Chocolate và giải Nobel

Chocolate

(Tác giả: Lê Hồng Giang – Nguồn: kinhtetaichinh.blogspot.com)

Trong dịp Easter vừa rồi Felix Salmon tweet đồ thị sau về mối quan hệ giữa số lượng tiêu thụ chocolate bình quân đầu người của một quốc gia với số giải Nobel (trong 10 triệu dân) mà quốc gia đó đạt được:



Thoạt nhìn tôi nghĩ đây là một đồ thị marketing của các hãng sản xuất chocolate đang tồn hàng Easter, nhưng hóa ra theo Business Insider đây là kết quả của một bài nghiên cứu nghiêm túc đăng trên tạp chí New England Journal of Medicine, có lẽ là một trong những tạp chí hàng đầu về y khoa trên thế giới. Business Insider còn tìm được link của bản pdf miễn phí của bài nghiên cứu này và tôi không thể không đọc thử xem tác giả đã làm thế nào.

Hóa ra bài nghiên cứu vô cùng đơn giản. Tác giả download số liệuNobel laureates per capita từ Wikipedia (bao gồm cả giải Nobel hòa bình) và số liệu chocolate consumption per capita từ website của một số công ty sản xuất chocolate rồi chạy linear regression. Kết quả là correlation của hai biến số này rất cao (có thể thấy qua đồ thị trên) và highly significant. Tác giả cho rằng (dù rào trước đón sau rất nhiều) ăn nhiều chocolate sẽ làm tăng cognitive function vì chocolate có chứa nhiều chất flavonoids, do vậy làm tăng khả năng được giải Nobel.

Bất kỳ ai đã từng học qua một khóa econometrics sẽ thấy nghiên cứu này có nhiều vấn đề. Thứ nhất như chính tác giả đã thừa nhận correlation không phải causation, nhiều khả năng số giải Nobel và lượng chocolate consumption đều cùng do một yếu tố thứ ba quyết định, dễ thấy nhất là kinh tế (vd GDP per capita). Những yếu tố khác có thể ảnh hưởng lên số Nobel prize đáng ra tác giả phải control có thể là tỷ lệ đầu tư cho giáo dục, nghiên cứu, số lượng sinh viên đại học trên 1000 dân, số lượng bài báo khoa học hoặc patent, số lượng tiêu thụ các thực phẩm khác có hàm lượng flavonoids cao…

Thứ hai số lượng giải Nobel và chocolate consumption chắc chắn thay đổi theo thời gian. Ví dụ cụ thể là Thụy điển vài thập kỷ gần đây được rất ít giải Nobel so với khi giải này mới được thành lập. Bởi vậy sử dụng số liệu giải Nobel trong toàn bộ lịch sử (stock variable) so sánh với số lượng consumption của một năm (flow variable) đòi hỏi phải có một assumption là stock variable phân bổ đều theo thời gian còn flow variable không thay đổi, khó có thể đúng trên thực tế. Một người có cognitive function tốt (nên có khả năng được giải Nobel cao hơn) phải ăn nhiều chocolate lúc nhỏ, khi đi học, lúc làm nghiên cứu hay khi nào?

Thứ ba nếu ăn chocolate làm tăng cognitive ability thì một số kiểm chứng đơn giản hơn có thể thực hiện như chạy regression giữa lượng chocolate consumption với kết quả PISA, sẽ chính xác hơn so với số giải Nobel. Ngoài ra thay vì nghiên cứu “macro” như vậy tác giả có thể tiến hành nghiên cứu “micro”, nghĩa là so sánh số lượng tiêu thụ chocolate của từng cá nhân được giải Nobel (hoặc những người có thành tực khoa học cao như các giáo sư đại học) so với mức tiêu thụ trung bình. Tất nhiên làm nghiên cứu micro như vậy sẽ tốn kém và mất thời gian hơn so với việc download data từ Internet và chạy linear regression, nhưng một bài báo trên NEJE phải như vậy mới xứng đáng chứ. Hay tạp chí này không thực sự tốt như tôi tưởng?

————————————————————

Chocolate, xương, và giải Nobel

(Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn – Nguồn: tuanvannguyen.blogspot.com)

Chocolate. Đại đa số dân thành thị và một số dân nông thôn đều biết, và thích chocolate. Nhưng cũng như bất cứ thực phẩm nào, chocolate cũng có lợi và có hại nếu ăn quá nhiều. Nhiều nghiên cứu y khoa cho thấy chocolate có lợi cho tim mạch, nhưng hình như không có lợi cho xương. Mấy tuần trước đây có một nghiên cứu làm ngỡ ngàng mọi người: chocolate có liên quan đến giải Nobel!


Khoảng 4 năm trước, đồng nghiệp Western Australia của tôi công bố một nghiên cứu cho thấy phụ nữ cao tuổi ăn nhiều chocolate có mật độ xương thấp [1]. Họ tính toán rằng những người ăn chocolate mỗi tuần ít nhất 1 lần có mật độ xương thấp hơn (khoảng 3%) so với những người ăn chocolate dưới 1 lần / tuần. Mật độ xương thấp hơn cũng có nghĩa là có nguy cơ gãy xương cao hơn. Chính vì thế mà nghiên cứu này làm dư luận xôn xao. Vừa xôn xao quan tâm, nhưng cũng vừa cười. Mật độ xương thấp hơn có 3% thì chẳng có ý nghĩa lâm sàng gì. Tôi nghĩ nếu tôi là người ăn chocolate mỗi tuần 1 lần thì tôi thấy vẫn chưa có lí do gì ngưng ăn loại kẹo đầy quyến rũ này.

Nhưng có lẽ ngạc nhiên hơn là mối liên hệ giữa chocolate và giải Nobel! Khó tin, nhưng có thật. Đó là công trình phân tích của bác sĩ Messerli (Đại học Columbia) đăng trên New England Journal of Medicine, một tập san được xem là kinh thánh y khoa [2]Trong bài này, ông thu thập dữ liệu về lượng chocolate tiêu thụ trong những quốc gia có người đoạt giải Nobel, và số giải Nobel cho từng quốc gia. Vì có sự khác biệt về dân số nên ông phải điều chỉnh cho dân số. Cách điều chỉnh của rất đơn giản:

  • ông tính toán lượng tiêu thụ chocolate trên mỗi người dân mỗi năm (tính bằng kg), gọi chỉ số này là X;
  • sau đó, ông tính số giải Nobel trên 10 triệu dân, gọi chỉ số này là Y;
  • sau cùng, ông tính hệ số tương quan (coefficient of correlation) giữa X và Y.

Biểu đồ sau đây cho thấy một xu hướng chung là những nước nào ăn nhiều (hay chính xác hơn là tiêu thụ nhiều) chocolate là những nước có nhiều giải Nobel. Chẳng hạn như Thuỵ Sĩ, nước tiêu thụ nhiều chocolate (khoảng 13 kg/người/năm) là nước có nhiều giải Nobel trên đầu người. China là nước ít tiêu thụ chocolate cũng là nước có ít giải Nobel nhất (thật ra, China chỉ có 1 giải duy nhất năm nay về văn học, nhưng cũng là giải thưởng mang tính chính trị, không thuyết phục). Hệ số tương quan giữa lượng tiêu thụ chocolate và số giải Nobel là 0.79, với trị số P < 0.0001, tức …. rất có ý nghĩa thống kê!

https://i0.wp.com/wmbriggs.com/blog/wp-content/uploads/2012/10/chocolate.nejm_.jpg

Biếu đồ mô tả mối liên quan giữa lượng chocolate tiêu thụ trên đầu người (trục hoành) và số giải Nobel tính trên 10 triệu dân (trục tung). Hệ số tương quan là 0.79.

Tại sao nước ăn nhiều chocolate lại là những nước đoạt nhiều giải Nobel? Bác sĩ Messerli lí giải rằng chocolate (hay những thực phẩm trong nhóm flavanol, có trong coca, trà, rượu đỏ, v.v.) có hiệu quả giảm huyết áp, tăng cường trí lực. Những chứng cứ trên được rút ra từ những nghiên cứu trên chuột. Tác giả đặt giả thuyết rằng ăn chocolate chẳng những tăng cường trí lực cho một cá nhân, mà còn cho cả cộng đồng. Do đó, kết quả phân tích này có vẻ phù hợp với giả thuyết của tác giả.

Thoạt đầu, đọc qua bài này tôi nghĩ tác giả muốn đùa. Đùa một cách … khoa học. Nhưng hình như không phải vậy, vì tác giả tỏ ra rất nghiêm túc trong diễn giải kết quả phân tích. Một giải thích khả dĩ khác có thể là liên quan nghịch đảo (reverse association). Hiện tượng liên quan nghịch đảo có nghĩa là người có trí lực tốt biết được hiệu quả tốt của kẹo chocolate nên họ ăn nhiều chocolate (chứ không phải ăn nhiều chocolate dẫn đến trí lực cao). Cũng có thể mối liên hệ giữa chocolate và giải Nobel là do trình độ phát triển kĩ nghệ và kinh tế, vì những nước phát triển ở phương Tây thường tiêu thụ nhiều chocolate hơn các nước nghèo hơn ở châu Á. Nhưng giả thuyết về trình độ phát triển kĩ nghệ không giải thích tại sao các nước như Mĩ cũng phát triển cao, nhưng giải Nobel trên đầu dân thì thấp hơn các nước như Thuỵ Sĩ, Đan Mạch, Na Uy, Anh, Đức, Thuỵ Điển.

Dù tác giả không đùa, nhưng tôi nghĩ tác giả muốn giễu cợt tập san New England Journal of Medicine. Nếu xem phân tích của tác giả là một “nghiên cứu” thì theo y học thực chứng, nghiên cứu này có giá trị rất thấp. Thấp là vì mối liên hệ giữa chocolate và giải Nobel thuộc loại ecologic association, với đơn vị phân tích là bình quân của một quốc gia, chứ không phải cá nhân. Chỉ khi nào tác giả “chứng minh” được những cá nhân đoạt giải Nobel ăn nhiều chocolate hơn những cá nhân không có giải Nobel thì kết quả mới có giá trị cao hơn.

Khi tính hệ số tương quan từ số quân bình thì lúc nào cũng có kết quả cao (như trường hợp này là 0.79), bởi vì cách tính này không xem xét đến những dao động trong mỗi quốc gia (within-country variation). Cái “nguỵ biện” hay fallacy của tác giả là ở chỗ này. Vì đơn vị là quốc gia, chứ không phải cá nhân, nên rất khó diễn giải kết quả này. Nếu theo cách suy luận của tác giả, tôi nghĩ cũng có thể nói rằng có mối liên quan giữa màu tóc và giải Nobel, giữa ăn thịt đỏ và giải Nobel (vì những nước giàu thường ăn thịt đỏ hơn là ăn rau quả như Á châu). Tác giả xem xét tất cả các yếu tố để giải thích cho mối liên quan, nhưng ông quên một lí do khác: ecologic fallacy! Có lẽ ecologic fallacy có thể dịch là ngụy biện quần thể.

Nếu có một bài mua vui cũng được một vài trống canh thì đây [2] chính là bài đó. Không ngờ kinh thánh y khoa mà cũng có cách mua vui hay như thế.

Tham khảo:

1. Hodgson JM, et al. Chocolate consumption and bone density in older women. Am J Clin Nutr 2008; 87:175-80.
2. Messerli FH. Chocolate consumption, cognitive function, and Nobel laureates. N Engl J Med 2012. Doi: 10.1056/NEJMMon1211064.

——————–&&——————–

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: