Những điều bạn cần biết để có thể hiểu về tin tức tài chính

Những điều bạn cần biết để có thể hiểu về tin tức tài chính

(Nguồn: vfpress.vn)

“Theo định nghĩa, khủng hoảng tài chính là loại sự kiện không thể đoán trước được. Nếu không, người khác sẽ lợi dụng nó để kiếm lời.” – Alan Greenspan

Trước hết, tôi là một nhà vật lý lý thuyết chứ không phải là người môi giới cổ phiếu hay giao dịch hàng hóa gì cả. Nhưng tôi vẫn đang cố gắng hiểu được các tin tức về tài chính. Trong đó đầy các thứ như “bám theo giá thị trường” hay “hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng” (CDS), đối với tôi, những thứ này cũng xa lạ như “bất phương trình Bell” đối với đa số các bạn vậy. Nhưng tôi vẫn kiên trì xác định là mình phải nắm bắt cho được những thứ sẽ quyết định tình hình tài chính của bản thân trong tương lai.

Khi bạn bắt đầu xem xét vấn đề này, bạn sẽ thấy các khái niệm này là một phần của một nền kinh tế ảo. Chúng không giống với “nền kinh tế thật”, nơi mà khi bạn ghé vào một cửa hàng tạp hóa để mua trứng và sữa, bạn sẽ có trứng và sữa trong tay chứ không phải một quyền chọn mua trứng, sữa với mức giá đã thỏa thuận trong tương lai. Nếu bạn mua một CDS bạn sẽ có được một mẩu giấy – hoặc thường thì là một tập tin máy tính – thứ vốn không chứa giá trị nội tại. Cứ tưởng tượng nếu bạn gặp phải một bộ lạc thổ dân, với hạt cườm trong tay, bạn có thể đổi lấy thứ gì đó, nhưng nếu trong tay bạn chẳng có gì ngoài một CDS, bạn sẽ chẳng đổi được gì cả. Những công cụ tài chính này khá mới mẻ. Và thứ hàng hóa mà chúng giao dịch là tiền. Đây là những công cụ rất tinh vi được đề xuất bởi những người cực kỳ thông mình để tạo ra tiền từ tiền và chúng ta đang dần bị lôi kéo vào thế giới của chúng. Tôi chợt nhớ đến điều mà nhà toán học vĩ đại người Đức Davide Hilbert nói về thuật chiêm tinh. Nếu mười người thông minh nhất thế giới ngồi lại với nhau, họ sẽ chẳng nghĩ ra những thứ ngờ nghệch như chiêm tinh thuật. Sau đây là bảng thuật ngữ.

Phái sinh 101
Đây là một chủ đề phức tạp, nhưng lại cơ bản, mà tôi chia ra làm 3 phần. Phần này, Phái sinh 101, là phần cơ bản.

Phái sinh là những công cụ tài chính có giá trị sinh ra từ các công cụ tài chính có sẵn giá trị. Ví dụ: nếu tôi mua một quyền chọn để mua cổ phiếu trong tương lai với giá tại thời điểm hiện tại, thứ xác định giá trị của quyền chọn phụ thuộc giá của cổ phiếu trong tương lai. Vấn đề là, quyền chọn đó đáng giá bao nhiêu tại thời điểm hiện tại? Để hiểu rõ hơn, ta sẽ xem xét ví dụ dưới đây.

Giả sử bạn có được thông tin sau đây (trong thực tế, bạn sẽ không bao giờ có dược nhiều thông tin như thế nhưng phần Phái sinh 201 sẽ nói rõ hơn). Bạn biết rằng cổ phiếu của công ty Horse Feather, có mức giá tại thời điểm hiện tại là 100$/cổ phiếu, sẽ tăng thành 120$ với xác suất ¾ hoặc giảm còn 80$ với xác suất ¼ trong 6 tháng. Bạn được chào mua một quyền chọn mua cổ phiếu trong 6 tháng với mức giá thực thi là 100$. Bạn sẽ trả bao nhiêu cho quyền chọn này? Loại quyền chọn này gọi là “Quyền chọn châu Âu” vì chúng chỉ có thể được thực thi sau 6 tháng. Còn “Quyền chọn Mỹ” thì có thể thực thi bất kỳ lúc nào. Bạn kỳ vọng sẽ thu được 3/4×20+1/4×0 = 15$ sau 6 tháng, tức là nếu giá cổ phiếu rớt xuống 80$, quyền chọn sẽ trở nên vô giá trị. Phép tính trên cho thấy quyền chọn đáng giá 15$. Nhưng đừng bao giờ đánh giá thấp sự khéo léo của mọi người trong việc kiếm tiền. Ở đây ta sẽ gặp một khái niệm gọi là “đầu cơ chênh lệch giá”.

214-nhung-dieu-ban-can-biet-de-co-the-hieu-ve-tin-tuc-tai-chinh-2.gif ​

Giả sử bạn định mua một quyền chọn từ tôi với giá 15$. Tôi sẽ nhận 15$ và bỏ túi 5$. Sau đó, tôi vay của ngân hàng 40$. Đây gọi là “đòn bẩy”. Ở đây tôi giả định không tồn tại các chi phí như hoa hồng hoặc lãi suất ngân hàng. Thông thường, những người nghiên cứu về lãnh vực này có nền tảng về vật lý nên họ gọi các giao dịch không tính phí trên là “không ma sát”. Không khó để liên tưởng ý nghĩa của từ “ma sát” trong trường hợp này. Tôi đang có 40$ và 10$, tôi dùng chúng để mua ½ cổ phần của công ty Horse Feather (nếu bạn phản đối việc mua ½ cổ phần, tôi có thể hiệu chỉnh lại ví dụ thành 1 cổ phần). Việc mua này gọi là “phòng hộ”. Động thái này sẽ mang đến rất nhiều lợi thế, đó là thứ mà các “quỹ phòng hộ” thực hiện. Tôi sẽ chỉ cho bạn thấy là tôi không thể lỗ.

Có 2 trường hợp xảy ra: giá cổ phiếu tăng lên 120$ hay giảm xuống 80$. Trong trường hợp đầu tiên bạn sẽ thực thi quyền chọn của mình. Thực tế thì bạn không quan tâm đến việc sở hữu cổ phiếu mà chỉ muốn nhận được 20$ lợi nhuận. Khi đó, tôi sẽ bán ½ cổ phiếu để nhận được 60$. 40$ cho ngân hàng và 20$ cho bạn. Hãy lưu ý 2 điều: thứ nhất, tôi giữ được cho riêng mình 5$, thứ hai, chi phí thật sự cho quyền chọn là 10$ vì phần còn lại được mượn từ ngân hàng. Bạn đã trả nhiều hơn 5$. Trong trường hợp thứ hai, giá cổ phiếu còn 80$. Bạn không thực thi quyền chọn nên tôi không nợ bạn gì cả. Tôi bán ½ cổ phần và nhận được 40$ (sẽ được dùng để trả ngân hàng) trong khi vẫn còn 5$ bỏ túi. Có vẻ như việc này quá tuyệt vời để có thể trở thành sự thật, và đúng thế thật. Trong Phái sinh 201, ta sẽ bàn về thế giới thực.

Phái sinh 201
Ở phần 101, tôi đã đưa ra một “mô hình đồ chơi” để bạn có thể hình dung ra các nguyên tắc cơ bản. Tôi bỏ qua phần “ma sát” như hoa hồng cho người môi giới và lãi suất ngân hàng. Nhưng trong thực tế, đây vẫn là những phần ta phải đưa vào tính toán. Điều khiến cho mô hình trên trông như một thứ đồ chơi là việc ta nắm được các giá trị có thể xảy ra trong tương lai của cổ phiếu cũng như xác suất xảy ra của chúng. Trong thế giới thực, chúng ta sử dụng khả năng mô hình toán học thay cho khả năng tiên tri, dù vậy, một số người vẫn thường hay mong chờ những giải pháp tâm linh.

Ý tưởng sử dụng mô hình toán có từ năm 1900 khi nhà toán học người Pháp Jean Louis Baptiste Alphonse Bachelier xuất bản luận văn tiến sỹ của mình mang tên Lý thuyết đầu cơ. Bachelier lúc đó đã 30 tuổi và đã làm việc trong Bourse – sàn giao dịch cổ phiếu của Pháp. Câu hỏi ông đặt ra cũng chính là điều mà chúng ta quan tâm: làm thế nào dự đoán được giá trị tương lai của một cổ phiếu dựa vào thông tin hiện tại? Để trả lời câu hỏi này, ông đã đưa ra ý tưởng rằng giá cổ phiếu đi theo một “bước đi ngẫu nhiên”. Theo như tôi biết, ông ta ngay lập tức kết nối ý tưởng này với một vấn đề trong vật lý vốn sẽ được giải quyết bởi Einstein vào năm 1905. Chắc chắn rằng Einstein chưa bao giờ nghe nói đến tên Bachelier. Rất ít người biết đến ông cho đến khi ông được nhắc đến vào những năm 1905 bởi các nhà kinh tế học như Paul Samuelson.
214-nhung-dieu-ban-can-biet-de-co-the-hieu-ve-tin-tuc-tai-chinh-3.png
Vấn đề chính của câu hỏi trên vốn được khuyến khích bởi khám phá của nhà thực vật học người Scotland tên Robert Brown vào năm 1827. Ông ta tuyên bố rằng khi để các hạt phấn hoa cực nhỏ trôi lơ lửng trên mặt nước, các hạt này sẽ tuân theo các chuyển động ngẫu nhiên được gọi là “chuyển động Brown”. Đầu tiên, Brown cho rằng các hạt này còn sống nên mới có các chuyển động như vậy. Nhưng khi ông thử với tất cả các loại hạt khác bao gồm cả bồ hóng từ London và tất cả đều đưa ra cùng kiểu chuyển động. Xuyên suốt thế kỷ 19, đây vẫn là một câu đố mặc dù đáp án chính xác đã được phỏng đoán: các hạt lơ lửng bị tác động từ khắp mọi hướng bởi các phân tử vô hình sôi động trong chất lỏng chứa các hạt. Tuy nhiên, vẫn có ý kiến phản đối.

Họ lập luận rằng nếu các hạt bị tác động từ mọi hướng, làm thế nào nó có thể di chuyển tự do được? Sau khi chịu tác động đầu tiên và lêch về một hướng, khá chắc chắn rằng tác động thứ hai sẽ ngược hướng với tác động thứ nhất. Hạt lại tiếp tục bị lệch theo một hướng mới. Einstein là người khiến vấn đề này trở nên có thể định lượng. Ông cũng cho thấy khoảng cách trung bình một hạt di chuyển từ vị trí ban đầu trong một khoảng thời gian t sẽ tỷ lệ với căn bậc hai của t, điều này đã được kiểm chứng qua thực nghiệm. Như đã đề cập, tôi không tìm ra bất cứ thứ gì cho thấy Bachelier có tham khảo chuyển động Brown trong công trình của mình.

Vấn đề Bachelier đưa ra là: giả sử, bạn biết được giá cổ phiếu hiện tại, xác suất giá cổ phiếu trong tương lai đạt một mức nào đó là bao nhiêu? Ông giải quyết vấn đề bằng cách cho rằng xác suất trong tương lai có thể tính được qua một số bước, trong đó, khả năng tăng giá và giảm giá của cổ phiếu là như nhau. Bước đi ngẫu nhiên này đưa ra khái niệm “thị trường hiệu quả”. Trong đó, giá sẽ được thiết lập bởi các điều kiện thị trường và các dao động bất thường không ảnh hưởng đáng kể. Không mô hình nào có thể giúp bạn thắng được thị trường.

Thực tế, tất cả các trường hợp đầu cơ đều dựa trên giả định là lý thuyết trên sẽ sai, ít nhất là trong ngắn hạn. Là một người trong lãnh vực lý thuyết xác suất, Bachelier nhận ra rằng với giả định của mình, khi số bước tăng, giảm tăng lên, xác suất sẽ tiến đến một phân phối chuẩn dạng hình chuông. Từ đó, ông có thể dự đoán được mức giá có thể xảy ra nhất. Ở đây ta sẽ đề cập đến những yếu tố chủ chốt. Một tính chất của đường cong hình chuông là nó có các “đuôi”. Luôn tồn tại một xác suất khác 0 dù giá trị ta quan tâm có cách xa các giá trị có thể xảy ra nhất bao nhiêu đi nữa. Bạn có thể cho rằng thật phi lý khi lo lắng về các sự kiện ít khả năng xảy ra nhưng hãy nhớ lời Ngài Keynes đã nói:”Thị trường có thể duy trì sự phi lý lâu hơn khả năng thanh toán của bạn.”

Bachelier áp dụng phương pháp của mình vào công cụ phái sinh – quyền chọn nhưng có một thứ ông vẫn còn thiếu đó là sự chênh lệch giá, đánh bại thị trường bằng cách phòng hộ.
Điều này đã được sửa chữa vào những năm 1970 chủ yếu bởi 3 nhà kinh tế học: Myron Scholes, Fischer Black và Robert Merton. Merton và Scholes lúc đó đang thuộc MIT trong khi Black là một nhà tư vấn cho công ty Arthur D. Little. Scholes và Merton cùng nhận giải Nobel kinh tế vào năm 1997. Black mất trước đó 2 năm. Công trình được hoàn thành một cách độc lập giữa Merton với Black-Scholes. Câu thần chú của những nhà phân tích tài chính định lượng – còn được gọi là các “quant” – chính là phương trình Black-Scholes. Nó được sinh ra theo cách Bachelier có thể nắm được. Các giả định giống như trong chuyển động Brown cũng được sử dụng. Giải pháp sẽ cho chúng ta biết cách định giá quyền chọn. Với một nhà khoa học như tôi đó thật sự là một vấn đề hấp dẫn. Ví dụ, trong cơ học lượng tử, sử dụng toán trong lý thuyết ta sẽ dự đoán được các kết quả có khả năng xảy ra của các thí nghiệm trong tương lai với dữ liệu hiện tại. Lúc này ta lại dùng những kết quả có thê xảy ra trong tương lai để xét đến hiện tại. Trong cơ học lượng tử, ta thậm chí không thề mô tả được quá khứ vì tồn tại nhiều quá khứ khác nhau các xác suất khác nhau.

Phương pháp của Merton thì khác, đây là loại phương pháp thường được sử dụng bởi những người trong lãnh vực. Ông cho thấy quyền chọn thực có thể được thay thế bởi một quyền chọn “giả” bao gồm cổ phiếu và tiền mặt, vốn sẽ cho ra kết quả như quyền chọn thực. Thực tế bạn không cần phải xem xét quyền chọn thực như ta đã xem ở mô hình đơn giản trên. Cổ phiếu mua được bằng tiền vay ngân hàng cùng với 10$ đã tái tạo ra một quyền chọn. Khi điều này được hiểu rõ, các quant sẽ có rất nhiều việc để làm. Điều này đặc biệt đúng vì khi các điều kiện thị trường thay đổi, sự kết hợp giữa cổ phiếu và tiền mặt cũng phải được hiệu chỉnh. Điều này không thể được thực hiện bằng tay mà phải bằng máy tính. Làm việc với công cụ phái sinh giống như làm việc với một lỗ đen vậy. Hơn nữa, có một vấn đề quan trọng với mô hình này. Bạn chỉ có thể nhận ra nó không hiệu quả sau khi nó dẫn đến một thảm họa tài chính. Điều này đã từng xảy ra vào năm 1987 và lặp lại vào năm 1998, và gần đây nhất là năm 2008. Đây là đối tượng cho phần tiếp theo – phái sinh 301.

Phái sinh 301
John Meriwether sinh năm 1947 tại Chicago. Thời niên thiếu ông từng nhận được học bổng dành cho các cậu bé vác gậy golf và ông dùng học bổng này để theo học tại đại học Northwestern. Sau khi tốt nghiệp, ông giảng dạy tại đại học được một năm rồi tiếp tục theo học kinh doanh tại đại học Chicago.

Một người bạn cùng lớp của ông là Jon Corzine. Năm 1973, Meriwether vào làm cho Solomon ở New York, trước khi xảy ra cuộc cách mạng về kỹ thuật tài chính. Sau khi cuộc cách mạng xảy ra, Meriwether xây dựng một nhóm chuyên về đầu cơ chênh lệch giá tại Solomon. Cách làm việc của ông không thay đổi. Ông tìm những người thông minh nhất, thậm chí là những người thông minh hơn ông, không quan trọng việc họ luộm thuộm ra sao. Ông ta làm cho tôi có cảm giác ông ta muốn chứng tỏ nhóm của mình gồm những người thông minh nhất hơn cả việc ông ta muốn kiếm tiền.

218-nhung-dieu-ban-can-biet-de-co-the-hieu-ve-tin-tuc-tai-chinh-p2-1.png ​

Vào năm 1994 Meriwether thành lập một quỹ phòng hộ tên Long Term Capital Management – LTCM – ở Greenwich, Connecticut. Ông thuê Merton và Scholes về làm việc cho mình. Họ đã trở nên mạnh hơn bao giờ hết. Họ khai thác từng triệt để các mô hình máy tính.Có lúc kết quả nhận được thật tuyệt vời, ghi nhận lợi nhuận 40% cho các nhà đầu tư. Quỹ đã có thể quản lý một nghìn tỷ đô-la, vượt hơn tất cả các ngân hàng đầu tư lớn. Nhưng 4 năm sau đó, bong bóng nổ tung và trong vòng chưa đầy 4 tháng năm 1998, họ mất gần 5 tỷ đô-la. Tệ hơn nữa là đó không phải tiền của họ, họ đã sử dụng đòn bẩy. Khi các định chế tài chính cho LTCM vay tiền nhận ra con tàu LTCM đã đâm vào tảng băng trôi, họ muốn lấy lại tiền của mình. Lúc này LTCM không còn tiền để trả các khoản vay nữa. Thực tế, Meriwether đã cố gắng mượn thêm tiền với niềm tin rằng nếu có thêm thời gian, con tàu của họ có thể phục hồi. Kết quả thế nào?

Ba thảm họa tôi đề cập có một điểm chung. Một công cụ tài chính nào đó được tạo ra có thể sẽ không thất bại khi thị trường còn hoạt động một cách duy lý, các “đuôi” của đường cong hình chuông không xảy ra. Là một nhà vật lý học, tôi xem những thứ này theo góc nhìn tương tự như sự cân bằng nhiệt. Nếu bạn có một luồng khí trong một nhiệt độ nhất định, bạn có thể dự đoán được mức năng lượng trung bình nó có. Nhưng sẽ luôn có những dao động – sự biến động so với mức trung bình. Trong hầu hết trường hợp, các dao động này bị triệt tiêu. Trong trường hợp nó không bị triệt tiêu chúng ta sẽ có một luồng hơi nóng ít nhất là trong một lúc. Trong trường hợp LTCM, có một công cụ được biết đến với tên gọi “giao dịch hội tụ”. Tôi sẽ giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến những sự sụp đổ khác.

Đầu tiên là giao dịch hội tụ. Ví dụ: bạn có 2 trái phiếu kho bạc, một cái sẽ đáo hạn trong 30 năm, cái kia sẽ đáo hạn trong 29 năm. Giả sử trái phiếu thứ hai được giao dịch với giá thấp hơn trái phiếu thứ nhất. Thật hợp lý khi cho rằng đây là một dao động tạm thởi và khoảng chênh lệch này sẽ tiến đến 0 khi các trái phiếu tiến đến ngày đáo hạn. Ta sẽ thu được lợi nhuận như sau: bán khống trái phiếu mắc (tức là ta sẽ mượn trái phiếu từ ngân hàng và bán chúng ngay lập tức). Nếu đúng như ta dự đoán ở trên, giá của trái phiếu này sẽ giảm khi 2 trái phiếu hội tụ lại và ta sẽ có thể mua trả trái phiếu ở mức giá thấp hơn. Nhưng giả sử giá trái phiếu lại tăng lên và chi phí ta cần để mua trả trái phiếu tăng lên thì sao? Nếu đây là một dao động ngắn, ta chỉ việc ngồi đợi đến khi mọi thứ trở lại quỹ đạo của nó. Nhưng nếu không thì sao, nếu khoảng cách giá cứ ngày càng lớn hơn thì sao? Xem như chúng ta “tiêu đời”. LTCM cũng vậy.

Dấu hiệu đầu tiên của thảm họa xuất hiện ở Thái Lan vào mùa hè năm 1997 với sự sụp đổ của đồng tiền khiến cho nhân dân các nước khu vực Thái Bình Dương phải tìm các nơi đầu tư khác, như trái phiếu kho bạc của chúng tôi, vốn có vẻ bảo đảm hơn. Mọi chuyện trở thành một cơn hoảng loạn khi Nga ngưng chi trả cho các khoản nợ của mình vào tháng 8 năm 1998. Mọi người đổ xô kiếm tìm sự an toàn cho mình. LTCM đã sử dụng chiến thuật giao dịch hội tụ của mình ở khắp nơi, họ thậm chí có văn phòng ở cả Nhật Bản. Các khoản chênh lệch cứ tiếp tục gia tăng và LTCM ngày càng trở nên tuyệt vọng. Họ lâm vào một tình cảnh rắc rối, LTCM đang kẹt trong một món nợ khoảng 120 tỷ đô-la, một vài chủ nợ của nó là các định chế tài chính uy tín và quan trọng nhất nước. Ở đây ta nên nhắc lại vai trò của Bear Stearns trong chuyện này. Bear Stearns là nhà môi giới lớn nhất của LTCM. Họ giữ một khoản dự trữ cho LTCM. Nếu khoản dự trữ này tuột xuống dưới 500 triệu đô-la, Bear Stearns sẽ không giao dịch cho LTCM nữa. Vào tháng 9, khi Bear Stearns nhận thấy tài sản của LTCM đang suy giảm, họ đòi một khoản 500 triệu bổ sung. Meriwether cố gắng mượn thêm tiền từ khắp nơi, kể cả từ người bạn học cũ là Jon Corzine ở Goldman Sachs, nhưng không được. Vấn đề là sổ sách của LTCM vẫn đóng kín, không ai từ bên ngoài có thể xem xét chi tiết sổ sách của nó.

Kết cuộc diễn ra vào chủ nhật 20/09 khi đại diện của Fed ở New York và các ngân hàng như Goldman Sachs và JP Morgan đến Greenwich để xem xét vấn đề LTCM một cách trực tiếp. Hóa ra các ngân hàng này không biết gì về các chiến thuật giao dịch ngoài sổ sách của LTCM dù họ là chủ nợ của nó với các khoản nợ hàng tỷ đô-la. Rõ ràng là LTCM đã trở nên quá lớn để sụp đổ vì nó sẽ kéo theo một loạt các định chế tài chính lớn và toàn thể cấu trúc tài chính có thể sụp đổ. LTCM bị bán tháo và một trong những người muốn mua nó không ai khác chính là Warren Buffet, người đã đưa ra những điều kiện rất cứng rắn như sa thải toàn bộ ban quản trị của LTCM. Meriwether từ chối và cuối cùng 13 ngân hàng phải mua LTCM rồi đóng cửa nó. Trước khi chuyển sang trường hợp 1987 và 2008, tôi sẽ đưa ra một số khái niệm quan trọng khác.

LIBOR
Vài năm trước, tôi có thưc hiện một vụ đầu tư nhỏ vào một quỹ được Merill Lynch tiến cử. Tôi được bảo rằng lợi nhuận sẽ được hiệu chỉnh theo LIBOR. Khi tôi hỏi đó là gì thì người ta bảo đó là từ viết tắt của cụm Lãi suất liên ngân hàng London. Tôi không hiểu tại sao mức lãi suất này lại ảnh hưởng như thế nhưng lúc đó tôi không có hứng thú tìm hiểu thêm. Tôi đã bán cổ phiếu của quỹ đó từ lâu và không nghĩ gì về nó nữa ngoài việc LIBOR xuất hiện trở lại trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện tại. Điều này khiến tôi muốn tìm hiểu về nó hơn.

Khá ngạc nhiên là LIBOR chỉ mới được xây dựng gần đây thôi. Nó được hình thành một cách không chính thức từ năm 1984 nhưng đến 1/1/1986 nó mới trở nên chính thức. Đó là giải pháp cho việc có nhiều loại công cụ tài chính mới xuất hiện trong nhiều chính sách lãi suất khác nhau. Nó được xét đến như một sự đồng bộ hóa. Về cơ bản, vào lúc 11h sáng, có 16 ngân hàng London sẽ cung cấp cho văn phòng trung ương mức lãi suất mà họ có thể cho các ngân hàng khác vay, với thế chấp là tài sản của họ. Cách xác định mức lãi suất này là một lãnh vực khoa học-nghệ thuật vì trước khi xác định mức lãi suất, các ngân hàng không thực hiện giao dịch.

Với những người hay nghi ngờ, câu hỏi đầu tiên là nếu những lãi suất này được dùng để thiết lập tất cả các mức lãi suất khác trên toàn thế giới, liệu có ngân hàng nào trong 16 ngân hàng London đặt một chút “bản sắc Anh quốc” vào mức lãi suất của mình không. Câu trả lời là văn phòng nhận các mức lãi suất ở Docklands, London sẽ tìm những dấu hiệu bất thường. Hơn nữa, khi tính giá trị trung bình của các lãi suất nhận được để đưa ra LIBOR trong ngày, mức lãi suất cao nhất và thấp nhất sẽ bị loại ra. Tại sao LIBOR lại trở nên có ảnh hưởng như vậy? Đó là do mối liên hệ của nó với mức lãi suất các quỹ liên bang. Đây là mức lãi suất được thiết lập hàng tháng bởi Ủy Ban Dự Trữ Liên Bang Thị trường Mở. Nó xác định mức lãi suất mà các ngân hàng Mỹ trong hệ thống cho vay lẫn nhau và mức lãi suất mà Cục Dự Trữ Liên Bang cho các ngân hàng thành viên vay. Mục tiêu của nó trở nên rõ ràng. Nếu lãi suất được nâng lên, thị trường sẽ được làm dịu đi và ngược lại. LIBOR giống như là một phép thử vậy. Trong điều kiện bình thường, lãi suất các quỹ liên bang và LIBOR bám vào nhau, trong đó, lãi suất quỹ sẽ thấp hơn LIBOR khoảng 1%. Nhưng gần đây, mọi chuyện khác hẳn. Lãi suất quỹ là 1.5% trong khi LIBOR đã lớn hơn 4%. Nó phản ảnh việc các ngân hàng Anh cố gắng hạn chế việc cho vay lẫn nhau. Đó là dấu hiệu cho thấy đang có vấn đề xảy ra.

Hợp đồng chuyển đổi rủi ro tín dụng (CDS)

218-nhung-dieu-ban-can-biet-de-co-the-hieu-ve-tin-tuc-tai-chinh-p2-2.gif ​

CDS là một dạng bảo hiểm nhưng không chỉ có vậy. Nó được gọi là hợp đồng chuyển đổi chứ không phải là một chính sách bảo hiểm vì cái cách mà nó được quản lý không giống với bảo hiểm. Để hiểu được mức độ rộng lớn của loại hợp đồng này, bạn nên biết giá trị của các khoản lỗ được bảo hiểm trên toàn thế giới là khoảng 55 nghìn tỷ đô-la! Nó bằng với GDP của cả thế giới! Nhưng nó không thể hiện sự gia tăng năng suất. Nó đơn giản chỉ là các công cụ tài chính cho việc tạo ra/làm mất một lượng tiền khổng lồ trong thời gian ngắn. Người mua CDS sẽ trả người bán một khoản tiền để bảo hiểm cho rủi ro vỡ nợ của một khoản thế chấp hay một phần của một gói các khoản thế chấp. Nhưng bản thân các CDS cũng có thể được giao dịch. Vì toàn bộ thị trường không được quy định chặt chẽ nên chúng ta sẽ không biết được những người khác có gì trong tay cho đến khi xảy ra một vụ vỡ nợ và một người phải đền bù cho nó. Và vì cùng lý do trên, nên không có một khoản tiền xác định mà người bán CDS phải nắm giữ để thanh toán các phí tổn khi sự vỡ nợ xảy ra. Những sự kiện xảy ra trong thị trường thế chấp có thể khiến cho các đối tác phải phá sản. Đó là điều lẽ ra đã xảy ra với AIG, vốn nắm giữ 440 tỷ đô-la các hợp đồng chuyển đổi mà họ sẽ phải chịu trách nhiệm. Khi được chính phủ cứu trợ, những nhà điều hành của công ty ăn mừng bằng các tổ chức một chuyến săn gà gô cực kỷ tốn kém ở Anh quốc. Hãy để họ thưởng thức gà gô của mình.

Hạch toán theo giá trị thị trường
“Hạch toán theo giá trị thị trường” lá một giao thức kế toán áp dụng các phương pháp kế toán vốn được dùng cho cổ phiếu lên các công cụ tài chính khác. Nếu bạn có một cổ phiếu, khi thị trường đóng cửa, giá cổ phiếu sẽ được niêm yết, đó là sự bám theo giá trị thị trường. Nếu ai đó muốn biết giá trị tài sản thuần của bạn, bạn sẽ cộng thêm giá trị cổ phiếu được niêm yết trên vào, chứ không phải một mức giá tương lai nào đó. Nhưng nếu giá trị cổ phiếu mơ hồ và không xác định được thì sao? Lúc đó, nếu bạn là một kế toán thông minh và không quá chú trọng các tiêu chuẩn đạo đức, bạn có thể bám theo giá thị trường với mức thu nhập kỳ vọng trong tương lai, như vậy bạn có thể thổi phồng giá trị hiện tại của doanh nghiệp mình. Đó là điều mà Enron đã làm.

Cuộc khủng hoảng năm 1987
Cuộc sụp đổ của thị trường cổ phiếu năm 1987, cùng với Ngày Thứ Sáu Đen Tối 19/10 khi chỉ số Dow mất 22.6% giá trị, là một mô hình hoàn hảo cho thấy những vần đề có thể xảy ra khi những người thông minh nhất không suy xét mọi chuyện thông suốt. Trong trường hợp này, một nguyên nhân gần đúng nhất là “bảo hiểm danh mục đầu tư. Hãy quay về mô hình đồ chơi để có thể hình dung được khái niệm trên. Gải sử tôi có một cổ phần cùa Horse Feather có giá 100$ tại thời điểm hiện tại với mức chi trả cổ tức cao. Tôi cần một mô hình để có thể giữ cổ phần đó một thời gian mà không bị lỗ. Tôi có thể làm như sau: bán khống một cổ phiếu trong khi vẫn giữ cổ phiếu của mình, sau thời gian muốn giữ cổ phiếu, có hai trường hợp: giá cổ phiếu tăng lên 120$ hoặc giảm xuống 80$. Trong trường hợp thứ nhất, tôi sẽ trả lại khoản bán khống ban đầu bang cổ phiếu của mình. Trong trường hợp thứ hai, tôi lấy 80$ để mua cổ phiếu trả lại, tôi còn 20$ và một cổ phiếu. Cả 2 trường hợp tôi đều không mất gì cả, việc bảo hiểm đã hoạt động rất tuyệt. Vậy vấn đề là ở đâu?

Vấn đề của mô hình chính là ở giả định: việc bán khống không ảnh hưởng đến thị trường. Nhưng khi quá nhiều người dùng phương pháp này thì nếu thị trường đi xuống, họ sẽ bán cổ phiếu ra, việc này khiến thị trường càng xuống sâu hơn – một ví dụ điển hình cho việc phản hồi tiêu cực. Việc này có thể sẽ không xảy ra nếu những thiên tài tài chính suy nghĩ thông suốt hơn.

Cuộc khủng hoảng năm 2008
Chúng ta vẫn chịu ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng này nên không thể đưa ra kết cục của nó. Cuộc khủng hoảng này bắt đầu với việc bong bóng nhà đất nổ tung. Giả sử không phải bong bóng nhà đất mà là bong bóng hoa tulip, khi đó, nếu quy luật cung cầu vẫn đúng, khi số hoa tulip giảm, giả sử mọi người vẫn thích hoa tulip, giá sẽ tăng. Nhưng với nhà thì khác, khi giá nhà giảm, mọi người gặp vần đề với các khoản thế chấp của họ. Do đó sẽ nhiều nhà bị tịch thu và số lượng nhà bán sẽ tăng lên làm giảm giá nhà xuống thấp hơn – phản hồi tiêu cực lại xảy ra. Khi viết những dòng này, tôi không biết khi nào mọi chuyện sẽ kết thúc.

Nguồn: QuantNet, dịch bởi VnQuants
Tác giả: Jeremy Bernstern

———————–&&———————

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: