1870- hiện tại(c)
M1 không được hưởng lãi suất Tiền giấy và tiền kim loại cộng với tiền gửi không kì hạn không được hưởng lãi suất mà khu vực tư nhân phi ngân hàng nắm giữ. Một chỉ báo về các giao dịch hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế, ngày nay nó ít hữu dụng bởi hầu hết tiền gửi không kì hạn đều được hưởng lãi.

Không được công bố bởi Ngân hàng Anh nhưng có thể được tính toán từ các thành phần đã công bố.

1921- hiện tại(c)
MZM Tiền giấy và tiền kim loại cộng với tất cả tiền gửi không kì hạn được nắm giữ bởi khu vực tư nhân phi ngân hàng. Một chỉ báo về giao dịch hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế.

Không được công bố bởi Ngân hàng Anh nhưng có thể được tính toán từ các thành phần đã công bố. Ngân hàng Anh cũng đưa ra một thước đo dựa trên một định nghĩa của ECB về M1.

1977- hiện tại
M2 hay retailM4 Tiền giấy và tiền kim loại cộng với tất cả tiền gởi cá nhân (bao gồm cả tiền gửi cá nhân có kì hạn) được nắm giữ bởi khu vực tư nhân phi ngân hàng. Một thước đo của tiền rộng hơn MZM bao gồm tất cả các khoản tiền gửi cá nhân. Các khoản bổ sung chính là tiền gửi có kì hạn của hộ gia đình và một số loại tiền gửi cá nhân có kì hạn của doanh nghiệp.

Được công bố bởi Ngân hàng Anh. Ngân hàng cũng đưa ra một thước đo dựa trên một định nghĩa của ECB về M2.

1982–hiện tại
M3 Tiền giấy và tiền kim loại cộng với tất cả tiền gửi có kì hạn và không kì hạn tại các ngân hàng (không bao gồm tại các định chế tài chính dưới tên gọi building societies) được nắm giữ bởi khu vực tư nhân. Cho đến năm 1987 khối lượng tiền tổng quát được xây dựng bởi Ngân hàng Anh.

Ngân hàng cũng đưa ra một thước đo dựa trên một định nghĩa của ECB về M3.

1870–1990(c)
M4 Tiền giấy và tiền kim loại, tiền gửi, chứng chỉ tiền gửi, repos và chứng khoán với thời gian đáo hạn ít hơn 5 năm được nắm giữ bởi khu vực tư nhân phi ngân hàng. Cho đến năm 2007 khối lượng tiền tổng quát được xây dựng bởi Ngân hàng Anh. 1963– hiện tại
M4 mở rộng M4 không tính đến tiền gửi của IOFCs. Kể từ năm 2007 đại lượng tổng gộp hàng đầu về tiền được xây dựng bởi Ngân hàng Anh. 1997–hiện tại
Divisia Tổng theo trọng số của các loại tiền khác nhau. Nhằm mục đích quyền số hóa các tài sản thành phần của tiền rộng theo các dịch vụ giao dịch mà chúng cung cấp.(e) 1977–hiện tại
(a)  Tất cả các định nghĩa chỉ đề cập đến thước đo đồng bảng. Một vài định nghĩa trong bảng này được thay đổi tại các thời điểm khác nhau. Ví dụ, đại lượng tổng gộp M3 nguyên thủy bao gồm tiền gửi của khu vực công và tiền gửi bằng ngoại tệ của khu vực tư nhân phi ngân hàng. Một lịch sử toàn diện hơn về sự phát triển của các đại lượng tổng gộp về tiền ở Anh có thể được tìm thấy tạiwww.bankofengland.co.uk/statistics/Documents/ms/articles/art2jul03.pdf.

(b)  Được xuất bản bởi Ngân hàng Trung ương trừ khi có quy định khác.

(c)  Chuỗi này sử dụng dữ liệu được xây dựng bởi Capie và Webber (1985).

(d)  Dữ liệu về M0 không còn được công bố sau những cải cách hoạt động của Ngân hàng Anh vào năm 2006. Xemhttp://www.bankofengland.co.uk/statistics/Documents/ms/articles/artjun06.pdf  để biết thêm chi tiết

(e)  Chỉ số Divisia cho các tập đoàn tài chính khác và cho khu vực tư nhân phi ngân hàng không còn được công bố vào năm 2013. Xemhttp://www.bankofengland.co.uk/statistics/Documents/ms/articles/art1aug13.pdf  để biết thêm chi tiết.

QE kéo theo một sự thay đổi trong trọng tâm của chính sách tiền tệ đối với lượng tiền: ngân hàng trung ương mua một lượng tài sản, được tài trợ bởi việc tạo tiền theo nghĩa rộng và sự gia tăng lượng dự trữ tại ngân hàng trung ương tương ứng. Người bán tài sản sẽ nắm giữ các khoản tiền gửi mới được tạo ra thay cho trái phiếu chính phủ. Họ có thể sẽ nắm nhiều tiền hơn họ muốn, so với các tài sản khác mà họ muốn giữ. Bởi vậy, họ sẽ muốn tái cấu trúc danh mục của họ, ví dụ bằng cách sử dụng tiền gửi mới để mua các tài sản có có khả năng sinh lời cao hơn như trái phiếu và cổ phiếu được phát hành bởi các doanh nghiệp, dẫn đến hiệu ứng “khoai tây nóng” như đã thảo luận ở trên. Điều này sẽ làm tăng giá trị của những tài sản đó và làm giảm chi phí cho các doanh nghiệp trong việc huy động vốn ở các thị trường này. Kết quả là, thúc đẩy chi tiêu trong nền kinh tế.[40] Bởi vậy, cách vận hành của QE khác với hai quan niệm sai lầm phổ biến về việc mua sắm tài sản của ngân hàng trung ương rằng: QE bao gồm việc trao cho các ngân hàng “tiền tự do- free money”; Và mục đích chính của QE là tăng cường cho vay ngân hàng bằng cách cung cấp thêm dự trữ cho hệ thống ngân hàng, như có thể được mô tả bởi lý thuyết số nhân của tiền. Phần này giải thích mối quan hệ giữa tiền và QE, đồng thời xua tan những quan niệm sai lầm này.

Mối liên hệ giữa QE và lượng tiền

QE có tác động trực tiếp đến cả lượng tiền cơ sở và lượng tiền theo nghĩa rộng do cách mà Ngân hàng tiến hành mua tài sản. Chính sách này nhằm mục đích mua các tài sản, trái phiếu chính phủ, chủ yếu từ các công ty tài chính phi ngân hàng, như quỹ hưu trí hay các công ty bảo hiểm. Ví dụ, giả sử mua trái phiếu chính phủ trị giá 1 tỷ bảng từ quỹ hưu trí. Một cách mà Ngân hàng có thể thực hiện việc mua sắm này là in 1 tỷ bảng Anh và trao đổi trực tiếp với quỹ hưu trí. Nhưng giao dịch với số tiền mặt lớn như vậy là không thực tế. Bởi vậy, những loại giao dịch này được thực hiện bằng cách sử dụng các loại tiền điện tử.

Vì quỹ hưu trí không có tài khoản dự trữ ở Ngân hàng Anh, nên ngân hàng thương mại nơi mà nó mở tài khoản ngân hàng được sử dụng như một trung gian. Ngân hàng của quỹ hưu trí ghi có vào tài khoản của quỹ hưu trí 1 tỷ bảng tiền gửi để đổi lấy trái phiếu chính phủ. Điều này được minh họa như hàng thứ nhất của Hình 3. Ngân hàng trung ương Anh tài trợ cho việc mua sắm này bằng cách ghi có dự trữ cho ngân hàng của quỹ hưu trí- nó trao cho ngân hàng thương mại một IOU (hàng thứ hai). Bảng cân đối kế toán của ngân hàng thương mại mở rộng: nợ tiền gửi mới tương ứng với một tài sản dưới dạng dự trữ mới (hàng thứ ba).

Hai quan niệm sai lầm về cách thức QE vận hành

Tại sao dự trữ bổ sung không phải là “tiền tự do” đối với các ngân hàng

Trong khi việc mua tài sản của ngân hàng trung ương liên quan- và tác động- đến các bảng cân đối kế toán của các ngân hàng thương mại, thì vai trò chính của các ngân hàng này là một trung gian nhằm tạo thuận lợi cho giao dịch giữa ngân hàng trung ương với quỹ hưu trí. Khoản dự trữ bổ sung thể hiện trong Hình 3 chỉ đơn giản là một phụ phẩm của giao dịch này. Đôi khi người ta lập luận rằng, bởi vì chúng là tài sản của các ngân hàng thương mại, và ngân hàng thương mại kiếm được lãi từ nó, nên những khoản dự trữ này tượng trưng cho “tiền tự do” của các ngân hàng. Trong khi các ngân hàng kiếm được lãi suất trên dự trữ mới, QE cũng tạo ra một nghĩa vụ nợ đi kèm cho ngân hàng dưới dạng tiền gửi của quỹ hưu trí, mà chính ngân hàng thường phải trả lãi cho tiền gởi đó. Nói cách khác, QE đưa cho các ngân hàng một IOU mới từ ngân hàng trung ương, nhưng cũng đưa một IOU mới tương ứng cho người tiêu dùng (trong trường hợp này là quỹ hưu trí) và các lãi suất của hai IOU này đều phụ thuộc vào lãi suất Ngân hàng.

Hình 3: Tác động của QE lên các bảng cân đối kế toán.

Tại sao các khoản dự trữ bổ sung không được nhân lên thành các khoản cho vay và tiền theo nghĩa rộng mới

Như đã thảo luận ở trên, cơ chế truyền dẫn của QE dựa vào các tác động của khoản tiền theo nghĩa rộng mới tạo ra- chứ không phải tiền cơ sở. Khởi đầu của sự truyền dẫn là việc tạo ra các khoản tiền gửi ngân hàng trên bảng cân đối kế toán của người nắm giữ tài sản thay thế cho nợ của chính phủ (Hình 3, hàng đầu). Điều quan trọng là các khoản dự trữ được tạo ra trong khu vực ngân hàng (Hình 3, hàng thứ ba) không đóng vai trò trung tâm. Như đã giải thích ở trên, điều này là do các ngân hàng không thể trực tiếp cho vay các khoản dự trữ này. Dự trữ là một IOU từ ngân hàng trung ương cho các ngân hàng thương mại. Các ngân hàng này có thể sử dụng nó để thanh toán cho nhau, nhưng không thể sử dụng chúng cho khách hàng trong nền kinh tế, những người không có tài khoản dự trữ, “vay”. Khi các ngân hàng cho vay thêm, nó phải ghi nợ thêm khoản tiền gửi tương ứng- lượng dự trữ không thay đổi.

Hơn nữa, dự trữ mới không nhân lên một cách cơ học thành các khoản cho vay mới và tiền gửi mới như tiên liệu của lý thuyết về số nhân của tiền. QE làm gia tăng tiền theo nghĩa rộng mà không trực tiếp dẫn đến, hoặc đòi hỏi, sự gia tăng trong cho vay. Trong khi phần đầu tiên của lý thuyết về số nhân của tiền liên quan đến QE- quan điểm về tiền tệ quyết định một cách cơ học lượng dự trữ- các khoản dự trữ mới được tạo ra không tự chúng thay đổi một cách có ý nghĩa các động cơ để các ngân hàng tạo ra khoản tiền theo nghĩa rộng mới bằng cho vay. QE có thể tác động gián tiếp đến các động cơ để các ngân hàng cho vay mới, ví dụ bằng cách giảm chi phí huy động vốn hay tăng dư nợ tín dụng thông qua việc tăng cường hoạt động.[41] Tuy nhiên, QE có thể dẫn đến việc các doanh nghiệp hoàn trả nợ ngân hàng, nếu như họ phát hành thêm trái phiếu hoặc cổ phiếu và sử dụng số tiền huy động được này để trả nợ ngân hàng. Bởi vậy, nếu cân nhắc kĩ thì QE có thể tăng hoặc giảm lượng tiền vay ngân hàng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, các kênh này không được kỳ vọng là những phần then chốt của cơ chế truyền dẫn: thay vào đó, QE vận hành thông qua việc tác động đến lĩnh vực ngân hàng, nhằm tăng chi tiêu trực tiếp của khu vực tư nhân.[42]

Kết luận

Bài báo này đã thảo luận cách thức mà tiền được tạo trong nền kinh tế hiện đại. Hầu hết tiền trong lưu thông được tạo ra không phải từ máy in của Ngân hàng Anh, mà do chính các ngân hàng thương mại tạo ra: các ngân hàng tạo tiền bất cứ khi nào nó cho một ai đó trong nền kinh tế vay hoặc mua một tài sản từ người tiêu dùng. Trái ngược với những mô tả được tìm thấy trong một số giáo trình, Ngân hàng Anh không kiểm soát trực tiếp lượng lượng tiền cơ sở lẫn lượng tiền theo nghĩa rộng. Tuy vậy, Ngân hàng Anh vẫn có thể tác động đến lượng tiền trong nền kinh tế. Nó thực hiện điều này trong những thời kỳ bình thường bằng cách thiết lập chính sách tiền tệ- thông qua mức lãi suất mà nó trả cho các khoản dự trữ của các ngân hàng thương mại ở ngân hàng trung ương. Dù vậy, gần đây, với lãi suất Ngân hàng bị ràng buộc bởi giới hạn thấp hơn hiệu quả (effective lower bound), chương trình mua tài sản của Ngân hàng Anh đã tìm cách tăng lượng tiền theo nghĩa rộng trong lưu thông. Điều này ảnh hưởng đến giá cả và số lượng của một loạt các tài sản trong nền kinh tế, bao gồm cả tiền.

Nguyễn Minh Cao Hoàng dịch

Nguồn:Money creation in the modern economy“, Bank of England, Quarterly Bulletin, 2014 Q1
—-

Tài liệu tham khảo

Astley, M and Haldane, A (1995), ‘Money as an indicator’, Bank of England Working Paper No. 35.

Bank of England (1999), ‘The transmission mechanism of monetary policy’, available athttp://www.bankofengland.co.uk/publications/%20Documents/other/monetary/montrans.pdf.

Benes, J and Kumhof, M (2012), ‘The Chicago Plan revisited’, IMF Working Paper No. 12/202.

Benford, J, Berry, S, Nikolov, K, Robson, M and Young, C (2009), ‘Quantitative easing’,Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 49, No. 2, pages 90–100.

Bernanke, B (2007), ‘The financial accelerator and the credit channel’, speech at a conference on The Credit Channel of Monetary Policy in the Twenty-first Century, Federal Reserve Bank of Atlanta.

Bindseil, U (2004), ‘The operational target of monetary policy and the rise and fall of the reserve position doctrine’, ECB Working Paper No. 372.

Bowdler, C and Radia, A (2012), ‘Unconventional monetary policy: the assessment’,Oxford Review of Economic Policy, Vol. 28, No. 4, pages 603–21.

Bridges, J, Rossiter, N and Thomas, R (2011), ‘Understanding the recent weakness in broad money growth’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 51, No. 1, pages 22–35.

Bridges, J and Thomas, R (2012), ‘The impact of QE on the UK economy — some supportive monetarist arithmetic’, Bank of England Working Paper No. 442.

Brigden, A and Mizen, P (2004), ‘Money, credit and investment in the UK industrial and commercial companies sector’, The Manchester School, Vol. 72, No. 1, pages 72–79.

Burgess, S and Janssen, N (2007), ‘Proposals to modify the measurement of broad money in the United Kingdom: a user consultation’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 47, No. 3, pages 402–14.

Butt, N, Domit, S, Kirkham, L, McLeay, M and Thomas, R (2012), ‘What can the money data tell us about the impact of QE?’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 52, No. 4, pages 321–31.

Button, R, Pezzini, S and Rossiter, N (2010), ‘Understanding the price of new lending to households’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 50, No. 3, pages 172–82.

Capie, F and Webber, A (1985), A monetary history of the United Kingdom, 1870–1982, Vol. 1, Routledge.

Carpenter, S and Demiralp, S (2012), ‘Money, reserves, and the transmission of monetary policy: does the money multiplier exist?’, Journal of Macroeconomics, Vol. 34, No. 1, pages 59–75.

Clews, R, Salmon, C and Weeken, O (2010), ‘The Bank’s money market framework’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 50, No. 4, pages 292–301.

Congdon, T (1992), Reflections on monetarism, Clarendon Press.

Congdon, T (2005), ‘Money and asset prices in boom and bust’, Institute of Economic Affairs, Hobart Paper No. 152.

Disyatat, P (2008), ‘Monetary policy implementation: misconceptions and their consequences’, BIS Working Paper No. 269.

Farag, M, Harland, D and Nixon, D (2013), ‘Bank capital and liquidity’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 53, No. 3, pages 201–15.

Friedman, M (1963), Inflation: causes and consequences, Asia Publishing House.

Haldane, A (2009), ‘Why banks failed the stress test’, available athttp://www.bankofengland.co.uk/archive/documents/historicpubs/%20speeches/2009/speech374.pdf.

Hancock, M (2005), ‘Divisia money’, Bank of England Quarterly Bulletin, Spring, pages 39–46.

Hills, S, Thomas, R and Dimsdale, N (2010), ‘The UK recession in context — what do three centuries of data tell us?’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 50, No. 4, pages 277–91.

Howells, P (1995), ‘The demand for endogenous money’, Journal of Post Keynesian Economics, Vol. 18, No. 1, pages 89–106.

Jackson, C and Sim, M (2013), ‘Recent developments in the sterling overnight money market’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 53, No. 3, pages 223–32.

Joyce, M, Tong, M and Woods, R (2011), ‘The United Kingdom’s quantitative easing policy: design, operation and impact’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 51, No. 3, pages 200–12.

Kaldor, N and Trevithick, J (1981), ‘A Keynesian perspective on money’, Lloyds Bank Review, January, pages 1–19.

Kamath, K, Reinold, K, Nielsen, M and Radia, A (2011), ‘The financial position of British households: evidence from the 2011 NMG Consulting survey’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 51, No. 4, pages 305–18.

Kydland, F and Prescott, E (1990), ‘Business cycles: real facts and a monetary myth’,Federal Reserve Bank of Minneapolis Quarterly Review, Vol. 14, No. 2, pages 3–18.

Laidler, D (1984), ‘The buffer stock notion in monetary economics’, The Economic Journal, Vol. 94, Supplement: Conference Papers, pages 17–34.

Laidler, D and Robson, W (1995), ‘Endogenous buffer-stock money’, Credit, interest rate spreads and the monetary policy transmission mechanism, Session 3, conference on The Transmission of Monetary Policy held at the Bank of Canada in November 1994.

Miles, D (2012), ‘Asset prices, saving and the wider effects of monetary policy’, available athttp://www.bankofengland.co.uk/%20publications/Documents/speeches/2012/speech549.pdf.

Mitchell, B R (1988), British historical statistics, Cambridge University Press.

Moore, B (1988), Horizontalists and verticalists: the macroeconomics of credit money, Cambridge University Press.

Palley, T (1996), Post Keynesian economics: debt, distribution and the macro economy, Macmillan.

Sefton, J and Weale, M (1995), Reconciliation of National Income and Expenditure: balanced estimates of national income for the United Kingdom, 1920–1990, Cambridge University Press.

Singh, M (2013), ‘Collateral and monetary policy’, IMF Working Paper No. 13/186.

Solomou, S N and Weale, M (1991), ‘Balanced estimates of UK GDP 1870–1913’,Explorations in Economic History, Vol. 28, No. 1, pages 54–63.

Thomas, R (1997a), ‘The demand for M4: a sectoral analysis, Part 1 — the personal sector’, Bank of England Working Paper No. 61.

Thomas, R (1997b), ‘The demand for M4: a sectoral analysis, Part 2 — the corporate sector’, Bank of England Working Paper No. 62.

Tobin, J (1963), ‘Commercial banks as creators of ‘money’’, Cowles Foundation Discussion Papers No. 159.

Tucker, P (2009), ‘The debate on financial system resilience: macroprudential instruments’, available athttp://www.bankofengland.co.uk/%20publications/Documents/speeches/2012/speech549.pdf.

Tucker, P, Hall, S and Pattani, A (2013), ‘Macroprudential policy at the Bank of England’,Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 53, No. 3, pages 192–200.

[1] Các tác giả xin chân thành cảm ơn Lewis Kirkham đã hỗ trợ nhằm hoàn thành bài viết này.

[2] Trong bài viết này, Thuật ngữ “các ngân hàng” và “các ngân hàng thương mại” được sử dụng để chỉ các ngân hàng và các định chế tài chính được biết dưới tên gọi là “building society”.

[3] Xem tại www.youtube.com/watch?v=CvRAqR2pAgw.

[4] Có một tài liệu dài thừa nhận bản chất “nội sinh” của sự tạo tiền trong thực tế. Ví dụ, xem Moore (1988), Howells (1995) and Palley (1996).

[5] Định nghĩa về tiền theo nghĩa rộng được sử dụng bởi Ngân hàng Anh, M4ex, cũng bao gồm một loạt khoản nợ ngân hàng rộng hơn so với tiền gửi thông thường; Xem Burgess và Janssen (2007) để biết thêm chi tiết. Để đơn giản, bài viết này mô tả tất cả các khoản nợ này như tiền gửi. Một hộp bên dưới trong bài viết này trình bày chi tiết về một loạt các đại lượng tổng gộp về tiền tệ phổ biến ở Vương quốc Anh.

[6] Khoảng 6% tiền trong lưu thông được tồn tại dưới dạng tiền kim loại, tiền này được sản xuất bởi The Royal Mint (cơ quan đúc tiền của Vương quốc Anh – ND). Trong số tiền giấy lưu hành trong nền kinh tế Anh, một số được phát hành bởi một vài ngân hàng thương mại của Scotland và Bắc Ailen, mặc dù chúng hoàn toàn khớp với tiền của Ngân hàng Anh tại Ngân hàng này.

[7] Kể từ tháng 12 năm 2013.

[8] Bút tệ được thảo luận trong Tobin (1963), người đề cập đến nó khi lập luận rằng, trong thực tế các ngân hàng không thể tạo ra một lượng tiền vô hạn.

[9] Một phần của sự nhầm lẫn có thể xuất phát từ việc một số nhà kinh tế học sử dụng thuật ngữ “dự trữ” khi nói đến “dự trữ tùy ý” (dự trữ vượt mức) – số dư vượt trên mức bắt buộc của các quy định dự trữ bắt buộc. Trong bối cảnh này, “cho vay dự trữ” có thể là một cách viết tắt để mô tả quá trình tăng cho vay và tiền gửi cho đến khi ngân hàng đạt đến tỷ lệ tối đa của nó. Khi không có yêu cầu dự trữ tại Anh quá trình này ít có liên quan hơn đối với các ngân hàng Anh.

[10] Sự sụt giảm trong cho vay ngân hàng tại Anh từ năm 2008 là một lý do quan trọng dẫn đến sự tăng trưởng tiền trong nền kinh tế thấp hơn rất nhiều so với những năm trước cuộc khủng hoảng, như đã thảo luận trong Bridges, Rossiter và Thomas (2011) và Butt cùng cộng sự (2012).

[11] Vì lý do này, việc nắm giữ một ít trái phiếu chính phủ được tính vào việc đáp ứng các yêu cầu thanh khoản thận trọng, như Farag, Harland và Nixon (2013) đã mô tả chi tiết.

[12] Trong một sơ đồ bảng cân đối kế toán như Hình 1, việc các ngân hàng mua trái phiếu chính phủ từ người tiêu dùng sẽ được thể hiện bằng sự thay đổi cấu trúc tài sản của người tiêu dùng từ trái phiếu chính phủ sang tiền gửi, song song với một sự tăng cả tiền gửi và trái phiếu chính phủ trên bảng cân đối kế toán của các ngân hàng thương mại.

[13] Việc mua trái phiếu chính phủ của các ngân hàng thương mại, cũng như việc phát hành nợ dài hạn và vốn cổ phần đã và đang ảnh hưởng quan trọng đến sự tăng trưởng tiền theo nghĩa rộng trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính như đã thảo luận ở Bridges, Rossiter và Thomas (2011), và Butt cùng cộng sự (2012).

[14] Tobin (1963) lập luận rằng các ngân hàng không có “nguồn cung vô hạn – widow’s cruse”, như được đề cập trong một câu chuyện kinh thánh (được John Maynard Keynesnhắc đến trong kinh tế trước đây), trong đó một góa phụ có thể rót đầy bình (hay cái xoang hay cái lọ) dầu một cách kỳ diệu trong nạn đói. Tobin đã lập luận rằng có ràng buộc để lượng tiền vay có thể tự điều chỉnh nhằm phù hợp với lượng tiền gửi.

[15] Xem trong Button, Pezzini and Rossiter (2010), một sự giải thích về cách thức các ngân hàng định giá các khoản vay mới.

[16] Các ngân hàng cũng phòng ngừa rủi ro thanh khoản bằng cách nắm giữ các tài sản thanh khoản (bao gồm dự trữ và tiền), thứ mà hoặc có thể được sử dụng trực tiếp để bù đắp cho các dòng tiền, hoặc nếu không thể chuyển thành các tài sản có thể một cách nhanh chóng và ít tốn kèm. Mặc dù nếu các ngân hàng mua tài sản thanh khoản như trái phiếu chính phủ từ các chủ thể phi ngân hàng, nhưng điều này có thể tạo thêm tiền gửi.

[17] Ví dụ, xem Haldane (2009).

[18] Tucker (2009) thảo luận về khả năng “ảo giác rủi ro” như vậy trong hệ thống tài chính.

[19] Tucker, Hall và Pattani (năm 2013) mô tả các quyền hạn mới đối với việc hoạch định chính sách vĩ mô thận trọng ở Vương quốc Anh sau cuộc khủng hoảng tài chính gần đây.

[20] Xem Kaldor and Trevithick (1981).

[21] Xem Kamath và cộng sự (2011).

[22] Cơ chế này được giải thích chi tiết hơn trong các bài báo như: Laidler (1984), Congdon (1992, 2005), Howells (1995), Laidler và Robson (1995), Bridges, Rossiter và Thomas (2011), Bridges và Thomas (2012).

[23] Khung hoạt động của Ngân hàng trên thị trường đồng bảng Anh được trình bày trong “Sách Đỏ” của Ngân hàng, có thể xem tại www.bankofengland.co.uk/markets/Documents/money/publications/redbook.pdf. Sự phát triển gần đây của các thị trường đồng bảng Anh được thảo luận trong Jackson và Sim (2013).

[24] Ngân hàng Anh (1999) thảo luận cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ chi tiết hơn.

[25] Benes và Kumhof (2012) thảo luận về chuyện hoang đường của số nhân của tiền chi tiết hơn.

[26] Như đã thảo luận trong Disyatat (2008).

[27] Bindseil (2004) cung cấp một bản miêu tả chi tiết về cách thực hiện chính sách tiền tệ thông qua lãi suất ngắn hạn.

[28] Carpenter và Demiralp (2012) cho thấy rằng sự thay đổi trong lượng dự trữ không liên quan đến sự thay đổi về số lượng cho vay ở Hoa Kỳ.

[29] Ví dụ, Ngân hàng Anh hiện không có các yêu cầu dự trữ chính thức. (Nó yêu cầu các ngân hàng phải nắm giữ một tỷ lệ “tiền mặt/tiền gởi” tại Ngân hàng cho một phần nợ của mình mà không được hưởng lãi. Nhưng chức năng của tỷ lệ tiền mặt/tiền gởi này không có hiệu lực. Mục đích duy nhất của chúng là để cung cấp thu nhập cho Ngân hàng.) Bernanke (2007) thảo luận tại sao các yêu cầu dự trữ hiện nay ở Hoa Kỳ ít có sự ép buộc hơn so với trước.

[30] Kydland và Prescott (1990) nhận thấy rằng các đại lượng tổng gộp về tiền theo nghĩa rộng đi trước chu kỳ, trong khi các đại lượng tổng gộp về tiền cơ sở có khuynh hướng trễ hơn chu kì một chút.

[31] Nếu ngân hàng trung ương hạ các lãi suất xuống thấp hơn 0% đáng kể, các ngân hàng có thể chuyển đổi dự trữ ngân hàng của họ thành tiền, sẽ phải trả lãi suất cao hơn (0 hoặc ít hơn một chút sau khi tính đến chi phí lưu trữ tiền tệ). Hay dẫn đến vấn đề khác, nhu cầu về dự trữ ngân hàng trung ương sẽ biến mất, do đó, ngân hàng trung ương không còn khả năng ảnh hưởng đến nền kinh tế bằng cách thay đổi giá các khoản dự trữ đó.

[32] Những chuỗi này liên quan đến việc kết hợp dữ liệu Ngân hàng Anh hiện tại với dữ liệu lịch sử về các đại lượng tổng gộp về tiền.

[33] Một thước đo hẹp hơn được gọi là M1 không được hưởng lãi suất cũng có thể được xây dựng. Thước đo này đã trở thành đại lượng tổng gộp về tiền ít hữu dụng hơn vì hầu hết các khoản tiền gửi không kì hạn hiện nay đều được hưởng lãi. Ví dụ, trong cuộc khủng hoảng tài chính khi lãi suất giảm xuống gần mức 0, sự tăng trưởng của M1 không được hưởng lãi suất đã tăng lên rõ rệt vì chi phí liên quan đến việc nắm giữ tiền gửi không được hưởng lãi suất đã giảm mạnh so với giữ tiền gửi được hưởng lãi suất. Tập trung vào M1 sẽ đưa ra tín hiệu sai lạc về sự tăng trưởng trong chi tiêu danh nghĩa trong nền kinh tế.

[34] M2 bao gồm tiền giấy và tiền kim loại, cộng với tiền gởi “cá nhân” (“retail deposits”)- loại tiền gởi được nhận một lãi suất quảng cáo. Phần lớn các khoản dự trữ này được nắm giữ bởi hộ gia đình, nhưng cũng sẽ áp dụng cho một vài khoản tiền gửi của doanh nghiệp.

[35] Xem trong Bridges, Rossiter and Thomas (2011) và Butt cùng cộng sự (2012).

[36] Ví dụ, xem trong Astley và Haldane (1995), Thomas (1997a, b), Brigden và Mizen (2004).

[37] Ví dụ, xem trong Hancock (2005).

[38] Ví dụ, xem trong Singh (2013).

[39] Xem chi tiết hơn trong Burgess and Janssen (2007) và tại www.bankofengland.co.uk/statistics/Pages/iadb/notesiadb/m4adjusted.aspx.

[40] Những cách thức mà QE tác động đến nền kinh tế được đề cập chi tiết hơn trong Benford và cộng sự (2009), Joyce, Tong và Woods (2011), Bowdler và Radia (2012). Vai trò của tiền tệ được mô tả cụ thể hơn trong Bridges, Rossiter và Thomas (2011), Bridges và Thomas (2012), và Butt cùng cộng sự (2012).

[41] Một cơ chế tương tự, theo đó QE có thể tăng cho vay ngân hàng bằng cách cho phép các ngân hàng thu hút nguồn vốn ổn định hơn được thảo luận trong Miles (2012).

[42] Những kênh này, cũng như tác động của QE đối với việc cho vay ngân hàng rộng rãi hơn, được thảo luận chi tiết trong một hộp ở Butt và cộng sự (2012).


Tiền trong nền kinh tế hiện đại: một lời giới thiệu: Money in the modern economy: an introduction

———————–&&&————————-

Niết bàn của các nhà kinh tế học (3): Các định lý

Niết bàn của các nhà kinh tế học (3): Các định lý

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Định lý bất khả của Arrow

Kenneth Arrow, nhà kinh tế học người Mỹ (1921-2017), là một thiên tài. Ông có thể nhận mười lần “giải thưởng Nobel về kinh tế” khi mà những đóng góp của ông cho phân tích kinh tế là rất đa dạng và sâu sắc. Nhưng ông chỉ nhận giải thưởng Nobel về kinh tế có một lần, vào năm 1972. Là một nhà kinh tế học tự do (hiểu theo kiểu Mỹ, có nghĩa là có tư tưởng khuynh tả), tân cổ điển nhưng có một số xu hướng theo chủ nghĩa can thiệp, ông rất khó để phân loại. Định lý của ông mang tính chính trị thực sự. Định lý đó dựa nhiều vào những gì được gọi là nghịch lý Condorcet. Đó là việc ba người cùng ăn sáng với nhau. Họ chỉ có một cái thìa để phết một cái gì đó lên lát bánh mì. Ségolène thích mứt dâu tây, không ghét mứt Nutella [mứt sô-cô-la hạt dẻ] và không thể ngửi được mùi mật ong. François rất thích mứt Nutella, không ghét mật ong, nhưng đặc biệt lại không thích mứt dâu tây. Cuối cùng, Nicolas rất thích mật ong, nhưng không thích mứt dâu tây và ghét mứt Nutella. Đầu tiên, bà chủ nhà giới thiệu mứt Nutella: đương nhiên là Nicolas từ chối, nhưng hai người kia thì đồng ý, một người với tất cả sự thích thú, và người kia với tâm trạng tự nhủ “dù sao đi nữa, tại sao không thử? Hãy thử mứt Nutella vậy”. Nhưng bà chủ nhà cũng có thể giới thiệu mứt dâu tây: sẽ có hai người chấp nhận và một người từ chối. Và nếu bà ấy giới thiệu mật ong, thì kịch bản cũng giống vậy, nhưng khác người lựa chọn. Nói tóm lại, do sự đa dạng của sở thích, sự lựa chọn cuối cùng phụ thuộc vào thứ tự mà các đề xuất được giới thiệu để tán thành hay không. Điều mà mọi chủ tọa có tiếp xúc một ít với chuyện điều hành việc công đều phải biết rằng: chương trình nghị sự là điều quan trọng.

Kenneth Arrow (1921-)

Nhưng Arrow rút ra một kết luận khác, không kém phần quan trọng. Do định luật đa số không nhất quán (không thể có một đa số nhất quán khi có hơn hai lựa chọn liên tiếp để chọn) do sở thích riêng của cá nhân, cách duy nhất để đạt được một sự lựa chọn tập thể có tính nhất quán là dựa vào một người độc tài nhân từ. Là người độc tài, ông ta sẽ không cần tranh thủ sự chấp thuận của người dân, nhưng là người nhân từ, ông ta sẽ quan tâm để cho các quyết định của mình tối đa hóa được phúc lợi của toàn xã hội. Chẳng hạn như chế độ độc tài thị trường. Arrow đã mở ra chiếc hộp Pandora: chế độ dân chủ đôi khi không có giá trị bằng thị trường. Ngoại trừ là, trên thị trường, Nicolas, Ségolène và François không cân nặng bằng nhau (Nicolas [Sarkozy], Ségolène [Royale] và François [Hollande] là tên của 3 ứng viên trong cuộc bầu cử tổng thống Pháp năm 2012 – ND).Định lý bất khả, nếu đi đến cùng, chỉ có thể được chấp nhận trong kinh tế nếu tình trạng bất bình đẳng được giảm thiểu.

Định lý Coase

Ronald Coase (1910-2013)
George Stigler (1911-1991)

Ronald Coase (1910-2013), nhà kinh tế học người Anh, được trao “Giải thưởng Nobel về kinh tế” vào năm 1991 nhờ định lý này, định lý đã được một nhà kinh tế khác được “Giải thưởng Nobel” vào năm 1982, George Stigler, đặt tên. Trong một dòng sông cá hương, đó là sự tàn phá: một xưởng thuộc da đe dọa đặt cơ sở chế biến trên thượng nguồn và gây ô nhiễm cho dòng sông. Một thảm kịch đối với những người đam mê câu cá hương. Họ có thể nỗ lực cầu cứu sự can thiệp của các cơ quan chức năng để áp đặt các quy định bảo vệ [môi trường]. Nhưng điều đó sẽ mất nhiều năm và sẽ làm phật lòng một bộ phận dân cư mà đối với họ xưởng thuộc da tượng trưng cho những việc làm mới.

Một giải pháp khác là hiệp hội những người câu cá – bao gồm khoảng một trăm người – sẽ tiến hành đàm phán với người chủ xưởng thuộc da để người này xây dựng một bể xử lý nước thải hiệu quả. Do cuộc đàm phán có thể được tiến hành giữa ​​hai thực thể – doanh nghiệp và hiệp hội – các “chi phí giao dịch” sẽ được giảm thiểu: chẳng hạn như người chủ xưởng không phải đi gặp từng người câu cá một để thương lượng với họ về một sự đóng góp cho kinh phí xây dựng bể xử lý nước thải, do từng người sẽ cố thoái thác trách nhiệm cho các đồng nghiệp của mình. Người ta sẽ nhanh chóng tìm ra một thỏa thuận dân sự: tất cả các bạn sẽ tài trợ cho bể xử lý nước thải và tất cả các bạn có thể tiếp tục đánh bắt cá.

Vì vậy, định lý Coase rất đơn giản: nếu các chi phí giao dịch thấp hoặc bằng không và có các quyền sở hữu rõ ràng, thì người ta có thể đề xuất với những người gây ô nhiễm các giải pháp để ngăn chặn tình trạng ô nhiễm bằng cách đền bù cho họ những chi phí có liên quan. Điều này sẽ rẻ hơn và hiệu quả hơn so với việc viết ra một quy định pháp luật, rồi làm cho nó được tuân thủ. Thay cho các luật, nghị định, tiền bảo vệ, tiền phạt và hàng ngàn sự can thiệpkhác của Nhà nước, thì chỉ cần thiết lập các thủ tục vận hành của thị trường và tư nhân hóa không gian công cộng. Chúng ta đều hiểu rằng định lý này sẽ làm cho các nhà bảo vệ môi trường tức giận và làm những người theo khuynh hướng tự do vui mừng. Nhưng hai bên cần phải bình tĩnh lại: những trường hợp mà chi phí giao dịch thấp hoặc bằng không là những trường hợp khan hiếm đáng kinh ngạc. Một điều đáng tiếc cho những con cá hương.

Định lý Haavelmo

Trygve Haavelmo (1911-1999)
John M. Keynes (1883-1946)

Lại thêm một nhà kinh tế khác được “Giải thưởng Nobel” (1989) vinh danh: Trygve Haavelmo (1911-1999), nhà kinh tế học người Na Uy nghiên cứu gần như mọi thứ, nhưng chịu ảnh hưởng sâu sắc của Keynes. Keynes đã bảo vệ ý tưởng cho rằng, khi cầu hiệu quả không đủ trong một nền kinh tế nhất định, khiến tăng trưởng kinh tế chậm lại (một cuộc suy thoái), thậm chí là suy sụp (hoạt động kinh tế giảm xuống), Nhà nước có thể kích hoạt lại guồng máy bằng cách chi tiêu nhiều tiền hơn so với những gì mà họ thu được. Mứcthâm hụt công phát sinh từ sự việc nói trên chỉ là tạm thời, bởi vì việc thúc đẩy lại hoạt động kinh tế làm tăng nguồn thu thuế, sẽ cho phép làm giảm mức thâm hụt này. Các nhà kinh tế học tân cổ điển đã vặn lại, vào những năm 1980, rằng người dân không điên: khi thấy mức thâm hụt công tăng lên, họ biết rằng, vào một ngày nào đó, họ sẽ phải trả giá cho hiện tượng này; họ ghim tiền lại, một điều làm vô hiệu hiệu ứng kích hoạt lại các chi tiêu công bổ sung (một hiện tượng thường được gọi là “tương đương Ricardo”, do đã được Ricardo nêu lên).

Nhưng đó là không tính đến Haavelmo. Tại sao phải vay tiền để tài trợ cho các chi tiêu công bổ sung nhằm kích hoạt lại nền kinh tế, ông ngạc nhiên thốt lên? Chúng ta cũng có thể đạt được mục tiêu đề ra nếu tăng thuế đánh vào thu nhập hoặc tài sản của những thành phần giàu có nhất trong dân số, mà tầm quan trọng của việc tiết kiệm là nguyên nhân của cầu không đủ. Các mức thuế bổ sung sẽ được dùng để tài trợ cho gói kích thích kinh tế trong khi Nhà nước không cần phải vay tiền. Điều này chỉ khả thi với điều kiện là việc thu thuế bổ sung này không dẫn đến việc các đối tượng nộp thuế cắt giảm những khoản đầu tư (“hiệu ứng lấn thế”, theo cách nói của các nhà kinh tế học). Bởi vì nếu Nhà nước kích hoạt lại nền kinh tế, trong khi những người giàu có (cá thể hoặc doanh nghiệp) cắt giảm các khoản đầu tư của họ cũng chừng mức ấy, thì việc này sẽ vô hiệu việc kia và chúng ta sẽ quay trở lại điểm khởi đầu. Ngoài ra, Haavelmo cũng nhấn mạnh rằng, trong một nền kinh tế mở, hoàn toàn có khả năng là mức thặng dư chi tiêu công sẽ dẫn đến việc nhập khẩu nhiều hơn so với những gì được sản xuất trong nước. Ông là một nhà keynesian thận trọng.

Định lý Modigliani-Miller

F. Modigliani (1918-2003)
M. H. Miller (1923-2000)

Đây không phải là định lý kinh tế nổi tiếng nhất, nhưng nó đã đóng một vai trò to lớn đối với các chuyên gia tài chính.Franco Modigliani (1918-2003) và Merton Miller (1923-2000), hai nhà kinh tế được “Giải thưởng Nobel” vào năm 1985 và năm 1990, đã chỉ ra rằng giá trị trên thị trường chứng khoán của một doanh nghiệp không phụ thuộc vào cách thức doanh nghiệp được tài trợ, bất luận là bằng cách vay nợ, bằng lợi nhuận thu được (tự cung cấp tài chính) hoặc bằng cách kêu gọi cổ đông góp vốn. Nhiều nhà kinh tế cho rằng, khi lãi suất thấp, thì giải pháp đầu tiên là thích hợp hơn: nếu tôi vay với lãi suất 4% và hoạt động đầu tư được tài trợ từ khoản vay này mang lại 6 hoặc 8%, thì tôi là người thắng cuộc và doanh nghiệp của tôi có giá trên thị trường. Đây là điều mà chúng ta thường gọi là hiệu ứng đòn bẩy. Sai, hai nhà tài chính của chúng ta đáp lại, các bạn quên đi một điều: dù trời nắng hay mưa, doanh nghiệp vay nợ sẽ phải trả lãi và trả lại vốn vay. Các chi phí cố định này làm cho doanh nghiệp trở nên bấp bênh hơn trước những diễn biến bất ngờ của đời sống kinh tế, như tất cả những ai đã từng vay nợ mua nhà ở đều biết rất rõ. Một số cổ đông sẽ bán cổ phần của mình, làm cho giá cổ phiếu giảm trên thị trường, điều này sẽ vô hiệu hóa sự tăng giá do hiệu ứng đòn bẩy tạo ra: cuối cùng giá trị của doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán không bị tác động.

Tất nhiên, giống như mọi định lý, định lý này phụ thuộc vào một điều kiện: sự thiếu vắng các chi phí giao dịch và thông tin. Có nghĩa là ý tưởng cho rằng các thị trường tài chính vừa mang tính hữu hiệu (chuyển tải tất cả các thông tin có sẵn và tất cả mọi người biết được thông tin đó) vừa mang tính hoàn hảo (không có bất cứ chi phí gì để mua hoặc bán những chứng khoán có liên quan). Những giả thuyết mạo hiểm, như mọi người đều có thể thấy khi các bong bóng bị vỡ.

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: Les lois, les théorèmes, les courbes…, Les Dossiers d’Alternatives Economiques, Hors-série no 4, septembre 2016.

——————-&&&—————–

Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế – Economic Growth

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

® Giải Nobel: ALLAIS, 1988 – FRISCH, 1969 – HAAVELMO, 1989 – HAYEK, 1974– HICKS, 1972 – KLEIN, 1980 –KOOPMANS, 1975 – LUCAS, 1985 –MODIGLIANI, 1985 – SAMUELSON, 1970– SEN, 1998 – SOLOW, 1987 – TOBIN, 1981

Tăng trưởng thường được định nghĩa như gia tăng liên tục, trong một hay nhiều thời kì dài, của một chỉ báo chiều kích, tổng sản phẩm thực tế. Khái niệm tăng trưởng là hạn hẹp hơn khái niệm phát triển, một khái niệm chỉ toàn bộ những thay đổi kĩ thuật, xã hội và văn hoá đi kèm với tăng trưởng của sản xuất. Hơn nữa, tăng trưởng, một khái niệm không tương đương với sự “tiến bộ” lẫn với việc cải thiện phúc lợi, dường như là một hiện tượng tương đối mới.

Những chỉ báo chính

Chỉ báo thường được chọn là hoặc GDP (tổng sản phẩm trong nước) hoặc là GNP (tổng sản phẩm quốc gia) hay còn có thể là GDP (hay GNP) trên đầu người. GDP danh nghĩa, còn được gọi là theo giá hiện hành, không phải là biến thích đáng; thật thế, ta có được biến này bằng cách nhân những sản lượng của năm hiện hành với những giá cả của năm hiện hành. Do đó một gia tăng của tổng sản phẩm danh nghĩa có thể là do một gia tăng của giá cả cũng như là do một gia tăng của sản xuất. Để phân biệt giữa hai hiệu ứng này, cần phân biệt GDP danh nghĩa với GDP thực tế. Trong lúc GDP danh nghĩa được tính từ những giá bán thật sự thì GDP thực tế lấy những giá quan trắc trong một năm đặc biệt gọi là năm gốc làm giá qui chiếu. Như thế, mọi gia tăng của GDP thực tế tương ứng với một gia tăng khối lượng.

Tuy nhiên chỉ báo còn xa mới là hoàn hảo. Trước hết vì một số hoạt động không được tính đến (đặc biệt là lao động trong gia đình) và sai số còn xa mới là không đổi trong thời gian. Hơn nữa, việc cải tiến những sản phẩm hiện có, sự xuất hiện của những sản phẩm mới đôi lúc gây khó khăn cho việc xác định một số thành phần của sản phẩm thực tế. Phương thức đánh giá nêu trên đây dẫn đến việc xem những sản phẩm được sản xuất trong hai năm được xem xét, năm hiện hành và năm gốc, là tương dương. Có lẽ xấp xỉ hoá này là chấp nhận được dưới hai điều kiện: các sản phẩm không có những cải tiến công nghệ mạnh, khoảng cách giữa hai năm (năm hiện hành và năm gốc) là không quá lớn. Một máy tính năm 1996 và một máy tính năm 1986 phải chăng là cùng một “sản phẩm”? Một số tinh vi hoá nhất định phải được đưa vào để tính đến khó khăn này. Như vậy phải chọn năm gốc một cách thận trọng. Một năm gốc quá gần ngăn cản mọi so sánh; một năm gốc quá xưa cũng làm cho so sánh thành sai lạc vì giá cả của thời kì qui chiếu không còn quan hệ nào với giá cả của năm hiện hành; thế mà giá cả của năm gốc được dùng làm quyền số trong việc ước lượng GDP thực tế hiện hành. Ví dụ, lấy năm 1911 làm năm gốc sẽ không có ý nghĩa gì cả: vào thời đó không chỉ không có máy tính mà ngay cả xe ôtô cũng còn là một sản phẩm xa xỉ.

Do đó những ước lượng trong dài hạn đặt ra những vấn đề gai góc. Thế mà tăng trưởng là một hiện tượng dài hạn, cần phân biệt với sự bành trướng tư bản là một hiện tượng ngắn hạn hơn. Trong cả hai trường hợp này, tỉ suất tăng trưởng của đại lượng tổng gộp được xem xét là một yếu tố trung tâm; thường đó là một tỉ suất tăng trưởng hàng năm. Một tỉ suất tăng trưởng cao không nhất thiết kéo theo một gia tăng của mức sống vì tăng trưởng dân số có thể mạnh hơn tăng trưởng của sản xuất khiến cho mức sống giảm. Như thế, tỉ suất tăng trưởng của GDP trên đầu người, được định nghĩa như tỉ số của GDP trên dân số, là thích đáng hơn.

Jean Fourastié (1907-1990)

Thời kì tăng trưởng sau thế chiến thứ hai, đặc biệt là ở Tây Âu, được xem là một ngoại lệ, do đó có thuật ngữ “ba mươi năm vinh quang”(J. Fourastié). Tỉ suất tăng trưởng trung bình hàng năm của GDP là khoảng 5 % cho toàn bộ các nước của OECD; ở hai cực ta có Nhật Bản với tỉ suất tăng trưởng trung bình hàng năm là 11 % và Vương quốc Anh với tỉ suất này là 3 %, tỉ suất này của Pháp là khoảng 5,5%. Những năm 1970 đánh dấu sự khởi đầu của điều mà ta có thể gọi là, để đối lập với những thập niên trước, “hai mươi năm nhão nhẹt”; trong thế giới tây phương sự đình đốn và lạm phát sống chung với nhau; lạm phát phát triển và những hình thức nghèo khác xuất hiện. Cuối thế XX được đặc trưng bằng một hiện tượng kép: bần cùng hoá trong những nước châu Âu và toàn cầu hoá của tăng trưởng mà minh hoạ hiển nhiên nhất là châu Á với trường hợp của “bốn con rồng”(Hong Kong, Hàn quốc, Singapore, Taiwan); và gần đây hơn, Ấn Độ và Trung Quốc, hai nước đông dân nhất hành tinh, tăng trưởng với những tỉ suất lạ kì từ 7 % đến 10 % năm.

Thất nghiệp và không ổn định

Evsey Domar (1914-1997)
Roy F. Harrod (1900-1978)

Ở cội nguồn của những lí thuyết đương đại về tăng trưởng là những mưu toan của Harrod và Domar, hai tác giả ngay sau thế chiến thứ hai đã thử nối tiếp trong dài hạn những phân tích của Keynes vốn chỉ giới hạn ở những mất cân bằng trong ngắn hạn. Ý chung của những mô hình tạo lập này là xem trường hợp những nền kinh tế thị trường tăng trưởng đều đặn trong tình thế toàn dụng lao động là những ngoại lệ. Cách nhìn của những tác giả này gần với cách nhìn của Keynes; đối với Keynes do thiếu cầu thực tế nên thiểu dụng lao động là qui tắc chung và toàn dụng lao động là ngoại lệ. Đối với hai tác giả trên, đạt được tăng trưởng cân bằng toàn dụng lao động chỉ có thể là một ngoại lệ, một phép lạ. Nhưng còn hơn thế nữa: chế độ tăng trưởng cân bằng toàn dụng lao động không chỉ là ngoại lệ, đó còn là một chế độ không ổn định. Người ta nói đến cân bằng “trong đường tơ kẽ tóc”, mọi khoảng cách với chế độ đặc biệt này có xu hướng tăng lên một cách cộng dồn, dẫn hệ thống kinh tế được xem xét hoặc đến một bành trướng tăng tốc, hoặc đến một suy thoái ngày càng trầm trọng. Những công trình này được những tác giả tự nhận thuộc trường phái Cambridge mới (N. Kaldor, J. Robinson) tiếp nối, đặc biệt làm rõ tầm quan trọng của phân tích về phân phối bằng cách kết hợp những đóng góp của Kalecki và của Keynes: những quan hệ giữa lợi nhuận và tích luỹ tư bản, những cuộc đối đầu giữa những nhóm xã hội (người làm công ăn lương và các nhà tư bản), phân tích lạm phát nằm ở trung tâm của những mối quan tâm của họ.

Robert Solow (1924-)
James Tobin (1918-2002)

Một đổi mới quan trọng trong phân tích tăng trưởng xuất hiện vào giữa những năm 1950. Những cách tiếp cận tạo lập của Harod và Domar kết luận tính chất mất ổn định một cách cơ bản của những nền kinh tế thị trường bị xét lại. Cách đặt vấn đề chung bị thay đổi. Mô hình Solow (1956) –một mô hình có thể xem là tiền thân của những mô hình tăng trưởng đương đại – là một mô hình có một cương vị nhập nhằng: một cách điển hình nó thuộc về điều được gọi một cách qui ước là “tổng hợp cổ điển-keynesian”, cũng còn được minh hoạ bởi tên của những nhà kinh tế như Hicks, Hansen, Patinkin, Tobin, Modigliani, Samuelson, Klein. Trong những năm 1950-1960, toàn thể những tác giả này (và phương pháp của Solow là hoàn toàn đặc trưng cho họ) tìm cách hoà giải những đóng góp của Keynes với những đóng góp của phân tích tân cổ điển.

Alvin Hansen (1887-1975)
Don Patinkin (1922-1995)

So với mô hình Harrod-Domar, có hai thay đổi được đưa vào làm thay đổi hoàn toàn động thái. Trong khi hai tác giả này sử dụng một hàm sản xuất với những nhân tố bổ sung nhau thì Solow, để đặc trưng hàm sản xuất kinh tế vĩ mô, viện đến một hàm sản xuất với những nhân tố thay thế cho nhau được. Hơn nữa, trong lúc mô hình tân keynesian dựa trên giả thiết một hàm đầu tư khác với hàm tiết kiệm thì mô hình của sự tổng hợp giả định rằng đầu tư bắt nguồn từ tiết kiệm. Đây là hai thay đổi duy nhất được đưa vào, những giả thiết khác là giống nhau.

Michal Kalecki (1899-1970)
Nicholas Kaldor (1908-1986)

Nhưng điều này đủ để thay đổi đáng kể logic của mô hình và động thái suy ra từ mô hình này. Những mô hình tân keynesian về cơ bản là những mô hình cầu: tăng trưởng chủ yếu bị chi phối bởi những hành vi tiêu dùng và đầu tư, tổng cung chỉ hiện ra như một giới hạn mà cầu có thể vấp phải. Ngược lại mô hình của tổng hợp có thể được đặc trưng như một mô hình cung trong đó những vấn đề tiêu trường không được đề cập đến; trong khuôn khổ này, qui luật Say theo giả thiết được kiểm chứng, cung không thể nào khác với cầu được. Còn trên thị trường lao động cân bằng được đảm bảo kể từ lúc ta viện đến một hàm sản xuất với những nhân tố thay thế cho nhau được với tính linh hoạt hoàn toàn của những thù lao. Trong những điều kiện này, cân bằng động, một cân bằng có thể được làm rõ, là một chế độ tăng trưởng cân bằng toàn dụng lao động hội tụ về (dưới một số giả thiết) một tình thế ổn định, một chế độ tăng trưởng theo tỉ suất không đổi. Bởi thế cách nhìn chung đã bị thay đổi một cách sâu sắc.

Dự kiến và tối ưu hoá liên thời gian

Maurice Allais (1911-2010)
Edmund Phelps (1933-)

Vấn đề tối ưu hoá, tìm kiếm chế độ tăng trưởng tốt nhất có thể đã được M. Allais, P. Desrousseaux và E. Phelps đề cập gần như đồng thời vào đầu những năm 1960; các tác giả này làm rõ qui tắc vàng của sự tích luỹ. Chế độ thường xuyên tăng trưởng cân bằng toàn dụng lao động được định nghĩa như chế độ cho phép có được mức tiêu dùng trên đầu người cao nhất; để đạt đến chế độ này người ta chứng minh là năng suất cận biên thuần của tư bản, và do đó lãi suất, phải bằng với tỉ suất tăng trưởng; đó là “qui tắc vàng của tích luỹ”, từ đó sinh ra điều kiện bằng nhau của tỉ suất tiết kiệm của cộng đồng với tỉ trọng của những thu nhập không phải là lương trong thu nhập quốc gia. Tầm quan trọng của qui tắc này có vẻ là hạn chế: thật thế qui tắc được xác lập trong khuôn khổ của việc tìm kiếm chế độ thường xuyên tốt nhất có thể, và do đó không tính đến một động thái thật sự. Nhiều nghiên cứu tinh vi hơn được tiến hành kể từ giữa những năm 1960 trong khuôn khổ của một tối ưu hoá liên thời gian, đặt lên hàng đầu việc tính đến những dự kiến.

Frank Ramsey (1903-1930)
Tjalling Koopmans (1910-1985)

Hướng thứ nhất đã được D. Cass và T. Koopmans đồng thời vận dụng vào năm 1965. Hai tác giả này nối tiếp những công trình tạo lập của F. Ramsey (1928) bằng cách sử dụng những công cụ toán học mới với nguyên lí cực đại do Pontryagin làm rõ vài năm trước đó cung cấp. Những tác giả này hình dung một tác nhân tiêu biểu tìm cách tối ưu hoá trên một chân trời xác định (hữu hạn hay vô hạn) tổng hiện tại hoá những lợi ích thu được từ mức tiêu dùng của tác nhân này: do đó, một phần của thu nhập từ nỗ lực sản xuất được tiêu dùng, phần kia được tiết kiệm và do đó được đầu tư. Dưới những giả thiết chuẩn (lợi ích cận biên dương và giảm dần, hàm sản xuất có hành vi tốt, tăng trưởng của dân số theo tỉ suất không đổi), chế độ tăng trưởng được làm rõ có những đặc tính lí thú. Trong khi với những mô hình trước đây (dù cho đó là mô hình Solow hay những mô hình tân keynesian) khuynh hướng tiêu dùng là cố định thì trong trường hợp này khuynh hướng này bắt nguồn từ một lựa chọn liên thời gian xác định tại mỗi thời điểm một lựa chọn tối ưu giữa tiêu dùng và đầu tư.

Lev Pontryagin (1908-1988)
Joan Robinson (1903-1983)

Như thế chế độ động hiện ra là rất đặc biệt: đây là một “cân bằng điểm yên ngựa”, có nghĩa là từ một kho tư bản nhất định, chỉ có một mức tiêu dùng duy nhất cho phép nền kinh tế hội tụ về một tình thế tăng trưởng cân bằng với tỉ suất không đổi. Bất kì lựa chọn nào khác sẽ kéo nền kinh tế trôi dạt hoặc về một tiêu dùng bằng không, hoặc về một kho tư bản bằng không. Do đó tối ưu hoá liên thời gian đã vinh danh trở lại chủ đề mất ổn định động (một chủ đề đã ít nhiều biến mất khỏi những mối quan tâm kể từ khi có mô hình Solow) nhưng trong một bối cảnh khác xa với bối cảnh của Harrod. Mặc dù ở đây có cân bằng trên thị trường sản phẩm lẫn trên thị trường việc làm, thì vẫn có khả năng mất ổn định động trừ khi các tác nhân lựa chọn một cách tự phát quĩ đạo tốt (độc nhất) dẫn họ đến chế độ thường xuyên. Lợi ích của kiểu cân bằng này hiện ra dưới một góc độ mới kể từ lúc giả thiết dự kiến duy lí được đưa vào trong phân tích kinh tế; thật thế, sự hội tụ đến chế độ thường xuyên tăng trưởng cân bằng với tỉ suất không đổi chỉ có thể được biện minh bằng cách giả định là các tác nhân có những dự kiến duy lí khi họ biết (do có những dự kiến duy lí) là mọi chênh lệch với quĩ đạo sẽ đưa họ rời xa khỏi trạng thái tối ưu. Cần thêm rằng trạng thái tối ưu này được đặc trưng bằng “qui tắc vàng mở rộng”, khi mà lãi suất bằng với tổng của tỉ suất tăng trưởng của nền kinh tế và của tỉ suất hiện tại hoá.

Paul Samuelson (1915-2009)
Peter Diamond (1940-)

Một cách nhìn đối chọn là cách nhìn của những “thế hệ đan chéo”, do P. Diamond đề xuất (1965), lấy lại những phân tích trước đó của P. A. Samuelson (1958) và M. Allais (1947). Ta giả định là mỗi tác nhân sống qua hai thời kì (thời kì hoạt động và hưu trí); tác nhân lao động và sản xuất trong thời kì đầu; một phần thu nhập của tác nhân được tiêu dùng, phần còn lại được tiết kiệm và đầu tư; trong thời kì thứ hai, tác nhân tiêu dùng tiết kiệm đã tích luỹ được chi trả theo lãi suất. Tác nhân tối đa hoá tổng hiện tại hoá của những lợi ích thu được từ việc tiêu dùng trên hai thời kì. Lần này chân trời là hữu hạn, bị giới hạn bởi tuổi thọ trung bình của tác nhân tiêu biểu (tác nhân này, trong những phiên bản tinh vi hơn, để lại di sản và thừa hưởng gia tài); tác nhân này san bằng tiêu dùng của bản thân trên hai thời kì, tiết kiệm (nhằm về hưu) và đầu tư tiết kiệm hợp thành kho tư bản. Đây là một mô hình có cân bằng trên thị trường sản phẩm lẫn trên thị trường việc làm. Tên gọi mô hình “thế hệ đan chéo” là do ở mỗi thời kì có sự hiện diện đồng thời của hai loại tác nhân, hai thế hệ, “người trẻ” và “người già”, người hoạt động và người không hoạt động. Và khi một thế hệ trẻ trở nên “già” thì được thay thế bằng một thế hệ “trẻ”mới trong lúc thế hệ “già” trước đó biến mất. Động thái của mô hình là khá đơn giản: dưới những giả thiết “chuẩn”, cũng như trong mô hình của sự tổng hợp, ta hội tụ về một chế độ thường xuyên tăng trưởng cân bằng toàn dụng lao động, với tính ổn định của sản phẩm trên đầu người; nghịch lí là chế độ thường xuyên này, thu được tiếp sau việc tối ưu hoá liên thời gian, đôi lúc được đặt trưng bằng một “tính không hiệu quả động” (đây không tất yếu là một tối ưu Pareto).

Lí thuyết chu kì cân bằng

J. Schumpeter (1883-1950)
Robert Lucas (1937-)

Tối ưu hoá liên thời gian và việc tính đến những dự kiến đã có một vai trò trung tâm trong mưu toan hợp nhất những chu kì với tăng trưởng nảy sinh từ những công trình của Lucas và của trường phái cổ điển mới trong những năm 1970. Tất nhiên những nguồn gốc của cách tiếp cận này đã có từ lâu; năm 1939, J. Schumpeter từng làm rõ tầm quan trọng của những đợt đổi mới lớn trong việc giải thích những chu kì dài, những chu kì “Kondratieff” của hoạt động kinh tế; ngay từ 1933, Frisch đã thử minh hoạ cách giải thích ngoại sinh những chu kì bằng một ngụ ngôn rất đơn giản tuy vô cùng ấn tượng: “Nếu bạn đánh một con ngựa bập bênh bằng một cây gậy đánh golf, thì chuyển động của con ngựa sẽ rất khác với chuyển động của cây gậy”. Những phát triển gần đây lấy lại sự phân biệt nổi tiếng này giữa xung lượng và truyền tải trong cách nhìn của những “chu kì cân bằng” theo đó giá cả có một vai trò tín hiệu trung tâm. Thật thế, trong cách tiếp cận này, những vấn đề tiêu trường, “cầu thực tế” không được đặt ra; những biến động bắt nguồn từ phản ứng của các tác nhân trước những cú sốc ngoại sinh. Việc qui chiếu về thị trường việc làm cho phép minh hoạ việc thay đổi cách tiếp cận: nếu trong cách biểu trưng truyền thống sụt giảm của việc làm dẫn đến một sụt giảm (hay một gia tăng chậm hơn) của lương thì trong cách nhìn của lí thuyết chu kì cân bằng có một sự đổi chiều của tính nhân quả: việc làm giảm vì, khi lương giảm, các tác nhân kinh tế chọn làm việc ít hơn.

Những cú sốc có thể có nguồn gốc tiền tệ: đó là mưu toan của Lucas muốn giải thích các chu kì trên cơ sở của những hiệu ứng bất ngờ và thay thế liên thời gian tiếp sau một cú sốc tiền tệ. Vào đầu những năm 1980, điều được nhấn mạnh là những cú sốc “thực tế”; lí thuyết những “chu kì kinh doanh thực tế” (real business cycles) hình dung một khuôn khổ thống nhất để hiểu hiện tượng tăng trưởng lẫn hiện tượng biến động. Khuôn khổ phân tích này lấy mô hình Solow năm 1956 làm điểm qui chiếu với ba đổi thay. Thứ nhất, tỉ suất tiết kiệm không được ấn định một cách tiên nghiệm như trong mô hình Solow nhưng do tác nhân tiêu biểu chọn từ một qui hoạch tối ưu hoá liên thời gian lợi ích của tác nhân này. Tiếp đến tăng trưởng của cung lao động ở đây cũng phụ thuộc vào lựa chọn của tác nhân; cuối cùng những tiến bộ năng suất, thay vì được thể hiện đều đặn dưới dạng một hàm mũ trong những phân tích truyền thống về tiến bộ kĩ thuật ngoại sinh, nay là không liên tục, ngẫu nhiên.

Một đặc điểm của kiểu mô hình này là thường không thể giải chúng bằng giải tích. Nhiều phần mềm mô phỏng đã được phát triển, vận dụng mạnh mẽ vi tính. Người ta đã triển khai nhiều kiểu mô hình kinh trắc mới vận dụng nhiều việc nghiên cứu những chuỗi thời gian (mô hình VAR, có nghĩa là mô hình “vectơ tự hồi qui”). Có nhiều phát triển và phê phán đương đại có tính kích thích: bên cạnh những cú “sốc năng suất”, còn tính thêm những cú “sốc ngân sách”, “sốc tài chính”, “sốc sở thích”.

Cách hợp nhất những chu kì vào trong lí thuyết tăng trưởng vẫn trung thành với truyền thống thừa hưởng từ Frisch theo đó những chu kì được giải thích bằng những cú sốc ngoại sinh. Một sự đổi mới song song của phân tích chu kì xuất hiện cùng với việc đưa vào những công cụ mới (động thái phi tuyến tính, “hỗn độn”) cho phép tính đến sự tồn tại của những chu kì được gọi là “nội sinh” bắt nguồn, không từ những cú sốc bên ngoài, những cú sốc ngoại sinh, mà từ chính ngay hoạt động của nền kinh tế.

Tăng trưởng: nội sinh hay ngoại sinh?

Sự đối lập giữa cách giải thích “nội sinh” và “ngoại sinh” không chỉ liên quan đến lí thuyết chu kì, mà còn liên quan đến bản thân lí thuyết tăng trưởng. Theo truyền thống người ta phân biệt tăng trưởng theo chiều rộng, kết quả của việc gia tăng lượng nhân tố sản xuất được sử dụng (nhiều tư bản và nhiều người lao động cho phép sản xuất được một số lượng lớn hơn) và tăng trưởng theo chiều sâu, khi sự gia tăng sản xuất bắt nguồn từ việc sử dụng có hiệu quả hơn những nhân tố sản xuất hiện có, nói tóm lại là từ tiến bộ của năng suất. Đương nhiên là hai loại hiện tượng này không loại trừ nhau; ta có thể có vừa nhiều tư bản và lao động hơn được kết hợp với nhau một cách có hiệu quả hơn. Những ước lượng được tiến hành vào cuối những năm 1950, từ những công trình của Denison và Solow, đã thử lượng hoá tầm quan trọng tương đối của hai loại tăng trưởng này. Nhiều nghiên cứu so sánh cũng được tiến hành trên nhiều nước và nhiều thời kì khác nhau. Từ những công trình này nổi lên hai kết luận.

Thứ nhất, những quĩ đạo quốc gia và những lịch sử tăng trưởng hiện ra khá đa dạng. Như thế, trong những năm 1870-1914 và cho toàn thể các nước phát triển, tiến bộ kĩ thuật dường như có một vai trò ít quan trọng hơn những yếu tố của tăng trưởng “theo chiều rộng”, tư bản và lao động. Tương tự như thế, khoảng hai phần ba của tăng trưởng gần đây của Singapore là do tiết kiệm cực lớn mà chính phủ nước này đã huy động để phục vụ cho việc tích luỹ tư bản. Ngược lại, những ước lượng của Solow trong trường hợp của Hoa Kì cho thấy là tăng trưởng ghi nhận được trong thời kì 1909-1949 được qui cho tiến bộ kĩ thuật; cũng chính nhân tố này đóng góp đến khoảng 70 % vào sự tăng trưởng mạnh của Pháp từ 1950 đến 1973.

Thứ hai, những nghiên cứu được tiến hành dường như cho thấy là, trong hầu hết những nước phát triển, gia tăng của năng suất vào cuối những năm 1970 đã chậm lại một cách nghiêm trọng; trong trường hợp của Hoa Kì, đây là một sự sụp đổ thật sự mà phần lớn không giải thích được; trong trường hợp của Pháp, sự chuyển hướng của những tiến bộ của năng suất, vừa ít đậm nét và trễ hơn, chủ yếu đã đi sau, chứ không đi trước như ở Hoa Kì, sự chuyển hướng của tăng trưởng.

Kể từ những năm 1980, những công trình của R. Romer và R. Lucas đã đổi mới những cách tiếp cận; các tác giả này nhấn mạnh thiếu sót của những phân tích trước đây trong đó tăng trưởng được giải thích phần lớn bằng một hiện tượng “ngoại sinh”, tiến bộ kĩ thuật, một nhân tố tất nhiên có tính quyết định nhưng không rõ nguồn gốc. Để đối lập với cách tiếp cận này người ta nói đến tăng trưởng “nội sinh”; các tác giả trên đã thử cung cấp những giải thích khác nhấn mạnh đến khiá cạnh vai trò của những “ngoại ứng”, bị những phân tích trước đây coi nhẹ, vai trò của đổi mới công nghệ, thông qua việc đa dạng hoá sản phẩm cũng như vai trò của “vốn con người”. Vấn đề là giải thích tăng trưởng, và đặc biệt là tính chất tự nuôi dưỡng của tăng trưởng từ những đặc điểm nội bộ của hệ thống (hàm lợi ích, mức độ nóng ruột của các tác nhân, những đặc thù của hàm sản xuất). Một phần những công trình này cho phép tìm lại một số khiá cạnh đặc biệt lí thú của phân tích schumpeterian (“huỷ hoại sáng tạo”) và giải thích vì sao một sự tăng tốc của tăng trưởng không tất yếu kéo theo một sụt giảm của thất nghiệp. Hơn nữa, những phân tích này cung cấp những cách chiếu sáng mới, trong kinh tế học quốc tế, cho việc phân tích những vấn đề “hội tụ” (các nước phương “Nam”đuổi kịp các nước phương “Bắc”) và cung cấp những biện minh mới cho những chính sách công cộng.

▶ ABRAHAM-FROIS G. Dynamique économique, Paris, Dalloz, 6è éd., 1995. – AGHION Ph. & HOWITT,Endogenous Growth Theory, New York, McGraw-Hill, 1998. – BARRO R. J. & SALA I. MARTIN X., Economic Growth, New York, McGraw-Hill, 1995. –GAFFARD J.-L., Croissance et fluctuations économiques, Paris, Montchrestien, 2è éd., 1997. – MUET P. A., Croissance et cycles, Paris, Économica, 1993. – SCHUBERT K.,Macroéconomie contemporaine et croissance, Paris, Vuibert, 1996.

Gilbert ABRAHAM-FROIS

Giáo sư đại học Nanterre (Paris 10)

Nguyễn Đôn Phước dịch

® Cân bằng; Dự kiến; Kinh tế học vĩ mô; Thất nghiệp; Tình thế kinh tế; Toàn cầu hoá và công ti đa quốc gia; Tối ưu hoá và phân tích nhiều mục tiêu; Tổng sản phẩm trong nước (GDP); Tư bản; Vốn con người

Nguồn: Dictionnaire des sciences économiques do Claude Jessua, Christian Labrousse và Daniel Vitry chủ biên, Paris, Presses Universitaires de France, 2001.

——————&&&——————-