10.000 USD vẫn chưa là gì: Nhà đầu tư nắm hàng chục nghìn Bitcoin vừa đưa ra thuật toán chứng minh giá đồng tiền này sẽ vượt 27.000 USD trong 4 tháng tới!

10.000 USD vẫn chưa là gì: Nhà đầu tư nắm hàng chục nghìn Bitcoin vừa đưa ra thuật toán chứng minh giá đồng tiền này sẽ vượt 27.000 USD trong 4 tháng tới!

(Nguồn: cafef.vn)

Đồng thời, ông cũng đưa ra dự đoán giá bitcoin trong tương lai gần sẽ sẽ đạt tới mức trên 27.000 USD.

Trong bối cảnh giá Bitcoin liên tục lập các mức giá kỷ lục mới (hiện đang được giao dịch ở mức hơn 5.700 USD lúc 12h theo giờ Việt Nam), nhà đầu tư Trace Mayer – một nhà đầu tư có tiếng – đã đăng tải trên twitter của mình nhận định rằng Bitcoin hiện đang bị đánh giá thấp.

Dự đoán này được Mayer tính toán dựa trên sự gia tăng của Bitcoin trong 200 ngày. Cụ thể, ông đã sử dụng trung bình động (MA – Moving Averages) trong 200 ngày liên tục của giá Bitcoin, với giả sử rằng chỉ số này sẽ đạt mức 5.767 USD vào tháng 2.

Và nếu điều này xảy ra, Mayer sử dụng phép ngoại suy ra và dự đoán rằng giá trị mỗi đồng Bitcoin sẽ gấp 4,75 lần so với mức trung bình động, hay là đạt mức 27.395 USD như là một mức giá “hợp lý”.

Trace Mayer – Người dám bỏ cả chục nghìn Bitcoin vào một cuộc đánh cược – là ai?

Trước hết, chúng ta cần biết rằng Trace Mayer là ai? Theo thông tin trên website của nhà đầu tư này thì ông tự giới thiệu về mình: Một doanh nhân, nhà đầu tư, nhà báo, nhà khoa học tiền tệ và là người bảo vệ tích cực về quyền tự do ngôn luận. Trace Mayer có bằng về kế toán và luật. Ông nghiên cứu kinh tế học tập trung vào Murray Rothbard và Ludwig von Mises”

Đồng thời, ông cũng thường xuyên tự nhận mình là ‘một trong những “Blogger nổi tiếng đầu tiên công khai giới thiệu công nghệ Blockchain”.

10.000 USD vẫn chưa là gì: Nhà đầu tư nắm hàng chục nghìn Bitcoin vừa đưa ra thuật toán chứng minh giá đồng tiền này sẽ vượt 27.000 USD trong 4 tháng tới! - Ảnh 1.

Là một ‘fan bự’ của Bitcoin, Mayer đã từng khuyên mọi người mua vào Bitcoin ở vào thời điểm ban đầu của đồng tiền này với giá lúc đó là 0.25 USD. Giờ đây, khi những người mua ở thời điểm đó có mức lợi suất lên đến hơn 2.200.000% trong khoản đầu tư của mình, người ta mới thấy lời khuyên của Mayer đúng đắn như thế nào.

Cũng giống như hầu hết những người sở hữu Bitcoin từ lâu, Mayer cực kỳ giàu có, gần đây ông đã thách thức Roger Ver về giá Bitcoin trong tương lai với khoản tiền cược trị giá tới 25.000 Bitcoin, tương đương 121 triệu USD – một số tiền rất lớn mà không nhiều nhà tài phiệt dám nói chơi.

Ngoài việc ủng hộ và khuyến nghị sử dụng Bitcoin, Mayer còn là nhà đầu tư tiền vào các nền tảng blockchain và ví cryptocurrency như Kraken, BitPay và Armory.

Cơ sở nào khiến Trace Mayer tin giá Bitcoin sẽ đạt trên 27.000 USD trong vài tháng tới?

Trace Mayer đã sử dụng phương pháp trung bình động (MA – Moving Averagesđể đưa ra dự đoán của mình về giá Bitcoin.

Theo Investopedia, trung bình động là: Một công cụ phân tích kỹ thuật đơn giản làm “mượt” các dữ liệu về giá bằng cách tạo ra mức giá trung bình cập nhật liên tục. Đường trung bình động có thể giúp giảm số lượng ‘noise’ (nhiễu) trên biểu đồ giá … hoặc hoạt động như sự hỗ trợ hoặc kháng cự.

Trong khi nhiều người cho rằng việc sử dụng chỉ báo này chỉ là một lý thuyết thì một số khác cho rằng phân tích kỹ thuật xuất phát từ tâm lý con người. Các nhà phân tích kỹ thuật chỉ ra rằng công việc của họ dựa trên khoa học xác suất, vì thế một khi chỉ báo nói về một điều gì đó, nó sẽ có xác suất chính xác cao hơn so với việc chỉ ngồi đoán mò.

10.000 USD vẫn chưa là gì: Nhà đầu tư nắm hàng chục nghìn Bitcoin vừa đưa ra thuật toán chứng minh giá đồng tiền này sẽ vượt 27.000 USD trong 4 tháng tới! - Ảnh 2.

Tính toán của Trace Mayer về giá trị trong tương lai của Bitcoin

Đường trung bình động 200 ngày (200 DMA) mà Mayer đưa ra là đường giá trung bình của Bitcoin trong 200 ngày qua. Hàng ngày, dữ liệu cũ nhất sẽ bị xóa, giá đóng cửa của ngày gần nhất được thêm vào và số liệu được tính lại.

Vì đường trung bình động 200 ngày được cân bằng với dữ liệu giá cũ nên trong một thị trường tăng trưởng liên tục nó sẽ giảm đáng kể so với mức giá thực. Từ đó, mục đích của phương pháp này là giúp nhà đầu tư thấy được xu hướng chung của giá.

Với trường hợp của Bitcoin, chỉ số trung bình động 200 ngày vẫn đang tiếp tục tăng, cho thấy thị trường vẫn đang tăng trưởng. Nếu chỉ số trung bình động chững lại, đó sẽ là dấu hiệu giảm và có thể đảo ngược chiều.

“Giá hiện tại đang duy trì trong một phạm vi nhất định của đường trung bình động. Nếu giá quá cao thì giá trị của nó sẽ không bền vững” – Trace Mayer nhận định.

10.000 USD vẫn chưa là gì: Nhà đầu tư nắm hàng chục nghìn Bitcoin vừa đưa ra thuật toán chứng minh giá đồng tiền này sẽ vượt 27.000 USD trong 4 tháng tới! - Ảnh 3.

Một ví dụ về đường MA với phân tích cổ phiếu Vinamilk

Mayer dự báo rằng chỉ số trung bình động 200 ngày sẽ tiếp tục tăng và giá Bitcoin vẫn ở sẽ mức ‘hợp lý’ với phương pháp này.

Ông tính toán ra con số hơn 5.700 USD cho đường DMA 200 vào tháng 2/2018. Với mức nhân 4,75 lần ở cột ‘Relative Price’, giá trị của 1 Bitcoin sẽ là 27.395 USD vào tháng 2/2018.

Thời gian sẽ trả lời những dự đoán của Mayer là đúng hay sai. Nếu như đúng, Bitcoin quả là món đầu tư có lợi suất thuộc hàng cao nhất trong lịch sử nhân loại.

Theo Vũ Hán

Trí thức trẻ

————–&&&—————

Blockchain – ngành nghề mới đầy tiềm năng nhưng thuộc dạng khát nhân sự hàng đầu ở Mỹ

Blockchain – ngành nghề mới đầy tiềm năng nhưng thuộc dạng khát nhân sự hàng đầu ở Mỹ

(Nguồn: cafef.vn)

Theo nghiên cứu từ Pitchbook, tổng vốn đầu tư vào blockchain tại các công ty tư nhân đã lên tới 4,5 tỷ USD từ đầu năm đến nay. Giới chuyên gia nhận định xu hướng này sẽ tiếp tục tạo ra cơ hội việc làm trực tiếp và gián tiếp trong nhiều năm tới.

Hồi ở trường trung học, Eileen Lowry đã chuyển môn học tự chọn từ thanh nhạc sang khoa học máy tính. “Tôi luôn bị cuốn hút bởi cách mọi thứ hoạt động”, cô nói.

Ngày nay, cô trở thành giám đốc chương trình (PD) cho dự án IBM Blockchain Labs & Garage North America tại thành phố New York.

Blockchain là bản ghi chép các giao dịch có tác dụng giống như một cuốn sổ cái công khai và có khả năng ngăn chặn mọi hành vi làm giả chứng từ, cho phép người dùng chia sẻ thông tin nhanh chóng, tự do mà không sợ rằng nó có thể bị thay đổi ngay cả khi không cần cung cấp danh tính người dùng. Trong khi, nhiều người chỉ biết đến blockchain qua đồng tiền số mà nó hỗ trợ, ứng dụng của công nghệ này đã được mở rộng rất lớn và được các công ty hàng đầu như IBM và Wal-Mart áp dụng.

“Blockchain là một sáng kiến công nghệ hấp dẫn mà con người có thể khai thác được rất nhiều khía cạnh từ giao dịch đến truyền tải niềm tin”, Lowry nói. “Nó là công việc hàng ngày của tôi, nói chuyện với khách hàng để tìm hiểu lý do tại sao họ muốn truyền tải niềm tin vào giao dịch của mình”.

Trên thế giới, IBM có tổng cộng 1.500 nhân viên làm việc trong mảng blockchain và đang tìm kiếm thêm 150 kỹ sư về làm việc trong mảng này. Gần đây, IBM đã bắt tay với Wal-Mart cùng nhau thúc đẩy nền tảng công nghệ blockchain để giải quyết các vấn đề về an toàn thực phẩm. Công nghệ này có thể được sử dụng để theo dõi thực phẩm từ nông trại đến bàn ăn – một quá trình mất gần 1 tuần có thể được giải quyết trong vài giây.

Jason Kelley – giám đốc điều hành toàn cầu dịch vụ blockchain của IBM cho biết: “Công nghệ blockchain cho phép con người trao đổi giá trị mà không cần biết danh tính của nhau một cách an toàn ở phần back-end. Ở phần front-end, người dùng sẽ được trải nghiệm sự đơn giản, minh bạch và tin tưởng. Tất cả những chi phí, thời gian thường gây ra sự tốn kém trong hệ thống trao đổi giá trị thông thường đều có thể được loại bỏ đối với blockchain”.

Bên cạnh các công ty vốn hoá lớn, nhiều khoản đầu tư đến từ các công ty tư nhân cũng đang được đổ vào blockchain. Theo nghiên cứu từ Pitchbook, con số này đã lên tới 4,5 tỷ USD trong năm nay trên toàn cầu.

Giới chuyên gia nhận định xu hướng này sẽ tiếp tục tạo ra cơ hội việc làm trực tiếp và gián tiếp trong nhiều năm tới.

Hơn nữa, đây sẽ không chỉ là một “cuộc chạy đua vũ trang” của các công ty công nghệ, mà nó còn tạo ra sự thay đổi lớn về việc làm trong tương lai.

Eamonn Maguire – giám đốc toàn cầu về blockchain trong ứng dụng tài chính của KPMG nhận định: “Blockchain tạo ra một nguồn sự thật độc lập dựa trên tính bất biến của dữ liệu”. Ông cho biết công nghệ này sẽ tạo ra nhiều việc làm mới mà con người nên chuẩn bị cả tinh thần và kỹ năng để đón đầu.

Trở lại với IBM, cô Lowry cho biết một trong những thách thức khó nhất hiện tại của công ty là tìm kiếm lao động đủ trình độ bởi blockchain là công nghệ còn khá mới mẻ. Ngoài nền tảng kiến thức về khoa học máy tính, IBM cũng xem xét cả những kỹ năng mềm của ứng viên. Thậm chí, IBM còn chấp nhận tuyển dụng những người hoàn toàn mới nhưng có tinh thần học hỏi để đào tạo từ đầu.

“Để tìm kiếm được những người có đúng kinh nghiệm và chuyên môn trong mảng blockchain không phải điều dễ dàng, tuy nhiên chúng tôi có những chuyên gia như phát triển phần mềm, an ninh mạng, phát triển đám mây, cũng như các chuyên gia trong ngành cho phép chúng tôi mang lại cơ hội cho những người muốn làm việc trong mảng blockchain”, cô Lowry chia sẻ.

Anh Sa

Theo Trí thức trẻ/CNBC

——————&&&——————

Amazon đang làm giảm tỷ lệ lạm phát trên toàn thế giới như thế nào?

Amazon đang làm giảm tỷ lệ lạm phát trên toàn thế giới như thế nào?

(Nguồn: cafef.vn)

Một chuyên gia phân tích của ngân hàng đầu tư Nomura vừa đưa ra 1 báo cáo khá thú vị dựa trên ý tưởng giờ đây mạng internet đang khiến tỷ lệ lạm phát trên toàn cầu giảm xuống.

Bilal Hafeez, người đứng đầu mảng chiến lược giao dịch ngoại hối và trưởng bộ phận nghiên cứu tại Nomura, vừa công bố hai báo cáo nghiên cứu tác động của Amazon và các công ty thương mại điện tử tương tự đến giá trị của đồng USD. Ông gọi đây là hiện tượng “Amazon hóa lạm phát”.

Báo cáo chỉ ra rằng trong 5 thập kỷ trở lại đây, tỷ lệ lạm phát trung bình của nước Mỹ đã liên tục sụt giảm: từ mức 7,1% trong những năm 1970 xuống 5,6% trong những năm 1980, 3% trong những năm 1990, 2,6% trong những năm 2000 và 1,7% trong những năm 2010.

Và đây là diễn biến lạm phát ở các nền kinh tế lớn trên thế giới. Có thể thấy ở eurozone và Nhật Bản cũng có xu hướng tương tự.

Từ năm 2010 đổ về trước, nguyên nhân chính dẫn đến xu hướng này là làn sóng toàn cầu hóa, thứ khiến chi phí sản xuất giảm mạnh. Chỉ riêng Trung Quốc đã bổ sung thêm hàng trăm triệu công nhân mới vào lực lượng lao động, làm giảm tỷ lệ lạm phát tiền lương trên toàn cầu.

Tuy nhiên, Hafeez chỉ ra rằng trong thập kỷ hiện tại, các công ty thương mại điện tử mà điển hình là Amazon đang khiến nguồn cung và chi phí phân phối hàng hóa trở nên rẻ đến nỗi khiến tỷ lệ lạm phát giảm xuống ở góc độ vĩ mô.

“Mô hình phân phối độc đáo và danh mục sản phẩm phong phú của Amazon tạo nên 1 nguồn lực mới chống lại hiện tượng lạm phát”, ông viết.

Ý tưởng này ngày càng được nhiều chuyên gia phân tích nhắc đến.

Quay trở lại tháng 9/2016, chuyên gia kinh tế James Pomeroy của ngân hàng HSBC đã đề cập đến “vấn đề Spotify” (Spotify là một trong những dịch vụ âm nhạc trực tuyến hàng đầu thế giới). Theo Pomeroy, Internet cho phép người tiêu dùng mua sắm và so sánh giá cả 1 cách hết sức dễ dàng, thậm chí còn thay thế những hàng hóa đắt đỏ ở các cửa hàng truyền thống. Ví dụ, khách hàng sẽ ngừng việc trả 20 bảng mỗi tháng cho 1 chiếc đĩa CD nhạc vì chỉ tốn 10 bảng mỗi tháng cho 1 tài khoản Spotify và được nghe nhạc không giới hạn. Kết quả là các doanh nghiệp phải thi nhau hạ giá để có thể cạnh tranh.

Cùng lúc đó, nền kinh tế chia sẻ mà trong đó người ta có thể cài các ứng dụng trên điện thoại di động để được cung cấp dịch vụ cũng khiến lạm phát giảm vì những ứng dụng này điều khiển “tắt” và “bật” nhu cầu về lao động giống như 1 bóng đèn vậy. Về mặt kỹ thuật thì những lái xe cho Uber hay nhân viên làm việc cho Deliveroo là những lao động tự do. Họ không có sức mạnh đàm phán lương như các lao động toàn thời gian.

Tú Anh

Theo Trí thức trẻ/Business Insider

——————-&&&——————-

Yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua tour trực tuyến của nhân viên văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh

Yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua tour trực tuyến của nhân viên văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh

(Tác giả: Lê Quang Hùng – Nguồn: http://tapchitaichinh.vn)

Hiện nay, giới nhân viên văn phòng với đặc thù công việc thường xuyên sử dụng internet trong công việc hàng ngày, trong giao dịch, trong mua sắm, đi du lịch… Do đó, vấn đề bán được tour trực tuyến đến giới nhân viên văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh được đặt lên hàng đầu của các công ty du lịch. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (định tính và định lượng). Dữ liệu được phân tích qua đo lường hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá và sử dụng mô hình Linear Regression để kiểm định thực nghiệm mô hình nghiên cứu ảnh hưởng đến ý định mua tour trực tuyến của nhân viên văn phòng TP. Hồ Chí Minh tại website Yesgo.vn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết: Thuyết hành vi dự định – TPB (Ajzen, 1991) cho thấy, có 3 yếu tố ảnh hưởng đến ý định cá nhân. Cụ thể:

– Thái độ cá nhân được đo lường bằng niềm tin và sự đánh giá đối với kết quả của hành vi đó.

–  Chuẩn chủ quan  là nhận thức của những người ảnh hưởng nghĩ rằng, cá nhân đó nên thực hiện hay không thực hiện hành vi nào đó.

– Kiểm soát hành vi nhận thức phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát hay hạn chế hay không?

Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM): Mô hình TAM được Fred Davis, Bagozzi, Warshaw (1992) phát triển và phổ biến rộng rãi nhằm mô hình hóa việc chấp nhận công nghệ thông tin của người sử dụng. Như vậy, việc sử dụng internet của giới nhân viên văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh được xem là việc sử dụng công nghệ thông tin cho mục đích tiêu dùng thông qua mạng internet là phù hợp.

Trong nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng” thực hiện tại Iran, Javadi và cộng sự (2012) đã sử dụng mô hình chấp nhận công nghệ TAM kết hợp với lý thuyết TPB để làm cơ sở thiết kế mô hình nghiên cứu với các nhân tố: (i) Rủi ro cảm nhận; (ii) Chính sách hoàn trả; (iii) Hạ tầng cơ sở thông tin; (iv) Chuẩn chủ quan; (v) Kiểm soát hành; (vi) Thái độ; (vii) Khả năng đổi mới chuyên sâu. Nghiên cứu chỉ ra nhân tố rủi ro cảm nhận tác động nghịch chiều với thái độ của người tiêu dùng; nhân tố kiểm soát hành vi không có ý nghĩa giải thích mối tương quan với hành vi mua sắm trong mô hình nên đã bị loại; các nhân tố còn lại đều có ảnh hưởng đến hành vi mua sắm.

Nghiên cứu “Các nhân tố tác động đến việc hình thành ý định mua sắm trực tuyến” tại thành phố Isfahan (Iran), Milad Kamtarin (2012) cho rằng, 3 yếu tố truyền miệng trực tuyến, sự tin cậy và giá trị cảm nhận tác động tích cực đến sự hình thành ý định hành vi. Trong đó, nhân tố sự tin cậy có ảnh hưởng mạnh nhất, kế đến là giá trị cảm nhận và sau cùng là truyền miệng trực tuyến.

Trong nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua hàng điện tử qua mạng”, Hoàng Quốc Cường (2010) cũng đã xác định 6 nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ mua hàng điện tử qua mạng: (i) Mong đợi về giá; (ii) Nhận thức sự thuận tiện; (iii) Nhận thức tính dễ sử dụng; (iv) Ảnh hưởng xã hội; (v) Cảm nhận sự thích thú; (vi) Nhận thức rủi ro khi sử dụng mua hàng qua mạng; (vii) Nhân khẩu học. Trong đó, nhân tố mong đợi về giá có ảnh hưởng mạnh nhất và nhân tố nhận thức sự thuận tiện tác động yếu nhất đến ý định mua sắm hàng điện tử qua mạng của người tiêu dùng.

Mô hình nghiên cứu: Xây dựng mô hình nghiên cứu trên nền tảng cơ sở lý thuyết và mô hình tham khảo cùng phối hợp với 3 yếu tố: (i) Chất lượng dịch vụ điện tử; (ii) Chương trình khuyến mại; (iii) Uy tín thương hiệu.

Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu định lượng thực hiện qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp. Tổng cộng có 350 bảng câu hỏi được phát ra, thu về 336 bảng câu hỏi. Trong đó có 8 bảng câu hỏi không hợp lệ, còn lại 328 bảng câu hỏi hợp lệ.

Phần mềm SPSS 20 được sử dụng để kiểm định thang đo và mô hình nghiên cứu. Các thang đo được kiểm định bằng phương pháp hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA). Mô hình nghiên cứu được kiểm định thông qua mô hình Linear Regression.

Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu: Hệ số tin cậy Cronback’s Alpha (Bảng 1).

Phân tích mô hình hồi qui tuyến tính đa biến: Kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính đa biến (Bảng 2).

Phương trình hồi quy tuyến tính đa biến: Ý định mua tour trực tuyến = 0,522* Chương trình khuyến mại + 0,376* Nguồn thông tin tham khảo + 0,314* Chất lượng dịch vụ điện tử + 0,084* Sự hợp lý về giá cả + 0,099* Sự tiện lợi + 0,104* Uy tín thương hiệu.

Thảo luận kết quả nghiên cứu:

Một là, mô hình nghiên cứu có tính mới, được xây dựng trên nền tảng cơ sở lý thuyết và mô hình tham khảo cùng phối hợp với các yếu tố: (i) Chất lượng dịch vụ điện tử; (ii) Chương trình khuyến mại; (iii) Uy tín thương hiệu.

Hai là, sáu yếu tố UT, CL, TK, GC, STL, KM (biến độc lập) đều có ảnh hưởng tỷ lệ thuận đến YD (biến phụ thuộc). Với giá trị R=0,884 và R2=0,750, mô hình thích hợp để sử dụng đánh giá mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập.

Ba là, qua kiểm định cho thấy:

– Yếu tố Chương trình khuyến mại (Beta = 0,522), tác động mạnh nhất đến ý định mua tour trực tuyến. Điều này có nghĩa là chương trình khuyến mại càng lớn, càng ảnh hưởng tích cực đến ý định mua tour của nhân viên văn phòng TP. Hồ Chí Minh tại website Yesgo.vn.

– Yếu tố tác động mạnh thứ 2 là nguồn thông tin tham khảo (Beta = 0,376). Nghĩa là các nguồn thông tin tham khảo nếu xuất hiện càng nhiều thì càng tác động mạnh đến ý định mua tour của nhân viên văn phòng TP. Hồ Chí Minh tại website Yesgo.vn và thúc đẩy họ mua tour nhiều hơn.

– Yếu tố tác động mạnh thứ 3 là chất lượng dịch vụ điện tử (hệ số Beta=0,314, Sig.=0,000). Điều này có nghĩa là chất lượng dịch vụ điện tử của Yesgo càng cao thì ý định mua tour của nhân viên văn phòng TP. Hồ Chí Minh tại website Yesgo.vn càng lớn.

Các yếu tố uy tín thương hiệu, sự tiện lợi và sự hợp lý về giá cả có các hệ số Beta xấp xỉ 0,1 cho thấy tác động rất ít đến ý định mua. Thực tế, khi các doanh nghiệp tham gia bán tour trực tuyến đều phải công khai giá cả của mình trên Internet, do đó họ đều phải lựa chọn một chiến lược giá cạnh tranh nhất cho mình dẫn đến giá cả của nhiều doanh nghiệp cho cùng một loại tour thông thường là xấp xỉ nhau. Rõ ràng, có khuyến mại thì phần giá cả không còn là yếu tố đáng quan tâm đối với khách hàng mua tour trực tuyến.

Một vài kiến nghị

Thứ nhất, về chương trình khuyến mại: Yesgo có thể tăng cường hợp tác với nhiều nhà cung cấp dịch vụ khác nhau tại cùng một điểm du lịch để đa dạng hóa lựa chọn cho khách hàng và cũng có thể thương lượng với các nhà cung cấp về mức ưu đãi tốt hơn khi họ thấy có áp lực cạnh tranh.

Yesgo nên chủ động kết hợp tour với dịch vụ vé bay của Vietnamairlines, Vietjetair… hay vé xe của Pasoto.com, hoặc vé tàu lửa để có các tour trọn gói đi về, ăn ở, du lịch trọn vẹn cho khách hàng với mức giá ưu đãi. Trong lúc kết hợp dịch vụ của 2, 3 bên Yesgo cũng sẽ có cơ hội tận dụng được khuyến mãi của mỗi bên vào trong tour của Yesgo, điều này giúp chất lượng và số lượng khuyến mãi của Yesgo hấp dẫn hơn.

Thứ hai, về nguồn thông tin tham khảo: Cung cấp thông tin nhanh chóng, đầy đủ, chính xác và rõ ràng sẽ giúp cho Yesgo nhanh chóng chiếm được nhiều cảm tình của khách hàng trong việc hình thành ý định mua tour trực tuyến. Các thông tin trên cần phải được cập nhật đầy đủ và nhanh chóng trên website Yesgo.vn. Các gói thông tin liên quan sẽ được chia sẻ trên Fanpage của Yesgo.vn. Ngoài ra, cũng nên áp dụng nhiều hơn các hình thức internet marketing và internet advertising để tăng tính lan truyền cho sản phẩm.

Công ty cũng cần lưu ý sử dụng thêm các dịch vụ content marketing để tăng tính hấp dẫn cho sản phẩm và giúp người mua dễ dàng chia sẻ thông tin trực tuyến cho bạn bè của họ. Điều này cũng giúp tăng thứ hạng của Yesgo.vn trên các trang tìm kiếm.

Thứ ba, về chất lượng dịch vụ điện tử: Yesgo.vn nên mở thêm phần cho phép thanh toán trực tuyến bằng các loại thẻ tín dụng quốc tế và thẻ tiêu dùng nội địa. Ngoài ra, cũng cần thêm thông tin chuyển khoản chi tiết, giảm thiểu hình thức giao voucher tận nơi, gây tốn kém chi phí cũng như giúp khách hàng ra quyết định nhanh chóng không phải chờ đợi.

Về giao diện trang web hiện nay khá tốt, tuy nhiên vẫn cần tối ưu hóa mục tìm kiếm theo từ khóa để khách hàng nhanh chóng truy cập được đến vị trí tour họ quan tâm. Ngoài ra, Yesgo.vn cũng nên triển khai thêm phiên bản tối ưu hóa cho các dòng điện thoại thông minh trên các hệ điều hành Android, IOS và Windowphone để khách hàng dễ dàng truy cập mọi lúc mọi nơi. Với các phiên bản này, Yesgo cũng nên tiến tới việc hỗ trợ thanh toán trực tuyến bằng ví điện tử Momo để khách hàng thêm phần tiện lợi trong đặt hàng và thanh toán.

Tài liệu tham khảo:

1. Hoàng Quốc Cường (2010), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ mua hàng điện tử qua mạng, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Bách khoa TP. Hồ Chí Minh;

2. Nguyễn Lê Phương Thanh (2013), Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến của khách hàng tại Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh;

3. Lý Thị Bích Hồng (2016), Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua tour trực tuyến của giới nhân viên văn phòng thành phố hồ chí minh tại website yesgo.vn, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh;

4. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational behavior and human decision processes, 50: 179-211;

5. Davis, F. D. (1989). Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology. MIS quarterly, 319-340.

——————-&&&——————-

Giải Nobel kinh tế 2017: Kinh tế học hành vi – Richard H. Thaler

Richard H. Thaler

Chân dung chủ nhân Nobel Kinh tế 2017 Richard Thaler: Vị giáo sư theo chủ nghĩa bản ngã con người

(Nguồn: http://cafebiz.vn)

“Nếu muốn có một nền kinh tế tốt, bạn phải nhớ rằng các khách hàng cũng chỉ là con người”, Giáo sư Thaler nói.

Mới đây, nhà kinh tế học hành vi Richard H Thaler đã nhận được giải Nobel kinh tế học, qua đó thu hút sự chú ý của các chuyên gia về bộ môn kinh tế học hành vi.

Giáo sư Thaler là một chuyên gia kinh tế đã từng nhận được rất nhiều giải thưởng trước khi giành giải Nobel kinh tế học. Ông Thaler là tác giả của cuốn sách bán chạy “Nudge” nói về hành vi của con người qua góc nhìn kinh tế học, nhờ đó giúp người đọc có quyết định khôn ngoan hơn trong cuộc sống.

Ngoài ra, vị giáo sư này cũng xuất hiện trong bộ phim “The Big Short” năm 2015 nói về cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 và đây là một trong những video thu hút được nhiều người xem nhất trong lịch sử kinh tế học.

Theo hội đồng bình chọn giải thưởng Nobel, họ trao giải kinh tế học lần này cho Giáo sư Thaler bởi những đóng góp của ông về phân tích hành vi của con người tuân theo các lý thuyết kinh tế. Ví dụ như tại sao khách hàng lại từ chối mua một chiếc ô với mức giá quá cao bất chấp trời mưa, hoặc tại sao họ lại dùng số tiền tiết kiệm được bởi giá xăng giảm để mua xăng chất lượng cao…

Chân dung chủ nhân Nobel Kinh tế 2017 Richard Thaler: Vị giáo sư theo chủ nghĩa bản ngã con người - Ảnh 1.

Hội đồng cho rằng vị Giáo sư tại trường đại học Chicago này đã có nhiều đóng góp trong việc khiến kinh tế học trở nên dễ hiểu hơn khi xem xét ứng dụng trong thực tiễn hành vi của người tiêu dùng , qua đó giúp các nhà hoạch định chính sách có được quyết định đúng đắn hơn, nhất là tại các vấn đề tiền lương lao động.

“Nếu muốn có một nền kinh tế tốt, bạn phải nhớ rằng các khách hàng cũng chỉ là con người”, Giáo sư Thaler nói.

Khi được hỏi ông sẽ tiêu 1,1 triệu USD tiền giải thưởng như thế nào, Giáo sư Thaler cho rằng đây là một câu hỏi thú vị và ông sẽ cố gắng tiêu chúng một cách sáng tạo nhất có thể.

Giải thưởng Nobel được ngân hàng trung ương Thụy Điển thành lập vào năm 1968 để tưởng nhớ nhá phát minh Alfred Nobel và được xem xét bởi Hội đồng khoa học hoàng gia Thụy Điển. Một trong những người đồng nghiệp của Giáo sư Thaler là ông Daniel Kahneman đã nhận giải vào năm 2002 trong khi một chuyên gia kinh tế học hành vi khác là ông Robert J Shiller cũng đã nhận giải vào năm 2013.

Trước đây, các lý thuyết kinh tế được xây dựng dựa trên giả định rằng con người sẽ hành động theo logic trên thị trường. Mặc dù các chuyên gia kinh tế hiểu rằng điều này là không thực tế nhưng họ cho rằng như vậy là cũng gần đúng.

Giáo sư Thaler là một trong những chuyên gia chủ chốt của xu hướng đưa kinh tế học thoát khỏi giả định cứng nhắc như vậy. Ông không chỉ cho rằng yếu tố con người trong nền kinh tế là khó dự đoán và hành động không theo logic nhưng chúng vẫn phù hợp với các lý thuyết kinh tế học theo một cách nào đó.

Theo Giáo sư Cass Sunstein, đồng tác giả cuốn “Nudge” với ông Thaler thì vị chuyên gia mới nhận giải thưởng Nobel này là người tuân theo các lý thuyết bản năng trong hành vi con người. Cuốn “Nudge” xuất bản năm 2008 cho rằng chính phủ có thể tận dụng những hành vi bản năng của con người để nâng cao hiệu quả và chất lượng trong các dịch vụ công cũng như chính sách kinh tế.

Chỉ 2 năm sau khi cuốn sách xuất bản, chính phủ Anh đã thành lập một cơ quan liên quan đến hành vi người tiêu dùng và thị trường trong khi những quốc gia khác, bao gồm cả Mỹ cũng xây dựng những cơ quan như vậy sau đó.

Chính Cựu thủ tướng Anh David Cameron cũng phải thừa nhận tư tưởng của Giáo sư Thaler là đơn giản, dễ hiểu và đề cập đến bản chất của con người.

Nhờ lý thuyết của Giáo sư Thaler mà chính phủ Anh đã có những cải thiện đáng kể trong công tác quản lý. Ví dụ như việc người dân có động lực đóng phí đăng ký xe hơi hơn nếu trong bưu kiện hóa đơn có kèm ảnh chiếc xe của họ.

Chân dung chủ nhân Nobel Kinh tế 2017 Richard Thaler: Vị giáo sư theo chủ nghĩa bản ngã con người - Ảnh 2.

Kinh tế học và bản năng người tiêu dùng

Giáo sư Thaler hiện đã 72 tuổi, sinh tại East Orange-Mỹ, tốt nghiệp trường đại học Case Western Reserve và nhận hàm giáo sư kinh tế tại trường đại học Rochester năm 1974.

Vào thời kỳ đó, hầu hết các lý thuyết kinh tế vẫn giả định hành vi của người tiêu dùng và doanh nghiệp là logic, nghĩa là người tiêu dùng sẽ điều chỉnh chi tiêu theo những chính sách kinh tế của chính phủ bởi họ đều có thể dự đoán được kết quả của các chính sách này là gì.

Khi còn là sinh viên, ông Thaler đã làm những bài luận liên quan đến hành vi của người tiêu dùng và những bản khảo sát mà ông có được cho thấy kết quả khác hoàn toàn với lý thuyết trong sách.

Sự nghiệp của Giáo sư Thaler bước sang trang mới khi biết đến công trình của Giáo sự Kahneman và Amos Tversky, qua đó cho rằng kinh tế học cần gắn liền với hành vi của con người. Kể từ đó, ông Thaler trở thành động nghiệp cùng những chuyên gia này và đóng góp vai trò chủ chốt phổ biến công trình này ra toàn thế giới.

Năm 1995, Giáo sư Thaler tham dự giảng dạy tại trường đại học Chicago, nơi nổi tiếng với tư tưởng kinh tế học truyền thống.

“Tôi biết rằng tôi sẽ phải đấu tranh cho công trình của mình khi dạy học tại đó và tôi nghĩ đây là một điều tốt cho cả 2 bên. Cách tốt nhất để mài dũa kỹ năng của bạn là chống lại những đối thủ mạnh nhất”, ông Thaler nói.

Quan điểm thời đó của ông Thaler thực sự đã gây sốc cho các chuyên gia kinh tế truyền thống. Ví dụ theo lý thuyết cũ, giá xăng giảm sẽ khiến người tiêu dùng chi tiêu nhiều hơn cho những mặt hàng cần thiết nhất chứ không chi thêm tiền vào xăng. Tuy nhiên trong thực tế, nhiều khách hàng Mỹ dùng số tiền này để mua xăng chất lượng cao, hay nói cách khác họ mặc định khoản tiền này là để mua xăng chứ không dùng mua thứ khác.

Đây là một trong những ví dụ của ông Thaler cho việc cần gắn kinh tế học với thực tiễn bởi đôi khi thị trường không hoạt động theo đúng những gì lý thuyết đề ra.

Công trình nghiên cứu của Giáo sư Thaler cũng nói đến sự công bằng. Ông cho rằng nhiều người sẽ không hành động theo lợi ích kinh tế mà quyết định dựa trên quan điểm đạo đức của mình. Ví dụ khi trời mưa, một số cửa hàng sẽ tăng giá ô trong khi một số khác thì không bởi họ cho vậy là kinh doanh thiếu đạo đức.

Luận điểm này của Giáo sư Thaler cũng giải thích vì sao khi nền kinh tế suy thoái, lý thuyết kinh tế truyền thống lại sai. Theo đó, các giả thuyết trước đây cho rằng doanh nghiệp sẽ cắt giảm mức lương cho phù hợp với nhu cầu đặt hàng trong thời điểm kinh tế suy thoái và như vậy, tình trạng thất nghiệp sẽ khó xảy ra.

Tuy vậy, lao động lại cho rằng việc cắt giảm lương là bất công trên thực tế và khiến các doanh nghiệp cắt giảm nhân công để giữ mức lương, qua đó gây nên tình trạng thất nghiệp khi kinh tế suy thoái.

Thậm chí trong một bài phát biểu năm 2016, Giáo sư Thaler dự đoán rằng kinh tế học hành vi sẽ phổ biến tới mức thay thế được lý thuyết kinh tế học hiện nay.

AB

Theo Thời Đại


Nobel Kinh tế 2017 – Cú lội ngược dòng của kinh tế học hành vi

(Nguồn: http://cafebiz.vn)

Dĩ nhiên quyết định vinh danh Thaler của Ủy ban trao giải là 1 sự ghi nhận đối với những thành tựu mà cá nhân ông đã đạt được. Tuy nhiên, đây cũng là một chiến thắng dành cho kinh tế học hành vi.

Cách đây không lâu, bất kỳ lý thuyết kinh tế nào cũng được đưa ra dựa trên quan điểm con người là những chủ thể hành động dựa trên lý trí và sẽ tối ưu hóa lợi ích của bản thân. Các chuyên gia kinh tế sẽ bác bỏ bất kỳ quan điểm nào đi ngược lại điều đó.

Tuy nhiên, vài thập kỷ trở lại đây, những nhà kinh tế học hành vi như Richard Thaler đã đi được những bước tiến lớn trong việc loại bỏ quan điểm trên. Họ kết hợp nhuần nhuyễn các lý thuyết kinh tế với những góc nhìn tâm lý học sâu sắc để chứng minh rằng các quyết định kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề bởi những thiên kiến nhận thức. Và hôm qua (9/10), công trình của Thaler đã được ghi nhận ở mức độ cao nhất khi ông giành giải Nobel Kinh tế , trở thành một trong số rất ít những nhà kinh tế học hành vi được trao giải thưởng danh giá này.

Richard Thaler có một sự nghiệp đã kéo dài hơn 4 thập kỷ, trong đó 20 năm gần đây sự nghiệp của ông gắn liền với trường kinh doanh Booth của ĐH Chicago. Công trình nghiên cứu của ông tiếp cận nhiều chủ đề phong phú, từ giá tài sản đến tiết kiệm cá nhân và tội phạm kinh tế. Ví dụ, ông đã phát triển lý thuyết về “tính toán cảm tính” (mental accounting) giải thích trong quá trình đưa ra các quyết định tài chính con người chỉ nhìn vào những tác động hạn hẹp của những quyết định đơn lẻ thay vì nhìn vào bức tranh tổng thể. Ủy ban trao giải Nobel cũng nhấn mạnh nghiên cứu của Thaler về mâu thuẫn giữa kế hoạch dài hạn và những cám dỗ thôi thúc con người hành động trong ngắn hạn.

Giải Nobel sẽ giúp những lập luận của Thaler có thể tiếp cận với nhiều người hơn. Hiện ông thường xuyên viết bài cho tạp chí uy tín Journal of Economic Perspectives, miêu tả chi tiết hơn về những ví dụ cho thấy có nhiều hành vi kinh tế đi ngược lại với những quan điểm kinh tế học vi mô truyền thống. Ông cũng viết một vài cuốn sách về kinh tế học hành vi ở góc độ đại trà hơn.

Tuy nhiên, có lẽ Thaler nổi tiếng nhất với vai trò là người đi tiên phong cho lý thuyết “cú huých” – cách sử dụng sự hiểu biết sâu sắc về hành vi của con người để đưa ra những công cụ chính sách công hiệu quả nhất. Mặc dù ý tưởng này không phải là mới, các doanh nghiệp từ lâu đã áp dụng khoa học hành vi để “lái” phản ứng của khách hàng, trước đó các Chính phủ mới chỉ sử dụng yếu tố tâm lý một cách rời rạc, không thường xuyên.

Điều này bắt đầu thay đổi khi giáo sư Thaler cùng với người đồng nghiệp Cass Sunstein (học giả tại ĐH Harvard) xuất bản cuốn sách có tựa đề “Nudge” (tạm dịch: Cú huých) năm 2008. Cuốn sách tấn công giả thiết trong mọi mô hình kinh tế các quyết định đều được đưa ra dựa trên lý trí và chứng minh hoàn cảnh có thể thay đổi như thế nào nếu như những nhà hoạch định chính sách đưa ra quyết định tốt hơn.

Năm 2010, Thaler đã cố vấn cho Chính phủ Anh thành lập Behavioural Insights Team (tạm dịch: nhóm hiểu thấu hành vi) với nhiệm vụ đưa những ý tưởng của họ vào thực tiễn. Dự án thành công đến nỗi giờ đây nhóm này đã phát triển thành 1 công ty bán tư nhân đi cố vấn cho các Chính phủ trên khắp thế giới.

Từ vị thế là kẻ bị ruồng bỏ trong cộng đồng kinh tế học chỉ cách đây vài thập kỷ, giờ đây kinh tế học hành vi đã có được chỗ đứng vững chãi không chỉ trong giới hàn lâm mà cả trong các Chính phủ trên toàn thế giới. Từ Australia đến Mỹ hay những định chế quốc tế như World Bank và Liên hợp quốc, phương pháp tiếp cận “cú huých” đã được nhân bản.

Dĩ nhiên quyết định vinh danh Thaler của Ủy ban trao giải là 1 sự ghi nhận đối với những thành tựu mà cá nhân ông đã đạt được. Tuy nhiên, đây cũng là một chiến thắng dành cho kinh tế học hành vi.

Theo Thu Hương

Trí thức trẻ


Giải Nobel cho nghiên cứu về kinh tế học hành vi

(Tác giả: Bảo Như – Nguồn: http://tiasang.com.vn)

Giải Nobel kinh tế năm 2017 được trao cho GS Richard H. Thaler, đến từ Đại học Chicago, Hoa Kỳ cho những đóng góp của ông trong nghiên cứu về kinh tế học hành vi nhằm lý giải yếu tố tâm lý chi phối như thế nào tới các quyết định kinh tế.

Giải thích những quyết định kinh tế “vô lý” của con người

Cho đến nay, quan điểm chủ đạo trong kinh tế học truyền thống giả định rằng tất cả mọi người đều đưa ra các quyết định kinh tế dựa trên những tính toán duy lý. Quan điểm đó cũng ảnh hưởng tới giới làm chính sách, ví dụ, những nhà quản lý ban hành chính sách về kinh tế, xã hội thường dựa trên quan điểm là nếu chính sách đó có tác động tốt trên lý thuyết thì khi đưa vào thực tế sẽ được đón nhận. Nhưng từ khoảng 20 năm trước, kinh tế học hành vi ra đời và cho thấy điều ngược lại, đó là, con người không đưa ra các quyết định dựa trên lựa chọn duy lý mà bị ảnh hưởng bởi yếu tố tâm lý. GS. Richard H. Thaler chính là người đã tiên phong xây dựng lý thuyết về tâm lý học hành vi, hay nói một cách ngắn gọn là ông đã đưa kiến thức tâm lý học vào trong ngành kinh tế học, theo TS. Phạm Khánh Nam, nhà kinh tế học nghiên cứu về kinh tế học hành vi, đến từ ĐH Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.

Hội đồng giải thưởng Nobel năm 2017 cho biết, Richard H. Thaler đã khám phá một cách có hệ thống về hệ quả của các yếu tố xã hội như tính duy lý bị hạn chế, sở thích xã hội và tính thiếu kiềm chế bản thân sẽ ảnh hưởng như thế nào tới các quyết định của mỗi cá nhân cũng như tới thị trường (mặc dù có thể quyết định đó không mang lại lợi ích trong dài hạn). Cụ thể, ông đã phát triển hệ thống lý thuyết và những công cụ thử nghiệm để đo lường trong kinh tế học hành vi gồm1:

Tính duy lý bị hạn chế: Ông đã phát triển lý thuyết về “kế toán tinh thần”, giải thích về việc các cá nhân thường đơn giản hóa các quyết định tài chính của mình bằng cách tưởng tượng và chia nhỏ tài khoản của mình thành các tài khoản nhỏ hơn, sau đó đưa ra quyết định dựa trên từng tài khoản nhỏ đó thay vì đưa ra một quyết định mang tính tổng thể. Ông cũng đưa ra khái niệm “hiệu ứng sở hữu” (endowment effect), thông qua phân tích tâm lý sợ rủi ro và mất mát của con người để giải thích về việc tại sao con người lại đánh giá cao giá trị của những vật mà mình đang có hơn là khi không sở hữu nó.

Sở thích xã hội: Thaler đã đưa ra một công cụ là “trò chơi độc tài” (dictator game) để thực nghiệm về quan điểm công bằng ở mỗi cá nhân, trong đó “nhà độc tài” sẽ được quyền tùy ý chia một khoản tài trợ cho người thứ hai. Hành vi chia tiền của “nhà độc tài” sẽ thể hiện quan điểm của anh ta về sự công bằng (có hào phóng chia đều không hay không chia). Công cụ này đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu để đo lường thái độ đối với sự công bằng trong các nhóm người khác nhau trên khắp thế giới.

Tính thiếu kiềm chế bản thân: Thaler đã phân tích tính kiềm chế bản thân của con người thông qua việc sử dụng mô hình lập kế hoạch, giống như cách các nhà tâm lý học và thần kinh học sử dụng để quan sát mối quan hệ giữa việc xây dựng kế hoạch dài hạn với việc thực hiện kế hoạch đó trong ngắn hạn. Theo đó, những “cám dỗ” trước mắt thường là nguyên nhân quan trọng làm thất bại các kế hoạch dài hạn như tiết kiệm tuổi già hoặc một lối sống lành mạnh, hoặc đơn giản là chúng ta thường hào hứng lên kế hoạch vào đầu năm nhưng rất khó lòng thực hiện được.

Phạm vi ứng dụng rộng rãi

Dù mới ra đời và phát triển trong hai thập kỷ trở lại đây nhưng kinh tế học hành vi đã được ứng dụng khá rộng rãi ở các nước phát triển, theo TS. Phạm Khánh Nam. Các nghiên cứu của GS. Thaler đã ảnh hưởng tới việc ra quyết định chính sách kinh tế xã hội ở một số nước trong thời gian gần đây. Dưới thời tổng thống Obama, đã có một ủy ban cố vấn về kinh tế học hành vi được thành lập để phân tích các yếu tố tâm lý sẽ ảnh hưởng như thế nào tới chính sách xã hội và Thaler cũng từng là cố vấn cho ủy ban này. Ông đồng thời cũng là nhà tư vấn để đưa các ý tưởng về kinh tế hành vi vào xây dựng chính sách cho chính phủ Anh và tư vấn cải tiến hệ thống lương hưu của Thụy Điển2. Hay trước sự kiện Brexit ở Anh, ông cho rằng các cử tri Anh đã không đưa ra lựa chọn hợp lý về mặt kinh tế dựa trên thông tin mà giới tinh hoa và truyền thông ở Anh cung cấp. “Hầu hết cử tri Anh đã không suy nghĩ [về việc bỏ phiếu Brexit] một cách có phân tích”, ông nói trong cuộc trả lời phỏng vấn của Marketwatch vào năm ngoái3.

Ở Việt Nam, kinh tế học hành vi vẫn là một xu hướng học thuật mới mẻ, chỉ được nghiên cứu trong khoảng năm năm trở lại đây, theo TS. Phạm Khánh Nam. Ở khu vực phía Nam, có hai nhóm nghiên cứu về kinh tế học hành vi ở ĐH Kinh tế TP. Hồ Chí Minh và Đại học Cần Thơ còn ở khu vực phía Bắc mới chỉ có nhóm nghiên cứu của TS. Nguyễn Việt Cường, Viện Nghiên cứu Phát triển Mekong quan tâm. Đến nay, trong hệ thống đề tài của Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Nafosted), đã có hai đề tài về kinh tế học hành vi được tài trợ.

Tuy nhiên, “môn kinh tế học hành vi chưa được dạy hoặc dạy rất ít ở các trường đại học”, TS. Nguyễn Việt Cường cho biết. “Còn việc đưa ứng dụng của ngành này vào xây dựng các chính sách kinh tế xã hội ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng thì vẫn còn xa lắm”, TS. Phạm Khánh Nam nói.

——

Chú thích:

https://www.nobelprize.org/nobel_prizes/economic-sciences/

https://www.ft.com/content/aa08d810-acd8-11e7-aab9-abaa44b1e130

http://www.marketwatch.com/video/richard-thaler-brits-are-voting-with-their-guts/00CDC7BC-4A32-45E4-8556-BAAE4CD41596.html


Tài liệu đặc biệt: Về Richard H. Thaler

(Nguồn: http://www.viet-studies.net)

Đây toàn bộ Chương 28 trong cuốn hồi ký của Thaler (vô cùng thú vị, các bạn nên mua đọc trọn cuốn). Chương này thuật lại cách mà Trường Kinh Doanh Booth của Đại học Chicago phân phối văn phòng cho ban giảng huấn khi họ dời sang một building mới xây. Đọc, bạn sẽ thấy sự ganh tỵ, so bì (có phần nhỏ nhen!) giữa các “đại thụ” trong giới đại học (như bất cứ một nhóm người nào khác mà thôi!) 

Richard Thaler: The Offices
(Chương 18 trong quyển “Misbehaving: The Making of Behavioral Economics)

——————&&&—————

Quan hệ giữa tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng: Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam

Quan hệ giữa tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng: Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam

(Tác giả: HẠM QUỐC VIỆT, NGUYỄN HỮU DUY – Nguồn: http://tapchitaichinh.vn/)

Bài viết tiến hành xem xét sự tồn tại của quan hệ bổ sung, quan hệ thay thế giữa tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng của các doanh nghiệp Việt Nam. Trên mẫu dữ liệu của 490 công ty niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2009-2016, nhóm tác giả đã tìm thấy sự tồn tại của mối quan hệ bổ sung và quan hệ thay thế giữa hai biến nghiên cứu và sự khác biệt của hành vi sử dụng tín dụng thương mại của các doanh nghiệp Việt Nam trong và sau khủng hoảng tài chính toàn cầu (2007 – 2008).
Ảnh minh họa. Nguồn: internet.Ảnh minh họa. Nguồn: internet.

Tín dụng thương mại (TDTM) và tín dụng ngân hàng (TDNH) là một trong những chủ đề quan trọng trong quản trị tài chính doanh nghiệp (DN). Nó đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn trong nhiều lĩnh vực ở các quốc gia trên thế giới. Sau giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tiến hành thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ và thận trọng, đồng thời với tỷ lệ nợ xấu tăng cao dẫn đến các ngân hàng hạn chế cho vay, làm cho việc tiếp cận vốn từ kênh TDNH của các DN trở nên khó khăn.

Để tồn tại và phát triển, các DN phải tìm kiếm nguồn vốn từ các kênh khác và mở rộng sang TDTM, nhóm tác giả tiến hành kiểm định trên mẫu dữ liệu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2009 – 2016 nhằm trả lời cho câu hỏi nghiên cứu: Tồn tại quan hệ bổ sung hay quan hệ thay thế giữa TDTM và TDNH trong giai đoạn khủng hoảng và sau khủng hoảng tài chính tại Việt Nam?

Tổng quan lý luận nghiên cứu

TDTM là “loại tín dụng dưới hình thức các nhà kinh doanh ứng vốn cho nhau hoặc vay lẫn nhau, bằng cách bán chịu hàng hoá hay thông qua lưu thông kỳ phiếu, nhờ đó làm thông suốt và thúc đẩy lưu thông tư bản” (Từ điển Bách khoa Viêt Nam, tập 4, trang 414).

TDNH là việc ngân hàng “thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” (Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12).

Theo Danielson và Scott (2004), vai trò của TDTM trong cấu trúc vốn của một công ty tùy thuộc vào khả năng hoàn trả nợ của nó. Nếu công ty có thể trả nợ đúng hạn, TDTM là nguồn thay thế cho TDNH; tuy nhiên, khi công ty gặp khó khăn về dòng tiền và không thể tiếp cận TDNH bổ sung, TDTM trở thành nguồn thay thế cho TDNH, mặc dù có chi phí cao. Như vậy, mối quan hệ thay thế giữa TDTM và TDNH kỳ vọng tương quan âm giữa khoản phải trả và vay ngân hàng; còn quan hệ bổ sung giữa TDTM và TDNH kỳ vọng tương quan dương giữa khoản phải thu/TDTM ròng (chênh lệch giữa khoản phải thu và khoản phải trả) và vay ngân hàng.

Lợi thế của TDTM so với TDNH thể hiện ở: (i) Giảm bất cân xứng thông tin giữa người mua và người bán với vai trò đảm bảo chất lượng sản phẩm (Smith, 1987); (ii) Là một bộ phận của chính sách định giá nhằm gia tăng doanh thu và giữ khách hàng (Pike và ctg, 2005); (iii) Giảm thiểu chi phí giao dịch (Ferris, 1981). Tuy nhiên, để hiện thực hóa lợi thế này, các DN phải quản trị tốt chi phí tài trợ và rủi ro đối tác.

ảnh 1Nhiều bằng chứng thực nghiệm trên thế giới đã ủng hộ cho cả quan hệ bổ sung, quan hệ thay thế hoặc cả hai tại các nền kinh tế khác nhau.

Demirgüç-Kunt và Maksimovic (2001) nghiên cứu mẫu DN tại 40 quốc gia trong giai đoạn 1989-1996 và tìm thấy mối quan hệ bổ sung giữa TDTM và TDNH. Love và ctg (2007) xem xét ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tác động đến mối quan hệ giữa TDTM và TDNH trên dữ liệu mẫu khảo sát, bao gồm 890 công ty tại 6 nền kinh tế mới nổi và cung cấp bằng chứng về mối quan hệ thay thế giữa TDTM và TDNH tại các công ty lớn trong khủng hoảng.

Lin và Chou (2015) dựa trên mẫu số liệu của 1.213 công ty Trung Quốc đã tiến hành kiểm tra ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đối với mối quan hệ giữa TDTM và TDNH. Kết quả cho thấy, có một sự bổ sung và thay thế giữa TDTM và TDNH trong giai đoạn khủng hoảng tài chính.

Đến nay, tại Việt Nam, chủ đề này rất ít được nghiên cứu, theo hiểu biết chủ quan của các tác giả. Chẳng hạn, Bùi Tuấn Anh và Lê Khương Ninh (năm 2015) xem xét các tác động của TDNH và TDTM đến hiệu quả hoạt động của 118 DN nông nghiệp niêm yết trên hai sở giao dịch chứng khoán ở Việt Nam trong giai đoạn 2008-2013.

Trần Ái Kết (2007) cũng xem xét các yếu tố ảnh hưởng tới TDTM của các trang trại nuôi trồng thuỷ hải sản ở tỉnh Trà Vinh với cơ sở dữ liệu bao gồm 310 trang trại nuôi tôm nước lợ tại Trà Vinh vào tháng 5/2005… Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào về mối quan hệ giữa TDTM và TDNH tại Việt Nam trong và sau giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Kế thừa các nghiên cứu trước, đặc biệt là nghiên cứu của Lin và Chou (2015), nhóm tác giả tiến hành kiểm định giả thuyết về sự tồn tại đồng thời của quan hệ bổ sung và quan hệ thay thế giữa TDTM và TDNH tại Việt Nam và nhận thấy sự thay đổi về TDTM trong giai đoạn khủng hoảng.

Phương pháp nghiên cứu

Kế thừa Love và ctg (2007), nhóm tác giả đề xuất 3 mô hình hồi quy:

TRECTOSit= α0 + β1CFWit + β2GROWTHit + β3 EXCHRGRt + β4 CASHTAit + β5 BKLOANit + β6 CRISISt + ε

TPAYTOCit = α0 + β1CFWit + β2 GROWTHit + β3 EXCHRGRt + β4 CASHTAit + β5 BKLOANit + β6 CRISISt + ε

NTCSit = α0 + β1CFWit + β2 GROWTHit + β3 EXCHRGRt + β4 CASHTAit + β5 BKLOANit + β6 CRISISt + ε

Trong đó:

Biến phụ thuộc:

TRECTOSit: Tỷ lệ khoản phải thu trên doanh thu thuần của công ty i tại năm t;

TPAYTOCit: Tỷ lệ khoản phải trả trên giá vốn hàng bán của công ty i tại năm t;

NTCSit: Tỷ lệ TDTM ròng (khoản phải thu- khoản phải trả) trên doanh thu thuần của công ty i tại năm t.

Biến độc lập:

BKLOANit: Tỷ lệ nợ vay ngắn hạn trên tổng tài sản công ty i tại năm t.

Các biến kiểm soát:

CFWit: Dòng tiền hoạt động trên tổng tài sản công ty i tại năm t, tính bằng tỷ lệ thu nhập trước lãi vay, thuế và khấu hao trên tổng tài sản;

GROWTHit: Tốc độ tăng trưởng của doanh thu công ty i tại năm t;

EXCHRGRt: Biến động tỷ giá danh nghĩa USD/VND tại năm t so với năm t-1;

CASHTAit: Tỷ lệ tiền mặt trên tổng tài sản công ty i tại năm t;

CRISISt: Là một biến giả biểu thị trong giai đoạn khủng hoảng của năm t. Căn cứ vào tỷ lệ tăng trưởng GDP và lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn 2009-2016, nhóm tác giả xác định giai đoạn khủng hoảng ở Việt Nam là 2009-2011, do tỷ lệ lạm phát trong giai đoạn này biến động rất lớn, trong khi tỷ lệ tăng trưởng GDP thấp hơn mức bình quân. Vì vậy, CRISIS nhận giá trị 1 trong các năm 2009-2011 và bằng 0 ở các năm 2012-2016.

Mẫu dữ liệu thu thập từ báo cáo tài chính của 490 công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2016. Phương pháp xử lý dữ liệu được sử dụng là hồi quy dữ liệu bảng thông qua Pooled OLS, FEM và REM; lựa chọn mô hình phù hợp; kiểm định các vi phạm giả định hồi quy (đa cộng tuyến, tự tương quan, phương sai sai số thay đổi) và khắc phục bằng FGLS.

Thảo luận kết quả nghiên cứu

Khi phân tích ma trận hệ số tương quan, hầu hết hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình tương đối nhỏ, thấp hơn 0,8 nên mô hình không có tương quan lớn giữa các biến độc lập và các biển kiểm soát. Tuy nhiên, hệ số tương quan giữa biến EXCHRGR và CRISIS là 0,8993 rất cao.

Để khắc phục hiện tượng đa cộng tuyến và phục vụ cho việc kiểm định giả thuyết về TDTM trong giai đoạn khủng hoảng, các tác giả quyết định giữ lại biến CRISIS; còn biến EXCHRGR sẽ dùng để kiểm tra tính vững của mô hình.

ảnh 2Kết quả Bảng 2 cho thấy, tồn tại tương quan âm có ý nghĩa thống kê (mức ý nghĩa 1%) giữa khoản phải trả (TPAYTOC) và TDNH (BKLOAN), cung cấp bằng chứng về sự tồn tại của quan hệ thay thế giữa TDTM và TDNH của các DN trong giai đoạn nghiên cứu. Kết quả này xác nhận giả thuyết nghiên cứu, đồng thời phù hợp với các kết quả trước đó của Love và ctg (2007) và Lin và Chou (2015). Đối với các nước có nền tài chính chưa phát triển, phụ thuộc nhiều vào TDNH như Việt Nam, việc tiếp cận TDTM để sử dụng nguồn tài chính từ các nhà cung ứng, bán hàng là kênh ưu tiên, vì thế các công ty sẵn sàng tìm kiếm nguồn tài chính từ TDTM khi bị từ chối cho vay.

Giữa TDNH (BKLOAN) và TDTM ròng (NCTS) tồn tại tương quan dương với mức ý nghĩa 1%, chứng tỏ khi các công ty tăng nợ vay ngân hàng, số tiền cung ứng tín dụng ròng của các công ty cho khách hàng sẽ gia tăng, ngụ ý tồn tại mối quan hệ bổ sung giữa TDTM và TDNH. Kết quả này cũng ủng hộ giả thuyết nghiên cứu của các tác giả và tương tự như kết quả nghiên cứu của Demirgüç-Kunt và Maksimovic (2001), Lin và Chou (2015).

Ngoài ra, biến khủng hoảng tài chính có tác động tiêu cực lên tỷ lệ khoản phải thu với mức ý nghĩa 1% nhưng không có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với khoản phải trả và TDTM ròng. Kết quả này cho thấy, trong giai đoạn 2009-2011, Việt Nam bị ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính thế giới, các công ty sẽ giảm cung ứng TDTM cho khách hàng của họ, điều này đúng với giả thuyết nghiên cứu cho rằng có sự khác nhau của TDTM ở giai đoạn trong và sau khủng hoảng.

Một số kết quả nghiên cứu khác liên quan đến các biến kiểm soát bao gồm: (i) Dòng tiền hoạt động và tỷ lệ tiền mặt có tương quan âm có ý nghĩa với khoản phải thu và khoản phải trả, nhưng lại có tương quan dương có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ TDTM ròng; (ii) Tốc độ tăng trưởng doanh thu có tương quan âm có ý nghĩa với khoản phải thu và khoản phải trả, nhưng không có tương quan có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ TDTM ròng. Các kết quả nghiên cứu này được giải thích bằng mối quan hệ đánh đổi giữa TDTM và thanh khoản của DN, và chỉ có những DN có năng lực thanh khoản tốt mới có thể cung ứng TDTM ròng.

Bên cạnh đó, chính sách TDTM có mối quan hệ mật thiết với chu kỳ tăng trưởng của DN, những DN đang trong giai đoạn tăng trưởng không quan tâm nhiều đến chính sách TDTM bằng các DN trong giai đoạn bão hòa.

Nhằm kiểm tra tính vững của mô hình, các tác giả thay thế biến CRISIS trong mô hình hồi quy bằng biến EXCHRGR. Kết quả hồi quy được trình bày cụ thể tại Bảng 3.

Kết quả Bảng 3 không có sự khác biệt về dấu và ý nghĩa thống kê của các hệ số hồi quy so với Bảng 2. Điều này cho thấy, chính sách điều tiết vĩ mô của Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu tác động đến hoạt động tín dụng của các DN chủ yếu thông qua chính sách điều hành tỷ giá. Tuy vậy, việc điều chỉnh tăng tỷ giá USD so với VND làm gia tăng rủi ro tỷ giá, dẫn đến việc các DN phải thắt chặt TDTM thông qua việc cắt giảm các khoản phải thu.

Kết luận

Từ dữ liệu của 490 DN phi tài chính niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2009-2016, nhóm tác giả đã tìm thấy sự tồn tại đồng thời của mối quan hệ bổ sung và thay thế giữa TDTM và TDNH và dấu hiệu của thắt chặt khoản phải thu trong giai đoạn khủng hoảng.

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, TDTM tại các DN Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tài chính như tỷ lệ dòng tiền hoạt động, tỷ lệ tiền mặt – năng lực thanh khoản của DN và tốc độ tăng trưởng doanh thu trong hoạt động kinh doanh.

Kết quả nghiên cứu này dẫn đến gợi ý chính sách đối với DN phải cân nhắc giữa lợi ích đạt được trong cung ứng TDTM với các chi phí kiệt quệ tài chính có thể xảy ra do mất cân đối dòng tiền, thiếu hụt tiền mặt và thiếu hụt nguồn tài trợ từ các ngân hàng.

Về phía cơ quan quản lý nhà nước, kết quả nghiên cứu này cung cấp bằng chứng về sự tồn tại đồng thời của TDTM và TDNH với quan hệ bổ sung và thay thế cho nhau. Vì vậy, nếu xảy ra sự cố hoặc khủng hoảng TDTM sẽ đe dọa sự phát triển ổn định của TDNH. Nhóm tác giả đề xuất các cơ quan chức năng sớm rà soát và đánh giá việc vận hành của Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005, mối quan hệ với Luật các Tổ chức tín dụng, để tạo lập hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín dụng thương mại tại Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

1. Bùi Tuấn Anh, Lê Khương Ninh (2015), Tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại và hiệu quả hoạt động của các DN ở Việt Nam, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, số 115, tháng 10/2014, tr 42-45;

2. Trần Ái Kết (2007), Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới tín dụng thương mại của các trang trại nuôi trồng thuỷ hải sản ở tỉnh Trà Vinh, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 199, tr 16-19;

3. Danielson, M. G., & Scott, J. A. (2004), Bank loan availability and trade credit demand. Financial Review, 39(4), 579-600;

4. Demirgüç-Kunt, A., & Maksimovic, V. (2001). Firms as financial intermediaries: Evidence from trade credit data (Vol. 2696). World Bank, Development Research Group, Finance;

5. Ferris, J. S. (1981). A transactions theory of trade credit use. The Quarterly Journal of Economics, 96(2), 243-270;

6. Lin, T. T., & Chou, J. H. (2015). Trade credit and bank loan: Evidence from Chinese firms. International Review of Economics & Finance, 36, 17-29;

7. Love, I., Preve, L. A., & Sarria-Allende, V. (2007). Trade credit and bank credit: Evidence from recent financial crises. Journal of Financial Economics, 83(2), 453-469;

8. Pike, R., Cheng, N. S., Cravens, K., & Lamminmaki, D. (2005). Trade credit terms: asymmetric information and price discrimination evidence from three continents. Journal of Business Finance & Accounting, 32(5‐6), 1197-1236;

9. Smith, J. K. (1987). Trade credit and informational asymmetry. The journal of finance, 42(4), 863-872.

—————-&&&—————-

J Coin – tiền ảo mới của Nhật Bản

J Coin – tiền ảo mới của Nhật Bản

Với J Coin, các ngân hàng Nhật Bản muốn thay đổi thói quen tiêu tiền mặt và đối phó với sự phát triển của Alibaba tại quốc gia này.

Một nhóm các ngân hàng, dẫn đầu bởi Mizuho Financial Group và Japan Post Bank đã nhận được sự hỗ trợ từ ngân hàng trung ương và các cơ quan quản lý tài chính để phát triển J Coin – loại tiền kỹ thuật số dùng để thanh toán hàng hóa và chuyển tiền thông qua smartphone.

J Coin có thể chuyển đổi thành đồng yen với giá trị tương đương, hoạt động nhờ một ứng dụng trên smartphone và sử dụng mã QR quét tại các cửa hàng. Các ngân hàng sẽ cung cấp dịch vụ này miễn phí. Đổi lại, họ sẽ có thêm dữ liệu về các thói quen chi tiêu của người dùng.

Tiền kỹ thuật số mới sẽ ra mắt vào dịp Olympic Tokyo 2020. Đây là kế hoạch nhằm đối phó với sự đe dọa từ Alibaba. Gần đây, hãng này đã ra mắt dịch vụ thanh toán trên di động Alipay tại Nhật Bản.

“Tôi nghĩ tiền này sẽ tốt hơn các loại thẻ. Vì khi bạn thanh toán thẻ, cửa hàng sẽ mất phí”, Yasuhiro Sato – Chủ tịch kiêm CEO Mizuho Financial Group chia sẻ với Financial Times.

Financial Times trích lời một nguồn tin thân cận cho biết, một số ông lớn ngân hàng Nhật đã cảnh báo Chính phủ về sự nguy hiểm của dịch vụ Alipay với các thành phố nước này. Họ cho rằng dữ liệu của người tiêu dùng Nhật sẽ được gửi về Trung Quốc. Kế hoạch của họ là chứng minh khả năng của các fintech Nhật vào dịp Olympic Tokyo 2020. Đây là thời điểm hàng trăm nghìn du khách sẽ đến thăm quốc gia này.

Theo ông Sato, kế hoạch sẽ hoạt động tốt nhất khi các ngân hàng phối hợp cùng nhau. “Chúng ta không nên giữ ý tưởng cho riêng mình, mà phải đổi mới thật cởi mở”, ông cho biết.

J Coin được thiết kế nhằm thay đổi thói quen phụ thuộc nặng nề vào tiền mặt tại Nhật. Khoảng 70% giá trị giao dịch tại Nhật là bằng tiền mặt – cao nhất trong nhóm nước phát triển.

Ông Sato giải thích: “Chúng tôi thích tiền mặt vì Nhật là một đất nước thích an toàn. Tuy nhiên, tiền mặt không hiệu quả nên chúng tôi phải thay đổi cấu trúc sang tiền điện tử”.

Các ngân hàng ước tính rằng, hệ thống mới này có thể đóng góp 10 tỷ yen cho kinh tế Nhật, nhờ cắt giảm các chi phí xử lý tiền mặt và các khoản phí thanh toán cho nhà bán lẻ và người tiêu dùng. Họ dự định tiết lộ kế hoạch về J Coin trong vài ngày tới.

Theo Anh Tú/vnexpress

———————&&&——————