Giải Nobel kinh tế 1992: Ứng dụng kinh tế học vi mô vào phân tích hành vi của con người, nguồn nhân lực – Gary S. Becker

Những ý tưởng kinh tế tráng lệ của thế kỷ 20 (Phần 23)

(Nguồn: 60s.com.vn)

Ngày 13 tháng 10 năm 1992 Viện khoa học hoàng gia Thụy Điển quyết định trao giải khoa học kinh tế tưởng nhớ Alfred Nobel năm 1992 cho giáo sư Gary S. Becker, Đại học Chicago, Hoa Kì vì đã mở rộng phạm vi phân tích kinh tế vĩ mô tới hàng loạt tương tác và hành vi của con người, trong đó có cả hành vi phi thị trường.

Giáo sư Gary S. Becker

Công trình nghiên cứu của giáo sư Gary Becker trước hết là đã mở rộng phạm vi lý thuyết kinh tế tới những khía cạnh hành vi con người mà trước đó đã được đề cập đến trong những bộ môn khoa học xã hội khác như xã hội học, nhân khẩu học và tội phạm học. Trong khi thực hiện công việc này, ông đã khuấy động các nhà kinh tế giải quyết những vấn đề mới.

Chương trình nghiên cứu của giáo sư Gary Becker được thành lập dựa trên ý tưởng là hành vi của mỗi cá nhân gắn liền với những nguyên lý nền tảng giống nhau với nhiều lĩnh vực khác. Theo giáo sư Gary Becker, do đó mô hình giải thích giống nhau có thể được áp dụng để giải thích hàng loạt những hành vi của con người. Mô hình giải thích mà giáo sư Gary Becker lựa chọn dựa trên một cơ sở mà ông gọi là phương pháp tiếp cận kinh tế, ông thường luân phiên sử dụng cho lĩnh vực này đến lĩnh vực khác. Cách tiếp cận này được đặc trưng với cơ sở lập luận là những tác nhân đơn lẻ- bất kể họ là hộ gia đình, doanh nghiệp hay các tổ chức khác- được cho là hành động có lý trí- có chủ đích và hành vi của họ có thể được mô tả như thể họ cố gắng tối đa hóa một hàm mục tiêu cụ thể- chẳng hạn như lợi ích hay tài sản. Giáo sư Gary Becker đã áp dụng nguyên lý hành vi có chủ đích và tối đa hóa cho những lĩnh vực mà các nhà nghiên cứu trước đây cho rằng hành vi là thói quen và hoàn toàn không có ý trí. Gary Becker đã mượn một cách ngôn của Bernard Shaw mô tả quan điểm phương pháp luận của mình:”tiết kiệm là nghệ thuật tạo dựng phần lớn cuộc sống”.

Những ứng dụng mô hình cơ sở của Becker cho những kiểu hành vi khác nhau của con người có thể được giải thích bằng cách phân biệt bốn lĩnh vực nghiên cứu sau: (i) đầu tư trong tư bản con người (ii) hành vi của gia đình (hay hộ gia đình), trong đó có phân chia công việc và thời gian trong gia đình; (iii) tội phạm và trừng phạt; và (iv) phân biệt đối xử trên thị trường đối với lao động và hàng hóa.

Tư bản con người

Nghiên cứu đáng chú ý nhất của giáo sư Gary Becker có lẽ là trong lĩnh vực nguồn vốn con người, đó là năng lực của con người, và tầm quan trọng của việc đầu tư cho nguồn nhân lực. Lý thuyết tư bản con người đã có từ lâu so với công trình nghiên cứu của Gary Becker trong lĩnh vực này. Thành tựu nổi tiếng nhất của ông là đã trình bày có hệ thống và chính thức hóa lý thuyết này dưới dạng kinh tế vi mô. Khi thực hiện việc đó, ông đã phát triển phương pháp tiếp cận tư bản-con người thành một lý thuyết khái quát cho việc xác định phân bổ thu nhập lao động. Những dự báo của lý thuyết này với khía cạnh cấu trúc tiền lương đã được trình bày hệ thống trong các hàm vốn con người-tiền lãi, những hàm này định rõ mối quan hệ giữa thu nhập và vốn con người. Những nghiên cứu này lúc đầu được công bố trên một số bài báo đầu những năm 1960 và sau đó được phát triển sau rộng hơn cả về lý luận và thực nghiệm trong cuốn sách của ông, Tư bản con người, viết năm 1964.

Lý thuyết tư bản con người đã tạo ra một khuôn khổ phân tích đồng đều và có tính ứng dụng rộng rãi cho việc nghiên cứu về lợi ích lời từ giáo dục và đào tạo nghề nghiệp mà còn là những chênh lệch và mô tả sơ lược về lương qua thời gian. Những ứng dụng quan trọng khác, được nhiều nhà kinh tế quan tâm gồm có sự phân tích thống kê thành phần của những nhân tố cơ sở đằng sau tăng trưởng kinh tế, nhập cư, cũng như đầu tư và lợi nhuận từ khu vực sức khỏe. Phương pháp tư bản con người cũng giúp cho việc làm rõ các kiểu mậu dịch xuyên quốc gia; ông đã chỉ ra trong thực tế sự khác biệt về cung vốn con người dễ giải thích có khả năng giải thích hơn nhiều so với những khác biệt về tư bản thực giữa các quốc gia.

Các ứng dụng thực nghiệm của lý thuyết tư bản con người đã được làm cho thuận tiện một cách bất ngờ bởi có thêm nhiều dữ liệu vĩ mô, chẳng hạn như bảng dữ liệu về tiền lương và những đặc điểm lao động khác nhau. Sự phát triển này đã được khuấy động từ các nghiên cứu lý luận và thực nghiệm của giáo sư Gary Becker. Không phải là cường điệu khi nói rằng phương pháp tư bản con người là một trng những nghiên cứu được ứng dụng thực nghiệm nhiều nhất trong ngành kinh tế học ngày nay.

Hộ gia đình và gia đình

Giáo sư Gary Becker đã thực hiện mở rộng triệt để hơn ứng dụng của lý thuyết kinh tế trong phân tích của ông về mối quan hệ giữa các cá nhân ngoài hệ thống thị trường. Ví dụ đáng chú ý nhất là phân tích của ông về các chức năng của gia đình. Những nghiên cứu này được tóm tắt trong cuốn sách Một chuyên luận về gia đình, viết năm 1981.

Ý tưởng căn bản trong phân tích của Gary Becker là một hộ gia đình có thể được coi là một xí nghiệp nhỏ sản xuất những thứ mà ông gọi là hàng hóa cơ bản, như bữa ăn, một nơi cư trú, niềm vui…sử dụng thời gian và các hàng hóa thị trường thông thường, bán thành phẩm, mà gia đình mua trên thị trường. Trong kiểu phân tích này, giá cả của các hàng hóa cơ bản có hai thành phần. Thành phần thứ nhất gồm chi phí trực tiếp của việc mua trên hàng hóa trung gian trên thị trường. Thành phần thứ hai là chi phí thời gian sản xuất và tiêu dùng hàng hóa đối với một loại hàng hóa nhất định, chi phí thời gian này tương đương với số lương tăng thêm do thời gian dành cho mỗi đơn vị hàng hóa được sản xuất trong hộ gia đình. Có nghĩa là lượng tăng lên trong tiền lương của mỗi thành viên thuộc hộ gia đình không những làm xuất hiện những động cơ thay đổi về công việc trên thị trường mà còn làm phát sinh thay đổi từ thời gian cần thiết để sản xuất và tiêu dùng hàng hóa của hộ gia đình, đó là hàng hóa cơ bản. Thay vì là một phân tích dưới dạng đối lập truyền thống giữa công việc và nghỉ ngơi, mô hình của giáo sư Gary Becker cung cấp một lý thuyết khái quát về sự phân chia thời gian trong hộ gia đình, như được minh họa trong tiểu luận sau đấy: Một lý thuyết về phân chia thời gian, từ năm 1965. Phương pháp này đã trở thành một nền tảng vô cùng hữu ích cho việc xem xét những vấn đề liên quan đến hành vi của hộ gia đình.

Giáo sư Gary Becker còn tiến xa hơn nữa. Ông đã trình bày hệ thống một lý thuyết khái quát về hành vi của gia đình- trong đó không chỉ có việc phân chia lao động và phân bố thời gian trong gia đình mà còn những quyết định liên quan đến hôn nhân, ly hôn và con cái. Khi lương thực tế tăng lên, cùng với khả năng thay thế tư bản cho lao động trong công việc gia đình, lao động được giải phóng khỏi hộ gia đình, và ngày càng trở nên lãng phí khi để một thành viên trong gia đình chuyên đảm nhận toàn bộ công việc trong gia đình (chẳng hạn như chăm sóc con cái). Do đó, một số chức năng kinh tế và xã hội trước đây của hộ gia đình được chuyển đổi cho các tổ chức cơ quan khác như doanh nghiệp, trường học và các cơ quan công cộng khác. Becker đã biện luận rằng những chu trình này không chỉ giải thích việc ngày càng nhiều phụ nữ đã kết hôn tham gia vào các công việc xã hội mà còn xu hướng li hôn tăng lên khi xem bài nghiên cứu của ông: Tư bản con người và sự tăng lên hay giảm đi các gia đình (đồng tác giả với N. Tomes), 1986.

Cùng với phân tích của Becker về sự phân bố lao động và phân chia thời gian trong hộ gia đình, nghiên cứu có ảnh hưởng nhất của ông về hộ gia đình và gia đình có lẽ là những nghiên cứu về khả năng sinh sản, được đề xướng trong bài nghiên cứu mang tên “Một phân tích kinh tế về khả năng sinh sản”, năm 1960. Dường như các cha mẹ đều muốn có nhiều con và trình độ giáo dục cao của con cái, trong khi đó trình độ giáo dục lại chịu sự chi phối bởi lượng thời gian và những nguồn lực khác mà cha mẹ dành cho con cái họ. Thì khoản đầu tư vào tư bản nhân lực của con cái có thể được coi là một hàm thu nhập và hàm chi phí. Khi lương tăng, cha mẹ tăng lượng đầu tư vào tư bản con người, đi đôi với sự giảm xuống trong số con cái. Giáo sư Becker đã sử dụng lý thuyết này để làm rõ những hiện tượng như sự đi xuống qua thời gian đối với khả năng sinh sản ở các nước công nghiệp hóa, cũng như những dao động về khả năng sinh sản giữa các nước khác nhau và giữa khu vực nông thôn và đô thị. Cụ thể, chính sách mở rộng gia đình ở Thụy Điển, mà giáo sư Becker thường nhắc đến công nhận sự đúng đắn của phương pháp này đối với các vấn đề như thế.

Phạm tội và hình phạt

Lĩnh vực thứ ba mà giáo sư Becker áp dụng lý thuyết hành vi có lý trí và tư bản con người là “tội phạm- hình phạt” . Một tội phạm, ngoại trừ một số người có vấn đề thần kinh không ổn định, được cho rằng chống lại những tác nhân kích thích khác nhau theo cách có thể đoán được, về cả phí tổn và cái giành được, chẳng hạn trong những kiểu hình phạt dự kiến. Thay vì coi hoạt động phạm tội là một hành vi không có lý trí về hoàn cảnh xã hội và tâm lý của một tội phạm, sự phạm tội được coi là một hành vi có lý trí mạo hiểm. Những quan điểm này được trình bày trong một số ấn phẩm của ông, như bài nghiên cứu Tội phạm và hình phạt: Một tiếp cận kinh tế, năm 1968 và trong Những tiểu luận trong lĩnh vực kinh tế học tội phạm và hình phạt, năm 1974.

Những nghiên cứu thực nghiệm gần gũi với phương pháp này cho thấy loại hình phạm tội do một nhóm cá nhân nào đó gây ra hầu hết có thể được làm rõ bởi vốn tư bản của một cá nhân (và vì vậy là năng lực trí tuệ). Những nghiên cứu thực nghiệm này cũng cho thấy rằng xác suất bị bắt có một tác động cản trở nhiều hơn là các điều khoản hình phạt đối với hành động phạm tội.

Phân biệt đối xử về kinh tế

Một ví dụ khác về ứng dụng độc đáo lý thuyết hành vi ý chí và lạc quan của Becker là phân tích sự phân biệt đối xử về chủng tộc, giới…Đây là công trình nghiên cứu có ý nghĩa đầu tiên của Becker, được công bố trong cuốn sách của ông mang tên: The Economics of Discrimination, năm 1957. Sự phân biệt đối xử được định nghĩa là một hoàn cảnh trong đó một đại lý kinh tế phải chuẩn bị gánh chịu một chi phí nhằm cản trở cho một giao dịch kinh tế xảy ra, hoặc không kí kết một hợp đồng giao kèo, với một số người có đặc điểm nhất định nào đó về giới hay chủng tộc. Becker chứng tỏ rằng những hành vi như thế, theo thuật ngữ, đóng vai trò là một “nêm thuế” giữa tỉ suất lợi tức kinh tế tư nhân và xã hội. Ông giải thích rằng đại lý phân biệt coi mức giá của hàng hóa và dịch vụ mua từ một đại lý bị phân biệt thường cao hơn nhiều so với mức giá thực tế phải trả, và giá bán chođại lý bị phân biệt cũng thấp hơn mức giá thực tế nhận được. Do vậy sự phân biệt đối xử có xu hướng bất lợi về kinh tế không chỉ đối với những chủ thể bị phân biệt mà còn với những chủ thể thực hiện việc phân biệt đó.

Ảnh hưởng của giáo sư Becker

Phân tích của giáo sư Gary Becker từng gây ra nhiều tranh cãi, vì thế lúc đầu hay bị hoài nghi và thậm chí là ngờ vực. Mặc dù thế, ông không nản chí và vẫn kiên trì phát triển nghiên cứu của mình, dần dần giành được nhiều công nhận trong giới các nhà kinh tế đối với quan điểm và phương pháp của ông.

Một ảnh hưởng quan trọng cũng có thể thấy được trong các môn khoa học xã hội khác. Nhiều mặt nhân khẩu học đưa ra các trường hợp mẫu, đặc biệt là khía cạnh liên quan đến khả năng sinh sản, nỗ lực của các cặp cha mẹ đảm bảo cho năng lực trí tuệ và sự phát triển của con cái họ, cũng như tài sản thừa kế. Những ví dụ bổ sung khác là nghiên cứu về sự phân biệt đối xử trên thị trường lao động, phạm tội và hình phạt. Nhưng Becker còn có ảnh hưởng gián tiếp đến các tiếp cận khoa trong lĩnh vực khoa học xã hội hơn là kinh tế học; gần đây ngày càng nhiều nhà khoa học chính trị và xã hội nghiên cứu với các mô hình dựa trên lý thuyết “lựa chọn có lý trí”.

Ngọc Hân (dịch)

———————-

Becker, nhà đế quốc kinh tế (1930-2014)

————-&&————-

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: