Hiểu thêm về quy tắc Volcker – “vòng kim cô” của các ngân hàng đầu tư

Hiểu thêm về quy tắc Volcker – “vòng kim cô” của các ngân hàng đầu tư

(Nguồn: cafef.vn)

Paul Volcker – cựu Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ Fed – đã kiến nghị cấm các ngân hàng được liên bang bảo hiểm đầu cơ nhằm giảm thiểu rủi ro đối với kinh tế thế giới.

Từ điển Merriam-Webster định nghĩa khái niệm “đầu cơ” (speculation) trong 31 từ, trong đó những từ khóa chủ chốt là “nguy cơ thua lỗ lớn”. Khi Paul Volcker – cựu Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ Fed – kiến nghị cấm các ngân hàng được liên bang bảo hiểm đầu cơ nhằm giảm thiểu rủi ro đối với kinh tế thế giới, ông chỉ nêu ra kiến nghị trong 1 đoạn văn nhỏ.
 4 năm sau, các nhà quản lý nước Mỹ vừa thông qua quy tắc cuối cùng dựa trên những kiến nghị của Volcker. Mặc dù quy tắc Volcker dài tới 100 trang cùng với hàng trăm trang tài liệu hỗ trợ khác, không ai biết chắc chắn quy tắc này sẽ được áp dụng như thế nào trên thực tế. Đây là ví dụ điển hình cho thấy các luật lệ trên phố Wall có thể phức tạp như thế nào.
Quy tắc Volcker là gì?
Ý tưởng của Volcker trở thành quy tắc trong đạo luật cải cách phố Wall Dodd-Frank năm 2010. Mặc dù dự thảo của quy tắc Volcker vẫn gây nhiều tranh cãi, nhiều ngân hàng đã đóng cửa mảng giao dịch tự doanh (proprietary trading).
Đối với các giao dịch tự doanh, ngân hàng có thể kiếm thêm tiền hoặc mất tiền. Một trong số đó là hoạt động tạo lập thị trường (market – making): các ngân hàng mua, bán và giữ chứng khoán sao cho các khách hàng của họ luôn luôn có thể mua vào hoặc bán ra những gì họ muốn.
Một hoạt động khác là phòng vệ – những giao dịch nhằm giảm thiểu rủi ro đối với các giao dịch của chính ngân hàng.
Được thông qua ngày 10/12, so với những kiến nghị ban đầu, quy tắc Volcker có vẻ “khoan dung” hơn đối với hoạt động tạo lập thị trường và “khắc nghiệt” hơn đối với hoạt động phòng vệ. Các nhà làm luật trở nên lo lắng sau khi JPMorgan Chase phải gánh chịu khoản lỗ giao dịch lên tới 6,2 tỷ USD (vụ việc được nhiều người cho là giống với đánh bạc hơn là phòng vệ).
Giờ đây, phố Wall đang chờ đợi các nhà làm luật sẽ quyết định như thế nào để đưa luật vào hiện thực. Trách nhiệm được chia cho 5 tổ chức với những lịch trình hoàn toàn khác nhau. Một số quan tâm nhiều nhất đến việc giữ cho thị trường hoạt động trơn tru, trong khi một số khác lo lắng về việc giữ cho các ngân hàng không tự sụp đổ.
Nguồn gốc
Sau thời kỳ Đại suy thoái, Quốc hội Mỹ thành lập cơ quan bảo hiểm tiền gửi liên bang để ngăn chặn kịch bản khách hàng rút tiền ồ ạt tại các ngân hàng thương mại. Đổi lại, các ngân hàng phải tập trung vào việc cho vay. Tự doanh là việc của các ngân hàng đầu tư.
Ranh giới này đã trở nên mờ nhạt trong những năm 1990 và bị xóa bỏ hoàn toàn vào năm 1999 – khi đạo luật Glass-Steagall bị bãi bỏ. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 có nguồn gốc từ các khoản cho vay thế chấp dưới chuẩn, nhưng đó chính là điều đẩy các ngân hàng đến bên bờ vực phá sản.
Volcker lưu ý rằng không phải những khoản nợ xấu mà những giao dịch “độc hại” là nguyên nhân. 6 ngân hàng lớn nhất nước Mỹ thu được 15,6 tỷ USD lợi nhuận giao dịch trong 13/18 quý từ giữa năm 2006 đến 2010. 5 quý còn lại, họ phải chịu lỗ.
Kể cả sau khi các ngân hàng lớn đồng loạt sụp đổ và phải nhận cứu trợ trong sự khó chịu của người nộp thuế, phục hồi đạo luật Glass-Steagall là công tác gặp nhiều kháng cự trên phố Wall. Đó cũng chính là lý do khiến Tổng thống Obama muốn gộp đạo luật này vào quy tắc Volcker. Ông hi vọng rằng tầm vóc của người đã từng tiết chế được lạm phát trong những năm 1970 sẽ giúp quy tắc này có sức mạnh lớn hơn.
Tranh luận
Rất nhiều người trên phố Wall tiếp tục cho rằng quy tắc Volcker sẽ không thể hoạt động. Tách bạch các loại hình đầu tư khác nhau và đánh giá rủi ro của chúng là việc gần như không thể. Năm ngoái, Jamie Dimon – CEO của JPMorgan Chase – đã nói rằng mọi nhà giao dịch sẽ cần đến một nhà tâm lý học và một luật sư ở bên mình để đảm bảo không vi phạm luật lệ.
Volcker phản pháo lại rằng quy tắc này khá đơn giản và có thể thích nghi được với nhiều hoàn cảnh. Tuy nhiên, thay vì đưa ra những lệnh cấm cứng nhắc, các nhà quản lý đang cố gắng định nghĩa từng trường hợp và đưa ra những trường hợp miễn trừ.
Trong khi đó, một nhóm nhỏ (nhưng đang dần tăng lên) các nhà làm luật ở Washington cho rằng họ sẽ thúc đẩy thông qua một đạo luật đơn giản hơn – đem Glass-Steagall quay trở lại – nếu như quy tắc Volcker tỏ ra quá phi thực tế.
Thu Hương

Theo Trí Thức Trẻ/Bloomberg

————-&&————-

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: