Bước ngoặt trong kinh tế học thế kỷ 20

 Bước ngoặt trong kinh tế học thế kỷ 20

(Biên dịch & Hiệu đính: Nguyễn Hoàng Hà – Nguồn: nghiencuuquocte.net)

Nguồn: Mark Skousen (2007). “A Turning Point in Twentieth-Century Economics” in M. Skousen, The Big Three in Economics: Adam Smith, Karl Marx, And John Maynard Keynes (New York: M.E.Sharpe), pp. 163-190.

Kinh tế học Keynes là … đòn chí mạng nhất mà quyền lực của kinh tế học chính thống phải hứng chịu

– W.H. Hutt (1979,12)

Đỉnh cao của kinh tế học Keynes

Thành công của kinh tế học Keynes và cuốn sách giáo khoa của Samuelson đạt đỉnh điểm vào đầu những năm 1960. Vị giáo sư ở MIT đã trở thành Chủ tịch AEA năm 1961 cùng với năm mà John F. Kennedy nhậm chức tổng thống. Cùng với Walter Heller và các nhà kinh tế học hàng đầu theo trường phái Keynes, Samuelson cũng là một nhà cố vấn thân cận của tổng thống Kennedy và giúp tham mưu để Quốc hội thông qua cắt giảm thuế mà Kenedy đưa ra năm 1964, một chương trình dựa trên học thuyết Keynes được thiết kế để khích thích tăng trưởng kinh tế bằng việc chấp nhận thâm hụt tài chính có tính toán thận trọng. Nó dường như đã có tác dụng khi nền kinh tế có sự phát triển tốt vào giữa thập kỷ 1960. Vào thời gian đó, sách của Samuelson rất thịnh hành đối với giới kinh tế học khi bán hơn 250.000 bản in một năm. Và chỉ một năm sau khi bắt đầu có giải Nobel Kinh tế (1969) do Ngân hàng Thụy Điển trao tặng, Paul A. Samuelson đã được đón nhận vinh dự này.

Lượng tiêu thụ bản in sách giáo khoa của Samuelson đã giảm xuống vì sự khủng hoảng và siêu lạm phát vào những năm 1970 và ngày nay, sau một nửa thế kỷ kể từ khi ấn bản đầu tiên được phát hành, nó đã không còn ở vị trí dẫn đầu những cuốn sách thịnh hành nữa. Tuy nhiên, những nhà kinh tế học mới, có triển vọng (đặc biệt, cuốn giáo trình của Campbell Mcconnell là một trong những cuốn sách bán chạy nhất trong nhiều năm) gần như được xem là bản sao của Samuelson. Từ năm 1985, giáo sư William D. Nordhaus ở Yale trở thành đồng tác giả cho những lần tái bản của cuốn Kinh tế học và lúc này màu tóc của Samuelson ngả từ vàng sang nâu rồi hoa râm vào những năm xế chiều trong cuộc đời của ông. Tuy nhiên, một người hâm mộ đã viết về ông: “Trí nhớ của ông làm cho người ta phải ngạc nhiên ngay cả khi ông đãng trí” (Elzinga 1992, 878).

Hình 6.1: Giao điểm Keynes trong Quyết định Tổng thu nhập Quốc gia: Tiết kiệm và Đầu tư quyết định đến Thu nhập như thế nào

(Vui lòng download file để xem hình)

Nguồn: Samuelson (1948:259). Được in dưới sự cho phép của NXB McGraw-Hill.

Mục đích của Samuelson: Nâng tầm Giao điểm Keynes trở thành một đỉnh cao trong ngôi nhà của kinh tế học

Paul Samuelson đang cố gắng để đạt được điều gì? Thực tế là không có trường phái Samuelson trong kinh tế học; ông coi mình là “người theo chuyên môn tổng quát cuối cùng trong kinh tế học” (Vậy còn Kenneth Boulding thì sao?). Đầu tiên và quan trọng nhất, ý định của vị giáo sư MIT là giới thiệu học thuyết Keynes đến các lớp học: các khái niệm số nhân, xu hướng tiêu dùng, nghịch lý của tiết kiệm, chính sách tài khóa ngược chiều, tài khoản thu nhập quốc dân, và C + I + G đều là những chủ đề mới được giới thiệu trong ấn bản đầu tiên của cuốn Kinh tế học vào năm 1948. Chỉ có John Maynard Keynes được vinh danh với vài nét về tiểu sử trong những lần ấn bản đầu và chỉ có Keynes chứ không phải là Adam Smith hay Các Mác được gán cho biệt danh “thiên tài toàn diện” (Samuelson 1948, 253).

Biểu đồ thu nhập – tiêu dùng “giao điểm Keynes” được phát minh bởi Samuelson (hình 6.1), xuất hiện trong trang bìa của 3 lần ấn bản đầu tiên. Giao điểm Keynes kết hợp tất cả các thành tố của lý thuyết “chung” mới. Biểu đồ ở hình 6.1 cho thấy tiết kiệm (S) tăng cùng với thu nhập quốc gia (NI). Thu nhập càng nhiều thì tiết kiệm càng tăng. Tuy nhiên, đầu tư (I) là tự định và độc lập với tiết kiệm. Theo học thuyết Keynes, đầu tư được ấn định ở mức không đổi bởi vì đầu tư thường thay đổi và biến động theo “cảm xúc khó lường” (animal spirits) và kỳ vọng của các nhà đầu tư và doanh nhân. Vì thế, kế hoạch đầu tư được thiết lập ở bất kỳ mức nào cũng không liên quan đến thu nhập. Mức cân bằng (M) được thiết lập tại điểm S = I, mà tại đó sẽ không đạt được mức thu nhập toàn dụng lao động (F). Vì vậy, Giao điểm Keynes phản ánh sự cân bằng ở tình trạng thiếu việc làm.

Mô hình cân bằng tĩnh thể hiện quan điểm của Samuelson (và Keynes) khi cho rằng chủ nghĩa tư bản vỗn dĩ không ổn định và có thể bị sa lầy vô hạn định tại điểm (M) ở dưới mức toàn dụng lao động. Không có “cơ chế tự động” đảm bảo cho toàn dụng lao động trong nền kinh tế tư bản (Samuelson và Nordhaus 1985, 139). Samuelson ví chủ nghĩa tư bản như một chiếc xe hơi thiếu một vô-lăng và thường trật ra khỏi đường và đổ sầm. Ông viết: “nền kinh tế tư nhân giống như một cỗ máy thiếu vô-lăng hay bộ điều khiển hiệu quả. Chính sách tài khóa mang tính bù đắp cố gắng đưa vào một bộ điều khiển hoặc một thiết bị kiểm soát ổn định nhiệt độ” (Samuelson 1948, 412). Krugman cũng so sánh nền kinh tế thị trường như một hệ thống cần một “máy phát điện mới” (Krugman 2006).

Số nhân hoạt động kỳ diệu như thế nào

Chính sách tài khóa có tác dụng bù đắp hoạt động như thế nào? Theo lý thuyết Keynes, nền kinh tế tăng trưởng và đạt được mức toàn dụng lao động bằng hai cách: Dịch chuyển đầu tư I lên trên hay dịch chuyển tiết kiệm S sang phải.

Trước hết, hãy nhìn vào đầu tư. Đường đầu tư I có thể được dịch hướng lên trên do niềm tin kinh doanh được khôi phục chủ yếu thông qua việc tăng chi tiêu của chính phủ hay cắt giảm thuế. Cả hai kỹ thuật này đều có một số nhân ảnh hưởng: 100 tỷ USD chi tiêu cho các chương trình hoặc hay từ việc cắt giảm thuế có thể tạo ra 400 tỷ USD thu nhập mới.

Hình 6.2: “Nghịch lý của Tiết kiệm” của Samuelson

(Vui lòng download file để xem hình)

Nguồn: Samuelson và Nordhaus (1989:184). Được in dưới sự cho phép của NXB McGraw-Hill

Nhưng theo Samuelson, dưới hệ thống học thuyết Keynes, chi tiêu chính phủ có số nhân cao hơn việc cắt giảm thuế. Tại sao? Bởi vì 100% của một chương trình liên bang được chi tiêu, trong khi chỉ một phần việc cắt giảm thuế được chi tiêu và một phần trong số đó sẽ được dành cho tiết kiệm. Samuelson gọi phát hiện này là “số nhân ngân sách cân bằng”. Vì vậy, chương trình chi tiêu mới của liên bang được ưa thích hơn so với việc cắt giảm thuế bởi theo học thuyết Keynes phía chi tiêu được đánh giá là một vũ khí có uy lực hơn để chống lại suy thoái hơn là cắt giảm thuế.

Nghịch lý tiết kiệm phủ định Adam Smith

Cách thứ hai để thoát khỏi suy thoái là tăng xu hướng tiêu dùng xã hội và điều này sẽ làm dịch chuyển đường tiết kiệm S sang bên phải.

Hãy nhớ rằng trong mô hình Keynes, nếu xã hội quyết định tiết kiệm nhiều hơn trong thời kỳ suy thoái kinh tế thì nó chỉ làm cho các vấn đề xấu hơn. Người tiêu dùng mua sắm ít hơn, nhà sản xuất sa thải công nhân, và cuối cùng các hộ gia đình tiết kiệm ít đi. Theo mô hình sơ thảo của học thuyết Keynes, việc tăng cung tiết kiệm không thể làm lãi suất giảm thấp hơn cũng như tạo ra sự khuyến khích đầu tư vì giả định lãi suất là cố định. Trong biểu đồ 6.1, tiết kiệm nhiều hơn có nghĩa là đường tiết kiệm S dịch chuyển về phía sau sang bên trái, và không có tác động làm tăng đầu tư I.

Samuelson gọi hiện tượng này là “Nghịch lý của tiết kiệm” (hình 6.2) – khi mong muốn tăng tiết kiệm lại dẫn đến giảm tổng mức tiết kiệm! Ông tuyên bố (1948, 271): “Trong điều kiện thất nghiệp, càng cố gắng tiết kiệm thì có thể dẫn tới kết quả là tiết kiệm được ít đi chứ không phải nhiều hơn”. Tất nhiên, Keynes đã nói một vấn đề gần như tương tự và còn hùng hồn hơn: “Chúng ta càng tỏ ra có đạo đức, càng cố gắng tiết kiệm, càng ngoan cố theo lý thuyết chính thống đối với tài chính quốc gia và tài chính cá nhân, thì thu nhập của chúng ta ắt sẽ phải giảm xuống nhiều hơn” (Keynes 1973a [1936], 111).

Samuelson rất vui với sự tấn công này vào lý thuyết chính thống của Adam Smith và Benjamin Franklin. Smith nhận ra tiết kiệm là một hành vi có đạo đức phổ biến, và ông viết “những gì là khôn ngoan trong hành vi của mọi gia đình riêng lẻ lại có thể trở nên hiếm hoi một cách nực cười trong một vương quốc vĩ đại (1965 [1776], 424). Franklin khuyên bảo tất cả những đứa trẻ rằng “1 đồng tiết kiệm được là 1 đồng kiếm được”. Nhưng Samuelson gọi suy nghĩ này là một “ngụy biện tổng thể” (fallacy of composition). Ông cũng cho rằng “điều gì tốt cho mỗi cá nhân không nhất thiết phải tốt cho tất cả mọi người”. Hơn nữa, “đạo đức cổ xưa của Franklin (tiết kiệm) lại có thể là những tội ác mới” (1948, 270). Như trong một cuốn sách ngày nay, “dù tiết kiệm có thể mở con đường đến giàu sang cho từng cá nhân, nhưng nếu một quốc gia đứng trên góc độ tổng thể quyết định tiết kiệm nhiều hơn thì kết quả có thể là một cuộc suy thoái và nghèo đói cho tất cả mọi người” (Baumol and Blinder 1988, 192).

Các nhà học thuyết Keynes từng tán đồng rằng tiết kiệm là một hành vi đạo đức trong thời kỳ toàn dụng lao động, nhưng Samuelson đã thuyết phục rằng điều này hiếm khi xảy ra. Ông viết: “Trường hợp toàn dụng lao động và lạm phát chỉ thi thoảng xảy ra trong lịch sử phát triển gần đây của chúng ta. Phần lớn trong thời gian đó là sự lãng phí nguồn lực, thất nghiệp, thiếu cầu, thiếu đầu tư và thiếu sức mua” (1948, 271). Đoạn này được giữ nguyên và được trích dẫn liên tục trong 11 ấn bản đầu tiên của cuốn sách giáo khoa.[1]

Tiết kiệm là sự rò rỉ

Hưởng ứng Keynes, Samuelson tuyên chiến đối với tiết kiệm không dành cho đầu tư, vốn có thể bị “rò rỉ” ra khỏi hệ thống và trở thành một “khuyết tật của xã hội” (1948, 253). Ông đã xây dựng một sơ đồ (xem Hình 6.3) phân tách tiết kiệm từ đầu tư. Sơ đồ này cho thấy tiết kiệm bị rò rỉ thoát ra khỏi hệ thống, không được kết nối với tay bơm thủy lực dòng đầu tư ở bên trên. (Sơ đồ này đã được những người quan sát gọi là mô hình “thủy lực chủ nghĩa Keynes”, nhấn mạnh vào sự mồi nước cho máy bơm thông qua chi tiêu chính phủ.)

Hình 6.3: Tiết kiệm bị rò rỉ khỏi hệ thống trong khi dòng đầu tư được bơm cho toàn nền kinh tế

(Vui lòng download file để xem hình)

Nguồn: Samuelson (1948: 264). Được in dưới sự cho phép của NXB McGraw-Hill

Có phải tiêu dùng quan trọng hơn tiết kiệm?

Mô hình Keynes đưa ra một kết luận kỳ quặc rằng tiêu dùng sinh lợi nhiều hơn tiết kiệm. Như đã đề cập ở trên, trong mô hình Giao điểm Keynes, sự tăng lên trong “xu hướng tiêu dùng” (tỷ lệ tiết kiệm thấp hơn) dẫn đến sự toàn dụng lao động. Keynes tán thành “tất cả các kiểu chính sách nhằm tăng xu hướng tiêu dùng”, bao gồm thuế trưng thu thừa kế và tái phân phối của cải có lợi cho nhóm thu nhập thấp, vốn là những người có tỉ lệ tiêu dùng trên tổng thu nhập cao hơn so với nhóm giàu có (1973a [1936], 325). Nhà kinh tế học Canada Lorie Tarshis, trong lần đầu viết một cuốn sách giáo khoa theo học thuyết Keynes đã cảnh báo rằng một tỷ lệ tiết kiệm cao là “một trong những nguồn khó khăn chính cho chúng ta” và một trong những mục tiêu của chính phủ liên bang là nên “giảm việc khuyến khích tiết kiệm” (Tarshis 1947, 521–12).

Nhà kinh tế học trường phái Keynes là Hyman Minsky đã khẳng định lại cách tiếp cận phi chính thống này khi ông nói rằng “trọng tâm chính sách nên chuyển từ khuyến khích tăng trưởng thông qua đầu tư sang việc đạt được toàn dụng lao động thông qua sản xuất tiêu dùng” (Minsky 1982, 113). Dĩ nhiên tất cả các lý thuyết này của trường phái Keynes đã đi ngược với lý thuyết tăng trưởng cổ điển truyền thống khi cho rằng một mức tiết kiệm cao là thành tố chính cho tăng trưởng kinh tế.

Phải chăng chủ nghĩa Keynes trung lập về chính trị?

Samuelson lập luận rằng “lý thuyết xác định thu nhập” của học thuyết Keynes là “trung lập” về mặt chính trị. Ví dụ, “nó có thể được sử dụng tốt để bảo vệ hoặc hạn chế doanh nghiệp tư nhân cũng như để chỉ trích hay biện hộ cho sự can thiệp tài khóa của chính phủ” (1984, 253). Nhưng bằng chứng thực tế đã chống lại khẳng định này.

Ví dụ, số nhân ngân sách cân bằng (Samuelson xem nó là một trong “những khám phá khoa học” tâm đắc nhất của mình) ủng hộ các chương trình chi tiêu của chính phủ hơn so với cắt giảm thuế trong vai trò một chính sách ngược chiều. Theo Samuelson, thuế lũy tiến (áp dụng mức thuế cao hơn đối với những người giàu) là một phương thức tái phân phối “có lợi” tác động lên nền kinh tế: “Trong phạm vi mà đồng đô-la được lấy từ những người giàu thích tiết kiệm hơn là từ những người người sẵn sàng chi tiêu thì thuế lũy tiến có xu hướng giữ sức mua và việc làm ở một mức cao” (1948, 174).

Samuelson cũng tán thành thuế an sinh xã hội, trợ cấp nông nghiệp, trợ cấp thất nghiệp, và các trợ cấp khác của nhà nước phúc lợi như “người thiết lập sự ổn định” trong nền kinh tế. Mục chỉ dẫn (index) trong giáo trình của Samuelson luôn liệt kê “các thất bại của thị trường” (bao gồm cạnh tranh không hoàn hảo, ảnh hưởng ngoại lai, bất bình đẳng về của cải, quyền lực độc quyền, và hàng hóa công) nhưng không hề có “thất bại của chính phủ”. Đó là bằng chứng mạnh mẽ cho thấy sự thiên kiến của ông.

Xem toàn bộ nội dung văn bản tại đây: Buoc ngoat trong kinh te hoc the ky 20.pdf


[1] Thật bất ngờ, gần đây Samuelson phản đối khẩu hiệu “chống tiết kiệm của học thuyết Keynes” (Samuelson 1997). Sau khi biết Martin Feldstein công khai than phiền rằng các nhà kinh tế học tại Harvard cũng tấn công vào chủ đề tiết kiệm trong thời ông này đi học, Samuelson cho biết ông thường xuyên xuất hiện trước Quốc hội Hòa Kỳ để thúc đẩy tiết kiệm và đầu tư nhiều hơn đồng thời tiêu dùng giảm xuống. Phản ứng của tôi là Tại sao ông ấy không nói như vậy vào trong cuốn sách giáo khoa của mình?

——————&&——————

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: