Giải Nobel kinh tế 2004: Kinh tế vĩ mô động – Finn E. Kydland & Edward C. Prescott

Những ý tưởng kinh tế tráng lệ của thế kỷ 20 (Phần 35)

(Nguồn: 60s.com.vn)

Ngày 11 tháng 10 năm 2004, Viện khoa học hoàng gia Thụy Điển quyết định giải khoa học kinh tế của ngân hàng quốc gia Thụy Điển tưởng nhớ Alfred Nobel năm 2004 được đồng trao cho hai giáo sư Finn E. Kydland, Đại học Carnegie Mellon, Pittsburgh và Đại học California, Santa Barbara, Hoa Kì và giáo sư Edward C. Prescott Đại học Arizona, Tempe, Ngân hàng liên bang Minneapolis, Mỹ vì đã có đóng góp cho động lực kinh tế vĩ mô: tính nhất quán theo thời gian của chính sách kinh tế và động lực đằng sau các chu kì kinh doanh.


Lý thuyết mới về chu kì kinh doanh và chính sách kinh tế

Động lực đằng sau những thay đổi bất thường của chu kì kinh doanh và việc thiết kế chính sách kinh tế là những lĩnh vực chủ chốt trong nghiên cứu kinh tế vĩ mô. Finn Kydland and Edward Prescott đã có những đóng góp nền tảng cho những lĩnh vực vô cùng ý nghĩa này, không chỉ đối với phân tích kinh tế vĩ mô, mà còn đối với thực tiễn của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa ở nhiều quốc gia.

Tính nhất quán theo thời gian của chính sách kinh tế

Các hộ gia đình nghĩ rằng hệ thống thuế tư bản càng cao hơn trong tương lai thì họ càng tiết kiệm ít hơn, các doanh nghiệp cho rằng chính sách tiền tệ càng mở rộng hơn và lạm phát sẽ cao hơn trong thời gian tới thì họ càng đặt giá cả và mức lương cao hơn. Các nhà khoa học kinh tế được trao giải hôm nay đã chỉ rõ những ảnh hưởng như thế do kì vọng về chính sách kinh tế trong tương lai có thể làm phát sinh vấn đề tính nhất quán theo thời gian (time consistenc)y. Nếu các nhà tạo quyết định kinh tế không thể cam kết trước về một quyết định nhất định, thì sau đó họ sẽ không thực hiện được đầy đủ chính sách mong đợi đó. Kết quả nghiên cứu của hai giáo sư Kydland and Prescott đã đưa ra một lời giải thích chung cho những sự kiện mà mãi sau đó mới được nhận ra là các thất bại chính sách riêng biệt, đó là các nền kinh tế sẽ lâm vào mức lạm phát cao hơn mặc dù bình ổn giá là mục tiêu đã định của chính sách tiền tệ. Công trình nghiên cứu được vinh danh của họ đã thiết lập nền móng cho một chương trình nghiên cứu quy mô về độ đáng tin và tính khả thi về chính trị của chính sách kinh tế. Nghiên cứu này đã chuyển đổi tranh luận thực tiễn về chính sách kinh tế khỏi các phương sách chính sách biệt lập sang hoạch định chính sách, một thay đổi có ảnh hưởng rộng lớn đến những cải cách của ngân hàng trung ương và việc thiết kế chính sách tiền tệ ở nhiều nước hơn một thập kỉ qua.

Động cơ đằng sau các chu kì kinh doanh

Nghiên cứu của các nhà khoa học được vinh danh hôm nay cũng đã thay đổi lý thuyết chu kì kinh doanh bằng cách kết hợp nó với lý thuyết tăng trường kinh tế. Nhưng chủ yếu là phương pháp của họ đã đặt ra nền móng cho một chương trình nghiên cứu mới và quy mô, nó đã hoàn thiện nhận thức của chúng ta về các chu kì kinh doanh.

Tăng trưởng kinh tế và chu kì kinh doanh

Cho đến đầu những năm 1980, các nhà kinh tế đã nghiên cứu những dao động kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn và dài hạn- những biến đổi xung quanh tăng trưởng dài hạn- như những hiện tượng riêng biệt, với những phương pháp khác biệt. Tăng trưởng dài hạn vốn được coi là chịu sự chi phối của tổng cung, trong đó phát triển về công nghệ là động lực chính. Nhưng những dao động về chu kì kinh doanh lại chịu ảnh hưởng từ những biến đổi trong tổng cầu theo xu hướng tăng trưởng dài hạn. Không có mối quan hệ thực sự nào giữa hai bối cảnh này. Các phân tích chu kì kinh doanh thực nghiệm trước đây dựa trên những tổng quát hóa khá rộng về mối quan hệ giữa các con số chủ chốt như tiêu dùng tư nhân, đầu tư, thu nhập quốc dân và lạm phát. Những mối quan hệ này chủ yếu dựa trên dữ liệu về các sự kiện cũ và ít nhiều có vẻ không thích hợp với môi trường kinh tế vĩ mô ổn định trong thời kì những năm 1950 và 1960. Những mối quan hệ thống kê tương tự đó lại tỏ ra kém thiết thực hơn nhiều trong hoàn cảnh kinh tế vĩ mô hỗn loạn thời kì những năm 1970. Nguyên nhân chủ yếu là những mối quan hệ này không phụ thuộc vào các tham số cơ sở vốn chi phối hành vi của doanh nghiệp và hộ gia đình. Do đó không thể nào dự đoán được ảnh hưởng từ những thay đổi đối với các điều kiện kinh tế cơ sở (mức giá năng lượng khác nhau, thay đổi trong các mục tiêu của chính sách kinh tế, bãi bỏ các quy định, vân vân.) và vì vậy không thể có được những dự báo chính xác trong những trường hợp như thế. Cụ thể, giáo sư Robert Lucas (giải Nobel năm 1996) đã bày tỏ những phê bình ấy, nhưng mãi cho đến khi công bố bài báo nghiên cứu có ảnh hưởng lớn của Kydland và Prescott năm 1982 thì nền tảng của kinh tế vĩ mô mới được thiết lập để phân tích chu kì kinh doanh kinh tế vĩ mô.

Trong bài báo nghiên cứu của họ, Kydland and Prescott đã kết hợp phân tích về chu kì kinh doanh và tăng trưởng nhờ nghiên cứu lực truyền dẫn của các biến đổi ngắn hạn đối với tốc độ tăng năng suất tới các lĩnh vực của nền kinh tế. Họ bố trí mô hình của mình dựa trên các giả thuyết tìm thấy trong các mô hình vi mô thực nghiệm (người tiêu dùng tối đa hóa lợi ích và doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận) và hướng vào các định hướng cho quyết định trong tương lai. Họ chứng tỏ rằng đầu tư và hoạt động của giá cả tương đối sẽ truyền dẫn tác động của tốc độ tăng năng suất tới nền kinh tế, nhờ đó gây ra những dao động ngắn hạn quanh xu hướng tăng trưởng kinh tế dài hạn. Vì mô hình của họ cũng cho thấy những dao động kinh tế vĩ mô hết sức giống với tăng tiêu dùng, đầu tư và thu nhập quốc dân thực tế, nên GDP, Kydland and Prescott đã cho rằng hoạt động theo chu kì có thể bắt nguồn từ những dao động về phía cung của nền kinh tế.

Các bước tiến kế tiếp bước đi của hai nhà khoa học này

Dù mô hình của GDP, Kydland and Prescott vô cùng cách điệu, nhưng nó đã đặt nền móng cho các nghiên cứu sau này. Cơ chế trong mô hình phân tích sau đây đã trở nên thực tế hơn. Ngày nay, quan điểm chi phối là những cú sốc dọc theo đường cầu của nền kinh tế, những cú sốc cung khác nhau là những yếu tố quyết định các dao động chu kì kinh doanh rất lớn.

Phân tích chu kì kinh doanh theo trường phái Keynes mới xuất hiện trong những năm qua ngày càng thích đáng với khía cạnh là nó tổng hợp phương pháp của Kydland và Prescott với chu kì kinh doanh và một chút phương pháp những tác giả theo thuyết Keynes. Những mô hình này hợp nhất các giả thuyết về giá dính (lương) và cạnh tranh không hoàn hảo ở nhiều thị trường trong một khuôn khổ nếu không thì có rất nhiều điểm chung với bản gốc của Kydland and Prescott , trong đó có nhấn mạnh ý nghĩa của các quyết định tương lai. Các mô hình theo thuyết Keynes mới dùng để kiểm tra các cú sốc cung và cầu, cũng như chính sách tiền tệ nói chung và tính nhất quán theo thời gian của chính sách đó nói riêng.

Ngân hàng trung ương, các tổ chức quốc tế và những chủ thể khác dự báo trước về chu kì kinh doanh đã bắt đầu phân tích các hiện tượng có tính chu kì nhờ sử dụng rất nhiều mô hình do Kydland and Prescott dựng nên. Các mô hình này cũng được ứng dụng để đánh giá những ảnh hưởng do thay đổi chế độ chính sách kinh tế vốn gây ra thiếu cân bằng đối với các mối quan hệ kinh tế giữa các biến kinh tế chủ chốt.

Tóm lại, giáo sư Kydland and Prescott đã dựng nền tảng cho một lý thuyết hết sức hoàn thiện về thiết lập chính sách kinh tế vĩ mô và các dao động của chu kì kinh doanh. Như thế, họ đã nâng cao đánh kể nhận thức của chúng ta về nền kinh tế vĩ mô. Phân tích của họ về tính nhất quán theo thời gian của các chính sách kinh tế đã khởi xướng một chương trình nghiên cứu có ảnh hưởng hết sức lớn đối với việc kiến thiết chính sách kinh tế trong thực tiễn.

Ngọc Hân (dịch)

—————&&—————

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: