Niết bàn của các nhà kinh tế học (2): Các định luật

Niết bàn của các nhà kinh tế học (2): Các định luật

(Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Định luật sắt của tiền lương

Người ta thường gán định luật này cho Marx, trong khi nó được phát biểu (và được sử dụng rộng rãi trong các cuộc mít tinh của những nhà xã hội chủ nghĩa) bởi Ferdinand Lassalle (1825-1864), một chính trị gia người Đức thuộc cánh cực tả. Ông cho rằng, trên thị trường lao động, sự cạnh tranh giữa người lao động với nhau sẽ không tránh khỏi việc kéo tiền lương trở về mức lương tối thiểu, một mức lương chỉ đủ đảm bảo tái tạo sức lao động. Trong thực tế, lập luận này đã được David RicardoThomas Malthus sử dụng, nhưng đã được biện minh bằng các quan điểm nhân khẩu học: dân số, do đó là số lượng người lao động, được cho là sẽ tăng nhanh hơn năng lực sản xuất nông nghiệp, do lợi tức giảm dần của đất khi lần lượt đưa vào canh tác những vùng đất kém mầu mỡ. Về phần mình, Lassalle đặt định luật của ông trên cơ sở ngưỡng của tương quan sức mạnh: các chủ sử dụng lao động có nhiều quyền lực hơn so với người làm công ăn lương, vì vậy người lao động cần phải phối hợp với nhau và lật đổ hệ thống tư bản chủ nghĩa để thay thế nó bằng hệ thống của các nghiệp đoàn lao động.

F. Lassalle (1825-1864)
Karl Marx (1818-1883)

Luận đề này không phải là của Marx. Đối với Marx, thù lao của sức lao động (mức lương) phụ thuộc vào những yếu tố mang tính “đạo đức và lịch sử”, cũng như vào trình độ lao động. Đó là điều không tương thích với “định luật sắt về tiền lương”, một định luật, mà giống như một la bàn, được cho là làm cho mức lương trở lại cùng một điểm cố định một cách tất yếu: mức lương tối thiểu đủ để người lao động và gia đình họ sinh tồn. Lassalle, người muốn qua mặt Marx từ cánh tả, cuối cùng đã qua mặt Marx từ cánh hữu, khi trở thành người sáng lập Đảng Dân chủ Xã hội Đức. Nhưngnhà hoạt động [chính trị] này cũng là một người tình cảm. Phải lòng yêu con gái của một nhà ngoại giao, hơn nữa lại thuộc dòng dõi quý tộc, ông vấp phải sự từ chối của người cha, người có ý định gả con gái mình cho một người quý tộc khác. Điên tiết, Lassalle thách đấu tay đôi với người cha [của cô gái] và đối thủ của mình. Đó là một ý tồi: trận đấu là một thảm bại đối với ông, và ông chết ba ngày sau đó, ở tuổi 39.

Định luật về chi phí so sánh (hay định luật về lợi thế so sánh)

Sẽ là điều đáng tiếc khi Mozart, người dường như nấu ăn rất giỏi, lại dành thời gian của mình để nấu ăn, trong khi ông có khả năng sáng tác âm nhạc tuyệt vời. Ngay cả nếu (đây không phải là trường hợp này) ông là người nấu ăn giỏi nhất thế giới, thì thực tế là ông chỉ hơn các đối thủ nấu ăn của ông có một cái đầu [nhỏ], trong khi trong lĩnh vực âm nhạc không có ai đạt đến trình độ ở mắt cá chân của ông. Và như thế Salieri, mặc dù kém tài nấu ăn hơn Mozart, đã có thể chuyên tâm vào việc nấu ăn, bởi vì, nói cho cùng, ưu thế âm nhạc của Mozart đã bù đắp lớn hơn nhiều mọi phẩm chất nấu ăn của Salieri.

Bertil Ohlin (1899-1979)
Eli Heckscher (1879-1952)

Đó là kiểu lý luận hình thành nên định luật các chi phí so sánh, được David Ricardo (1772-1823) phát triển vào năm 1817: trong giao dịch quốc tế, nếu mỗi quốc gia chuyên sản xuất một hoặc nhiều mặt hàng mà họ có lợi thế so sánh lớn nhất (chớ không phải tuyệt đối) so với các đối thủ cạnh tranh, thì toàn thể thế giới sẽ hưởng lợi nhiều hơn, bởi vì mỗi quốc gia sẽ sản xuất những mặt hàng mà họ có lợi thế nhất (một cách tương đối). Và, cảm ơn trời đất, thương mại tự do giúp phát hiện những lợi thế so sánh của từng quốc gia, nhờ vào sự cạnh tranh giữa các quốc gia: như thế mỗi quốc gia có thể chuyên môn hóa trong những lĩnh vực mà mình có lợi thế nhất một cách tương đối, và từ bỏ những lĩnh vực khác, bởi vì họ có thể nhập khẩu các sản phẩm này với giá rẻ hơn so với việc nếu phải tự thân sản xuất ra. Eli Heckscher, Bertil Ohlin và Paul A. Samuelson đã hiện đại hóa định luật (hai nhà kinh tế học sau đã được trao “Giải thưởng Nobel”, lần lượt vào năm 1977 và năm 1970) bằng cách đưa vào một sự khác biệt giữa người lao động có tay nghề thấp và người lao động có tay nghề cao: khi một nền sản xuất đặc biệt đòi hỏi một công việc chuyên môn thấp, thì tốt hơn nên khu biệt nền sản xuất đó tại một nước thuộc phương “Nam” có rất nhiều lao động có tay nghề thấp, và khu biệt nền sản xuất có chất lượng cao tại các nước thuộc phương “Bắc”, nơi mà lực lượng lao động có tay nghề cao hơn.

Maurice Allais (1911-2010)
Paul Samuelson (1915-2009)

Về mặt lý thuyết, đây là điều không tránh được, nhưng khi phải đóng cửa hoặc di dời các doanh nghiệp, thì cái giá phải trả là rất cao, vì lẽ không bao giờ biết chắc được các hoạt động khác có thể tiếp tục vận hành được không. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi hầu hết các quốc gia đều xem định luật này như là kẻ trộm dòm ngó người hiến binh: tự hỏi làm thế nào để thoát khỏi viên hiến binh đó. Những lợi ích đạt được về mặt kinh tế sẽ được trả giá bằng các tổn thất về mặt xã hội ở phương Bắc và về mặt môi trường ở phương Nam, như lời nhấn mạnh của Maurice Allais (người được trao “Giải thưởng Nobel” vào năm 1988), cho rằng những lợi ích kinh tế từ sự chuyên môn hóa sẽ làm nghèo hơn là làm giàu thêm đất nước.

Friedrich List (1789-1846)
Paul Krugman (1953-)

Paul Krugman, tuy ủng hộ thương mại tự do, cũng phê phán định luật này, định luật mà ông cho là mang tính quá tĩnh: một đất nước khởi động trong một lĩnh vực nào đó không tránh khỏi hoạt động kém hiệu quả so với một đất nước đã làm chủ được lĩnh vực đó trong một thời gian dài và, ngoài ra, còn có thể hưởng lợi từ tính kinh tế theo quy mô. Nhưng một khi đã ổn định tình hình, thì họ có thể làm tốt hơn so với các nhà sản xuất lâu năm và do đó kích thích sự cạnh tranh (ví dụ như Airbus gây khó khăn cho Boeing). Đó là lập luận đã được Friedrich List, một nhà kinh tế học người Đức, người muốn bảo vệ “các ngành công nghiệp non trẻ” sử dụng trong thế kỷ 19. Có quánhiều dấu “giáng” làm suy yếu tầm quan trọng của định luật Ricardo này.

Định luật Engel

Ernst Engel (1821-1896)
Friedrich Engels (1820-1895)

Ernst Engel (1821-1896), không nên nhầm lẫn với người bạn của Marx, Friedrich Engels, là một nhà thống kê người Phổ, người đã tiến hành các đo đạc đầu tiên về tiêu dùng và thu nhập của các hộ gia đình. Ông nhận thấy rằng, khi thu nhập tăng, các khoản chi cho ăn uống chiếm một tỷ lệ giảm dần trong tổng chi của các hộ gia đình, trong khi đó là điều ngược lại đối với những khoản chi mà ông gọi là “xa xỉ” (cho việc di chuyển, mua sách báo, đi chơi…), còn đối với các khoản chi cho quần áo thì tăng dần theo cùng một nhịp với mức thu nhập. Các nhận định thực nghiệm này đã dẫn đến sự ra đời của định luật Engel.

Kể từ một thế kỷ rưỡi nay (định luật được trình bày lần đầu tiên vào năm 1857), bộ ba nhận định trên thực ra đã không bị phủ định, cho dù cần phải diễn đạt nó một cách tinh vi hơn. Như vậy, sự gia tăng thu nhập sẽ khuyến khích một chế độ ăn uống phong phú hơn, thậm chí thay đổi các chế độ ăn uống: chúng ta đi ăn ở nhà hàng nhiều hơn, chúng ta mua các thức ăn đông lạnh, chúng ta uống rượu sâm-banh vào những dịp lễ lạt, và tất cả những điều này sẽ tốn nhiều tiền hơn. Tuy nhiên, các khoản chi cho ăn uống (tất nhiên không bao gồm các bữa ăn ở nhà hàng) đã không ngừng chiếm một tỷ lệ giảm dần trong ngân sách của các hộ gia đình trong vòng một thế kỷ rưỡi qua: từ khoảng 60% vào năm 1860, xuống 33% một thế kỷ sau đó, 17% hiện nay (và 20% với các bữa ăn ở nhà hàng).

Đối với các khoản chi cho nhà ở (tiền thuê nhà, tiền cho hệ thống sưởi ấm, tiền cho trang thiết bị nội thất), thì tỷ lệ của chúng trong tổng chi đã không ngừng tăng dần: khoảng 5% vào năm 1860, đã tăng lên 22% vào năm 1960 và 31% hiện nay. Liệu nhà ở có là một khoản chi xa xỉ? Các hiệp hội của người tiêu dùng ủng hộ Engel trên điểm này.

Định luật Gresham

Thomas Gresham (1519-1579)

Thomas Gresham (1519-1579) là một chủ ngân hàng người Anh sống vào thời điểm mà tiền tệ được đúc hoàn toàn bằng kim loại; vào thời đó người ta sử dụng đồng thời các đồng tiền vàng và đồng tiền bạc (một hệ thống tiền tệ được gọi là “bản vị kép”). Thông thường, một đồng tiền có 31 gram bạc nguyên chất có mệnh giá giống như một đồng tiền có 2 gram vàng nguyên chất (người ta để sang một bên những rắc rối gắn với việc không bao giờ có đồng tiền nào có kim loại nguyên chất). Nhưng có tình trạng là đồng tiền vàng hay đồng tiền bạc được đánh giá thấp một chút so với đồng tiền kia. Ví dụ, việc những người chinh phục châu Mỹ phát hiện ra các mỏ bạc ở Bolivia vào thế kỷ 16 đã làm giảm giá kim loại này so với vàng. Khi đồng tiền vàng trở nên tương đối đắt hơn, thì các chủ ngân hàng thích chi tiền hoặc thanh toán bằng đồng tiền bạc có giá trị tương đối ít đắt hơn. Kết quả tất yếu là các đồng tiền vàng ngày càng trở nên khan hiếm hơn, trong khi đồng tiền bạc thì được lưu hành nhiều hơn: “đồng tiền xấu [đồng tiền bị mất giá, là đồng tiền bạc trong ví dụ này] đuổi đồng tiền tốt”, Gresham khẳng định, và từ đó cho ra đời định luật mang tên ông.

Định luật này có thể đã biến mất cùng với chế độ bản vị kép, nhưng nó lại xuất hiện mỗi khi mà hai hình thức tiền tệ cùng tồn tại có khả năng thấy được sự dao động của các giá trị trao đổi tương ứng của chúng: ví dụ, tại Argentina, vào những năm 1990, một đạo luật đã thiết lập một quy tắc đơn giản: đồng peso trị giá chính thức ngang với một đô-la. Vì vậy, ngườiArgentina không phân biệt việc trả tiền mua hàng bằng đồng peso hay bằng đồng đô-la. Nhưng do lạm phát, đồng peso bị mất giá một chút, đến mức tất cả người Argentina, những người có khả năng [tài chính] sẽ chi trả bằng đồng peso và giữ lại những đồng đô-la quý báu của họ. Chỉ cần mất tám ngày để các đồng đô-la biến mất khỏi lưu thông: đồng tiền xấu đã đuổi đồng tiền tốt và Nhà nước Argentina đã buộc phải phá giá đồng peso. Không phải không có lý do mà Gresham, một chủ ngân hàng, đã trở nên giàu có.

Định luật King

Gregory King (1648-1712), không phát minh ra định định luật nào mang tên ông cả.Nhưng định luật đã được đặt tên như vậy để tưởng nhớ đến công trình của ông. Thực vậy, nhà thống kê học người Anh này đã tiến hành những ước tính nghiêm túc đầu tiên về dân số và mức tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, và đặc biệt đã quan tâm đến các mối quan hệ giữa việc sản xuất lúa mì và giá cả của lúa mì trên thị trường. Ông thấy rằng giá lúa mì tăng cao khi mùa thu hoạch kém, và giảm mạnh khi mùa thu hoạch tốt. Việc giải thích điều này rất đơn giản: vào thời đó, lúa mì là thực phẩm thiết yếu cơ bản. Là một yếu tố then chốt của cuộc sống (và sinh tồn), người ta phải mua lúa mì bằng bất cứ mọi giá. Trong trường hợp mùa thu hoạch kém, cầu chỉ giảm nhẹ, trong khi cung có thể giảm nhiều: từ đó mà giá cả tăng mạnh. Ngược lại, những mùa thu hoạch tốt trôi qua một cách khó khăn, bởi vì dạ dày của người tiêu dùng không mở rộng được: vì vậy giá cả cần phải giảm mạnh để một số người có thể mua nhiều hơn nhằm cho gia cầm ăn chẳng hạn.

Định luật King so sánh điều được gọi là độ co dãn của cầu (khi giá giảm xuống 1%, thì liệu cầu có tăng nhiều hơn hoặc ít hơn 1% không, và khi giá tăng lên 1%, thì liệu cầu có giảm nhiều hơn hoặc ít hơn 1% không?) và độ co dãn của cung (khi giá tăng lên 1%, thì liệu cung có tăng nhiều hơn hoặc ít hơn 1% không?). Lúa mì chính là sản phẩm mà độ co dãn của cung và độ co dãn của cầu đều rất thấp, có nghĩa là cung và cầu biến động rất ít khi giá cả biến động. Như vậy, phải có một biến động giá rất lớn để có thể cân bằng cung và cầu, bởi vì chi phí vận chuyển (để nhập khẩu lúa mì trong trường hợp mùa thu hoạch kém, hoặc xuất khẩu lúa mì trong trường hợp mùa thu hoạch tốt) cao và sản phẩm dễ hư hỏng. Hầu hết các sản phẩm nông nghiệp đều ở trong trường hợp tương tự. Tuy nhiên, định luật King vẫn còn tính thời sự. Tại sao?

Chủ yếu là vì sự chậm chạp của một số quá trình điều chỉnh và chi phí xã hội của các quá trình ấy. Ví dụ, khi giá lợn tăng, báo hiệu một nguồn cung không đủ, thì sẽ có rất nhiều nhà sản xuất phát triển trang trại để tận dụng xu hướng này. Nhưng khi thu hoạch bổ sung này đến với thị trường, thì trong thực tế nó tạo ra một cung mạnh hơn so với cầu, vì vậy giá cả giảm mạnh, loại bỏ những nhà sản xuất nào yếu kém nhất hoặc hoạt động kém hiệu quả nhất. Khi thu hoạch giảm, thì giá cả tăng lên và như vậy chu kỳ (được gọi là chu kỳ “thịt lợn”, nhưng điều này cũng đúng đối với các mặt hàng ngô, củ cải đường, hạt có dầu, v.v.) có thể tái diễn, đến vô tận. Thị trường thường xuyên tạo ra một loạt các biến động theo hướng đi lên hoặc đi xuống. Đó là định luật King, định luật mà trong những năm sau chiến tranh, đã biện minh cho các chính sách nông nghiệp nhằm giảm thiểu sự biến động giá cả. Nhưng hiện nay là thời điểm của toàn cầu hóa và King không còn nằm trong nghị trình. Người nông dân hối tiếc nó, nhưng không biết định luật này.

Định luật cung cầu

John Stuart Mill (1806-1873)

Trong tất cả các định luật, đây là định luật được biết đến nhiều nhất: không có ngày nào mà định luật không được một nhà bình luận đề cập đến, để ca ngợi những phẩm chất của thị trường, hoặc cáo buộc những tệ nạn của nó. Tuy nhiên, thuật ngữ này không được sinh ra dưới ngòi bút của những nhà sáng lập phân tích kinh tế. John Stuart Mill (1806-1873), trong cuốn Principes d’économie politique[Các nguyên lý kinh tế chính trị] (1848) của ông, đã nói đến “phương trình cung cầu.”

F. von Hayek (1899-1992)
Alfred Marshall (1842-1924)

Mãi cho đến Alfred Marshall (1842-1924) và cuốn sách của ông vào năm 1890, có tựa đề giống với tựa đề cuốn sách của Mill và là cuốn sách giáo khoa đầu tiên của kinh tế học tân cổ điển, ta mới tìm thấy thuật ngữ “định luật cung cầu”. Ông đề xuất một đường biểu diễn bằng đồ thị đã trở nên phổ quát: đường cong về cầu giảm khi giá cả tăng, còn đường cong về cung đi theo con đường ngược lại và vì vậy chắc chắn sẽ xảy ra một thời điểm khi mà hai đường cong này sẽ giao nhau, xác định một mức giá và một lượng cân bằng. Há chẳng phải là điều hiển nhiên? Khi mà mặt hàng dâu tây hiếm [trên thị trường], thì giá tăng cao, điều này cho phép loại bỏ những người mua quá nhiều. Như vậy, định luật cung cầu hoạt động như một nam châm (khi giá cả tăng, thì sẽ kích thích sản xuất tăng). Sự thay đổi đồng thời giữa giá cả và số lượng cho phép dẫn đến một tình huống mà, với một mức giá nhất định nào đó, toàn bộ cung sẽ được tiêu thụ và toàn bộ cầu sẽ được thỏa mãn. Phép mầu của thị trường, Hayek thốt lên.

Trừ phi mọi chuyện không phải lúc nào cũng đơn giản như vậy. Đôi khi, khi giá giảm, cầu cũng giảm theo, bởi vì những người mua tiềm tàng diễn giải sự giảm giá này như là một sự suy giảm chất lượng (trong trường hợp của rượu vang, pho mát hoặc ô tô cũ đã qua sử dụng, ví dụ). Trong một số trường hợp, một hàng hóa đắt tiền giúp phân biệt người mua nó với những người khác không có phương tiện [để mua nó], và do đó, hưởng lợi từ mức cầu cao từ phía những người muốn được phân biệt (“hiệu ứng Veblen”, được đặt tên theo tên của nhà kinh tế học người Mỹ đã làm rõ nó).

Nói chung, cơ chế thời trang giúp làm tăng đồng thời giá cả và mức cầu. Trên các thị trường tài chính, một chứng khoán đang tăng giá sẽ thu hút người tìm kiếm một món hời và hy vọng vào một sự tăng giá tiếp theo, trong khi một chứng khoán đang mất giá sẽ khiến một số người sở hữu nó muốn loại bỏ nó: trong cả hai trường hợp, động thái mang tính tự duy trì. Nhưng ngược lại, khi giá của một nhu yếu phẩm hàng đầu (ví dụ như bánh mì) tăng, thì mức tiêu thụ của nó cũng tăng, bởi vì sự tăng giá đó chắc chắn không giới hạn ở mặt hàng bánh mì, mà còn ảnh hưởng đến các mặt hàng thực phẩm khác, đã trở nên quá đắt đỏ, và mức cầu sẽ giảm để giành tiền mua những mặt hàng nào ít tốn kém hơn là bánh mì (“hiệu ứng Giffen”, được đặt tên theo tên của nhà kinh tế học người Scotland, người đã làm rõ nó).

Nói tóm lại, định luật cung cầu thường bị vi phạm. Nhưng điều này không có nghĩa là nó không tồn tại, nhưng bố cục tốt đẹp của nó không phải là điều phổ quát, nó gần hơn với ẩn dụ này của Mill: “ở khắp mọi nơi, đại dương luôn có xu hướng cân chỉnh mực nước biển, nhưng chưa bao giờ giữ được mực nước đó; bề mặt của đại dương luôn gợn sóng và thường bị động bởi những cơn bão.

Định luật Okun

Arthur Okun (1928-1980)

Arthur Okun (1928-1980) là một nhà kinh tế học người Mỹ thuộc trường phái keynesian. “Định luật” của ông không hẳn là một định luật thực sự: nó chỉ đo lường, trong một quốc gia nhất định, diễn tiến của số lượng việc làm khi tăng trưởng tăng hoặc giảm một điểm, từ đó cho phép suy ra một tỷ suất tăng trưởng kinh tế tối thiểu để đẩy lùi tình trạng thất nghiệp, tại quốc gia đó. Vì vậy, đó là một phép đo hơn là một định luật. Ví dụ, tại Pháp, định luật Okun đưa ra một tỷ suất tăng trưởng tối thiểu là 1,3%. Nhưng tỷ suất này có thể thay đổi theo thời gian, bởi vì nó phụ thuộc vào diễn tiến của năng suất, tỷ lệ việc làm bán thời gian, v.v.. Okun đã trở nên nổi tiếng vì một đóng góp khác, dưới hình thức một ẩn dụ: nếu bạn có một khu vườn nằm xa nhà mà bạn chỉ có thể tưới tiêu bằng một cái thùng nước bị rò rỉ, thì bạn sẽ ngưng việc tưới tiêu đó từ một tỷ lệ phần trăm lượng nước bị thất thoát nào trên đường? Diễn dịch: từ những mức thất thoát nào mà chính phủ cần phải loại bỏ một khoản trợ cấp xã hội? Ông trả lời: đó là một vấn đề thuộc về niềm tin cá nhân. Một số người không chấp nhận một sự thất thoát nào dù nhỏ nhất; đối với cá nhân tôi, ông nói, tôi có thể chấp nhận đến mức 50%. Điều không tránh khỏi là sẽ luôn luôn có những kẻ khôn lỏi để được hưởng một cách không chính đáng những trợ giúp, nhưng điều đó không phải là một cái cớ để ngừng cố gắng làm giảm sự bất bình đẳng, đặc biệt đối với những người ở tận cùng của thang thu nhập. Ông không phải là người quá khoan hòa (ông khuyến nghị thắt chặt các quy định và kiểm soát), nhưng thứ bậc hóa các ưu tiên: không được bỏ rơi công bằng xã hội nhân danh cuộc chiến chống gian lận.

Định luật Pareto

Léon Walras (1834-1910)
Vilfredo Pareto (1848-1923)

Là người nối nghiệp Walras tại Đại học Lausanne, hầu tước Vilfredo Pareto(1848-1923) vào năm 1896, khi nghiên cứu về các dữ liệu thống kê thuế vụ, nhận thấy rằng trong hầu hết các nước mà ông có dữ liệu, có 20% những người đóng thuế trả 80% thuế. Tò mò, ông lại tìm ra một sự phân phối tương tự về di sản và thu nhập, và đưa ra kết luận cho rằng sự phân phối này có lẽ tương ứng với một “định luật tự nhiên”, mà ông gọi là “nguyên lý phân phối”, phản ánh sự phân phối không đồng đều về năng lực và trí tuệ thực hành trong một dân số nhất định. Ngụ ý, chỉ có một lượng nhỏ người mới thuộc tầng lớp tinh hoa, điều mà bản thân ông cũng không nghi ngờ. Nhưng phải đến năm 1956 thì Joseph Juran, một chuyên gia người Mỹ về kiểm soát chất lượng trong ngành công nghiệp, mới đặt tên cho nguyên lý phân phối này là “định luật Pareto”, sau khi tìm thấy rằng 80% những hỏng hóc của cùng một họ sản phẩm (một động cơ điện, ví dụ) xuất phát từ 20% các sản phẩm.

Định luật về dân số (hay định luật Malthus)

T. Malthus (1766-1834)

Cuốn sách của Robert Thomas Malthus (1766-1834) được xuất bản lần đầu (vào năm 1798), cuốn sách đã làm cho ông trở nên nổi tiếng, có tiêu đề là An Essay on the Principle of Population, as it affects the future improvement of society with remarks on the speculations of Mr. Godwin, M. Condorcet, and other writers [Tiểu luận về nguyên lý dân số bởi vì nó ảnh hưởng đến sự tiến bộ của xã hội trong tương lai với những nhận xét về các lý thuyết của các ông Godwin, Condorcet và của các tác giả khác] (ouf, tựa quả là khá dài!). Chính những người hâm mộ ông đã biến nguyên lý thành định luật: tỷ lệ sinh đẻ đạt đến mức mà số lượng người sống có xu hướng tăng nhanh hơn số lượng thực phẩm được sản xuất. Đối với Malthus, quy tắc này, áp dụng đối với tất cả các mọi người sống, phải dẫn đến một sự hạn chế sinh đẻ tự nguyện, đặc biệt qua việc lùi tuổi kết hôn và một sự kiêng khem quan hệ tình dục (Malthus là một mục sư). Nếu không, chính việc thiếu thốn thực phẩm nuôi sống sẽ loại bỏ số người dư thừa.

Malthus đã rút ra những kết luận gây sốc, ngay cả vào thời đó: chớ có giúp đỡ người nghèo, bởi vì điều này sẽ khuyến khích họ sinh đẻ, từ đó làm tăng tỷ lệ dân số bị nạn đói và nghèo khổ đe dọa. Malthus đã thổi điệu sáo dễ nghe này ở tất cả mọi nơi mọi lúc vào lỗ tai của người nộp thuế: sẽ là vô ích khi giúp đỡ người nghèo, nếu không muốn làm gia tăng nạn nghèo đói. Nhưng ông đã không tính đến việc con người có thể tự nguyện làm giảm khả năng sinh đẻ bằng các phương thức khác ngoài sự kiêng khem quan hệ tình dục, và khi tỷ lệ tử vong giảm xuống và khi tỷ lệ học thức tăng lên, thì họ lại có xu hướng làm điều đó [giảm tỷ lệ sinh đẻ]. Điều mà ngày nay chúng ta gọi là “sự quá độ dân số”, một thực tế khi mà tỷ lệ sinh đẻ giảm khi tỷ lệ tử vong giảm xuống, nhưng với một độ trễ trong thời gian.

Định luật này lại nổi lên trong cuộc tranh luận công cộng với “sự bùng nổ dân số” của thế giới thứ ba, trong những năm 1950. Với cảnh ngộ tương tự: mức sinh (số lượng con được sinh của một phụ nữ) trong phần lớn các nước thuộc phương Nam từ nay đã giảm xuống dưới 3 [đứa con] và đến gần với ngưỡng sinh mới bảo đảm số dân được giữ nguyên (trung bình cao hơn 2 con một chút cho một phụ nữ). Một lần nữa, sự quá độ dân số đã tiến nhanh trên diện rộng và đã được thực hiện trong 50 năm, trong khi châu Âu phải mất đến một thế kỷ. Và duy chỉ còn Châu Phi Hạ Sahara là vùng mà sự quá độ về dân số mới chỉ vừa bắt đầu.

Định luật về lợi tức giảm dần

David Ricardo (1772-1823)

Chính David Ricardo – lại ông ấy nữa! – là người phát minh ra định luật này. Khi dân số tăng, thì cần phải khai thác những vùng đất mới để nuôi sống con người, ông nói. Những vùng đất [mới] này kém năng suất hơn so với những vùng đất cũ, bởi vì hiển nhiên là người nông dân thích bắt đầu khai thác những vùng đất mầu mỡ nhất, những vùng đất làm cho họ làm việc ít nặng nhọc hơn. Lợi ích nhỏ, hậu quả lớn. Bởi vì, nếu phải mất hai giờ công để sản xuất thêm một ký lúa mì theo mức cầu của dân số, trong khi chỉ cần một giờ công cho những ký lúa mì khác, thì giá lúa mì trong tổng thể sẽ tăng lên, do không thể xem xét đến việc bán một ký lúa mì với một mức giá khác với mức giá của cậu em sinh đôi của mình, với lý do là nó có giá thành sản xuất đắt hơn. Vì vậy lợi tức giảm dần sẽ thúc đẩy giá cả tăng, đặc biệt là giá cả các mặt hàng thực phẩm. Đây là điều rất đáng buồn cho người lao động, Ricardo nói thêm, bởi vì điều đó sẽ làm cho họ càng nghèo thêm (và làm giàu cho các chủ đất, những người sẽ có dịp cho họ thuê lại những vùng đất có năng suất cao nhất với giá đắt hơn: đó là tô chênh lệch). Nhưng sự việc đã rồi.

Ricardo quan tâm đến vấn đề đất đai, các nhà kinh tế học tân cổ điển thì quan tâm đến việc khái quát hóa khái niệm. Trong một doanh nghiệp, khi sản lượng tăng, thì chi phí cận biên (chi phí của việc thêm một đơn vị đầu vào) bắt đầu giảm: bởi vì chúng ta có thể dàn trải các chi phí cố định trên một số lượng đơn vị sản xuất lớn hơn rất nhiều, cũng có thể bởi vì kinh nghiệm cho phép tiết kiệm được thời gian và nâng cao chất lượng (hiệu ứng tập huấn). Kết quả: chi phí trung bình giảm và giá bán cũng có thể dễ dàng giảm, ví dụ nếu người mua đặt mua những đơn hàng với số lượng lớn (những người cho thuê xe ô-tô, ví dụ, sẽ mua với giá rẻ hơn nhiều so với những người mua cá thể). Than ôi, những điều tốt đẹp không bao giờ kéo dài lâu. Đến một lúc nào đó thì chi phí cận biên bắt đầu tăng lên: giờ làm việc phụ trội trở nên đắt hơn, các dây chuyền sản xuất bắt đầu bão hòa, các kỹ sư không còn tìm được cách làm tăng những năng suất khả dĩ mới, v.v.. Theo các nhà kinh tế học tân cổ điển, định luật về lợi tức giảm dần có một giá trị phổ quát và việc sản xuất nhiều hơn cuối cùng cũng dẫn đến một chi phí cao hơn đối với một đơn vị sản xuất, từ đó thúc đẩy giá tăng lên.

Cần lưu ý rằng định luật này là khá thuận tiện: nó cho phép giải thích đường cong về cung. Khi cầu tăng, đó không chỉ vì tính cơ hội mà các doanh nghiệp tăng giá sản phẩm của mình, mà còn vì tình thế bắt buộc, bởi vì các chi phí cho một đơn vị sản xuất của họ cũng tăng. Những người thực lợi của Ricardo là những người bóc lột, bởi vì họ kiếm lời từ sự tăng giá các mặt hàng thực phẩm theo mức cầu tăng dần, và họ hưởng lợi mà chẳng cần phải làm bất cứ điều gì. Nhưng những doanh nhân của các nhà kinh tế học tân cổ điển là những gã đáng thương: họ chỉ tác động đến giá cả khi nhận thấy các chi phí của họ đã tăng. Nếu không, họ sẽ biến mất. Họ không có lựa chọn.

Joseph Schumpeter (1883-1950)

Tuy nhiên cũng có một nhược điểm. Lợi tức giảm dần không phải là một điều gì rõ ràng. Hầu hết các doanh nghiệp cắt giảm chi phí bằng cách mở rộng quy mô sản xuất-kinh doanh lớn hơn: điều này đúng cho các ngành công nghiệp, ngân hàng, bảo hiểm, các trung tâm mua sắm, quảng cáo, v.v.. Chỉ một nhà máy cán kim loại lớn cũng đã liên tục sản xuất ra nhiều sản phẩm tôn hơn so với nhiều nhà máy cán kim loại nhỏ. Chưa nói đến tính kinh tế theo quy mô (khấu hao các chi phí cố định trên một số lượng lớn các đơn vị sản xuất), các hiệu ứng tập huấn (xem ở phần trên), các cải tiến kỹ thuật (tự động hóa…). Với những công nghệ mới, chi phí cận biên gần bằng không: chi phí sản xuất cận biên của một phần mềm được giảm xuống bằng với chi phí bao bì và vận chuyển. Tất cả các phần còn lại là lợi nhuận. Vả lại Schumpeter đã hiểu được cách thức vận hành của chủ nghĩa tư bản, không phải với những doanh nghiệp chịu phải lợi tức giảm dần. Trong một số trường hợp, sự độc quyền là cách thức để sản xuất với mức chi phí thấp nhất: một mạng lưới đường sắt độc quyền, một mạng lưới điện thoại độc quyền, một mạng lưới cung cấp nước sinh hoạt độc quyền (ở tầm của một thành phố). Điều này được gọi là sự độc quyền tự nhiên.

Jean Tirole (1953-)
J.-J. Laffont (1947-2004)

Nhưng những doanh nghiệp nắm độc quyền, không có đối thủ cạnh tranh, có thể hưởng lợi từ vị thế không chính đáng này. Liệu nên chăng quốc hữu hóa chúng không? Jean Tirole và Jean-Jacques Laffont đã cho thấy rằng điều này không giải quyết được vấn đề, bởi vì Nhà nước (hay thị trấn) không nhất thiết có được tất cả các thông tin cần thiết để xác định một mức giá công bằng; vì thế các nhà quản lý mạng lưới nắm hết các tiền tô do các chi phí sản xuất của họ sẽ cho phép bán sản phẩm với mức giá rẻ hơn. Lợi tức tăng dần vận hành theo kiểu một cơn sóng thần: đặt lại vấn đề hiệu quả của sự cạnh tranh, định luật cung cầu, sự vượt trội về năng suất của doanh nghiệp tư nhân, v.v.. Thật tội cho Ricardo…

Định luật Say (hay định luật tiêu trường)

Adam Smith (1723-1790)
Jean B. Say (1767−1832)

Định luật Say được đặt theo tên của Jean Baptiste Say (1767-1832), nhà kinh tế học người Pháp trở nên nổi tiếng với việc phổ biến các phân tích của Adam Smithtrên lục địa (châu Âu – ND). Định luật của ông được tóm tắt như sau: sản phẩm được trao đổi với sản phẩm, hay là cung sẽ tạo ra chính cầu của nó. Để sản xuất, một doanh nghiệp mới phải mua hàng hóa hoặc dịch vụ và phải thuê nhân viên: làm như vậy, họ phải bỏ tiền ra. Đến lượt những số tiền được chi ra đó sẽ được những người thụ hưởng chi cho các khoản thanh toán. Việc cung tăng thêm là động cơ và tạo ra cầu tăng thêm với tầm quan trọng bằng nhau. Không thể có khủng hoảng thừa, nhưng chỉ có những bất điều chỉnh tạm thời theo khu vực, ví dụ như do sản xuất ra quá nhiều sản phẩm này nhưng không đủ đối với sản phẩm kia.

Các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển tin chắc vào những điều trên, vốn dẫn họ đến việc phủ nhận khả năng xảy ra những cuộc khủng hoảng lâu dài do chính bản thân hệ thống kinh tế gây ra. Các cuộc khủng hoảng chỉ có thể đến từ những nguyên nhân bên ngoài, chẳng hạn như việc ít khám phá ra các mỏ vàng (đã đóng một vai trò tiền tệ then chốt trong thế kỷ XIX), một cú sốc dầu hỏa… hoặc một chính sách kinh tế tồi tệ của Nhà nước (cách giải thích cuộc khủng hoảng vào năm 1929 của Milton Friedman). Keynes đã bác bỏ sự phân tích này, làm nổi bật khả năng của một tình trạng dư thừa tiết kiệm (không được chuyển thành đầu tư), vì vậy sinh ra không đủ cầu.

Béatrice Majnoni Intignano
Milton Friedman (1912-2006)

Những nhà kinh tế học trọng tiền và những nhà kinh tế học tân cổ điển đã tiến hành phục hồi định luật Say, gợi ý rằng phải làm mọi thứ để giải phóng cung, cầu sẽ luôn luôn đi theo sau. Ở Pháp, chúng ta thậm chí đã thấy một nữ kinh tế gia (Béatrice Majnoni Intignano) nhắc đến một “định luật Say về việc làm”: số lượng người lao động tham gia thị trường lao động càng lớn (cung lao động, thường được gọi là cầu việc làm), thì tốc độ tăng trưởng kinh tế càng cao. Bởi vì tất cả những người lao động đó hiển nhiên sẽ tạo ra một cầu lao động (tạo công ăn việc làm) nếu các tham vọng của họ không quá đáng. Vì vậy, chỉ cần một ứng viên lao động xuất hiện trên thị trường thì họ sẽ tìm được việc làm, nhờ vào bàn tay vô hình của thị trường và việc hàng ngàn doanh nhân chỉ chờ có điều đó. Một sự lạc quan đáng ngưỡng mộ hay là một chuyện cổ tích? Những người tìm việc sẽ quyết định.

Định luật về giá trị

Định luật thực ra được Marx phát triển, nó đã trở thành, đối với hầu hết những người công nhận ông, tiêu chí mang tính quyết định để phân biệt các “nhà kinh tế học tư sản” với các “nhà kinh tế học khoa học” (có nghĩa là “mác-xít”). Là một thứ vũ khí chiến đấu đồng thời là công cụ trí tuệ, định luật này khẳng định rằng giá trị của mọi nền sản xuất được xác định bởi lượng lao động xã hội cần thiết để tạo ra nó, cho dù đó là lao động trực tiếp hoặc gián tiếp (để sản xuất các hàng hóa trung gian và các trang thiết bị được sử dụng). Thuật ngữ “xã hội” có nghĩa là không đề cập đến một nhà sản xuất cụ thể nào hết, mà là tất cả những nhà sản xuất cùng một sản phẩm hoặc dịch vụ: những nhà sản xuất nào phát triển được các kỹ thuật tiết kiệm công sức lao động sẽ có cơ hội bán sản phẩm với mức giá thấp hơn giá trị trung bình, sẽ loại bỏ những nhà sản xuất nào, mà để tạo ra sản phẩm, cần đến nhiều công sức lao động hơn so với mức giá trung bình của các nhà sản xuất. Giá thật sự trên thị trường biến động theo cung và cầu, nhưng giá trị lao động, theo một cách nào đó, là trọng tâm của lực hấp dẫn. Vấn đề là khối lượng lao động có thể khỏa lấp vấn đề phẩm chất lao động vốn rất khác nhau, giữa phẩm chất của người kỹ sư và phẩm chất của người công nhân.

Là một loại định luật thiêng liêng đối với hầu hết các nhà kinh tế học mác-xít, “định luật về giá trị” đã tạo ra những cuộc tranh cãi bất tận, khó hiểu đối với hầu hết các nhà kinh tế học đương đại, có phần giống một chút với các cuộc tranh luận về giới tính của các thiên thần vào thời Trung Cổ. Nhưng vẫn luôn còn đó một vài người hoài cổ.

Định luật Wagner

Adolph Wagner (1835-1917)

Khi xã hội càng văn minh, Nhà nước càng phải chi tiêu nhiều hơn,” đó là nhận định của Adolph Wagner (1835-1917), một nhà kinh tế học người Đức, vào năm 1872. Một nhận xét mà ông đã biến thành “định luật” tất yếu vì hai lý do. Một mặt, bởi vì hoạt động của nền kinh tế, để phát triển, cần đến những cơ sở hạ tầng mà chỉ có Nhà nước mới có thể thúc đẩy và tài trợ: đường bộ giao thông, đường sắt, hệ thống nước sinh hoạt và thoát nước (ngày nay chúng ta có thể thêm vào sân bay, hệ thống cung cấp điện, mạng 4G, v.v.). Mặt khác, bởi vì mức sống, khi tăng cao, sẽ tạo ra những nhu cầu mới (về giáo dục, y tế), mà mức độ hài lòng sẽ đồng thời kích thích và tạo điều kiện cho mức độ tăng trưởng kinh tế.

Gần một thế kỷ rưỡi sau đó, định luật này đã bị đưa ra tranh cãi dữ dội, và các nhà kinh tế học tự do vui mừng trước việc các chi tiêu công có xu hướng giảm dần trong cơ cấu của GDP. Nhưng nên lưu ý là mức giảm này đi kèm với sự gia tăng bất bình đẳng và nhiều hình thức loại trừ khác nhau gây thiệt hại cho những tầng lớp dễ bị tổn thương nhất. Trong khi định luật Wagner dựa trên một nền móng chủ yếu có tính kinh tế, thì việc đặt lại vấn đề định luật này sẽ gây ra hoặc làm trầm trọng thêm các vấn đề xã hội.

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: Les lois, les théorèmes, les courbes…, Les Dossiers d’Alternatives Economiques, Hors-série no 4, septembre 2016.

———————–&&&———————

Xây dựng mô hình DEA đánh giá hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Xây dựng mô hình DEA đánh giá hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

(Tác giả: Nguyễn Quang Khải – Nguồn: http://tapchitaichinh.vn)

Phương pháp đo lường thông qua mô hình DEA là một phương pháp định hướng dữ liệu phi tham số, phương pháp này rất tốt trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, tính phù hợp của mô hình tùy thuộc vào các biến được lựa chọn.

Ảnh minh họa. Nguồn: internetẢnh minh họa. Nguồn: internet

Thông qua dữ liệu từ 20 ngân hàng thương mại Việt Nam năm 2014, bài viết đề xuất phương pháp lựa chọn các biến đầu ra và đầu vào dựa trên phương pháp thiết kế nhân tố phân đoạn 3 mức độ và khoảng cách Mahanalobis.

Cơ sở lý thuyết

Hiện nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới ứng dụng rất nhiều những phương pháp khác nhau nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng. Một trong số đó là phương pháp đo lường thông qua mô hình DEA (Data envelopment analysis), mô hình này ngày càng phổ biến trong các nghiên cứu liên quan đến việc đánh giá hoạt động của các ngân hàng thương mại. Mô hình này có thể được tóm tắt và giả thích như sau:

Trước tiên, DEA là một phương pháp định hướng dữ liệu phi tham số được xây dựng đầu tiên bởi Charnes et al (1978). Nghiên cứu này được phát triển từ thước đo hiệu quả kỹ thuật của Farrell (1957), mô hình này nhằm đo lường hiệu quả kỹ thuât (TE) dựa trên đánh giá tổng hợp những yếu tố đầu vào và đầu ra của các đơn vị ra quyết định DMU (decision making unit).

Hiện nay, các nghiên cứu thực hiện mô hình DEA thường được lựa chọn một trong hai dạng là hiệu quả kỹ thuật định hướng đầu vào và hiệu quả kỹ thuật định hướng đầu ra. Lời giải cho mỗi đơn vị ra quyết định (DMU) là sử dụng các loại đầu vào (Inputs) ở mức cần thiết tối thiểu để sản xuất ra một tập hợp đầu ra nhất định (Outputs). Còn hiệu quả kỹ thuật định hướng đầu ra là thước đo sản lượng tiềm năng của một DMU từ một tập hợp đầu vào nhất định. Việc lựa chọn mô hình định hướng đầu vào hay định hướng đầu ra phụ thuộc vào khả năng kiểm soát các yếu tố đầu vào của các DMU và việc lựa chọn cũng không có nhiều khác biệt về điểm đánh giá hiệu quả theo như Coelli và Perelman (1996).

Với các biến tiềm năng mà bài viết này xem xét, tác giả lựa chọn mô hình định hướng đầu vào. Bên cạnh đó, mô hình còn được thực hiện dựa trên một trong hai giả định là hiệu quả thay đổi theo quy mô (VRS -variable returns to scale) và không đổi theo quy mô (CRS-constant returns to scale). Việc lựa chọn một trong hai giả định nói trên phụ thuộc vào đặc điểm các DMU đang xem xét. Đối với các ngân hàng thương mại nói chung giả định hiệu quả không đổi theo quy mô rất khó đáp ứng, do đó, bài viết sẽ thực hiện theo giả định VRS. Cuối cùng vấn đề quan trọng nhất là lựa chọn các biến đầu vào và đầu ra phù hợp mà các nghiên cứu trước đây chưa có sự thống nhất.

Mô hình DEA trong nghiên cứu này có thể được thể hiện như sau:

Min(Z)

Điều kiện:

Lj ≥0 (j = 1,2,…, J)

Z: Thước đo hiệu quả được tính cho mỗi DMUj

ujm: Khối lượng đầu ra m được sản xuất bởi DMUj

xjn: Khối lượng đầu vào n được sản xuất bởi DMUj

Lj: Biến cường độ cho DMUj

∑Lj =1 (Giả định VRS)

Đối với mô hình DEA, các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam cũng như trên thế giới chủ yếu dựa trên các mô hình đã được xây dựng sẵn qua các nghiên cứu trước đó. Bài viết thực hiện nhằm mục đích cung cấp một nghiên cứu thực nghiệm làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình DEA nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam.

Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được tác giả thu thập thông qua báo cáo tài chính và báo cáo thường niên cũng như thông tin trên các website của các ngân hàng thương mại. Các chỉ số tài chính và các chỉ số liên quan khác được tính toán bởi chính tác giả.

Với mục đích tìm ra những yếu tố đầu vào và đầu ra phù hợp cho mô hình DEA, bài viết thực hiện theo đề xuất của Hiroshi Morita và K. Avkiran (2009). Tác giả sẽ áp dụng phương pháp thiết kế nhân tố phân đoạn 3 mức độ theo Fisher đề xuất vào năm 1926, và phát triển bởi Plackett và Burman (1946) và khoảng cách Mahalanobis. Trong thiết kế nhân tố phân đoạn 3 mức độ, khi có k các biến tiềm năng, tổng số đầu vào và đầu ra kết hợp có thể tăng lên đến 3k. Với mỗi ba cấp độ, ta có thể xác định một thiết kế phân đoạn 3k-p với k biến tiềm năng, bao gồm 3k-p lần chạy mô hình.

Khoảng cách giữa hai nhóm này được đo bằng khoảng cách Mohalanobis như sau:

Với: , Vh là trung bình và phương sai cho nh ngân hàng có hiệu quả cao,Vl là trung bình và phương sai cho nl ngân hàng có hiệu quả thấp. Một sự kết hợp các biến đầu ra và đầu vào tối ưu khi kết hợp đó tối đa hóa khoảng cách Maholanobis. Trong phân tích phương sai (ANOVA) cho thiết kế nhân tố phân đoạn, giá trị tổng bình phương toàn mẫu quan sát được tính như sau:

Đồng thời, tổng bình phương trung bình riêng cho từng biến tiềm năng Si được cho như sau:

Với d là khoảng cách Maholanobis, k là số lượng biến cần lựa chọn, là giá trị trung bình khoảng cách Maholanobis khi xi = 1. Nếu là tối đa thì biến xi sẽ là một đầu vào, nếu là tối đa thì biến xi là một đầu ra, nếu tối đa thì biến xi không nên chọn như một đầu vào hay một đầu ra.

Việc kiểm tra một biến tiềm năng không được sử dụng như một biến đầu ra được kiểm tra thông qua kiểm định F. Việc lựa chọn các biến đầu ra đầu vào có thể tóm lược thông qua các bước như sau:

Bước 1: Liệt kê các biến đầu ra và đầu vào tiềm năng. Các biến cụ thể là: Tài sản cố định (FA), tổng lượng tiền gởi (MO), tổng lượng cho vay (TL), số lượng nhân viên (EM) Milind Sathye (2001), doanh thu (RV), chi phí lãi vay (LC), chi phí ngoài lãi vay (NC) Xiaogang Chen el al (2005), một số biến khác như: tiền mặt (CA) Haslem et al (1999), lợi nhuận gộp (GP), lợi nhuận ròng (NP), tỷ lệ đòn bẩy(DR), tỷ lệ doanh thu trên lợi nhuận (RP) Hiroshi Morita và K. Avkiran (2009).

Bước 2: Tách biệt hiệu quả thành hai nhóm hiệu quả cao và hiệu quả thấp, tương ứng với mỗi nhóm, tác giả sẽ lựa chọn 10 ngân hàng. Tiêu chí xếp hạng và tách biệt 2 nhóm dựa trên 4 tiêu chí như sau: Quy mô; Khả năng sinh lời; An toàn; Tăng trưởng;

Tương ứng với mỗi tiêu chí, xếp hạng các ngân hàng từ thấp đến cao và điểm xếp hạng cuối cùng là trung bình các điểm xếp hạng. Trong đó 20 ngân hàng nằm trong mẫu nghiên cứu bao gồm: Ngân hàng MB, Sacombank, Vietcombank, Vietinbank, Teachcombank, ACB, SCB, OCB, Maritimebank, MHB, SeaBank, VPBank, VIBank, VietABank, DongABank, HDBank, CB Bank, Nam Á, Phương Nam và PGBank.

Bước 3: Chỉ định 12 yếu tố vào một bố trí trực giao 3 cấp độ và với ít nhất 27 (tức là 312-9) lần chạy cần thiết.

Bước 4: Tính điểm hiệu quả DEA và khoảng cách Mahalanobis giữa hai nhóm.

Bước 5: Xác định các biến đầu ra đầu vào có ý nghĩa về mặt thống kê phù hợp với mô hình DEA dựa trên kết quả phân tích phương sai.

Bước 6: Xác định các phương án tối ưu của các biến có ý nghĩa đáng kể về mặt thống kê bằng cách sử dụng khoảng cách Mahalanobis nhằm xác định biến đó là một đầu ra hay đầu vào.

Kết quả nghiên cứu

Dựa vào các biến tiềm năng đề xuất ban đầu, bài nghiên cứu tiến hành 27 lần chạy mô hình để tính khoảng cách Mahalanobis cho 2 nhóm hiệu quả cao nhất và thấp nhất. Các biến đầu ra, đầu vào lựa chọn và khoảng cách Mahalanobis được thể hiện trong bảng 1.

Tiếp theo, từ dữ liệu có được và Bảng 1, tiến hành phân tích phương sai, để chọn lọc những biến tiềm năng có thể sử dụng như biến đầu ra hoặc đầu vào, các biến không đáng kể được xem như là biến phần dư.

Bảng 2 cho thấy kết quả phân tích phương sai cho các biến nhằm xem xét sự khác biệt giữa 2 nhóm và các biến đều có mức ý nghĩa dưới 5% và đều được chấp cho việc phân tích ở các bước tiếp theo. Đồng thời, thể hiện giá trị trung bình khoản cách Mahalanobis cho mỗi biến, việc lựa chọn một biến là đầu vào, đầu ra hay không được chọn như một đầu vào hoặc đầu ra phụ thuộc vào giá trị khoảng cách Mahalanobis, giá trị cao nhất sẽ được chọn. Dựa vào kết quả trên tìm ra 2 biến đầu vào là tổng lượng tiền gởi và số lượng nhân viên 3 biến đầu ra là doanh thu, lợi nhuận ròng và tỷ lệ đòn bẩy. Với 5 biến được lựa chọn, bài nghiên cứu tiến hành chạy lại mô hình DEA và khoản cách Mahalanobis tương ứng tính được là 6.93. So với 27 lần chạy ban đầu, giá trị khoảng cách Mahalanobis chỉ đạt tối đa 4.67

Dựa trên kết quả đầu ra và đầu vào được lựa chọn, tiến hành đánh giá hiệu quả của mô hình thông qua cấu trúc phân tầng bao gồm nhiều đường biên hiệu quả. Phân tầng thứ 1 là đường biên hiệu quả ban đầu với đầy đủ các DMU. Phân tầng thứ 2 được tạo ra khi loại bỏ các DMU hiệu quả ở phân tầng thứ 1 và chạy lại DEA. Để tạo ra phân tầng thứ 3, DMU hiệu quả ở phân tầng thứ 2 được loại bỏ, và tiếp tục như vậy bài nghiên cứu thực hiện cho 12 phân tầng.

Kết quả cho thấy các ngân hàng trong top 10 hiệu quả cao được phân thành các tầng cao hơn và các công ty top 10 hiệu quả thấp được phân thành các tầng thấp hơn. Do đó, đây là bằng chứng thực nghiệm cho thấy sự kết hợp đầu ra đầu vào với 5 biến được chọn phân biệt được rõ hiệu quả giữa hai nhóm.

Như vậy, với đề xuất sử dụng mô hình DEA, bài viết cung cấp một bằng chứng thực nghiệm và có thể làm cơ sở trong việc xây dựng mô hình DEA khi đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại. Đồng thời, chứng minh tính hiệu quả của phương pháp mới này cho mẫu là các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

1. Charnes et al (1978), Measuring the Efficiency of Decision Making Units, European Journal of Operational Research, 2 (1978), pp. 429–444;

2. Coelli và Perelman (1996), Efficiency Measurement, Multiple-output Technologies and Distance Functions: With Application to European Railways. CREPP Discussion Paper No. 96/05. University of Liege, Liege;

3. Farrell (1957), The Measurement of Productive Efficiency. Journal of the Royal Statistical Society (A, general), 120: 253–281.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 2/2016


Xem thêm: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP DEA TRONG ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ – RỦI RO CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 2008-2011

—————-&&&—————

Hệ số Gini

Hệ số Gini

(Nguồn: https://vi.wikipedia.org)

Hệ số/Chỉ số Gini là gì?

Hệ số Gini dùng để biểu thị độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập. Nó có giá trị từ 0 đến 1 và bằng tỷ số giữa phần diện tích nằm giữa đường cong Lorenz và đường bình đẳng tuyệt đối với phần diện tích nằm dưới đường bình đẳng tuyệt đối. Hệ số này được phát triển bởi nhà thống kê học người Ý Corrado Gini và được chính thức công bố trong bài viết năm 1912 của ông mang tên “Variabilità e mutabilità”. Chỉ số Gini (Gini Index) là hệ số Gini được thể hiện dưới dạng tỷ lệ phần trăm, được tính bằng hệ số Gini nhân với 100.

Hệ số Gini (hay còn gọi là hệ số Loren) là hệ số dựa trên đường cong Loren (Lorenz) chỉ ra mức bất bình đẳng của phân phối thu nhập giữa cá nhân và hệ kinh tế trong một nền kinh tế.

Khái quát

Hệ số Gini thường được sử dụng để biểu thị mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa các tầng lớp cư dân. Số 0 tượng trưng cho sự bình đẳng thu nhập tuyệt đối (mọi người đều có cùng một mức thu nhập), số 1 tượng trưng cho sự bất bình đẳng thu nhập tuyệt đối (một người có toàn bộ thu nhập, trong khi tất cả mọi người khác không có thu nhập).

Hệ số Gini cũng được dùng để biểu thị mức độ chênh lệch về giàu nghèo. Khi sử dụng hệ số Gini trong trường hợp này, điều kiện yêu cầu phải thỏa mãn không tồn tại cá nhân nào có thu nhập ròng âm. Hệ số Gini còn được sử dụng để đo lường sự sai biệt của hệ thống xếp loại trong lĩnh vực quản lý rủi ro tín dụng.

Tuy hệ số Gini đã lượng hóa được mức độ bất bình đẳng về sự phân phối thu nhập, nhưng các nhà kinh tế nhận thấy, hệ số Gini mới chỉ phản ánh được mặt tổng quát nhất của sự phân phối thu nhập, trong một số trường hợp, chưa đánh giá được các vấn đề cụ thể.

Cách tính

Gọi diện tích giữa đường bình đẳng tuyệt đối và đường Lorenz là A, phần diện tích bên dưới đường cong Lorenz là B, hệ số Gini là G. Ta có: G = A/(A+B).

Vì A+B = 0,5 (do đường bình đẳng tuyệt đối hợp với trục hoành một góc 45°), nên hệ số Gini: G = A/(0,5) = 2A = 1-2B.

Nếu đường cong Lorenz được biểu diễn bằng hàm số Y=L(X), khi đó giá trị của B là hàm tích phân:

{\displaystyle G=1-2\int _{0}^{1}L(X)\,dX}

Trong một số trường hợp, đẳng thức này có thể dùng để tính toán hệ số Gini trực tiếp không cần đến đường cong Lorenz.

Vídụ:

– Gọi dân số là {\displaystyle y_{i}}, với i = 1 đến n và y thỏa thứ tự không giảm{\displaystyle (y_{i}\leq \ y_{i+1})}, khi đó:

{\displaystyle G={1 \over n}(n+1-2{\sum _{i=1}^{n}(n+1-i)y_{i} \over \sum _{i=1}^{n}y_{i}})}

– Với hàm xác suất rời rạc f(y), i = 1 đến n, là các điểm có xác suất khác 0 và được sắp theo thứ tự tăng dần {\displaystyle (y_{i}<\ y_{i+1})}, khi đó:

{\displaystyle G=1-{\sum _{i=1}^{n}f(y_{i})(S_{i-1}+S_{i}) \over \sum _{i=1}^{n}y_{i}}}

Hệ số Gini trên thế giới hiện nay

400px-2014_Gini_Index_World_Map,_income_inequality_distribution_by_country_per_World_Bank.svg.png (400×205)

Countries’ income inequality (2014) according to their Gini index values:

red = high, green = low inequality

Ứng dụng

Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc gần đây trong năm 2009, công bố bản báo cáo về khoảng cách thu nhập của thế giới. Công cụ thông thường để tính toán về sự bất bình đẳng là hệ số Gini. Hệ số này càng cao, xã hội càng thiếu công bằng. Kết quả năm nay cho thấy, Đan Mạch là một trong những nền kinh tế phát triển nhất thế giới và đồng thời cũng có khoảng cách thu nhập thấp nhất thế giới. Hệ số Gini của quốc gia Bắc Âu này chỉ là 24,7%. Tại châu Á, quốc gia có khoảng cách giàu – nghèo thấp nhất là Nhật Bản với hệ số Gini là 24,9%.[1]

———————–&&&——————–

Fintech là gì mà lại được coi là cuộc cách mạng đe dọa hệ thống ngân hàng toàn cầu?

Fintech là gì mà lại được coi là cuộc cách mạng đe dọa hệ thống ngân hàng toàn cầu?

(Nguồn: http://cafef.vn)

Fintech có thể tái định hình ngành tài chính, tác động rất mạnh đến các thành phần quan trọng nhất của ngành này. Hiện tại các công ty cho vay P2P hoạt động khá hiệu quả, giúp rút ngắn thời gian phê duyệt các khoản vay từ vài tuần ở các ngân hàng truyền thống xuống chỉ còn vài giờ.

Fintech chắc hẳn là từ không còn xa lạ với những ai theo dõi sát ngành tài chính trong mấy năm trở lại đây. Nó thường xuyên được nhắc đến trong các hội thảo, cuộc họp và thậm chí trở thành chủ đề nóng để bàn luận bên bàn tiệc.

Kể từ khi làn sóng các công ty khởi nghiệp tập trung vào lĩnh vực công nghệ trong tài chính nổi lên sau khủng hoảng 2008, “fintech” trở thành đại diện cho một cuộc cách mạng kỹ thuật số có thể thay đổi hoàn toàn phương thức kinh doanh của ngành ngân hàng.

1. Chính xác thì fintech là gì?

Là viết tắt của từ financial technology (công nghệ trong tài chính), fintech được sử dụng chung cho tất cả các công ty sử dụng internet, điện thoại di động, công nghệ điện toán đám mây và các phần mềm mã nguồn mở nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của hoạt động ngân hàng và đầu tư.

Các công ty fintech được chia thành 2 nhóm. Nhóm thứ nhất là các công ty phục vụ người tiêu dùng, cung cấp các công cụ kỹ thuật số để cải thiện cách các cá nhân vay mượn, quản lý tiền bạc, tài trợ vốn cho các startup. Nhóm còn lại là các công ty thuộc dạng “back-office” hỗ trợ công nghệ cho các định chế tài chính.

2. Tại sao fintech là một từ hot?

Fintech có thể tái định hình ngành tài chính, tác động rất mạnh đến các thành phần quan trọng nhất của ngành này. Hiện tại các công ty cho vay P2P (kết nối trực tiếp người đi vay với người cho vay trên Internet) đã hoạt động khá hiệu quả, giúp rút ngắn thời gian phê duyệt các khoản vay từ vài tuần ở các ngân hàng truyền thống xuống chỉ còn vài giờ.

Theo dự đoán của Morgan Stanley, khối lượng các khoản vay trực tuyến ở Mỹ sẽ chạm mốc 120 tỷ USD vào cuối thập kỷ này, so với con số khiêm tốn 20 tỷ USD của năm 2015.

Ở lĩnh vực quản lý đầu tư, những ông lớn như BlackRock và Vanguard có dịch vụ “robot tư vấn” (robo adviser) sử dụng các thuật toán để tự động điều chỉnh danh mục đầu tư tương ứng với mức độ chấp nhận rủi ro của khách hàng. Một số quỹ đầu cơ đang thử nghiệm (và thành công ở nhiều mức độ khác nhau) sử dụng trí thông minh nhân tạo để robot có thể tự học các thuật toán.

Trên thị trường vốn, các startup và kể cả các ông lớn như Goldman Sachs hay thậm chí là NHTW Anh đang thử nghiệm sử dụng các loại tiền ảo (như bitcoin) thay thế cho các phương thức chuyển tiền và tài sản truyền thống.

3. Ai quản lý fintech?

Nhìn chung thì các cơ quan quản lý tài chính trên toàn thế giới chào đón làn sóng fintech bởi nó hứa hẹn sẽ giúp cho các giao dịch tài chính dễ dàng, minh bạch hơn và có chi phí thấp hơn. Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ Janet Yellen nói rằng công nghệ tiền ảo sẽ giúp nâng cấp hệ thống thanh toán quốc tế đã cũ kỹ.

Thống đốc NHTW Anh Mark Carney cũng cho rằng fintech có thể thay đổi cách các ngân hàng, công ty và người dùng chi tiêu, quản lý và tiết kiệm tiền bạc. Tuy nhiên, theo ông các nhà quản lý phải xem xét đến chuyện liệu công nghệ có ảnh hưởng đến tính an toàn và chính xác của hệ thống tài chính hay không.

4. Rủi ro từ fintech?

Dù các công ty fintech cung cấp rất nhiều loại hình dịch vụ tài chính (từ các khoản vay thế chấp trực tuyến đến tất cả các loại tài khoản nghỉ hưu), sự thuận tiện có thể khiến một số khách hàng tham gia những dịch vụ mà họ không thực sự hiểu về các quyền hạn nghĩa vụ của bản thân.

Một số người lo ngại Fintech cũng có thể thay thế các ngân hàng vật lý truyền thống, khiến các hộ gia đình có thu nhập thấp không thể tiếp cận với dịch vụ ngân hàng.

Cổ phiếu của vài công ty fintech ở Mỹ đã tăng mạnh nhưng sau đó lại lao dốc. Tháng 5/2016, LendingClub – công ty P2P có trụ sở ở San Francisco – đã sa thải CEO Renaud Laplanche sau một vụ bê bối. Kết quả là cổ phiếu của nó giảm một nửa giả trị chỉ trong 5 ngày giao dịch.

5. Các nhà quản lý đã làm gì?

Họ đang thực hiện những bước đầu để tìm ra cách bảo vệ người tiêu dùng và hệ thống tài chính mà không làm chậm lại quá trình cải tiến sáng tạo. Tháng 12 năm ngoái, Văn phòng quản lý tiền tệ Mỹ cho biết sẽ bắt đầu ban hành giấy phép cho các công ty fintech đủ điều kiện, như vậy các công ty này sẽ phải tuân theo một số điều khoản trong luật ngân hàng liên bang.

Giới chức Anh thì thực hiện chương trình làm việc với các startup ở giai đoạn đầu để đảm bảo chúng tuân thủ đúng luật lệ.

Tuy nhiên, một số công ty fintech đang cố gắng hạn chế luật lệ và thành lập những nhóm vận động hành lang để mở rộng tầm ảnh hưởng ở Washington.

6. Nhà đầu tư đang đặt cược vào fintech?

Trên toàn thế giới, các công ty đầu tư mạo hiểm đã rót hơn 17 tỷ USD vào các công ty khởi nghiệp fintech trong năm 2016, tăng gấp 6 lần so với 2012. Năm ngoái, Trung Quốc vượt Mỹ trở thành điểm đến nóng nhất cho làn sóng đầu tư vào fintech.

Chỉ ở riêng Singapore cũng có hơn 100 startup hoạt động trong lĩnh vực fintech. Mới chỉ có 1 phần nhỏ lên sàn, vì thế nhà đầu tư dự đoán sẽ có một làn sóng M&A và lên sàn trong thời gian tới trong bối cảnh các ngân hàng săn lùng những công nghệ mà họ có thể sử dụng, đồng thời các công ty startup sẽ đạt được độ trưởng thành.

7. Các ngân hàng lớn có lo lắng trước làn sóng fintech?

Có. Sau khi coi nhẹ các startup này trong giai đoạn đầu, giờ đây các ngân hàng đã chấp nhận thực tế rằng công nghệ sẽ tác động mạnh mẽ, khiến ngành ngân hàng thay đổi một cách căn bản như bao ngành khác.

Tuy nhiên trong khi robot tư vấn và các công nghệ khác có thể giúp ngân hàng phục vụ khách hàng tốt hơn, hàng nghìn nhân viên có thể bị thay thế bằng máy móc. Các ngân hàng, công ty môi giới chứng khoán và những thực thể truyền thống khác cũng l ngại rằng vì bây giờ chúng ta mới bắt đầu xây dựng luật quản lý, các công ty fintech đang có một lợi thế lớn trong cuộc đua giành thị phần.

Do đó một số người lo ngại trong làn sóng công nghệ thay thế những phương thức truyền thống, công việc kinh doanh của nhiều ngân hàng sẽ khó khăn hơn rất nhiều nếu như họ không bắt kịp được với công nghệ.

8. Và các ngân hàng đang làm gì để đối phó với fintech?

Họ đang cố gắng đi trước một bước. Một số ngân hàng sử dụng sức mạnh thương hiệu và công nghệ để tự mình thử nghiệm với fintech. Các phương thức tiếp cận phổ biến ở thung lũng Silicon thường được áp dụng trong trường hợp này. Ví dụ, Barclays đã hỗ trợ 60 startup trong khuôn khổ các chương trình cải tiến ở London, New York, Tel Aviv and Cape Town. Các ngân hàng khác như Citigroup hay Banco Santander SA đã thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm mua cổ phần của các công ty fintech.

Tuy nhiên, rất khó để các ngân hàng lớn tích hợp công nghệ mới vào hệ thống máy tính đã lỗi thời của họ. Do đó các ngân hàng lớn đang tỏ ra khá chậm chạp, dù tiền đầu tư không phải là ít.

Thu Hương

Theo Trí thức trẻ/Bloomberg

—————–&&&————–

Giải mã cuộc khủng hoảng của kinh tế học

Giải mã cuộc khủng hoảng của kinh tế học

(Nguồn: http://nghiencuuquocte.org)

Nguồn: Paola Subacci, “Economic Crises and the Crisis of Economics”, Project Syndicate, 13/01/2017.

Biên dịch: Ngô Việt Nguyên | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Có thật là ngành kinh tế học “đang gặp khủng hoảng”? Nhiều người làm chính sách, như là Andy Haldane, kinh tế trưởng của Ngân hàng Anh, tin rằng điều đó là sự thật. Thật vậy, một thập niên trước, các nhà kinh tế học đã không dự báo được một cơn bão lớn sắp xảy ra, cho đến khi nó trở thành cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lớn nhất trong gần 80 năm. Gần đây hơn, họ đã nhận định sai về những ảnh hưởng tức thời mà cuộc trưng cầu Brexit sẽ gây ra cho nền kinh tế Anh.

Dĩ nhiên là những dự báo hậu Brexit không hẳn là sai hoàn toàn, nhưng với điều kiện là chúng ta nhìn vào ảnh hưởng dài hạn của cuộc trưng cầu Brexit. Đúng là một số nhà kinh tế học cho rằng nền kinh tế Anh sẽ sụp đổ trong sự hoảng loạn diễn ra sau kết quả trưng cầu, nhưng các hoạt động kinh tế đã chứng minh rằng nó tương đối vững vàng, với GDP tăng khoảng 2,1% trong năm 2016. Nhưng giờ đây khi Thủ tướng Anh Theresa May ngụ ý rằng bà muốn một Brexit “cứng”, tiên lượng dài hạn ảm đạm dường như là nhận định đúng.

Không may là trách nhiệm của các nhà kinh tế học đối với khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và cuộc suy thoái sau đó không chỉ nằm ở các sai lầm về dự báo. Nhiều người đã ủng hộ về mặt tri thức cho những sự quá đà đã thúc đẩy suy thoái, cũng như cho các sai lầm về mặt chính sách – đặc biệt là việc nằng nặc đòi duy trì chính sách tài khóa thắt lưng buộc bụng và việc bất chấp khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng – vốn xảy ra sau khủng hoảng.

Một số nhà kinh tế học đã bị lạc lối bởi sự ngạo mạn tri thức: niềm tin rằng họ luôn luôn có thể giải thích được những phức tạp trong thế giới thực. Những người khác thì bị vướng vào những vấn đề về phương pháp luận – “hiểu lầm cái đẹp là sự thật,” như Paul Krugman từng quan sát thấy – hay là đã đặt quá nhiều niềm tin vào lý trí của con người và tính hiệu quả của thị trường.

Mặc cho khát vọng muốn đạt được sự chắc chắn của khoa học tự nhiên, kinh tế học vẫn là, và vẫn sẽ tiếp tục, là một ngành khoa học xã hội. Các nhà kinh tế học đã nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề đã được gắn chặt vào những cấu trúc xã hội và chính trị rộng lớn hơn. Phương pháp luận của họ dựa vào quan sát, và từ đó họ nhận ra những mẫu hình và suy ra các mẫu hình và hành vi khác nhau, nhưng họ sẽ không bao giờ đạt được những thành công về mặt dự đoán như của ngành hóa học hay sinh học chẳng hạn.

Con người phản ứng với thông tin mới theo nhiều cách khác nhau, và theo đó mà chỉnh sửa hành vi của mình. Vì thế, kinh tế học không thể cung cấp – và nó cũng không nên tuyên bố rằng mình có thể cung cấp – những hiểu biết sâu sắc về những xu hướng và mẫu hình tương lai. Các nhà kinh tế học chỉ có thể nhìn thoáng qua vào tương lai bằng cách nhìn ngược lại, vì thế khả năng dự báo của họ bị giới hạn trong việc suy ra những xác suất dựa trên các sự kiện trong quá khứ, chứ không phải những quy luật vượt thời gian.

Và bởi vì kinh tế học là một ngành khoa học xã hội, nó có thể được sử dụng một cách dễ dàng để phục vụ những lợi ích chính trị và kinh doanh. Trong những năm trước khủng hoảng tài chính, tăng trưởng kinh tế toàn cầu và lợi nhuận doanh nghiệp cao đến mức mà tất cả mọi người – từ những nhà đầu tư nhỏ đến những ngân hàng lớn nhất- đều bị che mắt bởi bởi viễn cảnh về những khoản lợi nhuận lớn hơn.

Các nhà kinh tế học làm cho các ngân hàng, quỹ phòng hộ, và các doanh nghiệp khác đều phải cung cấp một “quan điểm” về ngắn hạn cho giới chủ và khách hàng, và phân phát “sự uyên thâm” của họ đến công chúng qua những bài phỏng vấn và lần xuất hiện trên các phương tiện truyền thông. Cùng lúc đó, ngành kinh tế bắt đầu sử dụng các công cụ toán ngày càng phức tạp và các biệt ngữ ngày càng chuyên sâu, điều làm cho khoảng cách giữa các nhà kinh tế học và các nhà khoa học xã hội khác ngày càng lớn hơn.

Trước cuộc khủng hoảng tài chính, khi mà nhiều lợi ích tư nhân và cơ hội lợi nhuận được đưa ra đong đếm, nhiều nhà kinh tế học bảo vệ một mô hình tăng trưởng dựa vào sự “hồ hởi phi lý” (irrational exuberance) hơn là những thông số căn bản vững vàng. Tương tự như thế, khi nhắc đến Brexit, nhiều nhà kinh tế học lầm tưởng ảnh hưởng dài hạn của cuộc trưng cầu dân ý với các ảnh hưởng ngắn hạn, bởi vì họ đã đưa ra dự báo vội vàng để phù hợp với các tranh luận chính trị.

Bởi vì những sai lầm nêu trên và những sai lầm khác nữa, các nhà kinh tế – và ngành kinh tế học – đã bị mất danh tiếng một cách đau đớn. Từng một thời được xem là các phù thủy với những kiến thức đặc thù, các nhà kinh tế học giờ đây là những “chuyên gia” bị xem thường nhất.

Chúng ta sẽ đi đến đâu từ đây? Dù chúng ta phải đánh giá cao sự công nhận thẳng thắn của Haldane, nhưng xin lỗi cho những sai lầm trong quá khứ vẫn không đủ. Các nhà kinh tế học, đặc biệt những ai tham dự vào các tranh luận về chính sách, phải chịu trách nhiệm cho các hành vi chuyên môn của họ. Để đạt được mục đích đó, họ phải buộc mình vào một bộ quy tắc ứng xử.

Hơn tất cả, bộ quy tắc này phải công nhận rằng kinh tế học quá phức tạp để có thể được biến thành những phát ngôn hay là các kết luận gấp gáp. Các nhà kinh tế học nên chú ý hơn về lúc nào và ở đâu họ sẽ nêu quan điểm của mình, và những hệ quả của việc làm như thế. Và họ nên luôn luôn công khai những lợi ích của mình, để những phân tích cho lợi ích riêng không bị hiểu lầm là một quan điểm độc lập.

Hơn thế nữa, các tranh luận về kinh tế sẽ được hưởng lợi từ nhiều tiếng nói hơn. Kinh tế học là một ngành rộng lớn bao gồm các nhà nghiên cứu và những người thực hành với phạm vi công việc bao gồm những quan điểm vĩ mô đến vi mô và các cách tiếp cận lý thuyết lẫn ứng dụng. Giống như bất kỳ môn học tri thức nào, nó cũng tạo ra các kết quả tuyệt vời, tốt, hay chỉ thường thường bậc trung.

Nhưng phần lớn những nghiên cứu trên không được thẩm thấu vào giới hoạch định chính sách hay ra quyết định, như là các bộ tài chính, ngân hàng trung ương, hay là các cơ quan quốc tế. Ở trên thượng tầng, những tranh luận về chính sách kinh tế vẫn bị thống trị bởi một nhóm người da trắng tương đối nhỏ từ các trường đại học Mỹ và các viện nghiên cứu chính sách, hầu hết đều là những người ủng hộ kinh tế học dòng chính.

Những quan điểm của phái này được trình bày một cách áp đảo trên các phương tiện truyền thông đại chúng, thông qua những bài bình luận và phỏng vấn. Nhưng trao đổi ý kiến trong một phạm vi nhỏ và nông như thế dẫn đến một cuộc tranh luận lòng vòng và tự mãn, và nó có thể thôi thúc những nhà kinh tế học ít được biết đến hơn chỉnh sửa lại nghiên cứu của họ để có thể tham gia vào nhóm đó.

Cộng đồng xứng đáng có, và cần phải có, một thị trường ý tưởng, nơi mà những quan điểm chính thống và phi chính thống đều được chú ý tương đương nhau và được thảo luận một cách cân bằng. Chắc chắn là điều này cần sự dũng cảm, trí tưởng tượng và sự năng động – đặc biệt là về phần các phóng viên. Nhưng một cuộc tranh luận về các ý tưởng kinh tế công bằng hơn và đa nguyên hơn có thể sẽ là điều mà chính các nhà kinh tế học cũng cần.

Paola Subacci là Giám đốc nghiên cứu về Kinh tế quốc tế tại Chatham House và là Giáo sư kinh tế tại Đại học Bologna. Bà là tác giả cuốn The People’s Money: How China is Building an International Currency.

Xem thêm: 

Copyright: Project Syndicate 2017 – Economic Crises and the Crisis of Economics

————–&&&————–

Toàn dụng lao động thực sự nghĩa là gì?

Toàn dụng lao động thực sự nghĩa là gì?

(Nguồn: http://nghiencuuquocte.org)

Nguồn:What full employment really means”, The Economist, 29/01/2017

Biên dịch: Lê Thị Hồng Loan | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Năm 1977, chính phủ Mỹ đã đưa ra cho Cục Dự trữ Liên bang (Fed) một điều có vẻ như một mục tiêu đơn giản: việc làm tối đa. Janet Yellen, Chủ tịch hiện tại của Fed, cho rằng Mỹ đã đến khá gần mục tiêu; ở mức 4,7%, tỷ lệ thất nghiệp là khá thấp theo tiêu chuẩn lịch sử. Nhưng các công ty vẫn tiếp tục thuê lao động, và những người Mỹ trưởng thành, trong đó chỉ có khoảng 69% có việc làm, có vẻ ít hơn số lao động được sử dụng ở mức tối đa. Hầu hết các chính phủ đặt cho mình hoặc các ngân hàng trung ương một phương châm là toàn dụng lao động hoặc việc làm tối đa. Nhưng chính xác thì như thế nào được tính là toàn dụng lao động?

Bà Yellen có một định nghĩa riêng về lao động tối đa trong đầu, được xây dựng trên kinh nghiệm kinh tế của nửa thế kỷ qua. Các nhà kinh tế vĩ mô tin rằng chỉ có chính phủ mới có thể đẩy tỷ lệ thất nghiệp xuống thấp như vậy. Đẩy tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới một “tỷ lệ tự nhiên” (không quan sát được), và nó sẽ sớm tăng trở lại, cùng với giá cả. Tại tỷ lệ tự nhiên, tất cả những người lao động mà có thể được thuê làm việc một cách dễ dàng hay hữu ích thì đều đang có việc làm, và việc thuê mới chỉ có thể xảy ra bằng cách thu hút mọi người từ các công việc khác bằng cách cung cấp cho họ mức lương cao hơn. Các ngân hàng trung ương đưa ra phỏng đoán về mức nào được coi là tỷ lệ tự nhiên và về việc thất nghiệp ở mức “quá thấp” nào thì sẽ làm bùng nổ lạm phát một cách nhanh chóng, sau đó tìm kiếm một điểm tối ưu: tại đó thị trường lao động có sốlượng lao động được tuyển dụng tối đa mà không có sự gia tăng chi phí do chuyển việc.

Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên phụ thuộc chủ yếu vào điều mà các nhà kinh tế đặt tên là “thất nghiệp tạm thời” (frictional unemployment): điều này xảy ra khi người ta chuyển từ công việc này sang công việc khác, hoặc khi họ mới gia nhập lực lượng lao động (ví dụ, sau khi học xong đại học hoặc trở về từ kỳ nghỉ). Các rào cản đối với chuyển đổi công việc, giống như giấy phép hành nghề, làm gia tăng thất nghiệp tạm thời và đẩy tỷ lệ tự nhiên lên cao. Các yếu tố khác thì giúp bôi trơn các bánh răng. Tỷ lệ tự nhiên thấp hơn vào năm 1990 có thể là do công tác tuyển dụng hiệu quả hơn nhờ công nghệ thông tin. Sự gia tăng của công việc trong “nền kinh tế tạm thời” (gig economy) cũng có thể đẩy tỷ lệ tự nhiên xuống.

Nhưng ranh giới giữa thất nghiệp cơ cấu dài hạn và loại thất nghiệp tạm thời, có tính chu kỳ không phải là rõ ràng. Trong những năm 1980 và 1990, các nhà kinh tế cho rằng thất nghiệp trong ngắn hạn có thể trở thành thất nghiệp dài hạn: một hiện tượng gọi là “độ trễ”. Khi khoảng thời gian một người công nhân không có việc làm tăng lên, các kết nối nghề nghiệp của anh ta có thể trở nên suy yếu và các kỹ năng của anh ta có thể trở nên lỗi thời. Những người lao động không bị sa thải trong một cuộc suy thoái có thể yêu cầu sự bảo đảm công việc cao hơn, điều này đến lượt nó có thể khiến các công ty miễn cưỡng không muốn thuê lại những người đã bị sa thải (bởi vì họ không thể dễ dàng bị sa thải trong cuộc suy thoái tiếp theo).

Độ trễ cũng có tác động ngược lại, ít nhất là đến một mức độ nào đó. Khi tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ giảm xuống dưới 5%, tiền lương cuối cùng sẽ bắt đầu gia tăng với một tốc độ nhanh hơn. Mức lương tốt hơn sẽ lôi kéo một số người đã từ bỏ lực lượng lao động quay trở lại tìm việc làm. Các điều kiện kinh tế tốt hơn có thể khiến các công ty đề nghị trao cho các công nhân tạm thời các công việc cố định, hoặc cho các nhân viên bán thời gian nhiều giờ làm việc hơn. Khi các công ty cảm thấy khó khăn hơn trong việc thuê nhân công mới, họ có thể đề nghị những người lao động hiện tại làm việc nhiều giờ hơn, hoặc chuyển đổi các vị trí bán thời gian hoặc tạm thời sang các vị trí toàn thời gian hoặc lâu dài. Các ông chủ thậm chí có thể thử gia tăng năng suất của mỗi công nhân, bằng cách đầu tư vào đào tạo hoặc các thiết bị mới.

Vấn đề là ở chỗ các nhà hoạch định chính sách không thể biết khoảng trống còn lại trong hệ thống là bao nhiêu cho đến khi họ nhìn thấy lạm phát leo thang – và họ thì không muốn điều đó. Vì vậy các ngân hàng trung ương rốt cục thường làm chậm tăng trưởng trước khi đạt được tình trạng toàn dụng lao động bởi sự ác cảm quá mức đối với lạm phát.

Tuy nhiên, xem xét toàn dụng lao động như một hiện tượng kinh tế thuần tuý thì không hoàn toàn đúng. Nếu mục đích của toàn dụng lao động là một xã hội hạnh phúc, thì chất lượng cũng như số lượng việc làm là điều quan trọng. Tỷ lệ có việc làm trong các xã hội kém phát triển là rất cao. Ở các nước giàu hơn, nhiều người sẽ tham gia lao động hơn nếu chính phủ thu hồi trợ cấp thất nghiệp và bãi bỏ mức lương tối thiểu. Tuy nhiên, xã hội sẽ trở nên tồi tệ hơn vì điều đó.

Thay đổi công nghệ làm phức tạp hóa các vấn đề. Tình trạng khan hiếm lao động có thể thúc đẩy đầu tư vào máy móc, cho phép mỗi người lao động sản xuất nhiều hơn. Tuy nhiên, nó cũng có thể dẫn đến tự động hóa nhiều hơn. Nếu robot có thể dễ dàng thay thế rất nhiều công nhân (và ngày càng có vẻ là đúng như thế) thì toàn dụng lao động không chỉ đơn giản là một vấn đề về việc bảo đảm nền kinh tế đang phát triển đủ nhanh để mọi người lao động sẵn sàng làm việc đều có một việc làm. Nó cũng sẽ phụ thuộc vào các quyết định mà xã hội đưa ra, liên quan đến việc người lao động có thể được cung cấp các phương tiện để từ chối những việc làm nghèo hèn, lương thấp vốn có thể được thực hiện bằng máy móc.

————–&&&—————

Bất bình đẳng [GT Sách]

Bất bình đẳng [GT Sách]

(Tác giả: Christian Chavagneux – Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com)

Inégalités [Bất bình đẳng], tác giả Anthony Atkinson

Le Seuil, 2016, 456 tr., 23 euro (xuất bản ngày 14 tháng 1)

Cuốn sách chắc chắn sẽ khiến người ta nói đến ông ấy! Trong lời nói đầu, Thomas Piketty cho độc giả biết là sẽ tìm thấy ở trong cuốn sách “những đường nét của một chủ nghĩa cải cách cấp tiến mới”. Và điều đó chính xác là vậy. Điều chắc chắn là nhà kinh tế học người Anh, Anthony Atkinson, một trong những chuyên gia giỏi nhất thế giới về các vấn đề bất bình đẳng, không muốn chấm dứt chủ nghĩa tư bản đương đại. Nhưng ông đưa ra một loạt các đề xuất có khả năng làm thay đổi sâu sắc bản chất của chủ nghĩa này, có lợi cho những người có hoàn cảnh kém thuận lợi.

Bình đẳng về kết quả

Anthony Atkinson (1944-2017)
Thomas Piketty (1971-)

Cuốn sách bắt đầu bằng việc cung cấp một khung phân tích để suy nghĩ về sự bất bình đẳng nhằm, trái với những gì đã xảy ra trong một thế kỷ nay, đặt chúng trở lại trung tâm của sự phân tích kinh tế. Những người suy nghĩ bằng khái niệm bình đẳng về cơ hội không thuyết phục được Anthony Atkinson; ông thích sự bình đẳng về kết quả hơn: cung cấp những cơ hội giống nhau cho tất cả mọi người, đó là điều tốt, nhưng đối với những người không có được những cơ hội đó, thì đó là cảnh đói nghèo, một điều không thể chấp nhận. Bởi vì ngay cả khi mọi người đều có cơ hội như nhau để tham gia cuộc đua, thì sự phân phối giải thưởng cũng rất không công bằng. Đó là kết quả của một cấu trúc xã hội mà rõ ràng nhà kinh tế học muốn thay đổi.

Tất nhiên, trong cuốn sách chúng ta sẽ thấy rất nhiều đề xuất ủng hộ một thuế suất lũy tiến lớn hơn: một tỷ suất cận biên lên đến 65%, sự thiết lập một thuế suất đánh trên sự giàu có ở Vương quốc Anh, một thuế suất ruộng đất cao hơn, giảm thiểu các lỗ hổng thuế vụ và, chỉ với ý tưởng để đào sâu, một thuế suất tối thiểu đối với các doanh nghiệp lớn ráo riết tối ưu hóa nghĩa vụ thuế.

Phân phối lại tư bản

Nhưng cuốn sách đi xa hơn. Atkinson cũng kêu gọi một hành động của công chúng có lợi cho một sự phân phối lại tư bản cho người nghèo, một loại tài sản thừa kế cho mọi người, nhưng trên cơ sở bình đẳng. Ông không thích nguyên tắc phân bổ có điều kiện về thu nhập (các hiệu ứng ngưỡng là rất quan trọng và những người hội đủ điều kiện không phải lúc nào cũng đòi hỏi được thụ hưởng sự phân bổ này). Ông thích sự phân bổ một thu nhập cơ bản cho trẻ em và người lớn.

Như vậy, nhà kinh tế học đã sử dụng các mô hình lớn của ông để kiểm tra xem tất cả những vấn đề nói trên có khả năng được tài trợ hay không mà không làm mất cân đối các khoản chi công. Giữa những gì thu được và những gì phải chi ra, thì các đề xuất nói trên có khả năng thực hiện được. Và đừng nói rằng những thay đổi gây thiệt hại cho những người được ưu đãi hơn là điều bất khả trong thời đại toàn cầu hóa: chính vào cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX mà những bước đầu của Nhà nước-phúc lợi đã được thiết lập, ngay trong cuộc toàn cầu hóa thứ nhất!

Sẽ có nhiều điều để thảo luận về các định hướng ban đầu này. Nhưng Atkinson nhận thấy rằng nếu các đề xuất về thuế của ông góp phần làm giảm sự bất bình đẳng, thì điều đó cũng chưa đủ. Một hành động có ý nghĩa thực sự trong lĩnh vực này phải tập trung vào việc phân phối lại thu nhập lần đầu, ngay vào lúc chúng được phân phối. Bằng cách nào? “Phải chế ngự các nhóm lớn có quyền lực” bằng cách cung cấp cho người lao động và người tiêu dùng thêm nhiều quyền lực hơn, ví dụ bằng cách tăng cường quyền lực của các nghiệp đoàn. Đặc biệt, Nhà nước cần mở ra một kênh đối thoại cấp quốc gia về vấn đề thù lao để đạt được một mức lương tối thiểu cho phép sinh sống trên mức nghèo đói và một mức lương tối đa trong khuôn khổ các doanh nghiệp phải xem xét đến trách nhiệm xã hội của họ. Chúng tôi đã báo trước rồi, cuốn sách sẽ khiến người ta nói đến ông ấy…

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: InégalitésAlternatives Economiques n° 353, janvier 2016.

————-&&&————