Hệ thống các tài khoản quốc gia: ứng dụng và một số bất cập ở Việt Nam

Hệ thống các tài khoản quốc gia: ứng dụng và một số bất cập ở Việt Nam

(Nguồn: csdp.vn)

Giới thiệu

Hệ thống các tài khoản quốc gia (SNA – System of National Accounts) của Liên Hợp Quốc được các nhà kinh tế hàng đầu thế giới đứng đầu là Richard Stone (giải Nobel về Kinh tế năm 1984) đưa ra. Hệ thống này tập hợp một cách hệ thống các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng nhằm mô tả và phân tích các các hiện tượng kinh tế cơ bản. SNA mô tả quá trình lưu chuyển sản phẩm và tiền tệ trong một quốc gia. Nó là một tập hợp đầy đủ, phù hợp và linh hoạt các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, những chỉ tiêu này được xây dựng trên các khái niệm, định nghĩa và quy tắc chuẩn mực được thừa nhận trên phạm vi toàn thế giới. SNA phục vụ nhiều mục đích khác nhau, trong đó mục đích cơ bản là cung cấp thông tin để phân tích và hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô làm cơ sở cho các nhà quản lý và lãnh đạo các cấp giám sát, nghiên cứu, điều hành và ứng xử với nền kinh tế.

Có thể nói việc tập hợp các chỉ tiêu kinh tế đã hình thành từ thế kỷ 17. Năm 1665, William Petty và Gregory King (1688) đã đưa ra các chỉ tiêu nhằm đánh giá thu nhập quốc gia và chi tiêu dùng cuối cùng. Vào thế kỷ 18, các nhà kinh tế Pháp theo trường phái Trọng nông thu hẹp khái niệm về thu nhập quốc gia: họ quan niệm chỉ có ngành nông nghiệp và khai thác trực tiếp từ thiên nhiên mới thuộc phạm trù sản xuất. Tuy nhiên, đóng góp của trường phái này về mặt học thuật là rất quan trọng: năm 1758 một thành viên của phái Trọng nông là Francois Quesnay đã xây dựng “Lược đồ kinh tế” (Tableou Economique) mô tả mối quan hệ liên ngành trong nền kinh tế. Mô hình này được xem như tiền đề của bảng Cân đối liên ngành (Bảng I/O: Input – Output Table) của Leontief sau này.

Adam Smith đã phê phán tư tưởng của trường phái Trọng nông, một mặt ông thừa nhận vai trò của công nghiệp chế biến trong nền kinh tế; mặt khác, ông và Karl Marx không thừa nhận vai trò của các ngành dịch vụ trong nền kinh tế. Quan điểm này được thể hiện trong “Hệ thống các bảng kinh tế quốc dân – MPS“ được áp dụng tại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa cho tới những năm 90 của thế kỷ 20.

Vào cuối thập niên 30 của thế kỷ trước, John Maynard Keynes đưa ra lý thuyết tổng quát nhằm giải thích hiện tượng đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933. Lý thuyết này đã làm thay đổi quan niệm chỉ sử dụng khái niệm thu nhập quốc gia như là cách đánh giá duy nhất của một quốc gia của các nhà kinh tế thời kỳ đó (Việt Nam hiện nay đang gặp vấn đề này, khi GDP được coi như chỉ tiêu duy nhất đánh giá tình hình phát triển kinh tế của đất nước). Dựa trên lý thuyết tổng quát của Keynes và lược đồ kinh tế của Quensnay, năm 1941 Wassily Leontief đưa ra mô hình cân đối liên ngành (còn gọi là bảng I/O). Ông công bố công trình này trong nghiên cứu “Cấu trúc của nền kinh tế Hoa kỳ”.

Đầu những năm 1950, nhu cầu so sánh quốc tế đã thúc đẩy việc xây dựng hệ thống hạch toán quốc gia theo chuẩn mực quốc tế. Năm 1953, Liên Hợp Quốc đã xây dựng Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) đầu tiên dựa trên báo cáo của nhóm nghiên cứu trường đại học Cambridge (Anh) do Richard Stone đứng đầu. Đây cũng là phiên bản đầu tiên của Hệ thống tài khoản quốc gia còn gọi là SNA 1953.

Sau một thời gian áp dụng, cơ quan Thống kê Liên Hợp Quốc (UNSTAT) đã sửa đổi và kết hợp toàn diện các lý thuyết kinh tế và công bố SNA mới vào năm 1968 (SNA 1968). Phiên bản này cũng do chính Richard Stone đứng đầu nhóm sửa đổi (còn gọi là nhóm Cambridge). Ông xây dựng hệ thống này với mô hình I/O là trung tâm về ý niệm cũng như cách hạch toán. Sau đó, do kinh tế thế giới phát triển nhanh ÚNTAT thấy cần thống nhất về ý niệm và định nghĩa với các tổ chức khác như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ủy ban Thống kê Châu Âu (EUROSTAT), Tổ chức hợp tác và phát triển Châu Âu (OECD), Tổ chức thương mại thế giới (WTO), v.v. Những thành viên của các tổ chức này và chuyên gia kinh tế của các nước thành viên nhóm họp và SNA 1993 ra đời.

Trong thời kỳ 1954-1975, Việt Nam bị chia làm 2 miền thuộc 2 chế độ chính trị khác nhau. Ở miền Bắc, ngành Thống kê áp dụng phương pháp luận “Hệ thống các bảng cân đối vật chất-MPS”. Còn ở miền Nam, Viện Thống kê thuộc chính quyền Sài Gòn áp dụng “Hệ thống các tài khoản quốc gia-SNA”. Thời kỳ 1976-1988 đất nước thống nhất, ngành Thống kê áp dụng MPS cho phạm vi cả nước. Từ năm 1989 đến nay, ngành Thống kê Việt Nam áp dụng SNA trên phạm vi toàn quốc. Ngày 25 tháng 12 năm 1992, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định 183/TTg về việc chính thức áp dụng hệ thống SNA trên phạm vi cả nước thay cho hệ thống MPS trước đây.
Thực trạng việc áp dụng Hệ thống tài khoản quốc gia ở Việt Nam

Cuộc “Đại khủng hoảng 1929-1933” đã ảnh hưởng sâu sắc tới suy nghĩ của Keynes về kinh tế học. Trước đó, các nhà kinh tế cho rằng mỗi khi có khủng hoảng kinh tế thì giá cả và tiền công sẽ giảm đi, các nhà sản xuất sẽ có động lực đẩy mạnh thuê mướn lao động và mở rộng sản xuất, nhờ đó nền kinh tế sẽ phục hồi. Nhưng Keynes quan sát cuộc Đại Khủng hoảng và thấy tiền công không hề giảm, việc làm cũng không tăng và sản xuất mãi không hồi phục nổi. Từ đó, Keynes cho rằng thị trường không hoàn hảo như các nhà kinh tế học cổ điển nghĩ.

Những suy nghĩ mới mẻ của ông được ghi chép lại trong cuốn Chuyên luận về tiền tệ công bố năm 1931 và nhất là trong cuốn Lý thuyết tổng quát. Lý thuyết của Keynes lấy nguyên lý cầu hữu hiệu là nền tảng. Ý niệm cơ bản của nguyên lý này là lượng cung hàng hoá được quyết định bởi nhu cầu và quan hệ cơ bản của ông được xác định dựa trên tổng cầu cuối cùng (ngành Thống kê Việt Nam gọi là sử dụng cuối cùng) và GDP cũng được xác định dựa vào đó:

GDP = C + G + I + E –M

Trong công thức này, C là chi tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình; G là chi tiêu dùng của Chính phủ; I là tích luỹ gộp tài sản cố định; E và M là xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ.

Đây là ý tưởng cơ bản của chỉ tiêu GDP. Sau khi SNA 1968 ra đời lấy bảng cân đối liên ngành (I/O Table) là trung tâm thì GDP được xác định có thể tính bằng 3 phương pháp:

  • Phương pháp sử dụng cuối cùng (The Final Expenditure Approach
  • Phương pháp sản xuất (The Production Approach), và
  • Phương pháp phân phối (Income Approach – Vụ Hệ thống Tài khoản Quốc Gia (HTTKQG) quen gọi là phương pháp phân phối)

Đây là 3 phương pháp tiếp cận thông tin để tính toán chỉ tiêu GDP. Tuy nhiên, về ý niệm cần nhìn nhận GDP từ tổng cầu cuối cùng (sử dụng cuối cùng) là sự phản ánh chính xác nhất. Thực trạng hiện nay ở Việt Nam là hầu hết các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách luôn hướng suy nghĩ vào phía tổng cung – coi GDP bằng tổng giá trị tăng thêm của các ngành cộng thuế nhập khẩu.
Một số vấn đề cần xem xét hoàn thiện

Trong tháng 8 vừa qua Vụ HTTKQG có đợt đi một số tỉnh thành phố để đôn đốc và rà soát cuộc điều tra GDP quý theo phương pháp sử dụng cuối cùng, khắc phục sự chênh lệch số liệu giữa trung ương và địa phương, phương pháp tính và nguồn số liệu trong việc tính “GDP” của các tỉnh. Chúng tôi thấy nổi lên một số vấn đề về mặt nguyên lý và chuyên môn như sau:

1. “GDP” tỉnh, thành phố
Theo định nghĩa của Wikipedia thì đối với một tỉnh hoặc vùng “GDP” được gọi là GRDP (Gross Regional Domestic Products) hoặc GDPR (Gross Domestic Products of Region). Theo tài liệu khác của UNSTAT thì gọi là GRP (Gross Regional Products). Như vậy chỉ tiêu này đối với cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc vùng có thể gọi là GRDP, GDPR hoặc GRP nhưng không nên gọi là GDP. Chỉ ở tầm quốc gia mới nên gọi là GDP.

Chúng tôi đưa ra những tham khảo trên bởi có khá nhiều ý kiến trên các phương tiện thông tin đại chúng cho rằng không có “GDP” theo tỉnh/thành phố. Qua tham khảo tài liệu và thực tiễn khảo sát tại một số nước, thì chỉ tiêu này được tính đến nhưng với tên gọi khác (GRDP, GRP hoặc GDPR tuỳ theo các nước sử dụng), nhưng bản chất vẫn là như vậy. Thậm chí một số bang của Hoa Kỳ còn lập bảng Cân đối liên ngành liên hạt (Inter-County Input – Output Framework) nhằm mục đích xem xét nghiên cứu đến những vùng/hạt có ảnh hưởng nhiều nhất đến chủ thể kinh tế ngoài những ngành là trọng điểm cần ưu tiên.

Chỉ tiêu GRP về nguyên tắc cũng được tính bằng 3 phương pháp với một số quy định:

Đối với Phương pháp sử dụng cuối cùng:

  • Tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình vẫn dựa trên nguyên tắc thường trú và không thường trú.
  • Tích luỹ gộp tài sản bao gồm tất cả các tài sản tồn tại trên địa bàn, bao gồm cả các công trình xây dựng như cầu cống, đường xá, nhà cửa… của TW hoặc các tỉnh khác đến xây dựng.
  • Xuất khẩu bao gồm xuất khẩu ra nước khác và xuất khẩu ra các tỉnh khác, khi người không phải thường trú của tỉnh tiêu dùng phải xem như xuất đi tỉnh khác.
  • Nhập khẩu bao gồm nhập từ nước ngoài và nhập từ các tỉnh khác. Khi người là thường trú trong tỉnh đí ra tỉnh khác tiêu dùng phải được tính như nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ từ tỉnh khác.

Về Phương pháp sản xuất và thu nhập: Do rất khó có nguồn thông tin để tính toán chỉ tiêu GRP bằng phương pháp sử dụng cuối cùng, các tỉnh thành phố theo hướng dẫn của Vụ HTTKQG tính toán chỉ tiêu GRP theo phương pháp sản xuất và thu nhập và cũng được dựa trên nguyên tắc thường trú và không thường trú.

Qua khảo sát thấy có nhiều trường hợp công trình xây dựng tồn tại ở tỉnh A nhưng giá trị tăng thêm năm bắt đầu xây dựng lại được tính cho tỉnh B. Như vậy, để cân bằng Cung và Cầu của mỗi tỉnh cần đưa vào xuất nhập khẩu dịch vụ của mỗi tỉnh. Ví dụ: khi công trình xây dựng được thực hiện ở tỉnh A thì về phía Cầu tỉnh A ghi nhập khẩu dịch vụ xây dựng của tỉnh khác và tỉnh B ghi xuất khẩu dịch vụ xây dựng sang tỉnh A. Việc xác định về phạm vi và phương pháp hạch toán (tính) GRP cần tường minh điểm này. Hiện nay tuy cách tính toán và suy nghĩ hoàn toàn từ phía cung (VA) trong khi lại đề nghị các tỉnh thành phố tính các công trình xây dựng kiểu này vào là lại nhìn vấn đề từ phía cầu. Việc nhất quán mang tầm chiến lược trong điều hành nghiệp vụ là rất quan trọng trong việc tính toán và hiểu biết về nền kinh tế thông qua chỉ tiêu GDP và GRP ở hiện tại và trong tương lai.
2. Quá trình hình thành giá của một sản phẩm

Về quá trình hình thành giá của một sản phẩm từ khi khai sinh ra môn kinh tế học đến nay không có gì là khác biệt dù là MPS hay SNA. Quá trình hình thành giá bắt đầu từ giá cơ bản (MPS gọi là giá thành công xưởng) tức là không bao gồm chi phí vận tải và thương mại trong khâu đưa sản phẩm của mình ra thị trường; khi sản phẩm ra đến “cổng” doanh nghiệp sản phẩm đó phải cộng thêm thuế sản phẩm (thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt thuế xấu và nhập khẩu..) và lúc này sản phẩm được mang giá của nhà sản xuất (PPI – còn gọi là giá sản xuất); khi sản phẩm đó đến với người mua tức là đã bao hàm cả phí lưu thông được gọi là giá người mua hoặc giá thị trường (CPI – các nhà Thống kê Việt Nam dịch là giá sử dụng cuối cùng – theo chúng tôi đây là một sự phiên dịch hoàn chỉnh và hay). Người mua ở đây có thể là người dân hoặc doanh nghiệp. Họ mua vào để sử dụng làm chi phí trung gian cho quá trình sản xuất, hay để xuất khẩu, hay để trong kho do chưa bán được, hoặc làm dự trữ và cũng có thể là sản phẩm đó còn dở dang. Đối với các ngành dịch vụ, do không có phí lưu thông nên giá của nhà sản xuất cũng là giá người mua (sử dụng cuối cùng).

Như vậy khi nói đến giá trị sản xuất thì phải nói đến giá trị sản xuất của ngành (sản phẩm) đó theo giá gì? Chỉ nói giá trị sản xuất mà không biết là giá gì thì đó là một điều vô nghĩa.

Vụ HTTKQG đang tiến hành điều tra nhằm xác định hệ số chi phí trung gian trên giá trị sản xuất dựa trên giá trị sản xuất theo giá của nhà sản xuất, nhưng một điều bất cập từ trung ương đến các tỉnh là giá trị sản xuất của bộ phận công nghiệp lại không rõ ràng là giá gì? Có một điều chắc chắn rằng đấy không phải là giá của nhà sản xuất! Điều này gây rất nhiều khó khăn cho việc tính toán chỉ tiêu giá trị gia tăng cho bộ phận tài khoản quốc gia (TKQG).

Một điều đáng tiếc nữa khi tiến hành cuộc điều tra trên là việc xác định tỷ lệ (mức độ khác nhau) giữa giá trị sản xuất của bộ phận công nghiệp và bộ phận TKQG, tuy đã được thực hiện, nhưng không tổng hợp ra được kết quả cuối cùng.
3. Phương pháp tính GDP/GRP về giá so sánh

Nói đến giá cả là nói đến giá của sản phẩm, bản thân từ “giá của sản phẩm” (hoặc giá trị sản xuất) hoàn toàn không phải giá của giá trị tăng thêm. Hiện nay có 2 hiện tượng là:

+ Áp giá của sản phẩm vào giá trị tăng thêm. Giá trị tăng thêm của khu vực sản xuất sản phẩm vật chất được áp bằng chỉ số giá PPI và khu vực dịch vụ được áp bằng chỉ số giá CPI. Cách làm này đảm bảo yêu cầu thông tin nhanh phục vụ lãnh đạo các cấp, nhưng không hoàn toàn chính xác về mặt lý thuyết.

+ Một phương pháp khác thường được áp dụng là phương pháp giảm phát một lần có nghĩa là tỷ lệ chi phí trung gian trên giá trị sản xuất của giá thực tế và so sánh là như nhau. Khi áp dụng phương pháp này người ta ngầm giả thiết sự thay đổi giá của sản phẩm đầu ra phải giống y hệt sự thay đổi giá của các chi phí đầu vào. Đây là một giả thiết phi thực tế. Ưu điểm của phương pháp này cũng giống như trên là nhanh, phục vụ kịp thời yêu cầu của cấp trên.

Phương pháp cơ bản chuẩn tắc hơn là phương pháp giảm phát 2 lần, có nghĩa là:

+ Giảm phát giá trị sản xuất có được theo giá so sánh.
+ Giảm phát từng nhân tố của chi phí trung gian có được theo giá so sánh.
+ Giá trị tăng thêm theo giá so sánh = GTSX theo giá so sánh – Chi phí trung gian theo giá so sánh.

Tài liệu tham khảo

  • Vũ Quang Việt “GROSS REGIONAL PRODUCTS: CONCEPTS AND COUNTRY PRACTICES”, Statistical Capacity Development in China and Other Developing Countries in Asia, 23rd June 2010
  • Harold T. Moody, Frank W. Puffer “A GROSS REGIONAL PRODUCT APPROACH TO REGIONAL MODEL-BUILDING” Economic Inquiry Volume 7, Issue 4, pages 391–402, December 1969
  • Bui Trinh, Duong Manh Hung, Francisco T. Secretario, Kwang Moon Kim, 2008, Compilation of an multi-region inter-regional input-output. Framework table for the Vietnam’s economy. DEPOCEN working paper series No. 2008/31
  • Bui Trinh, Francisco T. Secritario, Kwang Moon Kim “Economic-Environmental Impact Analysis Based on a Bi-region Interregional I-O Model for Vietnam” International Input – output association, 2005
  • SNA, 1968, 1993

Hà Quang Tuyến, Dương Mạnh Hùng, Bùi Trinh

—————–&&————–

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: