Kinh tế học đã sống sót qua cuộc khủng hoảng kinh tế như thế nào

Kinh tế học đã sống sót qua cuộc khủng hoảng kinh tế như thế nào

(Tác giả: Robert Skidelsky – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Cuộc Đại Khủng hoảng vào những năm 1930 đã tạo ra Kinh tế học keynesian, hiện tượng lạm phát đình đốn vào những năm 1970 đánh dấu sự lên ngôi của học thuyết trọng tiền của Friedman, thế nhưng cuộc Đại Suy thoái [năm 2008 – ND] lại không nhận được phản ứng nào giống như thế từ các nhà kinh tế học. Tại sao?

Luân Đôn – Nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Paul Krugman nhận thấy rằng hầu như không có sự thay đổi nào trong cuộc tranh luận về nguyên nhân và hệ quả của cuộc khủng hoảng suốt thập kỷ qua, ông đã có một bài tiểu luận thú vị nhân dịp kỷ niệm 10 năm kể từ ngày diễn ra cuộc Đại Suy thoái. Trong khi cuộc Đại Khủng hoảng vào những năm 1930 tạo ra Kinh tế học keynesian, hiện tượng lạm phát đình đốn vào những năm 1970 đánh dấu sự lên ngôi của học thuyết trọng tiền Friedman, thì cuộc Đại Suy thoái [năm 2008 – ND] lại không đem đến một sự thay đổi nào tương tự như thế trong học thuật.

Điều này khiến những sinh viên trẻ ngành kinh tế học vô cùng chán nản, họ đã kỳ vọng vào những phản ứng thích hợp của các nhà kinh tế học. Nhưng tại sao điều này lại không xảy ra?

Câu trả lời của Krugman vô cùng khéo léo, đó là: châm ngôn có câu, kinh tế học vĩ mô cũ “đủ tốt cho công việc của chính phủ”. Nó đã ngăn chặn được những cuộc Đại Khủng hoảng khác xảy ra. Vì thế các sinh viên nên ngừng mơ mộng và tiếp tục nghe giảng.

Milton Friedman (1912-2006)
Robert Lucas (1937-)

Một thập kỷ trước, có hai trường phái kinh tế học vĩ mô cạnh tranh nhau: Trường phái Tân Cổ điển – hay còn gọi là trường phái “nước ngọt” (“freshwater”), bắt nguồn từ Milton Friedman và Robert Lucas, có trụ sở chính tại Đại học Chicago, và Trường phái keynesian mới – hay còn gọi là trường phái “nước mặn” (“saltwater”), bắt nguồn từ John Maynard Keynes, có trụ sở tại Đại học MIT và Harvard.

Trường phái freshwater tin rằng thâm hụt ngân sách luôn là tình trạng tồi tệ, trong khi đó phe saltwater tin rằng thâm hụt có lợi khi nền kinh tế trì trệ. Krugman là người theo trường phái keynesian mới, và bài tiểu luận của ông chỉ ra rằng cuộc Đại Suy thoái là minh chứng cho tính đúng đắn của các mô hình keynesian mới.

Tuy nhiên, có một vài vấn đề nghiêm trọng với câu chuyện của Krugman. Thứ nhất, với câu hỏi nổi tiếng của Nữ hoàng Elizabeth II: “Tại sao không ai nhận thấy rằng nó [cuộc khủng hoảng – ND] đang đến?”, Krugman đã vui vẻ trả lời rằng các nhà keynesian mới đang hướng đến một phương pháp khác. Phương pháp của họ không sai về lý thuyết, nhưng sai về cách “thu thập dữ liệu”. Họ đã “bỏ qua” những thay đổi quan trọng về mặt thể chế trong hệ thống tài chính. Tuy điều này thật đáng tiếc, song nó không đặt ra “vấn đề sâu sắc nào về mặt khái niệm”, tức là nó không buộc họ xem xét lại lý thuyết của mình.

John M. Keynes (1883-1946)

Đối mặt với chính cuộc khủng hoảng, các nhà keynesian mới đã vượt qua được những thách thức. Họ sử dụng lại những mô hình về giá cả cứng nhắc từ những năm 1950 và 1960, những mô hình này chỉ ra 3 điều. Thứ nhất, thâm hụt ngân sách nghiêm trọng sẽ không làm tăng mức lãi suất đang xấp xỉ bằng không. Thứ hai, thậm chí tăng đáng kể cơ số tiền tệ sẽ không dẫn đến lạm phát tăng cao, hay làm tăng tương ứng các đại lượng tổng gộp tiền tệ khác. Và thứ ba, từ những thay đổi trong chi tiêu và thuế khoá của chính phủ, số nhân của thu nhập quốc gia sẽ dương, và gần như chắc chắn lớn hơn một.

Những mệnh đề này biện minh cho thâm hụt ngân sách sau sự sụp đổ vào năm 2008. Các chính sách dựa trên đó đã được thực thi và hoạt động “tốt một cách bất ngờ”. Sự thành công của chính sách keynesian mới tạo ra một hiệu ứng trớ trêu là cho phép “những thành viên giáo điều nhất trong ngành của chúng ta [trường phái Cổ điển mới từ Chicago] phớt lờ những sự kiện quan trọng theo cách mà trong những thời kỳ trước họ sẽ không làm vậy”. Vì vậy không có trường phái – đúng hơn là giáo phái – nào phải đối mặt với thử thách tư duy lại những nguyên lý đầu tiên.

Lịch sử thần tình trước và sau cuộc khủng hoảng kinh tế để lại nhiều câu hỏi then chốt chưa có lời giải đáp. Thứ nhất, nếu kinh tế học keynesian mới là “đủ tốt”, tại sao những nhà kinh tế học keynesian mới đã không cảnh báo về sự sụp đổ năm 2007-2008? Quan trọng hơn cả, trên lí thuyết họ đã không loại trừ khả năng về một trận sụp đổ như thế mà.

Paul Krugman (1953-)

Krugman thừa nhận một lỗ hổng trong việc “thu thập những dấu hiệu”. Nhưng sự lựa chọn các dấu hiệu do lý thuyết dẫn dắt. Theo quan điểm của tôi, các nhà kinh tế học keynesian mới đã phớt lờ sự không ổn định đang hình thành trong hệ thống ngân hàng, bởi vì những mô hình của họ nói rằng các thể chế tài chính có thể định giá rủi ro một cách đúng đắn. Vì vậy có một “vấn đề sâu sắc về nhận thức” liên quan đến phân tích của trường phái keynesian mới: sự thất bại của nó trong việc giải thích vì sao các ngân hàng có thể “định giá quá thấp các rủi ro trên toàn thế giới”, như Alan Greenspan đã diễn tả.

Thứ hai, Krugman không thể giải thích tại sao các chính sách keynesian đã được chứng minh là đúng trong giai đoạn 2008-2009 lại nhanh chóng bị đảo ngược và thay thế bằng sự thắt chặt tài khóa. Tại sao các nhà lập chính sách không trung thành với những mô hình tẻ nhạt với giá cố định của họ cho đến khi chúng hoàn thành công việc? Tại sao lại ruồng bỏ chúng vào năm 2009, khi nền kinh tế phương Tây vẫn đang ở dưới mức trước khủng hoảng 4-5%?

Câu trả lời mà tôi có thể đưa ra là khi tư tưởng Keynes được sử dụng lại một cách chớp nhoáng trong 6 tháng năm 2008 – 2009, đó là vì lý do chính trị, chứ không phải lý do học thuật. Bởi vì các mô hình keynesian mới không đưa ra được một cơ sở đầy đủ để duy trì những chính sách keynesian một khi nền kinh tế vượt qua tình trạng nguy kịch, do vậy chúng lại nhanh chóng bị từ bỏ.

Krugman dần thừa nhận điều này, ông viết, những nhà keynes mới “bắt đầu bằng việc lấy hành vi lý tính và cân bằng thị trường làm điểm xuất phát và quy chiếu, và cố gắng tái tạo những hoạt động bất thường của nền kinh tế bằng cách điều chỉnh điểm trên ở các góc cạnh”. Sự điều chỉnh này giúp các mô hình keynesian mới sản sinh ra những hiệu ứng thực tế tạm thời từ những cú sốc danh nghĩa, và từ đó biện minh cho sự can thiệp khá triệt để trong những trường hợp khẩn cấp. Nhưng không điều chỉnh nào có thể tạo ra một tình huống đủ mạnh để biện minh cho việc duy trì chính sách can thiệp.

Joseph Schumpeter (1883-1950)
Robert Skidelsky (1939-)

Vấn đề đối với các nhà kinh tế học vĩ mô keynesian mới là họ không chấp nhận tính bất trắc triệt để trong các mô hình của mình, rời bỏ chúng mà không có bất kỳ một lý thuyết nào cho biết phải làm gì khi tình thế không nguy kịch để tránh những tình huống xấu. Việc họ tập trung vào lương danh nghĩa và tính cứng nhắc của giá cả hàm ý rằng có thể đạt được cân bằng ổn định nếu không có những yếu tố này. Họ coi yếu tố tài chính là trung lập, không phải là cơ bản (hay “viên giám sát” của chủ nghĩa tư bản, theo lời của Joseph Schumpeter).

Với việc không công nhận tính bất trắc này, kinh tế học “nước mặn” chắc chắn sụp đổ trước phe “nước ngọt” đối lập. “Sự điều chỉnh” của kinh tế học keynesian mới sẽ tạo ra không gian chính trị giới hạn cho sự can thiệp, nhưng gần như không đủ để làm tốt công việc. Vì vậy lập luận của Krugman, mặc dù có tính khiêu khích nhưng chắc chắn không thuyết phục. Kinh tế học vĩ mô vẫn cần có một ý tưởng vĩ đại mới.

Nguyễn Mai Hạ dịch

Nguồn: “How Economics Survived the Economic Crisis”, Project Syndicate, Jan 18, 2018

———————&&&———————

 

Chỉ số GDP cần được điều chỉnh chứ không phải thay thế

Chỉ số GDP cần được điều chỉnh chứ không phải thay thế

(Nguồn: http://nghiencuuquocte.org)

Nguồn: Urs Rohner, “GDP Should Be Corrected, Not Replaced”, Project Syndicate, 17/01/2018.

Biên dịch: Nguyễn Quỳnh Chi | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Nhiều nhà kinh tế học nổi tiếng từ lâu đã chỉ ra rằng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là một phương thức đo lường không đầy đủ cho sự phát triển kinh tế và thịnh vượng xã hội, và do đó không nên là mối quan tâm duy nhất của các nhà làm chính sách. Tuy vậy chúng ta vẫn chưa tìm được một phương thức khả thi khác thay thế cho chỉ số GDP.

Một điểm thiếu sót khá rõ ràng của GDP là việc chỉ số này không tính đến giá trị của các công việc nội trợ, bao gồm chăm sóc trẻ nhỏ và người lớn tuổi trong gia đình. Quan trọng hơn nữa, việc gán một giá trị tiền tệ cho những hoạt động trên sẽ không giải quyết được một điểm yếu sâu sắc hơn của GDP: sự thiếu khả năng phản ánh đầy đủ trải nghiệm sống của từng thành viên trong xã hội. Tính thêm yếu tố công việc nội trợ sẽ làm GDP phình to, trong khi đó lại không tạo được khác biệt thực sự nào về mặt tiêu chuẩn sống. Và những phụ nữ cấu thành một phần đáng kể trong nhóm những người làm các công việc nội trợ sẽ tiếp tục được coi là những “tình nguyện viên”, thay vì là những nhân tố đóng góp thực sự cho nền kinh tế.

Một thiếu sót khác cũng khá nổi tiếng của GDP là việc nó không tính đến sự phá hủy giá trị, như khi các quốc gia quản lý sai nguồn nhân lực của họ qua việc trì hoãn cung cấp giáo dục cho một số nhóm dân cư hoặc qua việc làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên vì những lợi ích kinh tế trước mắt. Tổng kết lại, GDP có xu hướng đo lường các tài sản một cách không chính xác và hầu như không đo lường chút nào các khoản giảm trừ.

Mặc dù chưa xuất hiện sự đồng thuận quốc tế nào về một phương thức thay thế cho GDP, đã có một tiến trình rất đáng khích lệ hướng đến tư duy toàn diện hơn về đo lường hoạt động kinh tế. Năm 1972, các nhà kinh tế thuộc Đại học Yale gồm William Nordhaus và James Tobin đã đề xuất một khuôn khổ mới, được gọi là “Đo lường phúc lợi kinh tế” (measure of economic welfare – MEW), nhằm tính đến những hoạt động nhỏ không được trả công. Và, gần đây hơn, Trung Quốc đã thiết lập một chỉ số “phát triển xanh”, trong đó xem xét thành tích kinh tế bên cạnh nhiều yếu tố môi trường khác.

Hơn nữa, những người ra quyết định trong khu vực kinh tế công và tư nhân giờ đây đã có nhiều hơn rất nhiều các công cụ so với trước đây để giúp đưa ra những lựa chọn phức tạp. Về phía nhà đầu tư, nhu cầu đối với các dữ liệu môi trường, xã hội và quản trị đang tăng lên đột biến. Và trong khu vực công, các tổ chức như Ngân hàng Thế giới (WB) đã sử dụng các chỉ số đo lường khác ngoài GDP nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống, bao gồm tiếp cận giáo dục và tuổi thọ khi sinh.

Cùng lúc, cuộc tranh luận về Tổng thu nhập quốc nội (GNI) cũng đang ngày càng nóng lên. Mặc dù chỉ số này chia sẻ những yếu tố nền tảng với chỉ số GDP, GNI phù hợp hơn với kỷ nguyên toàn cầu hóa của chúng ta, bởi nó tính tới các thu nhập được tạo ra bởi những công ty nước ngoài và công dân nước ngoài. Theo đó, trong một quốc gia nơi các công ty nước ngoài sở hữu một phần lớn các tài sản sản xuất và các tài sản khác, GDP sẽ bị thổi phồng lên, trong khi GNI chỉ thể hiện phần thu nhập mà nước này thực sự giữ lại (xem biểu đồ).

Ireland là một ví dụ điển hình về việc GNI đã được sử dụng như thế nào để điều chỉnh cho những sai lệch trong tính toán của GDP. Năm 2015, GDP theo báo cáo của Ireland tăng 26,3% – một con số làm nhiều người tròn mắt. Theo một nghiên cứu của OECD năm 2016, sự kiện này đã làm dấy lên những câu hỏi nghiêm túc về “năng lực của khung khái niệm kế toán dùng để định nghĩa GDP nhằm phản ánh đầy đủ hiện trạng của nền kinh tế.”

Báo cáo của OECD từ đó kết luận rằng GDP không phải là một chỉ dẫn đáng tin cậy về sự thịnh vượng vật chất của một quốc gia. Trong trường hợp của Ireland, sự tăng trưởng GDP đáng kinh ngạc trong một năm đó là bởi nhiều công ty đa quốc gia “dịch chuyển” một số quyền lợi kinh tế – ví dụ như lợi nhuận từ quyền sở hữu trí tuệ – trong toàn hệ thống kế toán của họ. Để giải quyết sự khác biệt ngày càng lớn giữa phát triển kinh tế thực sự và GDP được báo cáo, Tổng cục thống kê Ireland đã giới thiệu một phiên bản điều chỉnh của GNI được gọi là GNI* vào năm 2016.

Khoảng cách giữa GDP và GNI cũng sẽ sớm được thu hẹp ở những quốc gia khác. Trong một bài nghiên cứu gần đây, Urooj Khan đến từ Trường Kinh doanh Columbia, Suresh Nallareddy đến từ Đại học Duke và Ethan Rouen đến từ Trường Kinh doanh Havard đã nêu bật lên một sự không thống nhất giữa “tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế Hoa Kỳ” từ năm 1975 đến 2013. Họ phát hiện ra rằng trong thời kỳ đó, tăng trưởng trung bình của lợi nhuận doanh nghiệp sẽ vượt xa tăng trưởng GDP mỗi khi tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp trong nước cao hơn tỷ lệ này của các nước trong khối OECD.

Vào cuối tháng 12 vừa qua, sự không nhất quán này được giải quyết bằng việc Quốc hội thông qua Đạo luật cắt giảm thuế và việc làm 2017. Bằng việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp xuống mức cạnh tranh toàn cầu và đưa ra nhiều điều khoản tốt hơn cho việc đem lợi nhuận quay về nước, gói cải cách thuế này được kỳ vọng sẽ giúp đem lợi nhuận của doanh nghiệp ở nước ngoài quay về Hoa Kỳ. Kết quả là, sự khác biệt giữa GDP và GNI sẽ nhiều khả năng được thu hẹp cả ở Hoa Kỳ và Ireland, nơi nhiều doanh nghiệp Hoa Kỳ lớn đã và đang cất giữ tiền mặt.

Nhìn về tương lai, tôi cho rằng các nhà làm chính sách nên tập trung vào 3 điểm. Đầu tiên, như đã kể trên, các nhóm có liên quan đã và đang giải quyết một vài điểm yếu của GDP, vốn là một điều rất đáng khích lệ. Thứ hai, những người đưa ra quyết định trong khu vực công và tư nhân giờ đây có rất nhiều công cụ để đánh giá tốt hơn các ảnh hưởng phức tạp về mặt xã hội và môi trường mà những hành động của họ gây ra.

Và, thứ ba, trong kinh doanh, không nhất thiết cứ phải thật hoàn hảo. Chúng ta vẫn chưa giải quyết hết tất cả các vấn đề liên quan tới GDP, nhưng chúng ta đã tiến rất xa trên con đường giảm thiểu những điểm gây sai lệch của chỉ số này. Thay vì tìm kiếm một khuôn khổ khái niệm mới, mang tính đột phá để thay thế các kỹ thuật phân tích và dữ liệu hiện tại, chúng ta nên tập trung vào việc tạo ra những thay đổi thấu đáo và dần dần nhằm điều chỉnh hệ thống chỉ số GDP hiện hữu.

Urs Rohner hiện là Chủ tịch hội đồng quản trị Credit Suisse.

———————&&&——————–

Các mô hình kinh tế có thật sự trung tính về mặt ý thức hệ không?

Các mô hình kinh tế có thật sự trung tính về mặt ý thức hệ không?

(Tác giả: Bernard Guerrien – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Tóm tắt

Những mô hình kinh tế, kể cả các mô hình sử dụng toán học không thể thoát khỏi hệ tư tưởng – những tin tưởng tiên nghiệm của các tác giả của chúng. Điều này không có gì là sai trái, trừ phi một số những mô hình này được trình bày, dù có ý thức hay không, một cách sai lạc để biện minh cho những tin tưởng ấy. Như thế hệ tư tưởng lấn át lí trí. Nhiều thời gian và năng lượng đã bị phung phí trong việc thiết kế các mô hình trên, vốn là nguồn gốc của những lẫn lộn hơn là của sự tiến bộ của tri thức.

Dẫn nhập

Hệ tư tưởng thường được hiểu như một tập những tin tưởng tiên nghiệm mà một người rất gắn bó. Không thể tránh được kiểu tin tưởng này trong kinh tế học, khi mà hiếm khi việc thí nghiệm cho phép phân định giữa các lí thuyết lấy cảm hứng từ những tin tưởng trên. Chẳng hạn, trào lưu gọi là trào lưu “Áo” tin chắc rằng hệ thống các thị trường là điều tốt nhất mà nhân loại đã tìm ra để giải quyết các vấn đề có tính vật chất, trong khi đối với các nhà marxist hệ thống này tất sẽ biến mất để nhường chỗ cho một hệ thống công bằng và hiệu quả hơn. Những tin tưởng tiên nghiệm trên khiến “các nhà kinh tế Áo” và các nhà kinh tế marxist bác bỏ các mô hình. Đối với các tác giả đầu đó là vì chúng mang mầm mống của sự can thiệp tất nhiên là tai hại của Nhà nước và đối với các tác giả sau vì họ đấu tranh cho sự tiêu vong của chủ nghĩa tư bản chứ không phải để thiết kế các mô hình nhằm sửa sai nó.

Do đó những nhà kinh tế xây dựng các mô hình không thừa nhận những tin tưởng tiên nghiệm của các nhà kinh tế “Áo” hay của các nhà kinh tế marxit. Hơn nữa, họ còn có xu hướng nghĩ rằng việc sử dụng toán học khiến họ miễn nhiễm với hệ tư tưởng – một điều sai lầm mà việc nghiên cứu hai loại mô hình lớn trong kinh tế học, vi mô lẫn vĩ mô, sẽ cho thấy.

Về hệ tư tưởng trong kinh tế học vi mô

Kinh tế học vi mô truyền thống (hay “lí thuyết tân cổ điển”) được xây dựng xung quanh mô hình cân bằng chung, một mô hình cung cấp một biểu trưng những quan hệ hàng hoá giữa các hộ gia đình và các doanh nghiệp. Lúc nguyên thuỷ, có một quyết tâm cung cấp một cơ sở duy lí cho sự tin tưởng rằng những cuộc trao đổi bị chi phối bởi “qui luật cung cầu” sẽ dẫn đến một cân bằng – trạng thái mà mỗi người có thể hoàn thành các mục tiêu của mình (tối đa hoá sự thoả mãn hay lợi nhuận, tuỳ trường hợp), có tính đến những nguồn lực mình có được. Vào cuối thế kỉ XIX khi các lí thuyết gia lần đầu tiên hình thức hoá mô hình cân bằng chung giả định là các thị trường tự tổ chức bằng cách ấn định một giá duy nhất cho mỗi sản phẩm, trên cơ sở đó các tác nhân phát biểu những cung và cầu của mình[1]. Như vậy, nếu những cung và cầu này chỉ phụ thuộc vào giá cả thì có thể thể hiện chúng bằng những biểu tượng toán học đơn giản – ví dụ, oi(P) và di(P) cho cá thể i ở những giá P. Khi giá cả là sao cho tổng những cung cá thể của mỗi sản phẩm bằng với tổng những cầu cá thể của mỗi sản phẩm thì ta nói rằng có sự cân bằng. Do đó về mặt toán học, các giá cân bằng là nghiệm của một hệ thống n phương trình, một phương trình cho mỗi sản phẩm, với n ẩn số (giá của sản phẩm).

Để chứng minh được là một hệ thống như thế có ít nhất một nghiệm không âm, các lí thuyết gia tân cổ điển buộc phải giả định một dạng rất đặc biệt các cuộc trao đổi là “cạnh tranh hoàn hảo”, trong đó có “ai đó” hay “cái gì đó” :

  1. Đề xuất những giá mà trên cơ sở đó những cung và cầu được hình thành
  2. So sánh cho mỗi sản phẩm tổng của những cung và cầu
  3. Trên cơ sở này tìm kiếm cân bằng bằng cách thay đổi giá cả và vừa phải ngăn cản những giao dịch diễn ra trực tiếp giữa các tác nhân.

Hình thức tổ chức này – mà các nhà kinh tế vi mô hầu như không bao giờ làm rõ[2] – là của một hệ thống cực kì tập trung.

Một cách nghịch lí, khi tìm cách chứng minh rằng hệ thống những “thị trường tự do và phi tập trung” phân bổ một cách hiệu quả các nguồn lực, ta đạt đến một kết luận trái ngược : duy chỉ một hệ thống tập trung – dưới sự dẫn dắt của một người tốt bụng được gọi là “thư kí thị trường”, “đấu thủ-thị trường” hay “người xướng giá” – mới cho phép đạt dược kết quả này.

Lí trí muốn rằng phải vứt bỏ đi mô hình cạnh tranh hoàn hảo vì nó không liên quan gì đến thế giới mà nó có tham vọng biểu trưng, nhưng điều này sẽ đi ngược lại niềm tin đã ăn sâu trong đa số các nhà kinh tế. Do đó, đặc biệt trong các sách giáo khoa nhập môn, có một sự trình bày những mô hình của mô hình cạnh tranh hoàn hảo đủ mơ hồ như thể để hàm ý rằng các giả thiết này tương thích với niềm tin ấy, ít ra là trong trường hợp “hoàn hảo”. Thay vì liệt kê các giả thiết này, các sách giáo khoa tự bằng lòng với việc nêu lên những “điều kiện” mập mờ (“tính nguyên tử”, “sự minh bạch”, “tính đồng nhất” hay “tự do gia nhập”) mà mỗi người có thể kiến giải theo cách của mình và để trong bóng tối đặc tính chính của mô hình : một tổ chức cực kì tập trung các cuộc trao đổi (Guerrien, 2015a).

Đã từ lâu các nhà kinh tế tân cổ điển tìm cách tự bảo vệ chống lại những phê phán gieo sự nghi ngờ đối với một số giả thiết của mô hình của họ. Như vậy, họ đã đề xuất lập luận như thể: nếu chúng ta làm như thể các giả thiết là xác đáng, cho dù hiển nhiên chúng không như thế, và chỉ quan tâm đến những tiên đoán rút ra từ đó. Nếu các tiên đoán này được xác thực, thì có thể xem rằng các mô hình là có hiệu lực (không bị bác bỏ). Cách quan niệm kì lạ này về quan hệ giữa lí thuyết và thực tế không đủ để cứu vãn mô hình cạnh tranh hoàn hảo vì những nhà kinh tế toán học xem xét nó đã đi đến kết luận là mô hình này không thể cung cấp những tiên đoán – hay đúng hơn, theo các tác giả của cuốn sách giáo khoa uy tín nhất về kinh tế học vi mô thì “bất kì điều gì đều có thể xảy ra” (anything goes) (Mass-Colell et alii, trang 698)[3]. Đặc biệt điều này có nghĩa rằng không gì đảm bảo hiệu lực của “quy luật cung cầu”[4], đến độ là không còn lí do để một cân bằng nổi lên và để cho cân bằng này là cân bằng duy nhất. Nói chung, trong trường hợp “hoàn hảo”, “không có ma sát”, hệ thống là không ổn định, chuyển động liên tục, theo chu kì hay một cách hỗn độn, không bao giờ đạt tới trạng thái ngưng nghỉ đặc trưng cho một cân bằng (Besnicourt và Guerrien, 2008, trang 74 và tiếp sau).

Kết quả này, được biết dưới tên định lí Sonnenchein, được xác lập trong những năm 1970. Nó đáng lẽ ra phải khiến những ai bảo vệ lập luận như thể bác bỏ mô hình cạnh tranh hoàn hảo. Hoàn toàn không, một lần nữa hệ tư tưởng đã chiến thắng lí tính.

Về những “ứng dụng” của kinh tế học vi mô

Trong các sách giáo khoa kinh tế vi mô, đặc biệt là các sách tự nhận là “sơ đẳng”, thường ta có thể thấy những cái gọi là “ví dụ bằng số” có thể tạo cảm giác rằng kinh tế học vi mô được “ứng dụng” trong thực tế. Nói chung các ví dụ này là thuần tuý tưởng tượng, một điều không mấy ngạc nhiên cho trường hợp của cạnh tranh hoàn hảo mà thế giới của nó hoàn toàn không liên quan gì đến thế giới chúng ta. Để trở về với thế giới của chúng ta thì ít ra phải thừa nhận là có những tác nhân – ví dụ, các doanh nghiệp – đề nghị giá cả. Như vậy các mô hình phải đưa vào cung hoặc cầu mà các tác nhân này dự kiến ở những giá có thể, có tính đến những phản ứng khả dĩ của những tác nhân khác trong nền kinh tế. Cách tiếp cận bằng khái niệm cân bằng chung trở thành quá phức tạp nên các nhà kinh tế vi mô tự giới hạn ở các mô hình cân bằng bộ phận xử lí chỉ một sản phẩm duy nhất (độc quyền, độc quyền vài người, cạnh tranh độc quyền) hay chỉ những quan hệ song phương (cách tiếp cận bằng hợp đồng với thông tin không đối xứng) giữa những ứng viên trong trao đổi (ví dụ, người sử dụng lao động và người lao động). Như vậy lí thuyết hiện ra như một danh sách dài không có điểm kết thúc những mô hình “nhỏ” mà các “lời giải” (cân bằng) là cực kì nhạy cảm với các giả thiết về thông tin các tác nhân có được và về phản ứng của các tác nhân khác. Tuy nhiên, điểm chung của tất cả các lời giải này là phân bổ không hiệu quả các nguồn lực, trái với trường hợp của cân bằng cạnh tranh hoàn hảo. Do đó tầm quan trọng của cân bằng cạnh tranh này, được trình bày như một lí tưởng không với tới được nhưng vẫn phải tìm cách tiệm cận. Đây là một điều vô nghĩa vì không ai thật sự nghĩ đến việc chấp nhận, dù chỉ một phần, hình thái tổ chức vô cùng tập trung mà mô hình cạnh tranh hoàn hảo, trong các giả thiết “toán học” của nó, đòi hỏi. Do đó sự hiểu lầm chung quanh các giả thiết này – chỉ giải thích được bằng những lí do ý thức hệ – là cội nguồn không đổi của những lẫn lộn. Trái lại, ta có thể nhận xét là không có bất kì dấu vết nào của các mô hình này, hay ngay cả của kinh tế học vi mô nói chung, trong cả ngàn nguồn tham chiếu trong tập Encyclopédie de gestion của Simon và Joffre, một tác phẩm trước hết dành cho những nhà thực hành.

Noah Smith

Trong một bài viết gần đây, Noah Smith, một trong những nhà kinh tế viết blog rất nổi, điểm qua những “thành công” của kinh tế học vi mô, được ông ấy đối lập với những thất vọng đối với kinh tế học vĩ mô vốn bị mất uy tín do đã không thấy trước cuộc khủng hoảng năm 2008 (Smith, 2014a). Kết quả của bản tổng kết này là hơi khiêm tốn và nhất là không liên quan gì nhiều đến những gì ta thấy trong các sách giáo khoa kinh tế vi mô. Ví dụ được Noah Smith yêu thích là ví dụ về một mô hình đã dự đoán đúng đắn – vào năm 1972 ! – số lượng hành khách có khả năng sử dụng một tuyến đường xe hoả mới ở San Francisco. Mô hình được xây dựng với một tí tâm lí học sơ đẳng, các cuộc điều tra về chi phí, thực tế và theo cảm nhận, của những phương tiện vận chuyển khác nhau và vài kĩ thuật thống kê cổ điển về xử lí dữ liệu. Ta ở cách xa những điểm tinh tế của lí thuyết với những tác nhân “nhận giá” (price taker – ND) vì trong mô hình này chủ đầu tư là Nhà nước, một tác nhân rất đặc biệt.[5] Những ví dụ khác được Noah Smith nêu lên thuộc về lí thuyết mechanism design (thiết kế cơ chế), thuật ngữ để chỉ cách tổ chức “tốt nhất” một số kiểu trao đổi : đấu giá trong trường hợp thương mại hay kết đôi các cá nhân (ứng viên hôn nhân, hiến tạng giữa những cá nhân có nội tạng tương thích, tuyển dụng bác sĩ nội trú trong các bệnh viện, …) trong trường hợp phi thương mại. Cách tiếp cận này rõ ràng có tính chuẩn tắc và thuộc về lĩnh vực kế hoạch hoá hơn là “thị trường tự do”, một điều không mấy ngạc nhiên khi nghĩ đến tính nước đôi của kinh tế học vi mô.

Về hệ tư tưởng trong kinh tế học vĩ mô

John M. Keynes (1883-1946)

Nhà nước, tác nhân thiết yếu của nền kinh tế, không thể tự bằng lòng với những trò chơi toán học nhỏ trong cạnh tranh hoàn hảo của các nhà kinh tế. Nhà nước yêu cầu họ phải cung cấp những công cụ để hỗ trợ cho chính sách kinh tế của mình. Đó là vai trò của kinh tế học vĩ mô vốn ngay tức thì theo một quan điểm tổng thể khi quan tâm đến những quan hệ giữa các đại lượng tổng gộp như sản xuất, tiêu dùng, đầu tư. Lấy cảm hứng trước tiên từ Keynes, các mô hình kinh tế vĩ mô đầu tiên được hợp thành từ một số nhỏ quan hệ thực nghiệm – hay mong muốn được như thế – giữa các đại lượng tổng gộp mà nổi tiếng nhất là quan hệ giữa tiêu dùng và thu nhập được Keynes gọi là “quy luật tâm lí”. Thêm vào các quan hệ này còn có những đẳng thức kế toán, kết quả của chính ngay định nghĩa của các đại lượng tổng gộp và thể hiện những sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các khu vực của nền kinh tế.

Nhưng sự đồng thuận được xây dựng sau cơn Đại suy thoái trên cơ sở của các mô hình này chỉ kéo dài một thời gian. Khi kí ức về cuộc khủng hoảng những năm 1930 phai dần thì những chia cắt có tính ý thức hệ lại nổi lên ngay trong nội bộ của trào lưu thống trị giữa, một mặt, “những ai tin tuyệt đối (hay gần như tuyệt đối) vào thị trường” và, mặt khác, “những ai tin vào thị trường với một số dè dặt”. Đối với những tác giả đầu, phải giới hạn sự can thiệp của Nhà nước ở mức tối thiểu trong khi đối những tác giả sau thì sự can thiệp này là cần thiết trong một số tình huống, mà vả lại còn biến đổi theo từng tác giả một (Guerrien, 2015, b).

Những mô hình “keynesian” của thời hậu chiến, mang dấu ấn của cuộc khủng hoảng những năm 1930, trước tiên đã bị các nhà “trọng tiền” – vốn trách chúng là đã không dự báo lạm phát trong những năm 1960 – đặt thành vấn đề rồi nhất là các nhà “cổ điển mới”[6] mà đối với họ sự thiếu vắng những “cơ sở kinh tế vi mô” của các mô hình này là nguồn gốc của những những điều không nhất quán. Lí thuyết cân bằng chung đã có thể là lí thuyết duy nhất có thể tránh được những điều này nhưng nó vấp phải chướng ngại không thể vượt qua là định lí Sonnenschein, theo đó “bất kì điều gì đều có thể xảy ra”. Tuy nhiên các nhà “cổ điển mới” không biết đến chướng ngại này khi chọn một trong những giả thiết đáng kinh ngạc nhất : họ giả định rằng diễn tiến đã qua của nền kinh tế của một nước là kết quả của sự lựa chọn của một tác nhân tối đa hoá sự thoả mãn bản thân bằng cách quyết định ngày hôm nay việc phân chia sản xuất của mình giữa tiêu dùng và đầu tư (và phân chia thời gian giữa thời gian lao động và thời gian nhàn rỗi), đồng thời dự đoán đúng đắn tương lai, li lai một vài ngẫu nhiên – những dự kiến của tác nhân này là những “dự kiến duy lí”. Đây được gọi là giả thiết về “tác nhân tiêu biểu”.

Alan Kirman (1939-)
Robert Solow (1924-)

Vài tiếng nói uy tín ngay trong chính trào lưu thống trị, trong đó có Alan Kirman (1992) và Robert Solow (2008), đã tìm cách lưu ý đến tính phi lí của giả thiết trên mà không có ai đáp trả họ, vì không có lập luận[7] (Hartley, 1997). Các tiếng nói trên đặc biệt nhấn mạnh đến việc là chung quy giả thiết này trục xuất ra khỏi kinh tế học vĩ mô vấn đề trung tâm của tính tương thích của các quyết định được lấy bởi những tác nhân có những quyền lợi (phần nào đối lập nhau) và những tin tưởng khác nhau về tương lai. Như vậy, không có lí do gì để tổng số tiền các hộ gia đình quyết định tiết kiệm trùng khớp với tổng số tiền các doanh nghiệp dành cho đầu tư, trừ phi chỉ có một tác nhân duy nhất mà theo định nghĩa đầu tư hết tất cả những gì mình tiết kiệm.

Các phê phán trên – không được đáp trả – đã không ngăn cản ý tưởng tác nhân tiêu biểu nhanh chóng thắng thế và hầu như không gặp sự kháng cự trong giới hàn lâm, điều này gây lúng túng cho những ai ngoài giới. Điều này dường như là trường hợp của các nhà thực hành làm việc trong các cơ quan và ngân hàng trung ương, vốn tiếp tục công việc của họ với những mô hình “theo kiểu cũ”, mặc dù có những mệnh lệnh và chế giễu đến từ giới đại học (Smith, 2014b).

Vả lại hai kiểu mô hình tiếp tục sống chung sau cuộc khủng hoảng năm 2008. Các mô hình đi theo hướng do các nhà “cổ điển mới” mở ra – nay được gọi là “mô hình keynessian mới” – dần dần được thay đổi nhằm áp đặt cho tác nhân tiêu biểu những chướng ngại khác nhau (về mặt pháp lí, hành chinh, kĩ thuật). Những điều “không hoàn hảo” này ngăn cản việc hoàn thành trường hợp “hoàn hảo” và biện minh cho sự can thiệp của Nhà nước, cho dù để làm dịu bớt những hiệu ứng của các bất hoàn hảo (do chính sách của Nhà nước gây nên) hay để loại bỏ chúng (bằng những “cải cách cấu trúc”). Các mô hình có vẻ “thực tế” hơn, nhưng tính phi lí nằm ở nền tảng của chúng – tác nhân tiêu biểu – vẫn tồn tại.

Hệ tư tưởng và chính sách kinh tế

Những mô hình của kinh tế học vĩ mô được xem là giúp những ai cai trị chúng ta lựa chọn chính sách kinh tế. Đối với họ, việc có sẵn nhiều loại mô hình – đặt cơ sở trên những giả thiết khác nhau, thậm chí đối lập nhau – không nhất thiết là một điều bất tiện ; họ có thể chọn trong số này mô hình nào thích hợp nhất với đề án chính trị (hay hệ tư tưởng) của họ và cung cấp được một “đảm bảo khoa học”. Tuy nhiên họ biết giảm bớt tham vọng khi phải lấy những quyết định ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế. Chẳng hạn, khi nền kinh tế thế giới có nguy cơ sụp đổ, ta thấy đột ngột nổi lên một đồng thuận của tất cả những người ra quyết định – các chính phủ và ngân hàng trung ương – về sự cần thiết của sự can thiệp nhanh chóng và mạnh mẽ của các Nhà nước để cứu khu vực ngân hàng và tránh sự sụp đổ dây chuyền của cả những mảng của nền kinh tế thế giới. Lí lẽ thông thường, hay bản năng sinh tồn, đã (tạm thời) lấn át những chia rẻ ý thức hệ, mặc dù có ảnh hưởng, đặc biệt trong các đại học, của trào lưu tự do cực đoan chống đối mọi sự can thiệp.

Hệ tư tưởng và lí tính

Nếu những lí thuyết kinh tế không thể thoát khỏi hệ tư tưởng thì điều này không có nghĩa là chúng thuộc về lĩnh vực phi lí trí. Có thể nêu lên nhiều sự kiện và luận chứng để biện minh cho niềm tin vào vai trò tự điều tiết của các thị trường hay để biện minh cho điều ngược lại. Nhiều lắm là chỉ có thể hi vọng là lí tính và kinh nghiệm một ngày nào đó sẽ cho phép quyết định dứt điểm giữa những niềm tin khác nhau nằm bên dưới các mô hình kinh tế. Trái lại hệ tư tưởng làm đầu óc lạc lối khi nó dẫn đến việc trình bày một cách sai lầm một số các mô hình này, như đó là trường hợp của mô hình cạnh tranh hoàn hảo khi đưa ra một phiên bản lí tưởng hoá của các nền kinh tế phi tập trung, hay của mô hình tác nhân tiêu biểu khi được coi là “cân bằng chung”. Chính niềm tin ăn sâu cho rằng sự vận động tự do của cung và cầu chỉ có thể dẫn đến, chí là trong trường hợp “hoàn hảo”, sự phân bổ các nguồn lực là cội nguồn của một dạng mù quáng đáng kinh ngạc của những người tự nhận, chắc chắn là một cách thành thật, theo phương pháp khoa học. Như vậy, hệ tư tưởng sẽ lấn át lí tính, vả lại đây là điều mà sinh viên kinh tế học cảm nhận một cách ít nhiều rõ ràng, như những cuộc phản đối có tính lặp lại của một bộ phận trong giới này chống lại những điều mà sinh viên được giảng dạy đã chứng minh – một hiện tượng khiến ta phải suy nghĩ và không hề có trong bất kì bộ môn nào khác.

Thư mục

Bénicourt E. và Guerrien B. (2008), La théorie néoclassique, La Découverte, Paris

Boudon R. (1986), L’idéologie, Paris

Guerrien (2015a), “Qu’est-ce que la concurrence parfaite”,

Guerrien (2015b), “Une brève histoire de la macroéconomie et les leVons qu’on peut en tirer

Guerrien (2015c), “Robinson, Maupertius et la nouvelle macroéconomie”,

Hartley J. (1997), The Representative Agent in Macroeconomics, Routledge, London

Kirman A. (1992), “Whom and What Does the Representative Individual Represent?”, Journal of Economic Perspectives, 6(2), 117-136

Simon Y. và Joffre P. (1997), Encyclopédie de gestion, Economica, Paris

Solow R. (2008), “The State of Macroeconomics: A Comment”, Journal of Economic Perspectives, 22(1), 243-249

Smith N. (2014a), “Here’s What Economics Gets Right”, bloomberg, 31 December, 2014

Smith N. (2014b), “The Foxy Fed”, blog noahpinion, April 01, 2014

 Nguyễn Đôn Phước dịch

Nguồn“Les modèles économiques sont-ils vraiment idéologiquement neutres?”Regards croisés sur l’économie, 2019/1 (n0 18)

[1] Stanley Jevons giả định sự tồn tại của những “thực thể buôn bán” và một quy luật “giá duy nhất” trong lúc Walras nói đến những “giá được rao” và gợi ý một “người tính toán” xác định giá các cân bằng (Guerrien, 2015a).
[2] ở đây làm ta liên tưởng đến những “giả thiết vô hình” của Raymond Boudon (1986).
[3] Ví dụ, cầu một sản phẩm không nhất thiết giảm cùng với giá của nó, ngược lại với những gì ta có thể nghĩ. Cũng không gì bảo đảm là giá cả hội tụ về cân bằng.
[4] Đặc biệt luật cầu có thể được kiểm chứng là đúng hay không, nghĩa là hàm di có thể là một hàm tăng hay một hàm giảm.
[5] Tác giả của mô hình, Daniel McFadden, tỏ ra dè dặt hơn Noah Smith. Vả lại có thể tự hỏi phải chăng kết quả của năm 1972 phần lớn có được là do ngẫu nhiên.
[6] Họ chọn tên như thế để quy chiếu về các nhà “cổ điển” từng bị Keynes công kích kịch liệt.
[7] Ngay cả không ai dám lập luận kiểu như thể, do sự đánh lừa quá hiển nhiên không có sức thuyết phục.

————————&&&———————-

Tại sao bất bình đẳng toàn cầu lại quan trọng

Tại sao bất bình đẳng toàn cầu lại quan trọng

(Tác giả: Branko Milanovic – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Tôi sẽ bắt đầu bằng việc xem xét tầm quan trọng của bất bình đẳng trong các cuộc tranh luận công khai những năm gần đây. Như chúng ta đã biết, bất bình đẳng đã bị xem nhẹ trong cả giới học thuật lẫn chính trị – đặc biệt là ở cánh tả – nơi đáng lẽ phải nhạy cảm nhất đối với những vấn đề xã hội. Sau đó, cùng với sự bùng nổ của khủng hoảng, bất bình đẳng lại bất ngờ chiếm một vai trò trung tâm, mà cho đến tận gần đây là không thể đoán trước được. Báo chí bắt đầu nói về nó, thậm chí nó còn là một vấn đề được bàn luận giữa các ứng cử viên Đảng Dân chủ chạy đua vào Nhà Trắng. Bạn nghĩ điều gì đã thay đổi?

Với nội dung của câu hỏi này, tôi sẽ phải phân chia câu trả lời thành hai phần. Tôi sẽ bắt đầu từ việc tại sao bất bình đẳng đột nhiên lại trở thành một chủ đề được bàn luận nhiều đến vậy. Rõ ràng nguồn gốc của sự thay đổi này, đối với tôi, là khủng hoảng kinh tế. Chính những yếu tố vật chất đã ảnh hưởng đến cuộc sống của con người và cách suy nghĩ của họ: bất bình đẳng chắc chắn không phải một hiện tượng mới, nhưng trong 25 năm qua, tầng lớp trung lưu đã có thể che giấu sự vắng mặt của gia tăng thu nhập thông qua tín dụng, đó là vay mượn. Tuy nhiên khi khủng hoảng xảy ra, bong bóng này đã bị vỡ, hàng triệu người dân thường bị ảnh hưởng nặng nề, họ rơi vào thế bất lợi vì kinh tế suy thoái và tiền lương giảm; không thể trả những khoản nợ, đặc biệt là nợ trong thị trường bất động sản. Đừng quên rằng nợ tư nhân của Mỹ còn cao hơn cả GDP quốc gia.

Và sau đó họ sớm nhận ra tình hình thực sự của mình là gì và rằng họ đã không nhìn thấy bất kỳ sự tăng trưởng kinh tế nào trong 25 năm qua. Cùng lúc đó, có một tầng lớp, 1% những người giàu nhất, hoặc là 5% nếu bạn muốn, lại thành công. Vì vậy, điều dấy lên mối quan tâm đến bất bình đẳng là sự thiếu vắng của tăng trưởng kinh tế và việc nhận ra rằng tình trạng này không xảy ra với tất cả mọi người – trong quá khứ một vài người đã trở nên rất giàu có trong khi nền kinh tế trì trệ với rất nhiều người khác. “Phát hiện” này có một ảnh hưởng rất lớn lên nhận thức của cộng đồng và đó là lý do tại sao bất bình đẳng trở thành một chủ đề được quan tâm. Tôi nghĩ vai trò quan trọng của phong trào Occupy[1]ở Mỹ, phong trào Indignados[2] ở Tây Ban Nha và Đảng Syriza[3] tại Hy Lạp cũng là kết quả của cú sốc này.

Margaret Thatcher (1925-2013)

Phần thứ hai của câu hỏi là tại sao trước khủng hoảng bất bình đẳng lại không phải là vấn đề chính trị chủ yếu, đặc biệt là đối với cánh tả. Câu trả lời rất đơn giản: không còn cánh tả thực sự nào để giải quyết vấn đề này. Cánh tả đã biến mất. Trong những thập kỷ qua, cánh tả đã chuyển sang trung dung, trong một số trường hợp trở thành trung hữu, và tôi đặc biệt nghĩ đến Tây Ban Nha. Về mặt kỹ thuật, nếu bạn định vẽ một đường thẳng bằng những thông số chính trị của những năm 1970, PSOE[4] hiện tại sẽ là một đảng trung hữu. Cũng có thể nói như thế về những chính sách của đảng Xã hội Pháp, và tất nhiên là cả Italia, nơi mà đảng viên đảng Dân chủ trước đây là những người cộng sản và thực tế bây giờ lại đứng vững trên lập trường cánh hữu. Các đảng này không đưa ra bất kỳ câu hỏi vào về bất bình đẳng, họ chỉ đơn giản tuân theo cách tiếp cận tân cổ điển, một phiên bản bị pha loãng của chủ nghĩa Thatcher[5] tất nhiên tránh những chủ đề như vậy.

Đây là lý do tại sao một chủ đề chính trị nhạy cảm như vậy lại bị bỏ qua. Sau đó, khi khủng hoảng diễn ra, người ta hoàn toàn bị vỡ mộng, đặc biệt là những người trẻ, cả về mô hình kinh tế lẫn các đảng phái đại diện cho các xu hướng chính trị và đó là nguyên nhân chúng ta thấy sự phát triển đáng chú ý này trong những năm gần đây.

Hãy cùng đi sâu vào vấn đề chính trị này. Bạn nói rằng cánh tả từ lâu đã không còn là cánh tả nữa, và sau cuộc khủng hoảng chúng ta đã thấy những sự dịch chuyển mới ở Tây Ban Nha và Hy Lạp. Nhưng ở những nơi khác không hẳn cũng như thế. Ở Ý, Phong trào Năm Sao[6] có vẻ quan tâm đến tham nhũng chính trị hơn là bất bình đẳng. Nói chung, ở gần như tất cả các quốc gia châu Âu, những gì đã từng là cánh tả cũ dường như không thực sự suy nghĩ lại về vai trò của nó. Theo tôi, rủi ro là những trường hợp mới liên quan đến cú sốc hậu khủng hoảng không có được đại diện.

Trong thực tế, lập luận này là sai lầm – nó cho rằng tính đại diện cho các tầng lớp xã hội bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng chỉ liên quan đến cánh tả. Ngược lại, những người bị thiệt hại trong cuộc khủng hoảng có thể an toàn tìm thấy đại diện chính trị ở cánh hữu. Và đó là những gì đã xảy ra. Ngoại trừ Địa Trung Hải – nơi có sự dịch chuyển sang cánh tả, với chính phủ xã hội chủ nghĩa ở Bồ Đào Nha và Syriza (Hy Lạp) và sự nổi lên của đảng Podemos[7] ở Tây Ban Nha – phần còn lại của châu Âu đang chuyển dịch sang cánh hữu. Tuy nhiên, đó là cánh hữu khác với của Margeret Thatcher, đó là chủ nghĩa bảo hộ, bài ngoại, và ở một mức độ nào đó còn chống toàn cầu hóa. Bất bình đẳng đang củng cố cho cả cánh tả và cánh hữu cực đoan, trong khi các đảng theo chủ nghĩa ôn hòa lại đang dần bị chèn ép.

François Hollande (1954-)
Nicolas Sarkozy (1955-)

Thành thật mà nói, tôi thực sự không thể hiểu được tại sao bất kỳ người trẻ hay trung niên nào ở Pháp cũng bỏ phiếu cho Hollande[8]. Những người theo Chủ nghĩa xã hội đấu tranh cho cái gì ở Pháp? Họ theo các chính sách cánh hữu trong nước, họ làm chủ nghĩa đế quốc tự do ở nước ngoài. Vì vậy người ta cũng có thể bỏ phiếu cho Sarkozy[9], ít nhất ông ta cũng là nguyên bản, không phải bản sao. Tiếp theo, về phía Đông Âu, không chỉ có một đảng cánh tả duy nhất. Tất nhiên, một phần đây là phản ứng với các hoàn cảnh lịch sử: ở Hy Lạp hay Tây Ban Nha, có một sự dịch chuyển mạnh mẽ sang cánh tả sau nhiều thập niên dưới chế độ độc tài bán phát-xít, và hiện nay ở Đông Âu, có một sự phản ứng lại các chế độ cộng sản từng nắm quyền kể từ khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ II đến năm 1989. Nhìn vào các cuộc bầu cử gần đây nhất ở Hungary và Ba Lan, chúng ta sẽ thấy chỉ có cánh hữu. Tại Vác-sa-va, sau cuộc bầu cử cuối cùng, cánh tả đã không còn đại diện thể chế nào.

Bernie Sanders (1941-)
Marine Le Pen (1968-)

Do đó tầm quan trọng ngày càng gia tăng của vấn đề bất bình đẳng không chắc chắn dẫn tới sự chuyển hướng sang cánh tả, nó cũng có thể củng cố cho cánh hữu. Chúng ta có thể nhìn thấy quá trình này ngay cả ở Mỹ: chắc hẳn sự không hài lòng với cuộc khủng hoảng không chỉ giúp ích cho Bernie Sanders mà còn cho cả Donald Trump. Và ở châu Âu, cuối cùng thì chính Marine Le Pen là người hưởng lợi từ xu hướng chính trị mới này.

Song song với những thay đổi trong diễn ngôn chính trị mà chúng ta đã đề cập đến, vấn đề bất bình đẳng đã trở thành một phần quan trọng trong những cuộc tranh luận học thuật, đặc biệt là giữa các nhà kinh tế học. Cách đây không lâu, bất bình đẳng vẫn là một chủ đề nghiên cứu gần như bị tẩy chay: tư duy tân cổ điển giữ độc quyền nghiên cứu về kinh tế học đã thẳng thừng bỏ qua vấn đề này mà tập trung vào thị trường hiệu quả, và nghi ngờ rằng bất kỳ nỗ lực nào nhằm giảm thiểu bất bình đẳng về kinh tế sẽ chỉ làm hiệu quả của nó tồi tệ thêm. Thực chất, nghèo đói, chứ không phải tự thân bất bình đẳng, đã được giải quyết bằng tư tưởng thẩm thấu: tức là tăng trưởng kinh tế làm giàu cho tầng lớp thượng lưu – những nhà tư bản – nhưng sau đó sẽ chảy nhỏ giọt xuống [cho những người ở tầng lớp dưới] thông qua bậc thang xã hội. Kết quả là không có nhiều người nghiên cứu về bất bình đẳng. Giờ đây mọi thứ đã thay đổi và đặc biệt là sau khi cuốn sách “Capital in the XXI Century” (Tư bản thế kỷ XXI) của Piketty được phát hành, ngày càng nhiều nhà kinh tế học nói đến bất bình đẳng, nó cũng đã trở thành một chủ đề trong chính sách kinh tế. Vậy chuyện gì đã xảy ra?

Thomas Piketty (1971-)

Chúng ta hãy bắt đầu từ đầu – tại sao lý thuyết tân cổ điển lại chưa từng, và hiện tại vẫn không nghiên cứu bất bình đẳng kinh tế. Lý do rất rõ ràng: bất bình đẳng xuất phát từ các giả định của mô hình kinh tế, do đó nó không cần được nghiên cứu thêm. Trong mô hình cạnh tranh hoàn hảo, giá cả được quyết định bởi thị trường – không có biến số nào như quyền lực trong các mô hình tân cổ điển; và sự bất bình đẳng trong thu nhập phát sinh chỉ đơn giản là từ sự khác biệt trong các nguồn lực ban đầu mà mỗi tác nhân trong thị trường nhận được – rõ ràng rằng, đối với mô hình chúng là ngoại sinh.

Hơn nữa, về thực nghiệm chúng ta biết rằng sự phân phối sản phẩm quốc gia giữa tư bản và lao động ít nhiều đã ổn định và không cần nghiên cứu thêm.

Vì vậy, người ta vẫn đang nghiên cứu sự phân bổ thu nhập cá nhân, nhưng chỉ có một số rất ít các học giả tham gia vào nghiên cứu đó và thậm chí họ còn không hiểu nó nên được gắn vào đâu, nó nằm ở đâu trong kinh tế học: nếu lý thuyết sản xuất và tăng trưởng không phù hợp; phân phối thu nhập chức năng là ổn định; thì chúng ta có thể nghiên cứu phân phối thu nhập cá nhân, nhưng nó vẫn có một khoảng trống – nhiều năm trước, khi tôi bắt đầu làm việc về vấn đề này, không có sự phân loại các tài liệu trong Journal of Economic Literature[10], rất khó tìm nơi để đặt bài báo của bạn. Ở đây, Piketty có vai trò rất quan trọng vì ông đã phân tích rất rõ: chúng ta bắt đầu từ lý thuyết về sản xuất và tăng trưởng, phân tích phân phối thu nhập theo chức năng và từ đó chuyển sang phân phối thu nhập cá nhân.

Tuy nhiên, bên cạnh lý do kỹ thuật, cũng có một lý do chính trị cho sự xem nhẹ này. Dĩ nhiên, mọi nghiên cứu về bất bình đẳng thách thức các cấu trúc không chỉ của nền kinh tế mà còn của thế giới chúng ta đang sống, và những câu hỏi này không phải lúc nào cũng được hoan nghênh. Như tôi đã viết trong cuốn sách “Haves and Have-Nots” (tạm dịch: Kẻ có người không), rất khó để có được bất cứ khoản tài trợ nào cho nghiên cứu về bất bình đẳng.

Khi mới bắt đầu sự nghiệp tại Nam Tư, tôi cũng trong tình huống tương tự như sẽ phải gặp sau này ở Ngân hàng Thế giới và phương Tây. Trong cả hai trường hợp, ý tưởng chính là chúng ta có một hệ thống hoàn hảo và không nên đặt câu hỏi – trong tâm lý học nó được gọi là “biện minh cho hệ thống”, tức là sự cần thiết bảo vệ những cách tiếp cận biện minh cho sự tồn tại và tính đúng đắn của hệ thống.

Nhưng giờ đây dường như có một sự thay đổi. Có rất nhiều nghiên cứu và cuộc tranh luận trên các phương tiện truyền thông chính thống. Chuyện gì đã xảy ra? Phải chăng đã có một sự thay đổi chính trị tạo ra thay đổi này? Tất cả đều gắn liền với sự thành công của Piketty?

Đó là sự kết hợp của nhiều yếu tố. Thứ nhất, đã có một bước đột phá đáng kể trong khoa học của kinh tế học. Như tôi đã nói ở trên, kinh tế học hầu như không quan tâm đến mối liên hệ quyền lực và sử dụng “tác nhân tiêu biểu” làm trung tâm của khung lý thuyết – về cơ bản loại bỏ mọi hình thái không đồng nhất, và thay vào đó tập trung vào giá trị trung bình của biến chúng ta muốn nghiên cứu. Thế mà theo định nghĩa bất bình đẳng là không có tính đồng nhất, nên bạn sẽ không có bất bình đẳng nếu không có sự khác biệt. Tuy nhiên, bây giờ, chúng ta có được sự truy cập chưa có tiền lệ vào các dữ liệu, và điều này cho phép tiến hành cả những nghiên cứu rộng hơn, chi tiết hơn mà rõ ràng cũng liên quan đến việc nghiên cứu về bất bình đẳng.

Phần thứ hai của câu trả lời, tất nhiên, là yếu tố chính trị – ở đây có sự can dự của những mối quan tâm chính trị và xã hội mạnh mẽ. Piketty không phải là một nhân tố ngoại sinh, ông đi theo trào lưu những phản kháng đó – nhận thức của hàng triệu người rằng phân phối thu nhập là có vấn đề. Hai yếu tố này, lý thuyết kinh tế và phong trào mạnh mẽ của dư luận, đang cùng nhau dẫn đến một sự thay đổi lớn. Vì vậy, ngay cả dòng chính cũng phải phản ứng với tình hình mới này, các thể chế và các tổ chức tư vấn không thể đứng yên trước một hiện tượng quá quan trọng, họ không thể bỏ qua nó. Thậm chí Viện nghiên cứu kinh tế quốc tế Peterson (Peterson Institute for International Economics), được tài trợ bởi các ngân hàng thương mại ở Washington, đã bắt đầu nghiên cứu, và khá nghiêm túc, về vấn đề bất bình đẳng. Ngay cả Ngân hàng Thế giới cũng vậy – cách đây 5 năm, bất bình đẳng không được quan tâm, trong khi hiện nay đang có ngày càng nhiều nghiên cứu đề cập đến vấn đề này.

Chúng ta vừa nói về bất bình đẳng ở các nước phương Tây, nhưng hãy mở rộng bối cảnh ra một chút. Cuốn sách mới của bạn viết về toàn cầu hóa, và tôi thấy rằng có một cuộc thảo luận mở rộng về dữ liệu của bạn cho thấy trong 30 năm qua, sự gia tăng thu nhập gần như thuộc về 1% những người giàu nhất và cái gọi là tầng lớp trung lưu toàn cầu, bao gồm chủ yếu là người lao động Trung Quốc và Ấn Độ – những người có sự tăng vọt về thu nhập; trong khi người bị thiệt hại bởi toàn cầu hóa chủ yếu là tầng lớp trung lưu và công nhân phương Tây. Chúng ta có thể rút ra những gì từ dữ liệu này?

Không có điều gì là hoàn toàn tích cực hay hoàn toàn tiêu cực, luôn có sự đánh đổi, người này được và người kia mất. Trong bối cảnh toàn cầu, có thể những người được nhiều hơn những người mất; hoặc những gì người thắng được nhiều hơn những gì người thua mất, và do đó chúng ta có thể có một kết quả tích cực tổng thể, ở đó thu nhập trung bình tăng lên.

Dữ liệu cho thấy rằng toàn cầu hóa chắc chắn là yếu tố chính trong sự thay đổi phân phối thu nhập. Rõ ràng, đó không phải là yếu tố duy nhất, còn có sự thay đổi về công nghệ và chính sách. Nhưng cả hai điều này cũng không thể tách rời khỏi toàn cầu hóa. Thay đổi công nghệ – nhìn qua đã thấy là một sự đổi mới trung tính – sẽ không thể phát huy hết hiệu quả nếu không có toàn cầu hóa. Dĩ nhiên, cũng có thể nói về chính sách: Nếu quay trở lại những gì chúng ta thảo luận trước đó, rằng những người theo chủ nghĩa xã hội đã thay đổi các chính sách của mình, chúng ta sẽ nhận thấy áp lực của toàn cầu hoá lớn thế nào. Thử nghĩ về một chủ đề như thuế: vì sự dễ dàng luân chuyển của tư bản, không thể giữ được mức thuế cao và chính trị phải thích ứng với những thay đổi cấu trúc này. Tương tự, các chính sách về lao động ở Đức đã chủ yếu được ban hành bởi tư bản Đức, dưới sự đe doạ di chuyển hoạt động sang Cộng hòa Séc hoặc Ba Lan.

Những khía cạnh thú vị nhất mà chúng ta thấy trên toàn cầu là ba yếu tố mà bạn đã đề cập: sự phát triển của tầng lớp gọi là trung lưu toàn cầu, đặc biệt ở Trung Quốc; sự tăng trưởng bằng không của tầng lớp trung lưu ở các nước phát triển; và cuối cùng là lợi ích đáng kể thuộc về những người giàu có hơn. Đây có phải là một điều tích cực? Bạn chắc chắn có thể nói như vậy, hàng trăm triệu người nghèo bây giờ đã đỡ nghèo hơn, trong khi những người bị tổn thất nhiều nhất – tầng lớp trung lưu phương tây – đã từng tương đối khá giả. Nhưng đây chưa phải là một câu trả lời thỏa đáng cho các nhà hoạch định chính sách phương Tây, cũng như cho những người lao động đã thiệt hại rất nhiều trong những năm gần đây.

Những gì bạn nói rất đúng và thú vị nhưng nó cũng có thể được sử dụng, và nó đã được sử dụng, như là một sự thừa nhận tính đúng đắn và chính xác của các chính sách tân tự do; một trong những câu thần chú thường được nhắc lại là, cuối cùng thì các chính sách của Đồng thuận Washington[11] đã có hiệu quả và góp phần vào sự phát triển của các nước Nam. Ví dụ, trên thực tế, những thành tựu trong tầng lớp được gọi là trung lưu toàn cầu đã được ghi nhận ở Trung Quốc và Ấn Độ, và người ta nghi ngờ rằng thành công này là sản phẩm phụ từ các chính sách của phương Tây, chứ không phải của chính phủ Trung Quốc.

Ronald Reagan (1911-2004)

Bạn có thể thử sử dụng dữ liệu này để tuyên bố thành công của các chính sách tân tự do, nhưng trên thực tế, khó có thể phân loại Trung Quốc là một quốc gia tân tự do. Ngược lại, sự thật là: hệ thống pháp luật về căn bản là không minh bạch; tham nhũng; độc quyền; quyền sở hữu không được xác định rõ; khu vực công vẫn chiếm phần lớn; và tồn tại những giới hạn đối với quyền tự do di chuyển của người lao động. Điểm chung duy nhất giữa các chính sách của Trung Quốc và tân tự do là sự mở cửa ra thương mại quốc tế, tuy nhiên sự sắp xếp thể chế là hoàn toàn khác nhau. Dĩ nhiên, những khía cạnh này thường bị giữ kín, bởi vì đối với tầng lớp thượng lưu đã thu được rất nhiều từ toàn cầu hóa, gửi một thông điệp về việc những chính sách này đã giúp những người nghèo nhất như thế nào sẽ rất có ích cho họ. Mặc dù vậy, như tôi đã nói, điều này có thể chưa đủ ở cấp độ chính trị, vì tầng lớp thượng lưu nay phải đối mặt với một sự bất mãn ngày càng gia tăng. Khi Reagan[12] hay Thatcher xây dựng sự đồng thuận cho khuynh hướng tân tự do, họ không giải thích rằng những chính sách này sẽ làm giàu thêm cho người nghèo Trung Quốc trong khi các công nhân Anh và Mỹ sẽ mất việc.

Theo bạn, triển vọng trong tương lai sẽ là gì? Có một số yếu tố cơ cấu và mâu thuẫn nhau đáng chú ý. Một mặt, sự gia tăng tiền lương ở Trung Quốc có thể làm cho việc di dời tư bản bất tiện hơn, làm chậm tiến trình toàn cầu hóa. Hơn nữa, theo Giáo sư (Charles) Goodhart của LSE (Trường Kinh tế và Khoa học chính trị London – ND), sự khác biệt chính là trong xu hướng dân số, Trong 50 năm qua, dân số đã phát triển rất mạnh và điều này dẫn đến tình trạng cung lao động dư thừa làm giảm tiền lương. Với sự ổn định của dân số, xu hướng trong tỷ lệ tư bản-lao động dự kiến sẽ tự đảo ngược và bất bình đẳng cũng sẽ như vậy. Tuy nhiên, đồng thời, chúng ta cũng chứng kiến một làn sóng mới của tiến bộ công nghệ và với sự tự động hóa của nhiều ngành công nghiệp, nhu cầu lao động sẽ ngày càng giảm đi. Điều gì đang chờ đợi chúng ta trong tương lai gần?

Đây là một câu hỏi khó. Đúng là ở Trung Quốc đang có một sự chuyển đổi về mặt nhân khẩu học, dân số sẽ đạt đỉnh điểm trong thập kỷ tới; dù vậy, xu hướng ở Ấn Độ lại khác, và sự tăng trưởng sẽ đạt đến đỉnh trong ít nhất nửa thế kỷ nữa. Đồng thời chúng ta có thể thấy một sự gia tăng dân số rất nhanh ở châu Phi. Theo một số ước tính, đỉnh điểm của dân số sẽ là 11 tỷ người. Trong mọi trường hợp, đó là một vấn đề rất phức tạp. Hai thế kỷ tiếp theo, dân số có lẽ sẽ ổn định, và với sự dồi dào của tư bản, chúng ta có thể lật ngược tình thế về bất bình đẳng hiện tại. Đó là một giả định hợp lý, nhưng là một viễn cảnh trong dài hạn.

Đối với cuộc cách mạng công nghệ, tôi không bi quan như nhiều người khác. Mỗi lần có một sự thay đổi về công nghệ, người ta luôn lo sợ về thất nghiệp hàng loạt, nhưng điều này chưa bao giờ xảy ra. Vấn đề là khả năng tưởng tượng của chúng ta – chúng ta chỉ biết các loại công việc đã tồn tại, nhưng đó chưa chắc sẽ là những việc trong tương lai. Chúng ta thấy robot tham gia vào các công việc hiện tại và lo lắng cho tương lai của mình, nhưng chúng ta không biết được sau này sẽ ra sao. Ví dụ, khi tôi đến Mỹ vài năm trước, mẹ tôi đã đi cùng tôi, cụ thể là trong thời tranh chiến tại Nam Tư, bà không thể hiểu được công việc của những người tôi quen. Bà biết thợ đóng giày và bác sĩ là gì, nhưng một người quản lý quỹ phòng hộ là điều mà bà không thể hiểu ngay được. Bây giờ chúng ta có tất cả các loại công việc trong ngành công nghệ thông tin và khởi nghiệp – những thứ thậm chí chưa từng tồn tại một vài năm trước đây.

Vậy bạn thấy những xu hướng nào về toàn cầu hóa và bất bình đẳng?

Đó là chủ đề tôi đã đề cập trong phần cuối cùng của cuốn sách – tôi không nghĩ rằng thực sự có thể đưa ra dự đoán chính xác. Nói chung, khi đưa ra dự báo, chúng ta chỉ cần lấy một con số và coi nó ổn định trong 20 năm tới, nhưng dĩ nhiên mọi thứ sẽ thay đổi, và các dự báo trở nên vô dụng. Tuy nhiên, nhìn chung, những gì tôi thấy là vai trò của Trung Quốc có lẽ sẽ bị các nước khác chiếm mất (những nước có tăng trưởng dân số mạnh hơn), và điều này có nghĩa sẽ có một sự hội tụ tiền lương giữa các nước giàu và nghèo, ít nhất là trong vòng 50 năm tới. Tuy thế, ở phương Tây, sự hội tụ tiền lương này sẽ là một vấn đề chính trị bởi nó sẽ dẫn đến việc không có sự gia tăng tiền lương thực sự ở các nước phát triển. Bất bình đẳng trên toàn cầu sẽ giảm đi, như hiện tại đang diễn ra, đặc biệt là do sự tăng trưởng của một số nước châu Á và châu Phi – thành phần các nước ở giữa sẽ giảm xuống.

Tuy nhiên, thành phần bên trong, hay thành phần giai cấp, nếu bạn muốn, về bất bình đẳng, chắc chắn sẽ tăng lên. Trong vòng hai hoặc ba thập kỷ tới, có thể sẽ có thêm nhiều xung đột quốc gia về vấn đề toàn cầu hoá và phân phối thu nhập.

Và điều này tất nhiên dẫn chúng ta tới chủ đề mối quan hệ giữa bất bình đẳng và dân chủ. Như bạn nói, những gì chúng ta nhìn thấy ở phương Tây là sự đình trệ tiền lương và điều này có thể gây ra tình trạng bất ổn và xung đột giai cấp. Thậm chí bạn có thể nghĩ rằng chính chế độ dân chủ sẽ gặp rủi ro: chế độ dân chủ có nghĩa là các quyền chính trị như nhau và thu nhập không giống nhau, nhưng chúng ta biết quyền lực kinh tế có thể bóp méo cơ chế đại diện như thế nào. Bạn có nghĩ rằng sự bất bình đẳng về kinh tế ngày càng tăng này có thể làm suy yếu nền dân chủ phương Tây?

Những gì tôi cho là ấn tượng nhất về tình hình hiện nay là, bất chấp khủng hoảng kinh tế với độ cứng bất thường, chúng ta vẫn chưa thấy bất kỳ sự tăng trưởng thực sự và đáng kể nào của các phong trào chống hệ thống. Ngay cả Đảng Mặt trận Quốc gia[13](FN) cũng hoạt động trong một khuôn khổ dân chủ. Có lẽ là Tổng thống Erdogan của Thổ Nhĩ Kỳ và Putin đang tiến gần đến một mô hình chính trị vượt qua được chế độ dân chủ, nhưng hiện tại điều này không xảy ra ở Tây Âu. Và tôi cũng hoài nghi về khả năng thực hiện những điều đã hứa trong cuộc vận động của các đảng như FN, ví dụ bắt đầu từ việc phá vỡ Liên minh Châu Âu. Tất nhiên, mọi thứ có thể thay đổi – vì một lý do nào đó, Brexit có thể mở ra một kịch bản hoàn toàn mới.

Tôi nghĩ rằng trong những năm tới sẽ có nhiều căng thẳng hơn giữa, một mặt, những người muốn có một phản ứng theo chủ nghĩa dân túy đối với cuộc khủng hoảng – như Trump ở Mỹ – và phản đối các làn sóng di cư, toàn cầu hoá nói chung, ủng hộ việc bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước và chính sách phá giá “lợi mình hại người” (tức là chính sách có lợi cho nước mình nhưng có hại cho các nước láng giềng, ví dụ điển hình là phá giá đồng nội tệ – ND). Và mặt khác, hơn bao giờ hết, là những người giàu có chủ trương cần phải lật đổ sức mạnh của những khu vực dân cư nghèo nhất đang tăng nhanh về số lượng – và điều này sẽ dẫn đến vai trò ngày càng quan trọng của tiền tệ trong việc xác định các lựa chọn chính sách.

Những gì đang xảy ra ở Mỹ rất thú vị: một mặt chúng ta có Trump, người đã dùng sức nặng của tài sản cá nhân trong hoạt động chính trị, một đầu sỏ chính trị hoàn hảo; mặt khác, ứng cử viên lý tưởng của tầng lớp thượng lưu là Hillary Clinton, người bảo vệ giới quyền uy thực sự. Vậy điều sẽ xảy ra là họ sẽ làm mọi thứ có thể để người lao động, người da đen, hoặc ít nhất là những người kém may mắn về kinh tế, đừng bỏ phiếu.

Antonio Gramsci (1891-1937)

Vì vậy, hiện tại chúng ta đang có hai phong trào, một là ủng hộ toàn cầu hoá và bảo vệ lợi ích của nó, đặc biệt là với 5% người giàu nhất, có thể dẫn đến sự chuyển đổi từ từ chế độ dân chủ sang chế độ tài phiệt, và dẫn lời Gramsci[14], để tái lập quyền bá chủ của những tư duy và lợi ích này; và mặt khác là sự gia tăng của các phong trào chống toàn cầu hóa của cánh hữu.

Điều này đúng cả ở châu Âu và phương Tây, trong khi ở những nơi khác thì tình hình lại khác. Ở Mỹ Latinh có sự trở lại của cánh hữu, nhưng tôi tin rằng điều này chỉ là một chu kỳ chính trị bình thường; chúng ta không biết điều gì sẽ xảy ra ở châu Á – ở Ấn Độ giờ đây đã có một chính phủ cánh hữu công khai, trong khi ở các nước như Trung Quốc, Indonesia hay Thái Lan, sự phân chia cổ điển giữa cánh tả và cánh hữu không sâu đậm bằng ở phương Tây.

Robert Reich (1946-)

Tuy nhiên, rủi ro không chỉ về chính trị. Theo nhiều nhà kinh tế học, bao gồm Robert Reich[15], cuộc khủng hoảng kinh tế được gây ra bởi sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập. Nhìn chung, có một rủi ro là mức cầu quá yếu do sự tập trung thu nhập quá mức.

Có nhiều giải pháp, mặc dù không dễ để làm được. Ví dụ, bởi vì toàn cầu hóa, như tôi đã nói, việc đánh thuế cao vào người giàu hay thu nhập vốn rất khó thực hiện – ngay cả khi một quốc gia quyết định tăng thuế, thậm chí nếu hàng chục quốc gia cùng làm như vậy, thì sẽ luôn có những nước khác vui mừng đưa ra mức thuế thấp hơn để đáp ứng sự tháo chạy vốn.

Các chính sách trong tương lai, theo quan điểm của tôi, sẽ đi theo một hướng khác, hướng tới việc phân bổ công bằng hơn các nguồn lực. Nếu đúng là quyền sở hữu vốn quyết định mức thu nhập cao hơn, như Piketty nói, thì chúng ta phải can thiệp vào lĩnh vực đó. Tôi đặc biệt đề cập đến vấn đề giáo dục, vốn đảm bảo lợi ích kinh tế công bằng giữa những người có bằng cấp như nhau – khác với ngày nay, trong giáo dục đại học, những người tốt nghiệp Harvard dự kiến có thu nhập cao hơn ít nhất mười lần so với sinh viên tốt nghiệp các trường đại học ít uy tín hơn. Cân bằng chất lượng giáo dục sẽ có tác động tương tự đến việc giảm sự tập trung quyền sở hữu vốn.

Branko Milanovic (1953-)

Đồng thời, việc giảm sự tập trung vốn vật chất cũng rất quan trọng, điều này chắc chắn là khó khăn hơn, nhưng không phải là không thể. Trong quá khứ, chúng ta đã có những ví dụ về: kế hoạch nhân viên được sở hữu cổ phần; đồng quyết định ở Đức (tức là công nhân cùng tham gia vào quá trình đưa ra quyết định chính sách trong các công ty – ND), tăng cường vai trò của công đoàn trong các hội đồng; và quyền sở hữu công đoàn ở Thụy Điển. Tất nhiên, điều này không hề dễ dàng, nhưng dường như nó khả thi hơn nhiều so với những lựa chọn khác hiện nay.

Về Branko Milanovic:

Branko Milanovic là một nhà kinh tế học người Mỹ gốc Serbia, một chuyên gia về phát triển và bất bình đẳng. Ông là Giáo sư Thỉnh giảng tại Graduate Center thuộc Đại học New York (CUNY) và một học giả cao cấp thuộc Chương trình Nghiên cứu Thu nhập Luxembourg (LIS). Ông từng là nhà kinh tế học hàng đầu tại bộ phận nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới.

Nguyễn Mai Hạ dịch

Nguồn: Why Global Inequality MattersSocialEurope.Eu, 18 March 2016

[1] Phong trào Occupy (phong trào Chiếm Phố Wall – Occupy Wall Street): mục tiêu là thay đổi luật lệ ảnh hưởng tới việc phân bố lợi tức trong nền kinh tế, nói cách khác là thay đổi luật về thuế khóa. – ND

[2] Phong trào Indignados (theo tiếng Tây Ban Nha là “Những người phẫn nộ”): phiên bản “Chiếm Brussels” của phong trào “Chiếm Phố Wall”, phản đối tình trạng bất bình đẳng trong xã hội châu Âu. – ND

[3] Đảng Syriza: một đảng chính trị cánh tả ở Hy Lạp, phản đối chính sách thắt lưng buộc bụng. – ND

[4] PSOE: đảng Xã hội cánh tả Tây Ban Nha – ND

[5] Thatcher: Margeret Thatcher – nữ Thủ tướng đầu tiên của Anh, được ca ngợi là một nhà cải cách đã thay đổi toàn bộ đất nước, nhưng bà cũng bị không ít người chỉ trích vì làm rộng thêm vực sâu ngăn cách giữa người giàu và người nghèo. – ND

[6] Phong trào Năm Sao: vốn là một phong trào xã hội dân sự, được thành lập vào năm 2009 bởi Beppe Grillo – một diễn viên hài và Gianroberto Casaleggio – một chuyên gia IT. Cốt lõi triết lý của phong trào là loại bỏ các đảng phái, thứ mà nhiều người ở Ý xem như là nguồn gốc của chủ nghĩa bảo trợ và tham nhũng. – ND

[7] Podemos: một đảng dân túy vô chính phủ – xã hội chủ nghĩa của Tây Ban Nha. – ND

[8] Hollande: (Francois Hollande) cựu Tổng thống Pháp, chính trị gia thuộc Đảng Xã hội. Ông đã được bầu làm Tổng thống Pháp ngày 6 tháng 5 năm 2012, đánh bại đương kim Tổng thống Nicolas Sarkozy. – ND

[9] Sarkozy: (Nicolas Sarkozy) cựu tổng thống Pháp, kế nhiệm Jacques Chirac vào ngày 16 tháng 5 năm 2007. Trước đó, ông là lãnh tụ đảng UMP (Union pour un Mouvement Populaire) cánh hữu. – ND

[10] Journal of Literature Economics: hệ thống được thiết lập và phát triển bởi Hiệp hội Kinh tế học Hoa Kỳ, giúp phân loại theo chủ đề các bài báo, luận văn được xuất bản. – ND

[11] Đồng thuận Washington: một thuật ngữ do John Williamson đưa ra tại Viện Kinh tế Quốc tế năm 1990, đề xuất một loạt các chính sách để giải quyết các vấn đề kinh tế của Mỹ Latinh, bao gồm cải cách thuế, tự do hóa lãi suất, một cơ chế tỉ giá hối đoái cạnh tranh, tự do hóa thương mại, tự do hóa đầu tư trực tiếp nước ngoài, và phi điều tiết hóa. Kể từ đó Đồng thuận Washington đã trở nên đồng nghĩa với các chính sách “tân tự do” phản ánh quan điểm của Hoa Kỳ, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, … – ND

[12] Reagan: (Ronald Reagan) Tổng thống thứ 40 của Mỹ, với những chính sách chủ trương giảm tỉ lệ thuế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát nguồn tiền để giảm lạm phát, bãi bỏ kiểm soát kinh tế, và giảm chi tiêu của chính phủ. – ND

[13] Đảng Mặt trận Quốc gia: một đảng chính trị ở Pháp theo chủ nghĩa dân túy cánh hữu và chủ nghĩa dân tộc. – ND

[14] Gramsci: (Antonio Gramsci) nhà triết học, nhà văn, chính trị gia và là lý thuyết chính trị người Ý. Ông là một trong những thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Ý. – ND

[15] Robert Reich: nhà kinh tế học, đồng thời là cựu Bộ trưởng Bộ Lao động Mỹ, phục vụ dưới thời các Tổng thống Gerald Ford, Jimmy Carter, and Bill Clinton. – ND 

———————–&&&——————–

Cạnh tranh (thuần túy và hoàn hảo)

Cạnh tranh (thuần túy và hoàn hảo)

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

02/09/2017 │ Hồ sơ đặc biệt n°006

Sự cạnh tranh “thuần túy và hoàn hảo”[1]được cho là chi phối tất cả các thị trường và cho phép đạt được sự cân bằng chung tốt nhất có thể. Trong thực tế, thậm chí điều đó còn hiếm hơn việc một chuyến tàu hỏa Italia đến ga đúng giờ hay một chương trình bầu cử chân thực và thực tế. Trong một bài viết nổi tiếng, “The Nature of the Firm [Bản chất của doanh nghiệp]” (được đăng vào năm 1937 nhưng đã giúp ông nhận được “giải Nobel” năm mươi bốn năm sau…), Ronald Coase, nhà kinh tế học người Anh tuy theo tư tưởng tự do, bình luận như sau định nghĩa theo đó, trong cạnh tranh hoàn hảo, mọi người đều biết được tất cả các giá cả phù hợp: “Tất nhiên đây là điều không xác đáng trong thế giới thực.” John K. Galbraith, nhà kinh tế học “cao to” người Mỹ (ông cao gần 2 mét), người rất vui khi hăng say tố giác sự phóng đại, sự phù phiếm và sự giả dối của các đồng nghiệp, không phải là người dễ bị đánh lừa. Ví dụ, vào năm 1981, trong Une vie dans son siècle [Một cuộc đời trong thế kỷ của mình] (bản dịch của Daniel Blanchard, La Table ronde, 2006), ông đã viết: “Những ai tin có thể rằng người bán báo ở góc đường và công ty General Motors thuộc cùng một họ, cả hai đều bị chi phối như nhau bởi các tác lực lớn của thị trường, những tác lực mà họ không có quyền gì trên đó cả, cả hai đều [là những tác nhân] thụ động, ngoại trừ với tư cách là cử tri, thì những người đó có thể tin bất cứ điều gì” (trang 485). Tuy nhiên, một phần ba thế kỷ sau, Jean-Marc Daniel gạt sang một bên lời phê phán đó trongL’Etat de connivence [Nhà nước thông đồng] (Odile Jacob, 2014): “Khái niệm thị trường cạnh tranh trong kinh tế học giống như khí hoàn hảo của nhà vật lý học. Không ai có thể thấy được nó, thế nhưng phân tích của nó cho phép rút ra những kết luận vừa đơn giản vừa hiệu quả” (trang 105). Không phải cứ so sánh được là hợp lý, cần phải xem xét kỹ hơn một chút, dưới góc độ mổ xẻ của các nhà kinh tế học, điều tốt và điều xấu của sự cạnh tranh thuần túy, hoàn hảo, lành mạnh, tự do và không bị bóp méo.

Cạnh tranh (thuần túy và hoàn hảo)chúng ta đang nói về cái gì?

Để cho sự cạnh tranh mang tính “thuần túy và hoàn hảo”, các tác nhân phải có tất cả những thông tin cần thiết để đưa ra lựa chọn; không ai trong số họ (người mua hoặc người bán) có một tầm quan trọng quá đáng; mỗi loại sản phẩm, là đối tượng của sự cạnh tranh, sẽ chỉ bao gồm những hàng hoá hoặc dịch vụ giống nhau; việc thâm nhập thị trường không chịu bất kỳ hạn chế nào. Trong những điều kiện ấy, không có người mua hay người bán cá thể nào có thể gây ảnh hưởng đến giá cả từ việc đối chiếu cung với cầu, và mức giá này có tính ràng buộc đối với mọi người. Ngoài ra, nếu nhà sản xuất (hoặc thương nhân) cũng tuân theo các quy tắc tương tự, thì sự cạnh tranh mang tính “công bằng”, và nếu không có ai lừa đảo thì sự cạnh tranh không bị “bóp méo”.

Mặt phải

Kenneth Arrow (1921-2017)
Gérard Debreu (1921-2004)

Vào cuối thế kỷ 19, năm 1874, Léon Walrascông bố ấn bản đầu tiên của ông Eléments d’économie politique pure [Các yếu tố của kinh tế học chính trị thuần túy]. Ông chứng minh, bằng một hệ thống các phương trình, rằng “việc xác định giá cả theo một chế độ mang tính giả thuyết về sự cạnh tranh tự do tuyệt đối” sẽ dẫn đến một cân bằng chung: giá cả sẽ cân bằng mức cung và cầu của tất cả hàng hoá và dịch vụ, kể cả các “dịch vụ sản xuất”, một thuật ngữ mà Walras dùng để chỉ việc làm. Năm 1954,Kenneth Arrow và Gérard Debreu, cả hai đều được trao “giải Nobel” vì việc đó[2], đã chứng minh rằng cân bằng chung này dẫn đến sự toàn dụng lao động và sự sử dụng tối ưu tất cả các nguồn lực khi thị trường bao gồm cả các hợp đồng kỳ hạn (có nghĩa là liên quan đến những giao dịch trong tương lai). Thị trường sẽ định giá tất cả các nguồn lực hiện hữu, không bỏ sót bất cứ thứ gì… với điều kiện là tôn trọng các điều kiện của cạnh tranh hoàn hảo.

Friedrich Hayek (1899-1992)
Milton Friedman (1912-2006)

Ngoài việc đạt được mức sản xuất và phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả nhất có thể, sự cạnh tranh, theo Milton Friedman, cho phép “một sự điều phối không ép buộc […]một xã hội có tổ chức thông qua sự giao dịch tự nguyện […] mà chúng ta đã gọi là chủ nghĩa tư bản cạnh tranh. [Ví dụ:] người lao động được bảo vệ khỏi sự cưỡng ép của người sử dụng lao động bởi người lao động có thể đến làm việc cho nhiều người sử dụng lao động khác[3]. Đối với Friedrich Hayek, “cạnh tranh là cách tốt nhất để hướng dẫn những nỗ lực của cá nhân”, nhờ vào việc hệ thống giá cả, ở mỗi thời điểm, cung cấp một thông tin quý giá cho cả nhà sản xuất lẫn người tiêu dùng.

Jean-Marc Daniel (1954-)

Cuối cùng, theo lời giải thích của Jean-Marc Daniel (trong tác phẩm đã dẫn, trang 100), “điều làm cho sự cạnh tranh mang tính chính đáng hoàn toàn là khả năng làm giảm giá cả và vì vậy làm tăng sức mua của người tiêu dùng”. Trong một hệ thống cạnh tranh hoàn hảo, cuộc đấu tranh của từng nhà sản xuất để cố gắng giữ chân khách hàng sẽ dẫn đến một nỗ lực không ngừng làm giảm chi phí sản xuất, và bản thân lợi nhuận cũng giảm xuống mức tối thiểu, mức mà nếu giảm thêm nữa nhà sản xuất cũng đành buông tay. Từ đó mà có nghịch lý: chủ nghĩa tư bản cạnh tranh, nếu đáp ứng các tiêu chí của sự cạnh tranh hoàn hảo, thì sẽ trả thưởng một cách dè sẻn cho những người cung cấp vốn. Người thắng là người mua, chứ không phải là người sản xuất. Người mua hưởng lợi từ những nỗ lực của người sản xuất, những người, đứng trên miệng núi lửa, luôn bị đe dọa rơi xuống vực thẩm.

Mặt trái

Đây chính là vấn đề nan giải. Phải thừa nhận rằng, sự cạnh tranh hoàn hảo là một động lực thúc đẩy, và là một động lực thúc đẩy mạnh mẽ, bởi chính sự sống còn của doanh nghiệp bị đe doạ. Nhưng, ngay cả khi nhà sản xuất chấp nhận thách thức, thì họ chỉ thu về những lợi ích hạn chế, nhanh chóng bị các đối thủ cạnh tranh thách thức tiếp. Ngoài ra, trên thực tế, mỗi doanh nghiệp đều tìm cách tránh xa nguy cơ rơi xuống vực thẳm để đảm bảo tính bền vững của mình. Thay vì là “người chấp nhận giá” (price taker), có nghĩa là có nghĩa vụ phải chấp nhận giá cả thị trường, bất kỳ nhà sản xuất nào cũng tìm cách thiết lập giá cả một cách tự do, hoặc ít nhất là có thể gây ảnh hưởng [đến giá cả]. Ví dụ bằng cách mua lại các đối thủ cạnh tranh hoặc thỏa hiệp các liên minh ít nhiều mang tính bí ẩn (các “cartels”, “trusts”, “thông đồng”…), hoặc, thậm chí như cách làm của John Rockefeller, nhà sáng lập Standard Oil (viết tắt là “Esso”, sau này đổi thành Exxon), bằng cách đe doạ đốt cháy những xe bồn dầu nào không sử dụng dịch vụ của công ty đường sắt của ông.

Những lợi ích của cạnh tranh…

“Chủ nghĩa tự do dựa trên niềm tin cho rằng sự cạnh tranh là cách tốt nhất để hướng dẫn những nỗ lực của cá nhân. Chủ nghĩa tự do không phủ nhận, nhưng ngược lại nhấn mạnh rằng để sự cạnh tranh đóng một vai trò hữu ích, thì cần tạo lập một khung pháp lý một cách cẩn thận; thừa nhận rằng những luật pháp trong quá khứ và hiện tại có những sai sót nghiêm trọng. Chủ nghĩa tự do cũng không phủ nhận rằng bất cứ nơi nào không thể làm cho sự cạnh tranh trở nên hiệu quả, thì cần phải viện đến những phương pháp khác để hướng dẫn hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, chủ nghĩa tự do kinh tế chống lại việc thay thế sự cạnh tranh bằng những phương pháp kém hơn trong việc phối hợp các nỗ lực của con người. Chủ nghĩa tự do coi sự cạnh tranh là phương pháp vượt trội không chỉ vì đó là phương pháp hiệu quả nhất được biết đến, trong hầu hết các tình huống, mà đó còn là phương pháp duy nhất cho phép điều chỉnh các hoạt động của con người mà không cần đến những can thiệp tuỳ tiện hoặc cưỡng ép của chính quyền”.

… và những giới hạn của nó

“Một thị trường cạnh tranh – tinh tuý của các định chế tư nhân – tự thân nó là một hàng hóa công. Khi một thị trường cạnh tranh được tạo lập, thì mọi người có thể tự do vào hoặc ra, dù có đóng góp hay không vào chi phí vận hành và duy trì thị trường này. Không thị trường nào có thể tồn tại lâu dài mà không có các định chế công ngầm bên dưới để hỗ trợ nó. Trên thực địa, các định chế công và tư thường vận hành khớp với nhau và phụ thuộc vào nhau thay vì phát triển trong những thế giới riêng biệt.”

Sự cạnh tranh hoàn hảo hàm ý những đối thủ cạnh tranh cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ tương tự, hoặc thậm chí giống nhau (“đồng nhất”). Vì thế, người ta chú tâm vào việc tạo sự khác biệt với đối thủ cạnh tranh, qua thương hiệu (Dior), quảng cáo (Danone), bằng sáng chế (Sanofi), khả năng đổi mới (Apple). Sự cạnh tranh hoàn hảo đòi hỏi rằng, trên từng thị trường cụ thể, liệu sự thâm nhập [thị trường] của một đối thủ cạnh tranh mới có diễn ra một cách tự do không? Người ta sẽ cản đường nó [đối thủ cạnh tranh mới] bằng chính những phương tiện tương tự hoặc bằng quy mô của các nguồn vốn được huy động để thâm nhập thị trường, làm cho thị trường nhận diện thương hiệu, đạt đến một thị phần tối thiểu hoặc nhắm được những khách hàng mục tiêu.

Joan Robinson (1903-1983)
Edward Chamberlin (1899-1967)

Nói ngắn gọn, sự cạnh tranh hoàn hảo nhường chỗ cho sự cạnh tranh không hoàn hảo (Joan Robinson) hoặc cạnh tranh độc quyền (Edward Chamberlin), những thứ mà ngày nay là quy luật trên diện rộng: ngay cả những nhà sản xuất nhỏ cũng tạo sự khác biệt bằng cách tham gia vào một hợp đồng nhượng quyền (Dessange, ví dụ, trong ngành làm tóc) hoặc bằng cách tôn trọng bộ quy tắc của một sản phẩm mà tên gọi được bảo hộ (ví dụ, phó mát comté). Điều này không có nghĩa là không có cạnh tranh, nhưng nó bị giới hạn bởi sự khác biệt nhiều ít giữa các sản phẩm thuộc cùng một họ. Bởi thế, nhà kinh tế học người Ba Lan Michal Kalecki, một môn đồ của Keynesgiống như Joan Robinson, đã kết luận: “Sự cạnh tranh hoàn hảo, khi quên đi bản chất thực của nó là một mô hình thuận tiện, trở thành một huyền thoại nguy hiểm”[4].

Liệu sự cạnh tranh không hoàn hảo có lợi không?

Không nghi ngờ gì nữa, sự cạnh tranh không hoàn hảo có lợi cho các nhà sản xuất nào có khả năng nổi lên từ số đông: chỉ cần nhìn vào số tiền lợi nhuận của họ, cách hàng trăm năm ánh sáng với sự gần như biến mất những lợi ích được Walras và những người ca ngợi sự cạnh tranh hoàn hảo công bố cách đây một thế kỷ. Nhưng đối với nền kinh tế nói chung, liệu đó có là một sự cướp đoạt gian ác hay là một động lực có lợi không?

Sự vượt trội không thể tránh né của sự cạnh tranh không hoàn hảo

“Nếu quan sát kỹ hơn các điều kiện […] phải được đáp ứng để đạt được sự cạnh tranh hoàn hảo, thì chúng ta nhận ra ngay lập tức rằng, ngoài ngành sản xuất nông nghiệp thông thường, các trường hợp cạnh tranh là không nhiều. […] Rõ ràng là mọi cửa hàng tạp hóa, mọi trạm xăng, mọi nhà sản xuất găng tay hoặc sản xuất kem cạo râu hoặc sản xuất cưa tay đều có riêng một tiểu thị trường tạm mà họ nỗ lực – phải nỗ lực – tạo lập và duy trì, bằng cách sử dụng chiến lược giá cả, chiến lược chất lượng (“khác biệt hóa sản phẩm”) và quảng cáo. Cùng lúc, chúng ta đối mặt với một “mô hình” hoàn toàn khác […] khi mà sự cạnh tranh “hiệu quả” theo kiểu cổ điển nhường chỗ cho một sự cạnh tranh “hủy diệt”, hay cho một “cuộc đấu tay đôi”, hay đơn thuần cho các cuộc đấu tranh giành quyền kiểm soát, được tiến hành trên mặt trận tài chính. […] Cuối cùng, các nhà kinh tế học bắt đầu vứt bỏ các miếng che mắt để chỉ nhìn thấy không gì khác ngoài sự cạnh tranh về giá. Khi nào sự cạnh tranh về chất lượng và nỗ lực bán hàng được thừa nhận trong tường thành thiêng liêng của lý thuyết, thì biến giá cả mới thôi chiếm vị trí thống trị”.

Joseph Schumpeter (1883-1950)

Trong cuốn Capitalisme, socialisme et démocratie [Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội và thể chế dân chủ]được xuất bản vào năm 1942, Joseph Schumpeter đứng lên chống lại ý tưởng cho rằng sự cạnh tranh hoàn hảo là nguồn gốc của sự tiến bộ: “Sự cạnh tranh hoàn hảo không chỉ là điều không thực hiện được, mà còn là điều thấp kém, và nó không xứng đáng để được giới thiệu như là một mô hình lý tưởng về hiệu quả” (trang 152). Và vài dòng sau ông biện minh cho quan điểm này, phá vỡ “niềm tin chung” tân cổ điển: “Sự tiến bộ kinh tế, theo nghĩa chúng tôi hiểu cụm từ này, phần lớn không tương thích với những điều kiện như vậy. […] Các công ty khổng lồ cuối cùng đã trở thành động lực mạnh nhất của sự tiến bộ này, và đặc biệt của sự mở rộng tổng sản lượng trong dài hạn. Thế nhưng, chúng ta đạt được những kết quả như thế […] vì tuy có chiến lược này, nhưng còn ở một mức độ đáng kể, nhờ chiến lược ấy, mà khi quan sát trong một trường hợp cụ thể và tại một thời điểm nhất định có vẻ có tính giới hạn theo kiểu của Malthus.” Rõ ràng, nếu không có sự bảo vệ chống lại các đối thủ cạnh tranh, thì không có doanh nghiệp nào bắt tay vào cuộc phiêu lưu bất định của sự đổi mới sáng tạo. Mặc kệ! William Baumol, nhà kinh tế học người Mỹ, lập luận rằng điều quan trọng là thị trường phải có tính “tranh chấp được”, có nghĩa là một đối thủ cạnh tranh có thể nhảy vào trong trường hợp các tác nhân trong cạnh tranh không hoàn hảo hành xử quá trớn và thu về những “siêu lợi nhuận” quá không đúng đắn. Ai cũng tự an ủi bản thân theo cách của mình…

Từ nay, hầu hết các nhà kinh tế học đều cho rằng quy mô và siêu lợi nhuận là hai động lực chính của việc chấp nhận rủi ro. Nhưng không vì thế mà cạnh tranh biến mất, nhưng nó được thực hiện giữa một số nhỏ các đối tượng. Vì thế, thật dễ để nhận ra mặt trái của vấn đề trong nền kinh tế của các công ty “độc quyền nhóm” hiện đang thống trị thị trường: quyền lực mà họ nắm được, quyền lực lên người tiêu dùng cũng như lên các chính sách…

Denis Clerc

Nhà sáng lập báo Alternatives Economiques

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

NguồnLa concurrence (pure et parfaite)Alternatives Economiques, 02/09/2017.

——————&&&——————

Thanh khoản (Liquidity)

Thanh khoản (Liquidity)

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

® Giải Nobel: HICKS, 1972 – TOBIN, 1981

Thanh khoản chắc chắn là một trong những thuật ngữ được dùng nhiều nhất trong kinh tế học. Chúng tôi sẽ phân biệt thanh khoản trong số ít (liquidité) với thanh khoản trong số nhiều (liquidités) vốn là đồng nghĩa với tiền tệ hay phương tiện chi trả (ví dụ: les liquidités internationales). Nguồn gốc của thuật ngữ này không hoàn toàn rõ ràng. Đối với Hicks (1962), đây là một khái niệm keynesian, được chính ông ấy sử dụng ngay từ 1935 bằng cách qui chiếu về Chuyên luận về tiền tệ của Keynes (1930). Một số tác giả khác có những cách kiến giải khác và trích dẫn Fisher (1930) hay Menger (1930) nhiều hơn. Tuy nhiên chính Keynes là người đại chúng hoá thuật ngữ này trong Lí thuyết tổng quát (1936) trong đó ông đề xuất khái niệm ưa thích thanh khoản. Cuối những năm 1950 là thời kì khái niệm niệm này lên đến đỉnh điểm, đặc biệt là ở Anh với báo cáo Radcliffe.

Những nghiên cứu này và những nghiên cứu tiếp theo trong những năm 1960 sẽ cho phép mở rộng khái niệm trên. Khái niệm niệm rộng của thanh khoản được xác lập trong hai bước: một bước mà theo tinh thần của lí thuyết lựa chọn danh mục đầu tư sẽ nằm trong lĩnh vực tài chính với khái niệm rủi ro, và một bước khác mở rộng khái niệm này ra cho doanh nghiệp với việc tính đến sự bất trắc.

Thanh khoản tài chính

John M. Keynes (1883-1946)

Quan niệm đơn giản nhất là mô hình lựa chọn danh mục đầu tư trong Lí thuyết tổng quát của Keynes, được Tobin (1958) sửa đổi. Bài viết của Hicks về tính thanh khoản (1958) nằm trong cách nhìn này. Thanh khoản, được đồng hoá với tiền tệ, là đối tượng của một cầu mà ta có thể gọi là có tính tài chính chặt chẽ. Thanh khoản được giải thích bằng động cơ keynesian về đầu cơ hay bằng danh mục tối ưu của Tobin. Như thế Tobin mở rộng những cơ sở của thanh khoản: sự ưa thích thanh khoản trở thành đồng nghĩa với việc ngại rủi ro. Quan niệm này sẽ ảnh hưởng mạnh đến tư tưởng kinh tế hiện đại và sẽ là quan niệm duy nhất của nhiều tác giả.

Một quan điểm tinh vi hơn liên quan đến tính thanh khoản tương đối. Một tài sản được xem là có tính thanh khoản cao hơn một tài sản khác nếu nó được thương thảo một cách chắc chắn hơn, tức thì và không bị thua lỗ. J. M. Keynes viết trong Chuyên luận về tiền tệ (1930): “Phiếu thu và những ứng trước ngắn hạn có tính thanh khoản cao hơn những đầu tư vào trái phiếu, nghĩa là chắc chắn được hoàn thành trong một thời gian rất ngắn và không bị thua lỗ”. Trong tác phẩm này, tính thanh khoản luôn được định nghĩa bằng khoảng cách gần hay xa đối với tiền tệ, nhưng lựa chọn không còn bị giới hạn: ngoài tiền còn có thêm những tài sản thương thảo được nhanh chóng, an toàn và không có rủi ro quan trọng mất vốn, vả lại được người ta gọi là tài sản dễ đổi ra tiền. Như thế nổi lên một lí thuyết đặc biệt về thanh khoản. Người ta chuyển từ tính thanh khoản của một tài sản sang tính thanh khoản của một số tài sản, với tất cả những khả năng lựa chọn tài chính mà điều này mở ra.

Cách nhìn tinh vi nhất là quan điểm của vị thế thanh khoản của R. M. MacKean và trễ hơn của S. C. Kolm (1965), người sử dụng khái niệm “tính thanh khoản của một vị thế tài chính”. Trước tính thanh khoản của những tài sản tài chính ông đối lập tính không thanh khoản của những khoản nợ. Tính không thanh khoản này cũng được xác định nhờ khoảng cách gần hay xa đối với tiền tệ, trong trường hợp này là thời điểm đáo hạn của khoản nợ: một nợ dài hạn có tính thanh khoản thấp hơn là một nợ ngắn hạn. Vị thế thanh khoản của một cá nhân hay của một doanh nghiệp được xác định bởi giá trị bằng tiền và những đặc điểm thanh khoản của những tài sản so với số tiền và cấu trúc đáo hạn của những khoản nợ của tác nhân này. Bước tiến lớn với giai đoạn thứ ba này bắt nguồn từ việc tính đến toàn bộ bảng tổng kết tài sản của tác nhân. Tính thanh khoản được định nghĩa như thế đo khả năng của tác nhân kinh tế trong việc hoàn thành những nghĩa vụ chi trả một khi đến hạn. Việc kiểm soát thanh khoản thuộc về lĩnh vực quản lí tiền mặt (cash management). Bây giờ tính không thanh khoản được phân biệt rõ ràng với việc mất khả năng thanh toán (mất khả năng chi trả hoàn toàn dẫn đến phá sản). Tất cả những điều trên báo hiệu việc khái quát hoá khái niệm thanh khoản ra ngoài lĩnh vực tài chính.

Thanh khoản của doanh nghiệp

John R. Hicks (1904-1989)

Kể từ lúc ta nhấn mạnh đến sự bất trắc liên quan đến những giao dịch tương lai theo một cách nhìn fisherian hơn là keynesian, do đó nhấn mạnh đến đông cơ dự phòng chứ không đến những thu hoạch được dự kiến về vốn, nghĩa là sự bất trắc về giá trị các chứng khoán– động cơ đầu cơ – hay là sự ngại rủi ro – phân biệt hoá danh mục đầu tư –, thì ta sẽ đi đến việc mở rộng khái niệm thanh khoản. Như thế sự ưa thích thanh khoản ít được gắn với động cơ đầu cơ như với Keynes, mà gắn với động cơ dự phòng và động cơ này trở thành tiêu biểu nhất cho cầu thanh khoản. Vấn đề là không chỉ có thể trao tiền đổi lấy chứng khoán mà một cách tổng quát hơn là giữ sự tự do hành động để đối mặt với những bất ngờ, hay nhất là để nắm bắt những cơ hội. Đó là quan điểm của J. R. Hicks trong những bài viết sau này, và điều này làm ông gần với các nhà hậu keynesian vì đối với những tác giả này khiá cạnh dự phòng là thiết yếu. Ông cho rằng lí thuyết keynesian chỉ là một trường hợp đặc biệt áp dụng vào những thị trường tài chính, trong lúc khái niệm tổng quát về tính thanh khoản là rộng hơn. Quan niệm mới này về tính thanh khoản sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tính đến một chỗ dựa mới của tính thanh khoản cho đến lúc bấy giờ được xem nhẹ: khả năng đi vay.

Tính thanh khoản trở thành đồng nghĩa với tính linh hoạt, nó cho phép những lựa chọn bỏ ngỏ. Nó được lồng vào trong một quá trình liên tiếp và có thời gian chờ đợi để nắm giữ thông tin. Tính thanh khoản càng cao thì những lựa chọn càng có thể thay đổi, thậm chí là đảo ngược được. Do đó nó cho phép một sự tập huấn bao gồm quyền được sai lầm. Tính thanh khoản của một doanh nghiệp là một sự đảm bảo tính độc lập, vì sự đồng ý của các nhà tài chính không còn là một điều kiện bao giờ cũng là cần thiết. Được quan niệm như thế thanh khoản là động; trên quan điểm này chắc là R. A. Jones và J. M. Ostroy (1984), hai tác giả xem thanh khoản như một dự trữ tuỳ chọn, có quan niệm thích đáng nhất. Cũng trong cách nhìn này, S. A. Lippman và J. J. MacCall (1986) đề xuất lí thuyết liquidity search model (mô hình tìm kiếm thanh khoản) dẫn đến một cách giải thích mới về sự ưa thích thanh khoản. Đó là việc tìm kiếm tính linh hoạt mà cơ sở duy lí là việc tối ưu hoá dài hạn, trên nhiều thời kì (lựa chọn liên tiếp) chứ không phải là tối ưu hoá ngắn hạn chỉ trên một thời kì (lựa chọn duy nhất).

Trong kinh văn thông dụng, tính thanh khoản, ngay cả trong nghĩa tính linh hoạt, gắn với việc nắm giữ tiền và chứng khoán thương thảo được tức thì và không mất mát (ví dụ, trái phiếu Kho bạc). Chính J. Hicks (1974) là tác giả chỉ ra rằng giải pháp này là đặc biệt và chỉ tương ứng với trường hợp của nền kinh tế vốn tự có (autoeconomy). Thế mà nhiều doanh nghiệp không có tài sản dễ đổi ra tiền mặt và không vì thế mà không có thanh khoản hay là cứng nhắc vì sử dụng một phương thức khác. Trong nền kinh tế thấu chi (overdraft economy), còn có một nguồn thanh khoản khác do các ngân hàng, chứ không còn là các thị trường, cung cấp: khả năng chắc chắn được cho vay. Khác với lí thuyết về nền kinh tế vay nợ nhấn mạnh đến việc tài trợ ex post, nói cách khác là khoản vay được, lí thuyết về nền kinh tế thấu chi nhấn mạnh đến khiá cạnh ex ante: khả năng đi vay. Đây không phải là một tình thế thật sự đã xảy ra, nhưng chỉ là một khả năng, một tiềm năng, do đó có việc qui chiếu về ví dụ thấu chi. Khả năng phải được bảo đảm, và tự động, nghĩa là không có khả năng bị đặt lại thành vấn đề và chính vì lí do này mà có sự tương đương, trên quan điểm của thanh khoản, giữa việc nắm giữ tài sản dễ đổi thành tiền mặt và khả năng thấu chi. Vả lại, còn hơn cả thấu chi chính sự thấu chi được xác nhận là ví dụ tốt nhất của hình thức thanh khoản mới này.

Do đó thanh khoản được các thị trường hoặc các ngân hàng cung cấp. Nhưng cần phải chính xác hơn; chính sự tồn tại một thị trường thứ cấp là cần thiết để cho tài sản là thật sự thương thảo được và dễ đổi ra tiền mặt (thị trường sơ cấp đảm bảo việc tài trợ chứ không đảm bảo tính thanh khoản); còn chính sự can thiệp của các ngân hàng mới là quan trọng. Nếu không có thị trường thứ cấp hoặc thị trường này quá hẹp, thì những tài sản được gọi là dễ đổi ra tiền mặt vẫn chỉ đơn giản là những phương tiện thanh toán và không có bất kì vai trò thanh khoản nào cả. Tương tự như thế, nếu sự hỗ trợ của ngân hàng là tuỳ nghi thì chúng chỉ là một thủ tục tài trợ.

▶ FISHER I., The Theory of Interest (1930), New York, A. M. Kelley, réed. 1961. – HICKS J.,“Liquidity”, Economic Journal, 1962, p. 787-802; The Crisis in Keynesian Economics, Oxford, Basil Blackwell, 1974. – JONES R. A. & OSTROY J. M., “Flexibility and uncertainty”, Review of Economic Studies, 1984, p. 13-32. – KEYNES J. M., A Treatise on Money (1930), London, Macmillan (Collected Writings of Keynes, t. 5 et 6); The General Theory of Employment, Interest and Money (1936), trad. fr., Théorie générale de lemploi, de lintérêt et de la monnaie, Paris, Payot, 1968. – KOLM S. C., Les choix monétaires et financiers, Paris, Dunod, 1965. – LIPMAN S. A. & MACCALL J. J., “An operational measure of liquidity”, American Economic Review, 1986, p. 43-55. – MENGER K., “On the origin of money”, Economic Journal, 1892, vol. 2, p. 239-255. – TOBIN J., “Liquidity preference as behavior towards risk”, Review of Economic Studies, 1958, 25.

Jean-FranVois GOUX

Giáo sư đại học Lumière (Lyon 2)

Nguyễn Đôn Phước dịch

® Đại lượng tổng gộp tiền tệ; Học thuyết Keynes; Học thuyết trọng tiền; Lãi suất; Thị trường tài chính; Thị trường tiền tệ; Tiền mặt thực tếTiền tệ.

Nguồn: Dictionnaire des sciences économiques do Claude Jessua, Christian Labrousse và Daniel Vitry chủ biên, Paris, Presses Universitaires de France, 2001.

———————&&&——————-

Homo oeconomicus [Con người kinh tế]

Homo oeconomicus [Con người kinh tế]

(Tác giả: Denis Clerc – Nguồn: phantichkinhte123.com)

02/09/2017 │ Hồ sơ đặc biệt n°006

Có vẻ như thuật ngữ homo oeconomicus ra đời vào cuối thế kỷ XIX dưới ngòi bút của John Stuart Mill ít lâu trước khi ông mất, để phê phán phân tích của Stanley Jevons, người mà khi xuất bản cuốn The Theory of Political Economy [Lý thuyết kinh tế chính trịvào năm 1871, đã đặt nền tảng cho phân tích “tân cổ điển”. Thật vậy, Mill đã ưu tiên (giống như tất cả các nhà kinh tế học cổ điển) cho cách tiếp cận kinh tế vĩ mô, trong trường hợp của ông có nhuốm màu sắc xã hội, trong cuốn Principes d’économie politique [Các nguyên lý của kinh tế chính trị] (1848) rằng “luật pháp cần đảm bảo trợ giúp người nghèo hợp pháp hơn là dựa vào công tác từ thiện của các tổ chức tư nhân”. Vilfredo Pareto đã lặp lại cụm từ đó trong cuốn Manuel d’économie politique [Chuyên luận kinh tế học chính trị] từ năm 1906 để bảo vệ lập luận nói trên: “Cơ học thuần lý, khi quy giản các vật thể thành những điểm vật chất tầm thường, và kinh tế học thuần túy, khi quy giản con người thực thành con người kinh tế, đều sử dụng những khái niệm trừu tượng hoàn toàn tương tự.” Homo oeconomicus, một sự đơn giản hữu ích hay có tính đánh lừa?

Homo oeconomicus: chúng ta đang nói về cái gì

Bernard Maris

Thuật ngữ này đề cập đến con người duy lý, sử dụng những nguồn lực mà mình có được để tìm kiếm sự hài lòng (hoặc “lợi ích”) cao nhất có thể. Lợi ích này không thể quy giảnthành sự tiêu thụ: lợi ích có thể bao gồm một tặng phẩm, một sự trợ giúp người khác hoặc bất kỳ ứng xử vị tha nào khác mang lại sự hài lòng cho người thực hiện nó. Điều mà Bernard Maris, trong cuốn Plaidoyer(impossible) pour les socialistes [Sự biện hộ (bất khả) cho các nhà xã hội chủ nghĩa](Albin Michel, 2012), diễn giải như sau:homo oeconomicus là “con người của Adam Smith, của Marx; con người của dòng nước băng giá của sự tính toán ích kỷ. Ích kỷ. Ái kỷ. Chỉ nghĩ về bản thân. Thực hiện điều tốt cho xã hội từ sự ích kỷ cá nhân. Thói xấu riêng tư, đức hạnh công cộng. Homo oeconomicus đánh cược canh bạc tự do: con người mang tính xấu, nhưng sự cân bằng các điều độc ác làm nên hạnh phúc công cộng.”

Hôn nhân, gia đình, những tính toán

Một ngày nào đó, nếu có ai thấy cần dựng tượng để vinh danh homo economicus, không có gì phải nghi ngờ: phải tạt tượng đó với khuôn mặt của Gary Becker. Bởi vì theo nhà kinh tế học người Mỹ, giáo sư tại Đại học Chicago, cách tiếp cận đặc trưng cho homo oeconomicus có thểứng dụng cho tất cả các hành vi con người, cho dù các hành vi này liên quan đến […] nhữngquyết định lớn hoặc nhỏ, người giàu hoặc người nghèo, người lớn hoặc trẻ em, người ngu dốt hoặc thông minh, bác sĩ hoặc bệnh nhân, chính trị gia hoặc doanh nhân, giáo viên hoặc sinh viên[1].” Hôn nhân, gia đình, tội phạm, đào tạo huấn luyện…, tất cả mọi thứ đều xuất phát từ những lựa chọn được thực hiện một cách duy lý bởi những cá nhân tìm kiếm lợi ích cao nhất có thể: “Những người kết hôn […] hy vọng sẽ nâng cao mức độ lợi ích của mình cao hơn những lợi ích khi sống độc thân”, ông đã viết như vậy vào năm 1973 trong “Une théorie du mariage[Lý thuyết về hôn nhân]”[2]. Điều được Kenneth Boulding[3], khi bài xích “nỗ lực của khoa học kinh tế để hấp thụ tất cả các khoa học xã hội khác”, gọi bằng “chủ nghĩa đế quốc kinh tế”. Nhưng đó là chính cách tiếp cận đã làm cho Becker được trao “Giải thưởng về khoa học kinh tế để tưởng nhớ Alfred Nobel” năm 1992, vì “đã mở rộng lĩnh vực của phân tích kinh tế vi mô sang một số lớn các hành vi của con người”.[4]

Homo oeconomicus: một hành vi bình thường

Homo oeconomicus có lẽ là một con người huyền thoại, một phát minh của các nhà kinh tế học. Nhưng đó là một phát minh không hơn không kém những định luật vật lý liên quan đến cách thức hoạt động của các nguyên tử hoặc các điện tử. Cũng giống như homo oeconomicus, các định luật này thường là những định luật mang tính thống kê về một cách thức hoạt động “trung bình”, mà không có ý định mô tả cách thức hoạt động thực sự của từng hạt.”

Gary Becker (1930-2014)

Ví dụ, đối với Becker, tội phạm là một lựa chọn duy lý của một người khi so sánh lợi ích được kỳ vọng từ việc phạm tội với xác suất bị kết án với mức độ nặng nhẹ của bản án: mức phạt càng nặng, thì những người bị cám dỗ ít dám hành động [phạm tội]. Tương tự, điều duy lý là phụ nữ nên chăm sóc gia đình và con cái, bởi vì từ bỏ (toàn phần hoặc từng phần) công ăn việc làm là mất mát ít hơn do tiền lương của phụ nữ thấp hơn tiền lương của nam giới. Chúng ta hiểu rằng phần công trình này của Becker, ngày nay, ít được đánh giá cao so với công trình của ông về vốn con người[5] và công tác đào tạo, mà từ nay là một chương quan trọng của cách tiếp cận tân cổ điển: một người theo đuổi việc học khi mà các lợi ích được mong đợi cao hơn các chi phí phải gánh chịu (trong đó có việc mất thu nhập gắn với việc không đi làm).

Homo oeconomicus: một phần (thiểu số?) của con người

“Giám đốc của một trung tâm truyền máu, muốn gia tăng ngân hàng máu của mình, vào một ngày, đã có ý tưởng thưởng tiền cho người hiến máu. Trước sự kinh ngạc của ông, kết quả hoàn toàn trái ngược: số lượng máu hiến giảm sút. Lý do không có gí là bí ẩn. Người hiến máu muốn chứng tỏ tính cao thượng của mình. Họ quen sống với một hành vi có tính đạo đức, quan tâm đến người khác. Việc trả tiền [hiến máu] cho họ làm thay đổi mọi thứ. Nếu không phải vì mục đích giúp đỡ người khác mà là vì mục đích kiếm tiền, thì sự tham gia [hiến máu] của họ đã thay đổi bản chất. Một thùy khác của bán cầu não của họ đã bị đánh động. Con người đạo đức rời khỏi phòng khi con người kinh tế bước vào. Cả hai đều có vai trò của họ, nhưng không thể ngồi cùng bàn với nhau.”

Điều chắc chắn, theo Becker, là “sự lựa chọn duy lý” không hàm ý sự hiểu biết đầy đủ về hậu quả của sự lựa chọn đó. Trong thực tế, việc đánh giá tất cả những chi phí và lợi ích của sự lựa chọn đó đòi hỏi phải thu thập rất nhiều thông tin không nhất thiết có thể truy cập được hoặc biết được. Đến một lúc nào đó việc thu thập các thông tin này sẽ tốn kém hơn những gì nó mang lại. Vì vậy, có một ngưỡng mà nếu vượt qua chúng ta không đáng bõ công nữa để tìm hiểu, đó là “sự ngu dốt duy lý”. Khi lập luận về mặt lợi ích, không phải về mặt thu hoạch,Becker cho rằng nếu một người rất nhạy cảm với những khó khăn của người khác, thì họ sẽ cảm thấy hài lòng khi giúp đỡ người này. Nhưng họ sẽ không đi quá xa đến việc dốc hết của cho người khác. Vì vậy, khả năng giúp đỡ chuyển biến theo thu nhập của họ, cho nên người nghèo có lợi khi người giàu giàu hơn.

Còn các yếu tố quyết định có tính xã hội hoặc bắt chước?

Cách tiếp cận này đã dấy lên nhiều phê phán. Khả năng làm sáng tỏ những hành vi thực tế là vấn đề còn tranh cãi: ví dụ, những nước có mức phạt hình sự nặng nhất (án tử hình) cũng là những nước có tội phạm hình sự nhiều nhất, trong khi sự gia tăng tình trạng bất bình đẳng thường không đi kèm với sự gia tăng lòng từ tâm bác ái. Ngoài ra, sự vận hành của xã hội được cho là có nguồn gốc từ các quyết định kinh tế mang tính cá nhân theo kiểu duy lý (kể cả đối với vấn đề thời trang và phân biệt đối xử), một điều làm loại bỏ tất cả những phân tích ủng hộ các yếu tố quyết định về mặt xã hội (trong quá trình đào tạo, ví dụ) hoặc bắt chước (như sự vận hành của các thị trường tài chính).

Homo oeconomicus: một cá nhân ích kỷ

Homo oeconomicus tượng trưng cho nguyên mẫu của cá nhân ích kỷ: sự ích kỷ, là sự quan tâm đến bản thân, hiểu theo nghĩa quan tâm đến những điều duy nhất ảnh hưởng trực tiếp đến phúc lợi của cá nhân, không thông qua trung gian của những người khác. Trong ngôn ngữ hàng ngày, chúng ta nói rằng homo oeconomicus là con người kiên quyết không quan tâm đến hoàn cảnh của người khác. […] Hành động của người ích kỷ phản ánh sự xem nhẹ những hiệu ứng gián tiếp của những quyết định cá nhân mang tính ích kỷ đối với lợi ích chung. […] Phân tích kinh tế cũng chỉ ra rằng sự hợp tác là một giải pháp có thể cho những thiệt hại gây ra bởi sự thiếu quan tâm đối với lợi ích chung.”

Albert Hirschman (1915-2012)
Tomáš Sedlácek (1977-)

Lập luận về mặt lợi ích rất dễ diễn đạt về mặt toán học (chỉ cần một chữ cái, u chẳng hạn), nhưng nội dung của nó thì, trong trường hợp tốt nhất, mang tính bí ẩn – sự thỏa mãn, phúc lợi, cuộc sống sung túc, sự hài lòng, hạnh phúc?, – hoặc trong trường hợp tồi tệ nhất là quy giản chỉ còn phần đo lường được bằng tiền – thu hoạch, thu nhập, tài sản… Như nhà kinh tế học người Tiệp Tomáš Sedlácek[6] đã viết: “Khi một người mẹ không chăm sóc con mình, thì nhà kinh tế học sẽ nói một cách khéo léo rằngngười mẹ không chăm sóc con mình bởi vì bà ấy có một lợi ích từ việc không chăm sóc con mình.” Như vậy lợi ích đóng vai trò của lá phổi như trong vở hài kịch Le malade imaginaire [Bệnh giả tưởng], một biện minh chưa được kiểm chứng của sự khẳng định dứt khoát của “con người khoa học”. Và Tomáš Sedlácek kết luận: “Niềm tự hào của các nhà kinh tế học, việc cho rằng mô hình homo oeconomicus bao gồm tất cả các khả năng và do đó có thể giải thích tất cả mọi thứ, trên thực tế phải là điều xấu hổ lớn nhất của họ. Nếu chúng ta có thể giải thích mọi thứ bằng một từ ngữ hoặc một nguyên lí mà mình không biết ý nghĩa, thì chúng ta nên tự hỏi chúng ta đang giải thích điều gì trong thực tế.”

Lời phê phán này cũng đã được phát triển trên một lĩnh vực khác: liệu sự lựa chọn có được hướng dẫn bởi sự tính toán duy lý hay bị ảnh hưởng, hoặc thậm chí bị áp đặt bởi nhiều tiêu chí khác, như áp lực xã hội, ghen tị, giáo dục, tín ngưỡng, v.v., như Albert Hirschman đã suy nghĩ: “Những thiệt hại do cách tiếp cận kinh tế”, dựa trên mô hình truyền thống về lợi ích cá nhân, gây ra, […] là vì mô hình quá đơn giản này về hành vi con người nói chung. Điều cần thiết là các nhà kinh tế phải kết hợp trong phân tích của họ, khi cần thiết, những cảm xúc và tính cách cơ bản như sự ham muốn quyền lực và sự hy sinh, nỗi sợ buồn chán, niềm vui của sự dấn thân và sự bất ngờ, sự tìm kiếm ý nghĩa và tình đoàn kết, v.v..[7]

John M. Keynes (1883-1946)

Phê phán này tương tự như phê phán củaKeynes, người mà vào năm 1937, một năm sau khi xuất bản La théorie générale de l’emploi, de l’intérêt et de la monnaie[Lý thuyết tổng quát về việc làm, tiền lãi và tiền tệ], đã viết cho Roy Harrod, cộng tác viên của ông: “Tôi cũng muốn nhấn mạnh đến ý tưởng cho rằng kinh tế học là một khoa học đạo đức. Tôi đã chỉ ra rằng kinh tế học đề cập đến vấn đề nội quan và các giá trị. Tôi có thể nói thêm rằng kinh tế học đề cập đến vấn đề động lực, những kỳ vọng, những bất trắc về tâm lý.”[8] Vì vậy, cuộc tranh luận được Mill khơi mào khó mà kết thúc!

Denis Clerc

Nhà sáng lập báo Alternatives Economiques

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

NguồnL’homo oeconomicusAlternatives Economiques, 02/09/2017.

[1] Trong The Economic Approach to Human Behaviour [Cách tiếp cận kinh tế về hành vi con người], The University of Chicago Press, 1976, bản dịch và trích dẫn của Nicolas Bouzou trong Les mécanismes du marché [Các cơ chế thị trường], Bréal, 2006.

[2] Xem Textes fondateurs en sciences économiques depuis 1970 [Các bài viết nền tảng về khoa học kinh tế từ năm 1970], của Maya Bacache-Beauvallet và Marc Montoussé, Bréal, 2003, trang 24.

[3] Tác giả tiên phong trong việc phân tích các mối quan hệ giữa môi trường và nền kinh tế. Theo John K. Galbraith (xem Une vie dans son siècle. Mémoires [Hồi ký: Một đời người trong thế kỷ] (1981), bản dịch của Daniel Blanchard, La Table ronde, 2006), Boulding là “nhà kinh tế học thuộc thế hệ của [John K. Galbraith] mà người ta khó có thể gán cho là dị giáo và là một trong những nhà kinh tế học thú vị nhất”.

[4] Xin chú ý sự khác biệt tinh tế: Becker đã viết “tất cả các hành vi” trong khi ban giám khảo của Ngân hàng Thụy Điển dùng cụm từ “một số lớn”. Chủ nghĩa đế quốc, là điều chắc chắn, nhưng được làm dịu bớt.

[5] Không có cuốn sách nào của Becker được dịch sang tiếng Pháp. Tuy nhiên, trong Dictionnaire des grandes oeuvres économiques [Từ điển các tác phẩm kinh tế vĩ đại] (Dalloz, 2002), Louis Lévy-Garboua viết một bài dành cho cuốn sách Human Capital [Vốn con người] của Becker (1964).

[6] Trong L’économie du bien et du mal [Kinh tế học của điều tốt và điều ác], bản dịch của Michel Le Séach, Eyrolles, 2013, trang 229.

[7] Trong L’économie comme science morale et politique [Kinh tế học như một khoa học đạo đức và chính trị], bản dịch của Pierre Andler et al., Gallimard/Le Seuil, 1984, trang 107.

[8] Thư được Gilles Dostaler trích dẫn trong Keynes et ses combats [Keynes và các cuộc chiến của ông], Albin Michel, 2009, trang 153.

———————–&&&———————-