Giải Nobel kinh tế 1995: Giả thuyết kỳ vọng hợp lý – Robert E. Lucas

Những ý tưởng kinh tế tráng lệ của thế kỷ 20 (Phần 26)

(Nguồn: 60s.com.vn)

Ngày 10 tháng 10 năm 1995, Viện Khoa học hoàng gia Thụy Điển quyết định trao giải khoa học Kinh tế tưởng nhớ Alfred Nobel năm 1995 cho giáo sư Robert E. Lucas, Jr., Đại học Chicago, Hoa Kỳ đã phát triển và ứng dụng giả thuyết kỳ vọng hợp lý và nhờ đó đã thay đổi phân tích kinh tế vĩ mô và đào sâu nhận thức của chúng ta về chính sách kinh tế.


Robert Lucas 
là một trong số những nhà kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đối với các nghiên cứu kinh tế vĩ mô từ năm 70 của thế kỉ 20. Công trình nghiên cứu của ông đã dẫn đến sự phát triển nhanh chóng và cách mạng. Ứng dụng của giả thuyết kì vọng hợp lý, sự ra đời của lý thuyết điểm cân bằng các chu kì kinh doanh, đã đi sâu vào những vấn đề sử dụng chính sách kinh tế để kiểm soát nền kinh tế, và khả năng đánh giá các chính sách kinh tế với phương pháp thống kê. Ngoài nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế vĩ mô, những đóng góp khác của giáo sư còn có tác động vô cùng lớn với nghiên cứu trong các lĩnh vực khác.

Kì vọng hợp lý

Kì vọng về tương lai đặc biệt quan trọng đối với các quyết định kinh tế của các hộ gia đình, doanh nghiệp và các tổ chức. một trong các ví dụ đó là việc hình thành tiền lương, trong đó dự kiến về tỉ lệ lạm phát và cầu lao động trong tương lai ảnh hưởng đặc biệt đến mức lương thỏa thuận, ngược lại mức lương đó ảnh hưởng đến lạm phát sau này. Tương tự nhiều biến kinh tế khác phần lớn đều bị cho phối bởi dự kiến về điều kiện tương lai.

Robert Lucas

Dù kì vọng là quan trọng nhưng một thời gian dài phân tích kinh tế chỉ đề cập đến nó một cách hình thức chiếu lệ. Hai mươi năm trước, hiếm khi tùy tiện áp dụng những kì vọng tĩnh hay danh nghĩa, ví dụ như mức giá tương lai dự kiến được coi là bằng mức giá hôm nay. Hay những kì vọng thích ứng khác như mức giá tương lai dự kiến được điều chỉnh một cách máy móc với độ lệch giữa mức giá hôm nay và mức giá dự kiến trước đây.

Thay vào đó, dự kiến hợp lý luôn liên quan đến tương lai. Giả thuyết kì vọng hợp lý có nghĩa là các chủ thể khai thác thông tin sẵn có mà không mắc sai lầm hệ thống mà các lý thuyết trước đã đề cập đến. Kì vọng được hình thành bằng cách liên tục cập nhật và tái phân tích thông tin này. Đôi khi hậu quả của hình thành kì vọng hợp lý là bất ngờ, giống như chính sách kinh tế. Công thức chính xác đầu tiên của giả thuyết dự kiến hợp lý là do John Muth giới thiệu năm 1961. Nhưng nó không có được nhiều chú ý nổi bật cho đến những năm 1970, khi Lucas phát triển nó thành mô hình của tổng hệ thống kinh tế. Trong một loạt những bài nghiên cứu có tính chất tiên phong, Lucas đã trình mày những hậu quả sâu xa có ảnh hưởng sâu rộng của việc hình thành kì vọng hợp lý, đặc biệt là liên quan đến ảnh hưởng của chính sách kinh tế và ước lượng những ảnh hưởng này bằng phương pháp toán kinh tế, nghĩa là phương pháp thống kê áp dụng cụ thể cho việc đánh giá các mối quan hệ kinh tế. Ngoài kinh tế vĩ mô, giáo sư Lucas đã ứng dụng giả thuyết này cho một số lĩnh vực khác.

Ví dụ về đường cong Phillips

Thay đổi trong nhận thức chúng ta về cái gọi là đường cong Phillips là một ví dụ tiêu biểu về những đóng góp của giáo sư Lucas. Đường cong Phillips biểu diễn mối quan hệ rõ ràng giữa tình trạng việc làm và lạm phát. Vào cuối những năm 1960, có một số ủng hộ về thực nghiệm cho đường cong Phillips; nó được coi là một trong những mối quan hệ cân bằng nhất trong kinh tế học. Nó được coi là một lựa chọn cho chính phủ cẩm quyền nhằm tăng chỉ tiêu công ăn việc làm bằng cách theo đuổi một chính sách mở rộng, mà chính sách này làm tăng lạm phát. Milton Friedman và Edmund Phelps đã phê bình cách giải thích này và tuyên bố rằng dự kiến của công chúng sẽ điều chỉnh đến mức lạm phát cao hơn và ngăn trở tình trạng tăng liên tục công ăn việc làm: chỉ có đường cong Phillips ngắn hạn là nghiêng, trong khi đó đường cong dài hạn lại thẳng đứng. Tuy nhiên, lời bình phẩm đó không thuyết phục vì Milton Friedman và Edmund Phelps giả định kì vọng được thích ứng. Thực tế những kì vọng như vậy ngụ ý sự tăng lên kéo dài về việc làm nếu lạm phát được phép tăng lên. Trong một nghiên cứu công bố năm 1972, Lucas đã sử dụng giả thuyết kì vọng hợp lý khi đưa ra lời giải thích thỏa đáng đầu tiên về mặt lý luận là tại sao đường cong Phillips lại có thể dốc trong ngắn hạn còn trong dài hạn lạ thẳng đứng. Nói cách khác, bất kể nó được theo đuổi thế nào, chính sách bình ổn không thể ảnh hưởng một cách hệ thống tới tình trạng công ăn việc làm trong dài hạn. Lucas đã trình bày một mô hình lý luận tài tình kết hợp nhiều số liệu theo chuỗi thời gian như lạm phát và việc làm quả thực hết sức tương quan với nhau. Một nhà thống kê nghiên cứu những dữ liệu chuỗi thời gian này có thể dễ dãng kết luận là việc làm có thể tăng lên bằng cách thực hiện một chính sách kinh tế mở rộng. Không những thế, Lucas còn chứng minh rằng, mọi nỗ lực dựa trên những chính sách như thế, khi dùng đường cong Phillips và sự tăng lên lâu dài về việc làm có thể không hiệu quả và dẫn đến lạm phát cao hơn. Đó là do các chủ thể trong mô hình điều chỉnh kì vọng của họ và do đó điều chỉnh giá cả và tiền lương tới một chính sách kì vọng mới. Kinh nghiệm từ những năm 1970 và 1980 đã cho thấy rằng lạm phát cao hơn không làm cho việc làm tằng lên. Điều này khi nhìn nhận các ảnh hưởng dài hạn của chính sách bình ổn trở thành một quan điểm được chấp nhận rộng rãi; ngày nay ở một số nước tạo chính sách bình ổn là chính sách để đạt được và giữ vững một tỉ lệ lạm phát thấp.

Đường cong Phillips ngắn hạn dốc và đường cong dài hạn thẳng đứng giải thích những chỗ lõm dựa vào mô hình ước lượng thống kê gọi là mô hình toán kinh tế vĩ mô để đưa ra kết luận về tác động của những thay đổi về chính sách kinh tế. Trong một nghiên cứu năm 1976, khi giới thiệu một nghiên cứu được biết đến với cái tên bài phê bình Lucas, Lucas chứng minh rằng những mối quan hệ vốn được coi là cấu trúc trong phân tích toán kinh tế thực tế chịu ảnh hưởng của chính sách thời gian qua. Hai thập kỉ trước, hầu như mọi môi hình kinh tế vĩ mô bao hàm những mối quan hệ mà trong những kiểm nghiệm gần đây có thể được chứng minh là phụ thuộc vào chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tiến hành trong thời gian ước lượng. Thì rõ ràng, những mối quan hệ như thế không thể sử dụng trong những mô phỏng nhằm dự đoán ảnh hưởng của một chính sách tài khóa hay tiền tệ khác. Lúc đó điều này có nghĩa là mô hình được sử dụng thường xuyên.

Bài bình luận Lucas đã có những ảnh hưởng sâu sắc đối với những kế hoạch giới thiệu chính sách kinh tế. Những thay đổi về chính sách kinh tế thường dẫnđến một kết quả khác hoàn toàn nếu các hãng thích ứng dự kiến của mình với quan điểm chính sách mới. Ngày nay, khi đánh giá hậu quả của những thay đổi trong chế độ chính sách kinh tế, chẳng hạn như một hệ thống tỉ giá mới, một chính sách tiền tệ mới, một cải cách về thuế hay những quy định mới về trợ cấp thất nghiệp. Phần nào là hiển nhiên khi coi những thay đổi trong hành vi của các tác nhân kinh tế là do dự kiến thay đổi.

Các nhà nghiên cứu làm thế nào có thể tránh những sai lầm mà bài phê bình Lucas đã báo trước? Nghiên cứu của Lucas đã đưa ra câu trả lời với một chương trình nghiên cứu mới. Mục tiêu của chương trình là trình bày một mô hình toán kinh tế vĩ mô như thế và các mối quan hệ của nó không ảnh nhạy cảm với những thay đổi về chính sách; nếu không thì mô hình không thể góp phần đánh giá đúng các lựa chọn chính sách kinh tế. Trình bày nguyên tắc này rất đơn giản: các mô hình này là những mô hình điểm cân bằng có dự kiến hợp lý. Nghĩa là mọi biến quan trọng có thể xác định được trong mô hình, dựa trên cơ sở tương tác giữa các tác nhân có lý trí, những tác nhân này có dự kiến hợp lý và hoạt động trong một môi trường kinh tế xác định. Ngoài ra, mô hình nên được trình bày hệ thống để chúng có thể kết hợp các tham biến độc lập với chính sách (những hệ số này biểu diễn các mối quan hệ trong mô hình). Ngược lại, cần có cơ sở kinh tế vi mô hoàn chỉnh, nghĩa là vấn đề quyết định của các tác nhân đơn lẻ phải được tính đầy đủ trong mô hình. Thì các tham biến sẽ được ước lượng bằng cách sử dụng các phương pháp toán kinh tế được phát triển cho mục đích này. Nhiều thử nghiệm thú vị nhằm chuyển hóa và ước tính những mô hình như thế đã được tiến hành trong nhiều lĩnh vực, chẳng hạn như phân tích thực nghiệm về đầu tư, tiêu dùng và việc làm, cũng như định giá tài sản trên thị trường tài chính. Tuy nhiên, chương trình này khó có thể được hoàn thành trong thực tiễn và không phải mọi cố gắng đều thành công.

Một phạm vi toán kinh tế hoàn toàn mới

Lucas đã trình bày các phương pháp có ảnh hưởng sâu rộng và hiệu quả để đưa ra kết luận từ những mô hình có dự kiến hợp lý. Những phương pháp này cung cấp phương tiện cho sự phát triển mau lẹ của các phân tích kinh tế vĩ mô và thậm chí còn trở thành một trong những công cụ tiêu chuẩn nhất. Nếu không có chúng, kết quả của giả thuyết điểm cân bằng sẽ bị giới hạn trong nhận thức chung về ý nghĩa của dự kiến thay vì ý nghĩa của các bản báo cáo rõ ràng trong những trường hợp cụ thể. Ngày nay dự kiến hợp lý được coi là cơ sở chính thức cho các nghiên cứu về hình thành kì vọng về tính hợp lý hữu hạn, khả năng điện toán hữu hạn …

Lucas đã thiết lập một lĩnh vực nghiên cứu mới. Sau công trình nghiên cứu tiên phong của ông về đường cong Phillips, lý thuyết gọi là lý thuyết điểm cân bằng về chu kì kinh doanh đã trở thành một lĩnh vực động lực và rộng lớn, trong đó tác động của những nhiễu loạn về tiền tệ và nhiễu loạn thực đối với chu kì kinh doanh đã được kiểm tra kĩ lưỡng. Lúc đầu lý thuyết điểm cân bằng của chu kì kinh doanh dựa trên giả thuyết mức giá co giãn hoàn toàn và điều chỉnh trực tiếp tới điểm cân bằng về hàng hóa và với thị trường lao động cạnh tranh hoàn hảo. Tuy nhiên, phương pháp tiếp cận của giáo sư Lucas không thích hợp với giá dính (giá không dễ biến động) và thất bại thị trường như cạnh tranh không hoàn hảo và thông tin không hoàn hảo. Tuy nhiên, những mâu thuẫn và không hoàn hảo này không nên đưa ra tùy hứng mà cần được giải thích là kết quả từ những quyết định của các tác nhân có lý trí và tương tác trong một bối cảnh xác định.

Công trình nghiên cứu mở đường của giáo sư Lucas đã tạo ra một phạm vi toán kinh tế hoàn toán mới, được gọi là toán kinh tế kì vọng hợp lý. Trong đó, giả thuyết kì vọng hợp lý được dùng để xác định phương pháp thống kê hiệu quả nhất để ước lượng các mối quan hệ kinh tế trong đó kì vọng là thành phần then chốt. Một số nhà khoa học sau đó đã có những đóng góp quan trọng cho lĩnh vực mới này.

Những đóng góp khác

Ngoài công trình nghiên cứu của ông trong lĩnh vực kinh tế vĩ mô, giáo sư Lucas còn có những đóng góp sáng giá trong các lĩnh vực khác như lý thuyết đầu tư, kinh tế tài chính, lý thuyết tiền tệ, kinh tế công, tài chính quốc tế và gần đây nhất là lý thuyết tăng trưởng kinh tế. Trong mỗi lĩnh vực, nghiên cứu của giáo sư Lucas đã có những tác động quan trọng, chúng đã đưa ra nhiều ý tưởng và rất nhiều công trình nghiên cứu mới.

Ngọc Hân (dịch)

————-&&————-

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: