Ngân hàng nên nắm giữ bao nhiêu vốn?

Ngân hàng nên nắm giữ bao nhiêu vốn?

(Nguồn: vfpress.vn)

225-ngan-hang-nen-nam-giu-bao-nhieu-von-1
Sau nhiều lần đàm phán, bộ quy tắc Basel III đã thiết lập những điều kiện về vốn giữa mức 8% và 12%. Bài báo này kiến nghị rằng mức này có thể chưa đủ. Nó chú trọng vào lượng vốn mà các ngân hàng cần nắm giữ để hấp thụ hoàn toàn những cú shock về biến động giá tài sản đã xảy ra ở các nước OECD trên 50 năm qua. Lời giải cho vấn đề trên là mức 18% vốn tính trọng số theo rủi ro, tương đương với hệ số đòn bẩy 9%. Tiêu chuẩn này hết sức thận trọng, vì vậy mức vốn tối ưu thực tế có thể thấp hơn.

Có một cuộc tranh luận tích cực về vấn đề các ngân hàng nên nắm giữ bao nhiêu vốn. Song việc thiết lập một mức vốn “tối ưu” lại là vấn đề về mặt kỹ thuật hơn là khoa học. Bất kỳ quyết định nào đều phải dùng mô hình đặc trưng và hàm chứa một mức độ đánh giá. Mục đích của bài này là đóng góp vào cuộc tranh luận bằng việc đưa ra thêm một tiêu chuẩn.

Basel III yêu cầu các ngân hàng phải chấp nhận một tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có trọng số theo rủi ro (vốn có trọng số theo rủi ro) ở mức từ 8% đến 12%. Trong đó bao gồm 4,5% tỉ lệ căn bản, 2,5% tỉ lệ dự trữ đệm an toàn, 2,5% dự trữ đệm ngược chu kỳ (trong trường hợp tăng), và 2,5% tăng thêm cho những rủi ro hệ thống của ngân hàng. Một số quốc gia có những yêu vầu về vốn cao hơn. Singapore áp mức tăng hơn 2% so với Basel; những kiến nghị của Vickers tại UK đề xuất mức 3% tăng thêm; và Thụy Sĩ yêu cầu những ngân hàng quốc tế nắm giữ thêm 6% vốn, dẫn đến tổng lượng vốn được yêu cầu ở mức 18–19%.

Xét về phương diện lịch sử, các ngân hàng đã nắm giữ nhiều vốn hơn hiện tại. Trong những năm đầu thế kỷ 20, tỷ lệ đòn bẩy (vốn trên tổng tài sản) của các ngân hàng US và UK trong khoảng từ 8 – 12% (đến năm 2011). Nhằm chuyển đổi tỷ lệ đòn bẩy sang lượng vốn có trọng số theo rủi ro, theo kinh nghiệm là nhân nó với 2; trọng số trung bình rủi ro là 0,5 (King 2010, La Lesle và Avramova 2012). Vì vậy mức đòn bẩy 8 – 12% có thể tương ứng với 16 – 24% vốn trọng số theo rủi ro trong hiện tại. Tuy nhiên giai đoạn đó những định hướng bị hạn chế cũng như các ngân hàng ít được đa dạng hóa và không được truy cập vào mạng an toàn hoặc bảo hiểm tiền gửi. Những tỷ lệ đòn bẩy của các ngân hàng US và UK trong những năm 1950–1970 trong khoảng 6,5%, tương ứng với 13% lượng vốn trọng số theo rủi ro. Điều này gần với nhưng mục tiêu của Basel III.

Thật khó để định lượng chính xác sự phát triển của vốn ngân hàng gần đây và trước khủng hoảng, bởi vì các ngân hàng đã nói giảm bớt các trọng số rủi ro và nắm giữ nhiều tài sản rủi ro ngoài bảng cân đối kế toán. Nhưng một số các ngân hàng quốc tế trọng yếu có tỷ lệ đòn bẩy chỉ 3%, nếu xét đến tỷ trọng theo rủi ro trung bình có thể tương đương với 6% vốn trọng số theo rủi ro. Mức này chỉ đáp ứng được một nửa yêu cầu của Basel III.

Trong giới học thuật, nhiều tranh luận về việc các ngân hàng có thể cần thêm vốn ở một mức có ý nghĩa hơn. Trong một lá thư gửi tới Financial Times năm 2010, các bên ký kết đã đề xuất rằng “Nếu với một tỷ lệ lớn hơn, ít nhất là 15% cho toàn bộ các ngân hàng, không tính trọng số theo rủi ro, các tài sản đều được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu, thì lợi ích của xã hội sẽ chắc chắn hơn.” Mức mục tiêu đề xuất này khá cao; tỷ lệ đòn bẩy 15% tương đương với 30% vốn trọng số theo rủi ro.

Những nghiên cứu từ các tổn thất trong các cuộc khủng hoảng trước đây đề xuất tỷ lệ vốn an toàn lên mức 18%.

Hình 1 thể hiện phân phối của tỷ lệ nợ xấu trong các khủng hoảng ngân hàng tại các nước OECD, theo Leaven và Valencia (2012). Trong hầu hết các trường hợp, tỷ lệ khá vừa phải; trung vị là 6%. Bao gồm cả những trường hợp đặt biệt, so sánh 85% các quan sát (24 trên 28), cho thấy tỷ lệ nợ xấu lên đến 19%. Những quan sát có tỷ lệ nợ xấu cao đại diện cho các trường hợp đặc biệt, những cuộc khủng hoảng kép (ngân hàng – tiền tệ), ví dụ tại Hàn Quốc năm 1997, Thổ Nhĩ Kỳ năm 2000, và Iceland năm 2008. Những cuộc khủng hoảng kép rất hiếm xảy ra ở các nền kinh tế phát triển; rủi ro của họ có thể được giảm thiểu bằng việc kiểm soát những giao dịch tiền tệ không đối ứng trong các ngân hàng và doanh nghiệp. Vì thế ta có thể đặt 19% như là mức chặn trên theo lịch sử đối với tỷ lệ nợ xấu trong các cuộc khủng hoảng ngân hàng không phải khủng hoảng kép tại các nền kinh tế phát triển.

Hình 1. Tỷ lệ nợ xấu qua các cuộc khủng hoảng ngân hàng tại các nước OECD
225-ngan-hang-nen-nam-giu-bao-nhieu-von-2

Để thu hồi các tổn thất từ các khoản vay, tỷ lệ nợ xấu nên được điều chỉnh bởi những tổn thất do phá sản. Với các dữ liệu hệ thống về tổn thất do phá sản. Chúng ta sử dụng ước lượng của Schuermann (2004) tức là trung bình các tổn thất do phá sản trên các khoản nợ có đảm bảo tại US trong khoảng từ 1970 – 2003 là trên 50%. Điều này có nghĩa là tỷ lệ nợ xấu 19% tương đương với tổn thất từ các khoản vay là 9,5%. Khoảng 1% các tổn thất này có thể được hấp thụ bởi việc dự phòng trước đó. (Tại Tây Ban Nha, việc dự phòng động có thể đạt đến mức đệm là 1,5%; Saurina 2008). Điều này dẫn đến tổn thất từ các khoản vay ròng sau dự phòng còn 8,5%.

Vốn chủ sở hữu của ngân hàng có thể cần hơi cao hơn 8,5% trong khi các tổn thất trung bình trên toàn hệ thống được phân bố bất cân xứng giữa các ngân hàng (tức là một vài ngân hàng có tổn thất cao hơn), hoặc vì các ngân hàng cần thêm vốn để tiếp tục hoạt động sau việc hấp thụ các tổn thất. Nhưng cũng có một sự tranh luận mạnh mẽ rằng tại sao vốn chủ sở hữu có thể hơi thấp hơn; vốn chủ sở hữu giảm thiểu những động cơ chấp nhận rủi ro của ngân hàng, vì vậy các ngân hàng được vốn hóa hợp lý có thể ít thực hiện các chiến lược dẫn đến các cuộc khủng hoảng ngân hàng gay gắt đầu tiên.

Sau khi cân nhắc kỹ, với một giới hạn an toàn, chúng ta có thể đề xuất một tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản là 9% (tỷ lệ đòn bẩy), tương ứng với tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản trọng số theo rủi ro là 18% (vốn có trọng số theo rủi ro) có thể cung cấp cho các ngân hàng đủ lượng vốn để hấp thu hoàn toàn hầu hết những cú shock về biến động của giá tài sản được quan sát trong các cuộc khủng hoảng ngân hàng tại các nước OECD trên 50 năm qua.

Chúng tôi nhấn mạnh rằng đây là một sự ước lượng thận trọng. Ví dụ, nếu một ai cho rằng lượng vốn ngân hàng cao hơn có những tác động thúc đẩy mạnh hơn, thì vốn mục tiêu thích hợp có thể thấp hơn, ví dụ, 15%.

Đánh giá này có thể xem như là tin tốt. Trong khi để thận trọng, tỷ lệ cao nhất 12% của Basel III thật không quá xa vời. Nó khá gần với những yêu cầu về vốn của Thụy Sĩ. Và nó cho thấy rằng những đề xuất vượt trội hơn – ví dụ như 30% vốn trọng số theo rủi ro – là quá mức cần thiết.

Một số cảnh báo cần chú ý:

  • Cũng như bất kỳ ước lượng nào khác, mức ý nghĩa của mô hình thường không chắc chắn. Tổn thất trong các cuộc khủng hoảng trước có thể là một dự báo tồi cho những tổn thất trong tương lai, cũng như các rủi ro của ngân hàng có thể tăng hoặc giảm nhờ sự cải tiến trong ngành tài chính.
  • Ước lượng này dựa trên những tổn thất từ các khoản cho vay, không phải trên phần còn lại của bảng cân đối kế toán. ‘Phần còn lại’ ngày nay bao gồm khoảng 50% trên tổng tài sản ở các ngân hàng tầm trung, một nửa trong các tài sản đang giao dịch và các chứng khoán và một nửa trong tiền mặt và các dự trữ liên ngân hàng (King 2000). Các loại chứng khoán đang giao dịch có thể có tổn thất cao hơn, trong khi tiền và dự trữ liên ngân hàng thì an toàn hơn các khoản cho vay trong suốt các cuộc khủng hoảng. Người ta có thể tinh tế trong các phân tích để đi đến một ước lượng chính xác hơn về nhu cầu vốn bằng việc mô hình cấu trúc tài sản của ngân hàng với các tổn thất của các khủng khoảng liên quan và chi tiết hơn về trọng số rủi ro.
  • Chúng ta căn cứ vào sự ước lượng trên dữ liệu của các quốc gia OECD (thích hợp với các nền kinh tế phát triển). Những tổn thất lịch sử trong các cuộc khủng hoảng ngành ngân hàng tại các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi thì lớn hơn, vì những công cụ giải quyết yếu hơn và môi trường pháp lý.
  • Chúng ta giả sử rằng tất cả khả năng hấp thụ phải được đáp ứng bởi vốn ngân hàng – vốn chủ sở hữu. Trong thực tế, một số có thể đáp ứng bằng nguồn vốn dự phòng – một chứng khoán nợ mà được chuyển đổi một cách có điều kiện sang vốn chủ sở hữu thì tốt hơn là sự tịch biên của ngân hàng. Một số đề xuất trong chính sách gần đây tập trung vào nợ không được bảo đảm, mà chính phủ có thể “haircut” (giảm vốn gốc) trong suốt khủng hoảng (Zhou et al. 2012). Nhưng việc “haircut” nợ ngân hàng có nguy cơ làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng, vì thế không rõ việc dựa vào khả năng hấp thụ các khoản nợ không được bảo đảm có phải là tối ưu so với viễn cảnh trước đó.
  • Ước lượng này là mức vốn mục tiêu cho ngân hàng tại đỉnh của chu kỳ. Khi nền kinh tế tăng trưởng chậm lại hoặc suy giảm, các yêu cầu vốn của ngân hàng có thể được hạ thấp nhằm tạo điều kiện cho việc cho vay và phục hồi.

Nhìn chung, chúng ta hi vọng rằng dù có các cảnh báo này thì những tính toán đơn giản này có thể cung cấp một tiêu chuẩn hữu dụng cho việc xem xét mức vốn tối ưu.
Các chi phí của mức vốn cao hơn khá khiêm tốn trong điều kiện ổn định, song việc hiệu chỉnh lại là một thách thức
Nếu ai đó sử dụng những tổn thất trong quá khứ như là một tiêu chuẩn cho mức vốn ‘tối ưu’ của ngân hàng, thì chi phí tương ứng với mức vốn cao hơn sẽ là gì?

Có hai cách để tính toán ảnh hưởng của mức vốn cao hơn vào chi phí tài trợ của ngân hàng. Đầu tiên là giữ các chi phí của nợ và vốn chủ sở hữu của ngân hàng như là ngoại sinh. Giả sử rằng lợi nhuận đòi hỏi trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng là 15%, và chi phí của nợ là 5% (3% ròng sau thuế). Vậy một sự gia tăng trong tỷ lệ vốn trọng số theo rủi ro của ngân hàng lên một điểm phần trăm, tương đương một sự dịch chuyển 0,5% trong tài trợ từ nợ sang vốn chủ sở hữu (cho trước trọng số rủi ro trung bình là 0.5), sẽ làm tăng chi phí trung bình có trọng số của vốn lên sáu điểm cơ bản. Cách phân tích này được sử dụng bởi Elliott 2009 và BCBS 2010; nó đưa ra những chi phí khả dĩ cao nhất.

Cách khác là dựa vào đề xuất của Modigliami-Miller rằng tổng chi phí tài trợ của ngân hàng không nên tăng cùng với vốn chủ sở hữu cao hơn (khi vốn chủ sở hữu và nợ trở nên an toàn và rẻ hơn; Admati và Hellwig 2013), ngoại trừ cho hiệu ứng tấm chắn thuế. Sau đó – dưới giả định tương tự – một sự gia tăng trong tỷ lệ vốn trọng số theo rủi ro của ngân hàng lên một điểm phần trăm sẽ tăng chi phí trung bình có trọng số của vốn lên chỉ một điểm cơ bản. Dưới những độ sai lệch tăng thêm từ Modigliani-Miller, chi phí có thể hơi cao hơn. Kashyap et al. (2010) đề xuất nâng lên 2,25 điểm cơ bản đối với một sự gia tăng một điểm phần trăm trong vốn trọng số theo rủi ro.

Như vậy, chi phí của mức vốn ngân hàng sẽ cao hơn trong điều kiện ổn định. Một sự gia tăng trong yêu cầu vốn của ngân hàng lên sáu điểm phần trăm từ 12% của Basel lên mức thận trọng của chúng ta là 18% sẽ làm tăng chi phí tài trợ của ngân hàng (và do đó làm tăng lãi suất cho vay) lên khoảng 13,5 điểm cơ bản theo ước tính của Kashyap et al (2010). Trong trường hợp không có giả định của Modigliani-Miller (chi phí của nợ và vốn chủ sở hữu là ngoại sinh) thì sự gia tăng sẽ khoảng 36 điểm cơ bản.

Trong khi mức vốn chủ sở hữu ngân hàng cao không tốn kém trong điều kiện ổn định, thì chi phí của việc gia tăng vốn ngân hàng một cách nhanh chóng có thể quan trọng. Việc phát hành cổ phần mới phát sinh chi phí của sự lựa chọn đối nghịch và chi phí bao tiêu. Việc cắt giảm cổ tức nhằm gia tăng lợi nhuận giữ lại có thể dẫn đến sự giảm vốn hóa của ngân hàng và làm suy giảm độ tin cậy. Nhưng rủi ro chính là các ngân hàng có thể gia tăng tỷ lệ vốn bằng việc cắt giảm cho vay. Aiyar et al (2013) chỉ rõ rằng phản ứng ngắn hạn của một nửa các ngân hàng với một sự gia tăng trong yêu cầu về vốn xảy ra thông qua sự thu hẹp của bảng cân đối kế toán. Điều này có nghĩa, ví dụ như, một sự gia tăng trong các yêu cầu về vốn từ 10% lên 11% (tăng một điểm phần trăm, tương đương tăng 10%) có thể làm giảm việc cho vay tương ứng với những trọng số rủi ro cao nhất. (ví dụ việc cho vay của các công ty phi tài chính) đến mức nhiều nhất có thể là 5%. Vì thế việc điều chỉnh chi phí không thể không được chú ý.

Điều này đề xuất cho các ngân hàng nên gia tăng vốn chủ sở hữu của họ trong một khoảng thời gian, quay trở lại thời điểm khi tốc độ tăng trưởng kinh tế gia tăng. Đối với các nước châu Âu, điều này có thể là một vấn đề tranh luận khác do Cơ chế Ổn định châu Âu (European Stability Mechanism) hổ trợ cho các ngân hàng tại các quốc gia bị khủng hoảng (Dell’Arricia et al 2013).

Chú ý của tác giả: Các quan điểm được trình bày là của tác giả và không đại diện cho IMF. Tôi cảm ơn Charles Calomiris, Stijn Claessens, Luc Laeven, Srobona Mitra, và những người khác vì những gớp ý hữu ích. Tất cả sai sót là của tôi.

Nguồn: VoxEU
Tác giả: Lev Ratnovski, nhà kinh tế thuộc bộ phận nghiên cứu của IMF
Dịch giả: Daniel Wang/VnQuants

——————&&——————-

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: