Giải Nobel kinh tế 1996: Lý thuyết động cơ kinh tế theo thông tin phi đối xứng – James A. Mirrlees & William Vickrey

Những ý tưởng kinh tế tráng lệ của thế kỷ 20 (Phần 27)

(Nguồn: 60s.com.vn)

Ngày 8 tháng 10 năm 1996 viện khoa học hoàng gia Thụy Điển quyết định trao giải khoa học kinh tế tưởng nhớ Alfred Nobe cho giáo sư James A. Mirrlees, Đại học Cambridge, Anh và giáo sư William Vickrey, Đại học Columbia, New York, Hoa Kì (ông qua đời sau đó hai ngày vào ngày 10/10/1996) vì đã có những đóng góp nền tảng cho thuyết khuyến khích kinh tế trong điều kiện thông tin bất đối xứng.


Thông tin và động cơ

Một trong những lĩnh vực nghiên cứu kinh tế quan trọng và sống động nhất trong những năm gần đây hướng vào những bối cảnh trong đó người tạo quyết định trên thị trường có thông tin khác nhau. Tính không cân xứng thông tin như vậy xuất hiện trong rất nhiều hoàn cảnh. Chẳng hạn, một ngân hàng không có thông tin hoàn hảo về thu nhập tương lai của khách hàng mình; người chủ sở hữu của một doanh nghiệp không có cùng thông tin chi tiết về chi phí và điều kiện cạnh tranh như giám đốc điều hành, một công ty bảo hiểm không thể theo dõi được mọi trách nhiệm của người nắm giữ hợp đồng bảo hiểm cho tài sản được bảo hiểm hay những sự kiện bên ngoài ảnh hưởng đến rủi ro thiệt hại; một người điều khiển phiên bán đấu giá không có đầy đủ thông tin về mức giá mà người mua tiềm năng sẵn sàng trả, chính phủ phải xây dựng hệ thống thuế thu nhập mà không biết nhiều về tình trạng thu nhập của mọi công dân…

 

Thông tin phân bổ không hoàn hảo và không đối xứng có những hậu quả cơ bản, đặc biệt là khi lợi thế thông tin có thể được khai thác một cách chiến lược. Nghiên cứu về kinh tế học thông tin do đó đã hướng vào câu hỏi thể chế và hợp đồng có thể được thiết kế thế nào để giữ được động cơ khuyến khích và kiểm soát vấn đề. Việc này đã làm rõ thêm về thị trường bảo hiểm, thị trường tín dụng, đấu giá, tổ chức nội bộ doanh nghiệp, hệ thống lương, hệ thống thuế, bảo hiểm xã hội, điều kiện cạnh tranh, thể chế chính trị…

Những nhà khoa học được trao giải hôm nay đã đặt nền móng cho việc kiểm nghiệm những lĩnh vực dường như khác hẳn nhau này thông qua công trình phân tích của họ về các vấn đề mà tính không đối xứng về thông tin là một thành phần chủ chốt. Một phần quan trọng trong nghiên cứu của giáo sư William Vickrey đề cập đến thuộc tính của các kiểu đấu giá khác nhau, và cách thức xây dựng chúng tốt nhất sao cho có hiệu quả kinh tế. Nỗ lực của ông đã cung cấp nền tảng cho một phạm vi nghiên cứu mới mà gần đây đã được mở rộng vào ứng dụng thực nghiệm như các phiên đấu giá trái phiếu kho bạc… Cuối những năm 1940, Vickrey còn trình bày mô hình biểu diễn cách thức xây dựng hệ thống thuế thu nhập nhằm có được cân bằng giữa năng suất và vốn. Một phần tư thế kỉ sau đó, sự quan tâm với mô hình này được làm mới lại khi giáo sư James Mirrlees tìm thấy một giải pháp toàn vẹn hơn cho các vấn đề về tối ưu thuế thu nhập. Mirrlees sớm nhận ra phương pháp của ông cũng có thể áp dụng cho nhiều vấn đề tương tự khác. Nó đã trở thành một thành phần chủ chốt trong các phân tích hiện đại về các vấn đề động cơ khuyến khích và thông tin phức tạp. Phương pháp tiếp cận của giáo sư Mirrlees trở nên đặc biệt quý giá trong những hoàn cảnh không thể quan sát được hành động của các chủ thể khác, hoàn cảnh đó gọi là rủi ro đạo đức.

Thuế thu nhập

Các nhà chính trị, các nhà kinh tế và nhà khoa học chính trị đã nghiên cứu những nguyên lý của hệ thống thuế thu nhập từ lâu. Nhiều quy định pháp luật chi phối cấu trúc của hệ thống thuế thu nhập. Trong một bài luận kinh điển công bố năm 1897, nhà xuất bản Oxford, giáo sư Francis Y. Edgeworth thông qua triển vọng phúc lợi theo thuyết vị lợi (utilitarian welfare perspective) ông kết luận rằng mọi chênh lệch trong thu nhập có thể được trung hòa, điều đó đòi hỏi thuế suất lũy tiến mạnh mẽ. Phân tích của giáo sư Vickrey, giữa những năm 1940 nhấn mạnh rằng một danh mục thuế lũy tiến sẽ ảnh hưởng đến động cơ khuyến khích chính các cá nhân tự áp dụng. Do đó ông đã trình bày lại vấn đề liên quan đến cả những vấn đề khuyến khích- rằng mỗi cá nhân tính đến danh mục thuế khi quyết định nỗ lực trong công việc của mình- và thông tin bất đối xứng – trong thực tế, chính quyền không rõ hiệu quả sản xuất của các cá nhân. Ông đã trình bày một giải pháp cho vấn đề này, nhưng nói chung không quán triệt thành công các vấn đề toán học phức tạp của nó.

Không phải đến 25 năm sau vấn đề này mới được James Mirrlees xem xét lại, ông đã giải quyết nó bằng một cách sau đó đã trở thành kiểu mẫu cho phân tích nhiều vấn đề kinh tế trong đó thông tin bất đối xứng là thành phần chủ chốt. James Mirrlees đã nhận biết được một điều kiện tới hạn (gọi là giao đơn) nó đã đơn giản hóa vấn đề và cho phép có được một giải pháp vững chắc. Phân tích của ông còn cho thấy có sự khởi đầu cho một nguyên tắc chung: nguyên tắc biểu lộ. Theo nguyên tắc này, giải pháp cho các vấn đề động cơ khuyến khích trong điều kiện thông tin không hoàn hảo thuộc về một lớp hữu hạn các cơ chế phân bổ, những cơ chế này khiến các cá nhân phải hé lộ thành thực thông tin riêng của mình mà vẫn không mâu thuẫn với lợi ích của họ. Nhờ áp dụng nguyên lý mà việc thiết lập các thỏa thuận tối ưu và giải pháp cho các vấn đề động cơ khuyến khích trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Do vậy nó đã có ý nghĩa rất lớn khi giải quyết nhiều vấn đề của lý thuyết kinh tế.

Từ lâu, một vấn đề nổi bật liên quan đến bảo hiểm là thiệt hại của những đối tượng được bảo hiểm không chỉ phụ thuộc vào những nhân tố bên ngoài như thời tiết, trộm cắp mà còn sự giữ gìn của người giữ hợp đồng bảo hiểm, điều đó gây hao tổn cho công ty bảo hiểm khi tiến hành giám sát. Những vấn đề tương tự cũng nảy sinh đối với các loại bảo hiểm xã hội khác, như bảo hiểm sức khỏe và ốm đau. Tin tức bảo hiểm phong phú cường điệu mức độ rủi ro và tác động đến cách thức người ta giữ gìn cho chính mình và tài sản của mình. Nhiều mối quan hệ hai bên khác có hậu quả mà hai bên đều nhận thấy được, trong đó hậu quả phụ thuộc vào hành động của một bên, mà bên kia không thể nhìn thấy được, cũng như phụ thuộc vào một biến đổi ngẫu nhiên. Chẳng hạn, trong mối quan hệ giữa chủ sở hữu và người quản lý một doanh nghiệp, hành vi sẽ là nỗ lực của ban quản trị, kết quả là lợi nhuận của doanh nghiệp và biến ngẫu nhiên sẽ là trạng thái sản lượng và thị trường của doanh nghiệp. Chủ sở hữu của cả công ty bảo hiểm và doanh nghiệp muốn chọn lựa các điều khoản bồi thường, một “hợp đồng” khuyến khích các chủ thể hành động tương ứng với lợi ích của người chủ, chẳng hạn như tối đa hóa lợi nhuận dự kiến của người sở hữu.

Những khó khăn về kĩ thuật trong việc phân tích các vấn đề có tên là rủi ro đạo đức tương tự như vấn đề thuế thu nhập do Vickrey nêu lên và đã được Mirrlees giải quyết. Giữa những năm 1970, bằng cách trình bày lại đơn giản hơn các vấn đề đó, Mirrlees đã đặt hướng đi cho một phân tích ngày càng có tác động mạnh mẽ. Ông lưu ý rằng các hành vi của một chủ thể gián tiếp gợi ra một lựa chọn với những xác suất là nhiều kết quả khác nhau sẽ xuất hiện. Những điều kiện cho các khoản đền bù tối ưu do đó cung cấp thông tin xác suất về lựa chọn của chủ thể và tới mức mà chế độ bảo hiểm cần phải bị hạn chế để tạo động cơ khuyến khích cho các chủ thể. Trong khi thiết lập một kế hoạch khuyến khích, người ủy nhiệm cần tính đến chi phí khuyến khích các chủ thể hành động phù hợp với lợi ích của người ủy nhiệm. Độ nhạy của chủ thể đối với hình phạt càng lớn và lượng thông tin về lựa chọn của chủ thể có trong kết quả càng lớn thì những chi phí này càng thấp. Điều này được quy định trong một hợp đồng, chủ thể đó chịu một phần chi phí do kết quả không mong muốn hay nhận một phần lợi ích từ những kết quả thuận lợi. Người nắm giữ hợp đồng bảo hiểm sẽ giữ gìn vật được bảo hiểm cẩn thận gần như là khi nó không được bảo hiểm, và người người quản lý sẽ quản lý doanh nghiệp như thể đó là doanh nghiệp của chính mình.

Các phiên bán đấu giá

Thông tin không đối xứng cũng là một phần tất yếu của các vụ bán đấu giá, trong đó người mua tiềm năng có hiểu biết hạn chế về giá trị của tài sản hay quyền đem bán. Vickrey đã phân tích những đặc điểm của các loại bán đấu giá khác nhau trong hai bài nghiên cứu năm 1961 và 1962. Ông gán tầm quan trọng đặc biệt cho kiểu bán đầu giá thứ hai, hay như nó vốn thường được gọi là đấu giá Vickrey. Trong một phiên bán đấu giá như vậy, một vật được bán theo hình thức bỏ phiếu kín giá xướng, khi đó người trả giá cao nhất sẽ có quyền mua nó, nhưng chỉ phải trả mức giá thứ hai sau mức giá cao nhất được đưa ra đó. Đây là một ví dụ về cơ chế luận ra một sự bằng lòng trả thật sự của các cá nhân. Bằng cách đưa ra mức giá cao hơn giá mà anh ta sẵn sàng trả, một cá nhân đã thoát khỏi nguy cơ là một người khác cũng sẵn lòng trả mức giá như vậy, và như thế anh ta buộc phải mua món hàng đó. Và ngược lại, nếu ai đó xướng mức giá thấp hơn mức giá anh ta sẵn sàng trả, anh ta tránh được nguy cơ là có ai đó sẽ mua món hàng với mức giá thấp hơn mức giá anh ta sắn lòng trả. Do vậy, theo kiểu bán đấu giá này, đối với mọi người tốt nhất là nên đưa ra mức giá chính xác mà mình muốn trả. Bán đấu giá còn có hiệu quả xã hội. Vật đem bán đấu giá thuộc về người sẵn lòng trả mức giá cao nhất, và người đó trả chi phí cơ hội cho xã hội đó là mức giá cao thứ hai trong các mức giá được đưa ra. Các nhà khoa học khác sau đó đã phát triển những nguyên lý tương tự, ví dụ như để suy ra mức giá sẵn lòng trả đối với các dự án công cộng. Do vậy, phân tích của Vickrey không những quan trọng đối với lý thuyết về đấu giá, mà nó còn giúp cho việc nhận thức rõ việc hình thành cơ cấu phân bổ nguồn lực nhằm tạo ra động lực khuyến khích mong muốn.

Những thành tựu nghiên cứu khác:

Ngoài ra, cả James Mirrlees and William Vickrey còn có những thành tựu nghiên cứu đáng chú ý trong các lĩnh vực kinh tế khác. Cộng tác với nhà kinh tế người Mỹ Peter Diamond, Mirrlees đã phân tích cấu trúc thuế tiêu dùng ở mức mà nêm thuế làm giảm hiệu quả xã hội. Họ đã thành công với một kết quả rõ ràng và vô cùng khái quát bằng cách chứng tỏ rằng trong những điều kiện khá thông thường, nên giữ vững năng suất sản xuất. Theo những thuật ngữ cụ thể, thì có nghĩa là các nền kinh tế mở nhỏ không nên áp đặt thuế quan đối với ngoại thương và thuế đối với các nhân tố sản xuất như lao động và tư bản không nên thu thuế ở bên sản xuất, mà nên thu ở giai đoạn tiêu dùng. Kết luận sau đó có những tác động quan trọng đối với việc đánh giá các dự án và chính sách kinh tế ở các nước đang phát triển. Cộng tác với nhà kinh tế người Anh Ian Little và dựa trên nghiên cứu của ông với giáo sư Diamond, Mirrlees đã đặt ra những tiêu chuẩn mới cho việc đánh giá các dự án phát triển.

Định giá hiệu quả các dịch vụ công cộng tràn ngập trong tác phẩm khoa học của Vickrey. Ông không chỉ có những công trình nghiên cứu lý luận quan trọng mà không giống như những nhà lý luận xuất sắc khác ông còn bổ sung vào đề xuất tất cả các hướng ứng dụng. một ví dụ đó là nghiên cứu nổi tiếng của Vickrey về hệ thống thu phí xe điện ngầm ở Mỹ giữa những năm 1950. Đề xuất của ông là một thử nghiệm đầu tiên về định giá hiệu quả các dịch vụ công cộng, trong điều kiện hạn chế là các nhà cầm quyền thu nhận đủ mọi thông tin về chi phí. Nghiên cứu của ông còn hoàn thiện nguyên tắc định giá tiêu chuẩn (gọi là định giá Ramsey), thêm rất nhiều, nó còn vô cùng hấp dẫn vì tính giàu chi tiết.

Ngọc Hân (dịch)

———–&&———–

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: