Giải Nobel kinh tế 2016: Lý thuyết Hợp đồng – Oliver Hart & Bengt Holmström

Nobel kinh tế: Oliver Hart và Bengt Holmstörm, hai nhà kinh tế học sát với doanh nghiệp

(Tác giả: Antoine Reverchon – Nguồn: phantichkinhte123.com)

“Giải kinh tế học của Ngân hàng Thụy Điển để tưởng nhớ Alfred Nobel” được trao cho các nhà kinh tế Oliver Hart (Mĩ-Anh) và Bengt Holmstörm (Phần Lan) để thưởng những công trình lí thuyết của họ về hoạt động của doanh nghiệp, được xem như một tập những hợp đồng, rõ ràng hoặc ngầm ẩn, giữa các bên có liên quan (người lao động và người sử dụng lao động, người gọi thầu và người trúng thầu, cộng tác viên và nhà quản lí, cổ đông và lãnh đạo doanh nghiệp, v.v.).

Phần chủ yếu của các công trình này được tiến hành vào cuối những năm 1970 và 1980 nhưng “chúng đã mở đường cho 40 năm nghiên cứu trong kinh tế học vi mô”, theo đánh giá của Thomas-Olivier Leautier, nhà nghiên cứu tại Trường kinh tế Toulouse mà một trong những người hướng dẫn luận án là Holmstörm. Đồng khôi nguyên năm nay là đồng tác giả với Jean Tirole của nhiều công trình và cũng là một trong số ít khách mời danh dự của nhà kinh tế Pháp này nhân lễ trao giải Nobel ở Stockholm vào năm 2014.

Cả hai đều xuất phát từ các công trình của các nhà kinh tế Mĩ George Akerlof và Joseph Stiglitz trong những năm 1970, làm rõ tính không đối xứng của thông tin mà các tác nhân trong nền kinh tế có được khi giao dịch với nhau. Việc làm rõ điều hiển nhiên này đã kết thúc giáo điều về thông tin “hoàn hảo” mà cho tới lúc bấy giờ được lí thuyết mô tả.

Một mạng những giao dịch

Nhận định trên cũng đúng cho cấp độ doanh nghiệp, như Philippe Askenazy, thuộc trường đại học Paris giải thích. Doanh nghiệp có thể được xem như một mạng những giao dịch, những “hợp đồng” có tính đến thông tin không đối xứng chứ không như là kết quả của một “cân bằng tối ưu” giữa các bên liên quan. Ví dụ, người sử dụng lao động khi tuyển dụng nhân viên không biết người lao động sẽ nỗ lực như thế nào để đảm bảo công việc được giao, cũng như người lao động không biết những phương tiện nào người sử dụng lao động sẽ thật sự trao cho mình để hoàn thành công việc. Tương tự, cả hai đều không thể dự báo những biến cố ngoại sinh có khả năng tác động đến quan hệ hai bên như bệnh tật (của nhân viên) hay khó khăn kinh tế (của doanh nghiệp).

Các “hợp đồng” phản ánh những bất trắc mà hai khôi nguyên, mỗi người mỗi hướng, đã tìm cách mô hình hóa. Như vậy, các công trình của họ có những hệ quả cụ thể trong quản lí nhân sự, và chung hơn về quản lí kinh tế và tài chính, trong mức độ là các mô hình của họ cũng có thể ứng dụng cho nhiều giao dịch của doanh nghiệp (với nhà điều tiết, chính quyền, ngân hàng, bảo hiểm nhà đầu tư, nhà cung ứng, v.v.).

Chẳng hạn, Holmstörm đã nghiên cứu về thù lao các cổ đông trả cho các lãnh đạo doanh nghiệp; Hart nghiên cứu quan hệ đối tác công-tư, mô hình hóa những tình thế trong đó, ví dụ, sẽ hiệu quả hơn cho cộng đồng khi có hai đơn vị khác nhau để xây dựng rồi quản lí một bệnh viện hay một nhà tù, hoặc ngược lại khi chỉ có cùng một đơn vị duy nhất đảm nhiệm việc này.

Những biện pháp động viên lẫn nhau

Theo Philippe Gagnepaim, giáo sư đại học Paris I và thành viên Trường kinh tế Paris, “các công trình này đã cung cấp những công cụ cho phép khuyến khích các doanh nghiệp bộc lộ năng lực sản xuất thật sự của mình và như vậy giảm thiểu thông tin không đối xứng giữa khu vực công và khu vực tư và do đó để đạt đến một hợp đồng tối ưu cho cả đôi bên”.

 
Bengt Holmstörm tại Helsinki ngày 2.11.2015. Jussi Nukari/AFP

Đối với Bengt Holmstörm, sinh năm 1949 và kể từ 1994 là giáo sư MIT, một hợp đồng do đó về bản chất có những biện pháp động viên hỗ tương cho hai bên nhằm giới hạn sự bất trắc mà cả hai bên đều gánh chịu. Ví dụ, ông chỉ ra rằng để đảm bảo là người lao động thật sự có những nỗ lực cần thiết thì người sử dụng lao động vận dụng hoặc việc tăng lương hoặc việc thăng chức song hiệu ứng của hai biện pháp này khác nhau tùy theo tình huống. Lấy cảm hứng từ lí thuyết trò chơi để mô hình hóa “hợp đồng tối ưu”, ông chỉ ra rằng hợp đồng này có thể cải thiện, nhờ các biện pháp động viên, hành vi của các tác nhân thì nó cũng không thể hình dung được tất cả các nhân tố ngoại sinh.

Vai trò của sự tin tưởng

Còn Oliver Hart, sinh năm 1948 và giáo sư Harvard, cố gắng mô hình hóa những “hợp đồng không đầy đủ”. Vượt qua quan niệm cổ điển, cũng là cách nhìn của Ronald Coase, nhìn nhận doanh nghiệp như một nút thắt những chi phí giao dịch sản sinh ra cân bằng giữa các bên, Oliver Hart xem doanh nghiệp như là định chế cho phép “cùng nhau kết nối” khi không thể biết trước và hình dung được tất cả các yếu tố và biến cố của những quan hệ giữa các bên.Như vậy ông sẽ nhấn mạnh đến vai trò của sự tin tưởng, quyền uy của bên này trên bên khác hay sự có mặt có thể của một bên thứ ba ảnh hưởng đến bản chất của hợp đồng. Ông cố gắng mô hình hoá những hình thức hợp đồng “vững chắc” nhất và thừa nhận là không thể đưa vào đó toàn bộ những khả thể.

 
Oliver Hart, tại nhà riêng ở Massachussets, ngày 10.10. Jon Chase/AFP

Đối với cả hai khôi nguyên, các hợp đồng phản ánh thế giới như nó tồn tại chứ không như lí thuyết kinh tế muốn nó phải là. Tất nhiên, là những nhà lí thuyết giỏi, họ đều đề xuất những mô hình đơn giản nhằm tối ưu hóa các hợp đồng.

Jean-Marc Daniel, giáo sư Trường cao đẳng thương mại Paris (ESCP), nhận định là “họ viết những phương trình vô cùng đơn giản, chính xác và vững chắc nhưng biết giữ mình để không đề xuất những trị số chính xác cho các biến được họ làm rõ”. Do đó các mô hình này đã mở đường cho vô số công trình kinh tế học vi mô cho phép đối chiếu mô hình với dữ liệu sẵn có. Ví dụ, Philippe Gagnepain giải thích: “tôi kiểm định các giả thuyết của họ trong lĩnh vực giao thông công cộng, một lĩnh vực mà ta có những cơ sở dữ liệu mênh mông”.

Nguyễn Đôn Phước dịch

Nguồn: “Nobel d’économie: Oliver Hat et Bengt Holmstör, deux économistes au plus près de l’entreprise”, Le Monde, 10.10.2016



Giải Nobel Kinh tế 2016: Khoa học về hợp đồng

(Tác giả: Huỳnh Hoa – Nguồn: http://www.thesaigontimes.vn)

(TBKTSG) – Giải Nobel Kinh tế học năm nay được trao cho công trình nghiên cứu cải tiến sự hiểu biết của chúng ta về lý do và cách thức mà hợp đồng vận hành, cũng như cách thiết kế hợp đồng sao cho nó vận hành tốt hơn.

Giả sử anh và tôi hợp tác mở một quầy bán nước chanh. Tôi góp toàn bộ trang thiết bị (ly cốc, quầy kệ…), anh lo pha nước chanh; tôi chạy bàn còn anh thu tiền rồi chúng ta sẽ phân chia tiền lời một cách công bằng. Dù vậy, vẫn có điều phiền toái: tôi ngờ anh có thể lấy bớt tiền trong két chẳng hạn. Vì vậy chúng ta lập một hợp đồng, trong đó quy định tiền lời được chia đôi, mỗi người một nửa. Nhưng rồi anh lại lo lắng: phần lớn thành công của quầy tùy thuộc vào phẩm chất nước chanh do anh pha mà tôi không kiểm soát được. Nếu tôi chây lười và ỷ lại vào tài năng pha chế của anh thì sao? Tiền lời có tiếp tục chia 50-50 hay không? Thế là chúng ta phải bàn bạc sao cho bản hợp đồng phải quy định rõ cách thức mà hai bên phải thực hiện công việc của mình. Đấy là một dạng hợp đồng đơn giản làm cơ sở cho quan hệ hợp tác kinh doanh giữa hai cá nhân; trong xã hội còn có vô số loại hợp đồng phức tạp hơn nhiều.

Hợp đồng đóng vai trò thiết yếu trong sự vận hành của nền kinh tế hiện đại. Hợp đồng quy định ai được phép làm gì với đất đai mà mình sở hữu, nhân viên mà mình thuê mướn và cả những bản nhạc tải về điện thoại của mình. Hợp đồng là nền tảng của tất cả các hoạt động ngân hàng và bảo hiểm, là phần không thể thiếu giữa người lao động và chủ doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp và khách hàng… Cá nhân luôn làm điều có lợi cho mình, nhưng để tận dụng các cơ hội kinh tế, con người phải làm việc cùng nhau và tìm cách kết hợp quyền lợi với nhau, giảm thiểu xung đột về lợi ích.

Giải Nobel Kinh tế học năm nay được trao cho ông Oliver Hart – nhà kinh tế học Anh của trường Đại học Harvard – và ông Bengt Holmstrom – nhà kinh tế học Phần Lan tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) – vì công trình nghiên cứu cải tiến sự hiểu biết của chúng ta về lý do và cách thức mà hợp đồng vận hành, cũng như cách thiết kế hợp đồng sao cho nó vận hành tốt hơn.

Công trình của hai nhà khoa học này tập trung vào sự cần thiết phải cân bằng các yếu tố khác nhau (trade-offs) khi xác lập những điều khoản hợp đồng; khám phá những khiếm khuyết không thể tránh được của nhiều thị trường thiết yếu. Việc phân tích các hợp đồng bảo hiểm y tế của ông Holmstrom chẳng hạn miêu tả tính cân bằng tất yếu giữa sự hoàn chỉnh của bản hợp đồng với yếu tố rủi ro về đạo đức. Từ quan điểm bảo hiểm, việc bệnh nhân phải cùng chi trả (co-payment) chi phí điều trị là một sự lãng phí; nếu bệnh nhân được chi trả toàn bộ thì tốt hơn. Nhưng vì nhà bảo hiểm không thể nào biết được, liệu có phải tất cả bệnh nhân đều chỉ được khám và điều trị đúng với nhu cầu hay không cho nên điều khoản cùng chi trả được coi như một cách ngăn chặn rủi ro đạo đức: ngăn ngừa việc lạm dụng bảo hiểm y tế dẫn tới nguy cơ vỡ quỹ bảo hiểm.

Ông Holmstrom phân tích sâu hơn vào vấn đề trả lương theo hiệu quả công việc và chỉ ra rằng, trả lương thưởng theo hiệu quả công việc (performance-based pay) cần phải được kết nối càng nhiều càng tốt với các thước đo về hiệu quả quản trị. Nhưng càng khó tìm ra những thước đo tốt để đo lường hiệu quả thì tiền lương càng được cố định một cách đơn giản. Việc tăng lương, thưởng cho viên chức quản lý khi công việc trôi chảy và ngược lại trừng phạt họ khi giá cổ phiếu sụt giảm chẳng hạn thường có rất ít ý nghĩa vì công việc tăng tiến hay không phụ thuộc nhiều vào các yếu tố kinh tế rộng lớn khác; (chính vì vậy, theo ông Holmstrom, giá cổ phiếu của công ty phải được xem xét trong quan hệ đối sánh với các công ty khác cùng ngành thay vì chỉ chú ý tới sự tăng giảm của riêng cổ phiếu đó).

Giáo sư Holmstrom cũng lưu ý rằng, trả lương theo hiệu quả cũng có thể gây ra vấn đề khi khuyến khích người lao động chỉ tập trung vào một số phần nào đó trong công việc của họ. Nếu lấy kết quả thi cử của học sinh làm cơ sở tính toán tiền lương, thưởng của giáo viên chẳng hạn thì giáo viên có thể dành nhiều công sức để “luyện thi” cho học trò thay vì giáo dục những kỹ năng khác. Chính vì thế, người sử dụng lao động cần tìm cách cân bằng việc trả tiền lương theo mức cố định với tiền thưởng theo hiệu quả công việc.

• Tiến sĩ Oliver Hart, 68 tuổi, sinh ra ở London. Ông học Đại học London, Đại học Cambridge và Đại học Warwick ở Vương quốc Anh trước khi nhận bằng tiến sĩ năm 1974 tại Đại học Princeton, Mỹ. Ông là giáo sư kinh tế học của Đại học Harvard từ năm 1993.

• Tiến sĩ Bengt Holmstrom, 67 tuổi, sinh ra ở Helsinki, Phần Lan. Ông nhận bằng tiến sĩ năm 1978 tại Đại học Stanford, là giáo sư kinh tế học và quản trị của Viện MIT từ năm 1994. Trước đó, ông giảng dạy tại Đại học Northwestern và Đại học Yale.

Công trình nghiên cứu bổ sung của ông Hart phát hiện những trường hợp mà sự phân bổ quyền quyết định có vai trò hết sức quan trọng. Trong ví dụ về quầy bán nước chanh nói trên, chúng ta không thể xác định điều gì sẽ xảy ra nếu như có một đối thủ cạnh tranh tới mở một quầy như vậy ở bên kia đường. Nhưng chúng ta có thể đồng ý rằng, cần có một “giám đốc điều hành” đủ quyền lực để quyết định cần phải làm gì trong trường hợp như vậy và phải chọn một trong hai người đứng ra đảm nhiệm vị trí đó.

Quyền quyết định thường đi cùng với quyền sở hữu. Công trình của ông Hart lưu ý rằng, người nắm quyền sở hữu không chỉ rất quan trọng trong việc quyết định sẽ làm gì trong các trường hợp bất ngờ mà cũng rất quan trọng trong công việc hàng ngày. Một nhà khoa học làm việc ở bộ phận nghiên cứu và phát triển (R&D) sẽ sử dụng thời gian và công sức của mình theo cách khác nếu như được chủ công ty cam kết trong hợp đồng sẽ chia cho anh/chị ta phần sở hữu xứng đáng trong tài sản trí tuệ mà anh/chị ta góp phần tạo ra, thay vì quy định toàn bộ bản quyền công nghệ thuộc về công ty.

Nghiên cứu của hai nhà khoa học này có nhiều ứng dụng quan trọng. Một công trình mà ông Hart là đồng tác giả chẳng hạn đã so sánh nhà tù công và nhà tù tư. Ở các nhà tù do tư nhân làm chủ thì các ông chủ tìm mọi cách cắt giảm chi phí, làm cho điều kiện sống của tù nhân trở nên tệ hại so với nhà tù công. Nghiên cứu này đã làm dấy lên những cuộc tranh luận gần đây về hệ thống nhà tù tư nhân ở nước Mỹ. Nói rộng ra, ứng dụng này đòi hỏi phải cân nhắc chính sách của các chính phủ thuê các công ty tư nhân cung cấp các dịch vụ công cho người dân.

Một ý tưởng chung và quan trọng trong nghiên cứu của ông Hart và ông Holmstrom là vai trò của quyền lực trong các doanh nghiệp hợp tác (co-operative ventures). Những cá nhân hoặc công ty có khả năng làm “đóng băng” các thỏa thuận – bằng cách từ chối cung cấp dịch vụ hoặc không cho phép sử dụng các nguồn lực mà họ sở hữu – thường có quyền lực kinh tế đáng kể. Quyền lực đó cho phép họ giành được nhiều hơn phần giá trị mà doanh nghiệp hợp tác tạo ra, và họ cũng có khả năng triệt tiêu toàn bộ sự hợp tác ngay cả khi doanh nghiệp đó mang lại những lợi ích lớn lao cho các thành viên và cho xã hội. Hợp đồng ra đời và tồn tại để định hình mối quan hệ quyền lực đó. Trong một số trường hợp, hợp đồng sẽ hạn chế quyền bãi bỏ sự hợp tác; trong một số trường hợp khác, hợp đồng tạo ra hoặc bảo vệ các mối quan hệ quyền lực nhằm khuyến khích lối ứng xử tốt: nếu người lao động và doanh nghiệp đều có quyền chấm dứt hợp đồng chẳng hạn, thì hai bên buộc phải quan tâm tới quyền lợi của nhau.

Bài học rộng lớn hơn – vấn đề quyền lực – là một lĩnh vực kinh tế học thường xuyên bị lãng quên; giải Nobel Kinh tế năm nay có ý nghĩa lớn ở chỗ lần đầu tiên đưa vấn đề động cơ quyền lực lên trước, lên trung tâm và phơi bày nhiều cách thức – thường không được chú ý – mà quyền lực tác động đến cuộc sống của mỗi chúng ta.

(Theo The Economist)

—————&&————–

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: