Xây dựng đường cong lãi suất chuẩn của Việt Nam

Xây dựng đường cong lãi suất chuẩn của Việt Nam

(Nguồn: http://duyviet90.blogspot.com)

I – Các mô hình xây dựng đường cong lãi suất chuẩn

1.1. Các đường cong lãi suất hoàn vốn

Đường cong lãi suất hoàn vốn (yield curve): được hình thành bằng cách minh họa các mức lãi suất hoàn vốn của các trái phiếu chỉ khác nhau về kỳ hạn đáo hạn trên cùng một đồ thị.

Đường cong lãi suất hoàn vốn đến kỳ đáo hạn (yield-to-maturity yield curve):được hình thành bằng cách minh họa các mức lãi suất hoàn vốn đến kỳ đáo hạn của các trái phiếu chỉ khác nhau về kỳ hạn đáo hạn trên cùng một đồ thị.

 

Đường cong lãi suất hoàn vốn đến kỳ đáo hạn của các trái phiếu có cùng mức coupon (coupon yield curve): minh họa lãi suất hoàn vốn đến kỳ đáo hạn của các trái phiếu có cùng mức coupon và chỉ khác nhau về kỳ hạn đáo hạn lên cùng một đồ thị.

Đường cong lãi suất hoàn vốn của trái phiếu được giao dịch với giá bằng mệnh giá (par yield curve): minh họa các mức lãi suất hoàn vốn đến kỳ đáo hạn của các trái phiếu hiện hành chỉ khác nhau về kỳ hạn và đều được giao dịch ở mức gần bằng mệnh giá.

Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất (the term structure of interest rates): chính là đường cong lãi suất hoàn vốn của trái phiếu chiết khấu (zero-coupon yield curve) hay đường cong lãi suất hoàn vốn giao ngay (spot yield curve).

1.2. Các mô hình xây dựng đường cong lãi suất chuẩn

1.2.1. Mô hình một nhân tố

Mô hình một nhân tố là loại mô hình cho phép xây dựng được một cấu trúc kỳ hạn hoàn chỉnh từ một loại lãi suất ngắn hạn. Gồm có: (1) Mô hình Vasicek; (2) Mô hình Merton; (3) Mô hình Cox-Ingersoll-Ross (CIR).

1.2.2. Các mô hình tự do chênh lệch giá

Mô hình tự do chênh lệch giá có mục đích là xây dựng nên một cấu trúc kỳ hạn lý thuyết tương thích với cấu trúc thực tế quan sát được để khiến cho lãi suất hoàn vốn quan sát trên thị trường thì có giá trị bằng với lãi suất hoàn vốn được tính toán trên cơ sở mô hình. Bao gồm các mô hình: (1) Mô hình Ho-Lee; (2) Mô hình Hull-White; (3) Mô hình Black-Derman-Toy (BDT).

1.2.3. Mô hình đa nhân tố

Mô hình đa nhân tố cho phép giải thích được dạng thức thay đổi phi song song hoặc những thay đổi về độ dốc của đường cong. Trong nhóm này có: (1) Mô hình hai nhân tố; (2)Mô hình đa nhân tố Heath-Jarrow-Morton (HJM).

1.2.4. Các kỹ thuật sử dụng phương pháp tham số

– Mô hình Nelson-Siegel: Bản chất của kỹ thuật này là mô hình hóa lãi suất kỳ hạn bằng cách sử dụng hàm số hóa.

– Mô hình hàm nối trục bậc ba (cubic spline model): Mô hình hàm nối trục ra đời với mục đích là để phát huy ưu điểm của mô hình tham số trong việc mô phỏng tốt các mức lãi suất hoàn vốn của các kỳ hạn đáo hạn dài đồng thời khắc phục nhược điểm của mô hình tham số ở các kỳ hạn đáo hạn ngắn.

– Mô hình hàm nối trục cơ bản (B-spline)Bên cạnh công thức tổng quát của hàm nối trục bậc ba như trên, người ta cũng thường tạo ra các đường nối trục bằng cách kết hợp tuyến tính các đường nối trục cơ bản lại với nhau.

1.3. Điều kiện áp dụng các mô hình xây dựng đường cong lãi suất chuẩn

1.3.1. Yêu cầu của mô hình xây dựng đường cong lãi suất chuẩn

– Mô hình có thể đưa ra được một đường cong lý thuyết khớp với số liệu hiện hành trên thị trường.

– Mô hình có thể phản ánh được diễn biến của lãi suất theo thời gian và diễn biến này phải theo dõi được thông qua việc tính toán cụ thể trên cơ sở các hàm toán học trực quan.

– Mô hình phải đảm bảo tính hiệu quả và kịp thời trên cơ sở các nguồn lực có sẵn như mức độ có sẵn và đáng tin cậy của số liệu, năng lực xử lý số liệu của máy tính,…

Từ những yêu cầu nói trên, ta có thể thấy rằng mô hình được sử dụng sẽ đưa ra kết quả chính xác khi: (i) Lãi suất đầu vào phản ánh tính khách quan của thị trường, (ii) Các thông tin về thị trường là minh bạch, và (iii) Phải có thị trường trái phiếu phát triển với các kỳ hạn đa dạng và khối lượng phát hành đủ lớn.

1.3.2. Điều kiện áp dụng của các mô hình xây dựng đường cong lãi suất chuẩn

Việc nghiên cứu các mô hình xây dựng đường cong lãi suất chuẩn cho thấy mỗi mô hình sẽ phát huy hiệu quả riêng biệt trong việc xây dựng đường cong lãi suất chuẩn của từng quốc gia.

1.4. Bài học từ việc xây dựng đường cong lãi suất chuẩn của các nước

1.4.1. Kinh nghiệm của các nước:

Nghiên cứu thực tế xây dựng đường cong lãi suất chuẩn của các nước Mỹ, Malaysia,Singapore cho thấy, mỗi mô hình được xây dựng trên một giả định riêng và các nước khi lựa chọn mô hình đều xem xét sự phù hợp của các giả định đối với trường hợp của riêng mình. Việc lựa chọn mô hình để xây dựng đường cong lãi suất chuẩn của các nước này phụ thuộc vào mức độ phát triển của thị trường trái phiếu, mức độ đa dạng về các kỳ hạn của trái phiếu chính phủ, khối lượng các đợt phát hành, tính hiệu quả của thị trường cũng như sự sẵn có của số liệu …

1.4.2. Lựa chọn mô hình cho Việt Nam

Từ quá trình nghiên cứu trên, tiếp cận từ giác độ NHTW thì chúng ta có thể xây dựng cấu trúc kỳ hạn của lãi suất hay đường cong lãi suất hoàn vốn giao ngay hoặc đường cong lãi suất của trái phiếu chiết khấu.


II – Đặc điểm thị trường các công cụ nợ của Việt Nam

2.1. Thị trường trái phiếu Chính phủ

2.1.1. Thực trạng thị trường trái phiếu Chính phủ

            – Hiện thời, trái phiếu Chính phủ bao gồm: Tín phiếu Kho bạc; Trái phiếu Kho bạc; Trái phiếu công trình trung ương; Trái phiếu đầu tư; Công trái xây dựng Tổ quốc; Trái phiếu ngoại tệ. Từ năm 2007, KBNN đã triển khai đề án phát hành TPCP lô lớn. Bộ Tài chính đã xây dựng kế hoạch phát hành hàng năm và  lịch trình phát hành TPCP từng quí. TPCP được phát hành qua các kênh: Bán lẻ qua hệ thống Kho bạc Nhà nước; Phát hành tín phiếu kho bạc qua đấu thầu tại NHNN; Phát hành TPCP qua đấu thầu tại Sở giao dịch chứng khoán; Bảo lãnh phát hành TPCP; Phát hành qua kênh Bảo hiểm Xã hội mua.

– Trên thị trường mở, đến năm 2009 có 58 tổ chức tín dụng được cấp giấy chứng nhận là thành viên nghiệp vụ thị trường mở; trong đó có 5 NHTM Nhà nước và ngân hàng cổ phần Nhà nước nắm cổ phần chủ yếu, 34 NHTM cổ phần, 3 ngân hàng liên doanh, 14 chi nhánh NH nước ngoài, 1 Công ty tài chính và QTD Trung ương. Doanh số trúng thầu từ năm 2000 đến 2005 hàng năm bình quân tăng gấp khoảng 3 lần so với năm trước.

2.1.2. Đặc điểm thị trường trái phiếu Chính phủ

2.1.2.1. Tính thanh khoản của thị trường

– Tính thanh khoản tại sở giao dịch chứng khoán Hà Nội thấp.

– Tính thanh khoản trong giao dịch thị trường mở tương đối cao, thể hiện ở tần suất và số lượng các phiên giao dịch thị trường mở liên tục tăng.

2.1.2.2. Lãi suất TPCP

a/ Tính thị trường của lãi suất TPCP:

–  Tính thị trường của lãi suất TPCP mới phát hành thấp:

 b/ Mức độ nhạy cảm của lãi suất đối với sự tác động của Ngân hàng Trung ương:

– Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở chịu sự chi phối bởi cặp lãi suất chỉ đạo của NHNN. Tuy nhiên, tại những thời điểm nhất định lãi suất TTM đã biến động ra khỏi cặp lãi suất chỉ đạo, thể hiện ở các phiên thực hiện theo phương thức đấu thầu lãi suất.

– Lãi suất phát hành TPCP hầu như không chịu sự chi phối bởi mức lãi suất chỉ đạo của NHNN mà theo mục đích huy động vốn cho NSNN trong từng thời kỳ.

– Lãi suất TPCP đôi khi tăng cao, hơn cả lãi suất tín dụng ngân hàng.

2.2. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp

2.2.1. Thực trạng thị trường trái phiếu doanh nghiệp

– Giá trị vốn huy động của các doanh nghiệp qua TTCK rất thấp, chỉ đạt 15-20% lượng vốn doanh nghiệp huy động

–  Trong số chứng khoán doanh nghiệp phát hành, trái phiếu là công cụ được các doanh nghiệp lựa chọn trong vài năm trở lại đây.

– Tỷ trọng giá trị trái phiếu doanh nghiệp phát hành so với tổng vốn huy động qua TTCK nhỏ, đặc biệt năm 2008 tỷ lệ này chỉ đạt 4,07%.

– Tỷ trọng giá trị trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong tổng giá trị trái phiếu phát hànhrất thấp, khoảng 23-37%, thậm chí chỉ chiếm 5,28% trong năm 2008.

2.2.2. Đặc điểm thị trường trái phiếu doanh nghiệp

– Thị trường trái phiếu doanh nghiệp có tính thanh khoản thấp

– Lãi suất trái phiếu doanh nghiệp: lãi suất TPDN phần nào chịu sự chi phối bởi lãi suất chỉ đạo của NHNN, song qui mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp quá nhỏ bé, lãi suất trái phiếu doanh nghiệp không phải là mức lãi suất tiêu biểu của thị trường.

2.3. Thị trường tín dụng ngân hàng

2.3.1. Thị trường giữa tổ chức tín dụng và doanh nghiệp, cá nhân (thị trường 1)

2.3.1.1. Thực trạng thị trường

– Tín dụng ngân hàng là hoạt động truyền thống, là kênh huy động và cung ứng vốn chủ yếu ở Việt Nam.

– Với vai trò là trung gian tín dụng trên thị trường tài chính, các tổ chức tín dụng, đặc biệt là các Ngân hàng thương mại đã thực hiện việc huy động vốn và đáp ứng phần lớn nhu cầu vốn của các doanh nghiệp và cá nhân trong nền kinh tế. Khối lượng vốn huy động và cho vay tăng liên tục qua các năm.

2.3.1.2. Đặc điểm thị trường

– Thị trường tín dụng ngân hàng có tính thanh khoản rất cao.

– Mức độ tự do hoá lãi suất ngày càng cao. Từ đầu năm 2009, các cơ chế kiểm soát hành chính dần dần được dỡ bỏ. Tuy nhiên, trong những thời điểm nhất  định, tính thị trường của lãi suất bị hạn chế  do được khống chế bởi trần lãi suất và sự can thiệp của Hiệp hội ngân hàng.

– Lãi suất tín dụng ngân hàng đã phản ánh sự tác động CSTT của NHNN. Hiện nayNHNN Việt Nam ấn định các loại lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm, lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc để điều hành lãi suất thị trường. Bên cạnh đó còn sử dụng các công cụ CSTT để tác động đến lãi suất liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở, từ đó ảnh hưởng đến lãi suất của các NHTM, nhằm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ và mục tiêu kinh tế vĩ mô trong từng thời kỳ.

2.3.2. Thị trường tiền tệ liên ngân hàng (thị trường 2)

2.3.2.1. Thực trạng hoạt động thị trường

– Năm 1992, NHNN ban hành Chỉ thị số 07/CT-NH1 ngày 7/10/1992, là văn bản pháp lý đầu tiên quy định về hoạt động về quan hệ tín dụng giữa các TCTD. Từ năm 2001 đến nay, NHNN tiếp tục ban hành đồng bộ các văn bản thể chế đối với hoạt động của thị trường, từng bước tiến gần hơn tới thông lệ quốc tế.

2.3.2.1. Đặc điểm của thị trường

– Doanh số giao dịch trên thị trường nhìn chung có sự tăng trưởng mạnh theo từng năm, đặc biệt là trong khoảng 10 năm trở lại đây.

– Tính thanh khoản của thị trường liên ngân hàng rất cao, các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng diễn ra hàng ngày với doanh số giao dịch lớn, đặc biệt trong những thời điểm các ngân hàng căng thẳng về vốn khả dụng.

– Lãi suất liên ngân hàng có tính thị trường cao, ngày càng phản ánh sát thực hơn cung cầu vốn khả dụng của các ngân hàng.

– Lãi suất liên ngân hàng có quan hệ chặt chẽ với lãi suất huy động, cho vay trên thị trường 1 song có mức biến động mạnh.

– Lãi suất liên ngân hàng cũng bị khống chế bởi trần lãi suất.

– Lãi suất liên ngân hàng phản ánh rõ tác động của NHNN đến dự trữ của các ngân hàng.

– Lãi suất liên ngân hàng đôi khi ít chịu tác động bởi lãi suất chỉ đạo của NHNN.

III- Xây dựng đường cong lãi suất chuẩn của Việt Nam

download bài viết đầy đủ: http://www.cantholib.org.vn/Database/Content/2521.pdf

———————&&&———————

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: