Giải Nobel kinh tế 1973: Mô hình Input Output – Wassily Leontief

Wassily Leontief

(Nguồn: hn-ams.org)

Wassily Leontief được biết đến nhiều nhất nhờ việc xây dựng phép phân tích đầu vào – đầu ra. Kỹ thuật này miêu tả được mối tưng quan giữa những lĩnh vực khác nhau hoặc những ngành sản xuất khác nhau của nền kinh tế, có nhiều ứng dụng quan trọng và cung cấp cái nhìn bao quát về hoạt động của nền kinh tế. Sử dụng kỹ thuật trên để tìm hiểu vì sao những điều cn trở sn xuất có thể gia tăng khi nền kinh tế phát triển, và làm sao quá trình lạm phát có thể phân bổ và tràn lan khắp toàn bộ nền kinh tế. Kỹ thuật này còn sử dụng trong kinh tế xã hội học và kinh tế phát triển sau Đại chiến II phục vụ xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế trong 5 năm.
Leontief sinh trưởng trong một gia đình trí thức giàu có ở thành phố St. Petersburg nước Nga năm 1906. Bố ông dạy môn kinh tế lao động tại trường đại học St. Petersburg, mẹ ông là giáo viên môn lịch sử nghệ thuật. Là một đứa trẻ thần đồng, Leontief vào đại học khi 15 tuổi. ở đây, ông nghiên cứu Triết học, Xã hội học và Kinh tế học. Leontief thường xuyên gặp rắc rối đến mức phi vào tù vài lần do chỉ trích chính quyền thực dân mới trong khi theo học tại trường đại học.
Năm 1925, ở tuổi 18, Leontief bo vệ Thạc sĩ khoa học xã hội với luận án “Nhà kinh tế thông thái”. Sau đó, gia đình Leontief rời khỏi nước Nga tới định cư tại Đức do những bất đồng với chính quyền thực dân. Leontief đăng ký theo học đại học Berlin tiếp tục nghiên cứu kinh tế, đến năm 1928, ông chạm trán với một vị khách Trung Quốc trong một quán cà phê và ngay sau đó lao vào cuộc thử sức mới với tư cách cố vấn của Bộ trưởng Bộ Đường sắt Trung Quốc. ở cưng vị này, Leontief dành một năm đi khắp đất nước Trung Quốc thu thập tư liệu nhằm hoạch định kế hoạch phát triển mạng lưới đường sắt Trung Quốc. Công việc cung cấp cho Leontief một tầm nhìn về mối tưng quan kinh tế cùng một c hội để vạch ra những mối quan hệ đó qua những dữ kiện sống thu thập được.
Năm 1931, Leontief đến Mỹ. Đầu tiên, ông làm việc cho Cục nghiên cứu kinh tế quốc gia ở NewYork, sau đó ging dạy ở đại học Harvard, ni mà ông xây dựng mô hình đầu vào – đầu ra cho kinh tế Mỹ. Trong nhiều thập kỷ tiếp theo, Leontief không ngừng ci tiến và mở rộng mô hình trên cũng như tìm ra cách áp dụng mô hình này trong việc nghiên cứu những vấn đề kinh tế thế giới. Leontief rời đại học Harvard năm 1975 tham gia làm việc tại Viện Nghiên cứu Kinh tế thuộc đại học NewYork.
Trong những năm sau này, Leontief nhận được nhiều sự cổ vũ và phần thưởng lớn. Vào năm 1970, ông là Chủ tịch Hiệp hội kinh tế Mỹ. Ông nhận gii thưởng Nobel Kinh tế năm 1973 với những đóng góp xây dựng phép phân tích đầu vào – đầu ra. Không nghi ngờ một điều rằng lý thuyết trên là đóng góp lớn nhất của ông đối với kinh tế học.
Toàn bộ nền kinh tế được coi là tập hợp những lĩnh vực có quan hệ mật thiết với nhau, vì lĩnh vực này sử dụng sn phẩm của lĩnh vực khác và vì tiền cũng được lưu thông giữa các lĩnh vực trước khi quay trở lại. Lý thuyết này được khởi xướng bởi Cantillon và Quesnay, Leontief đã kế thừa và đưa những mối quan hệ đó vào thuật ngữ toán học, tập hợp dữ liệu cần thiết để xây dựng bng đầu vào – đầu ra. Cũng chính Leontief là người tho ra chính sách thực hiện từ những biểu diễn toán học về kinh tế mà ông đã xây dựng. Công cụ này cho phép một nhà phân tích lý gii vì sao thay đổi của một hay nhiều ngành sn xuất lại nh hưởng đến những ngành còn lại của nền kinh tế. Hn nữa, phép phân tích đầu vào – đầu ra còn tính đến những kế hoạch toàn diện của chính phủ, cái mà Leontief coi là giai đoạn tiếp theo của phát triển tư bản.
Điều chính yếu của phép phân tích đầu vào – đầu ra là: nếu nền kinh tế sn xuất nhiều hn một loại hàng, như ô tô chẳng hạn, chắc chắn sẽ cần có thêm “đầu vào” hoặc các phần để làm những chiếc xe khác. Thí dụ như lốp xe, nắp tròn đậy trục bánh xe, trục xe, kính xe, v. v…phi cần đến. Kế tiếp, sản xuất một bộ phận sẽ kéo theo những bộ phận khác. Sn xuất lốp cần cao su, máy móc. Hiểu phức tạp hn, làm thêm bộ phận máy, nắp tròn đậy trục bánh xe hoặc trục xe, nền kinh tế sẽ sn xuất thêm nhiều ô tô hn, vì xe cần nguyên liệu. Để làm những chiếc ô tô truyền thống, dĩ nhiên, sẽ đòi hỏi thêm nhiều “đầu vào” cần thiết cho công nghiệp ô tô.
Đầu vào về lao động dễ dàng điều chỉnh hn trong c cấu này. Người công nhân lắp ráp ô tô được coi là một đầu vào đòi hỏi nhiều đầu vào khác. Có ông nhân, do đó sẽ cần thức ăn, quần áo, một chỗ để trú ẩn và vâng, những chiếc ô tô đưa đón họ đến ni làm việc, nếu như họ giúp cho việc chế tạo ra ô tô. Và tất c những gì áp dụng cho công nhân lắp ráp đều đúng với công nhân ngành khác của toàn bộ nền kinh tế.
Qua việc mở rộng nghiên cứu sn xuất và nhu cầu kỹ thuật của một số ngành công nghiệp Mỹ, năm 1941, Leontief có thể biểu diễn được mối quan hệ giữa kỹ thuật và sn xuất cho những ngành công nghiệp quan trọng bằng Toán học. Sự gii thích này, như c cấu sn xuất, chỉ rõ tất c những hàng hoá khác của nền kinh tế đều để sn xuất những hàng hoá riêng biệt. Điều này đem đến cho Leontief một tập hợp phưng trình Toán học, trong đó mỗi một phưng trình biểu thị một loại hàng hoá. Với sự giúp đỡ của máy tính, Leontief đã gii được tập hợp phưng trình này. Kết qu gii phưng trình cho ông biết cần sn xuất thêm bao nhiêu hàng hoá khác để tạo thêm một chiếc ô tô. Nếu những hàng hoá không đủ, “nút cổ chai” của sn xuất sẽ xuất hiện, ví dụ như sn xuất thiếu lốp xe, máy móc, kính xe thì không làm thêm được xe đáp ứng nhu cầu. Nói cách khác, nếu tất c những “đầu vào” được sn xuất đủ số lượng, sẽ có đủ các phần nguyên liệu sn xuất thêm những chiếc xe khác.
Mô hình đầu vào – đầu ra không đn thuần chỉ mối quan hệ kỹ thuật, chúng còn cho phép các nhà hoạch định chính sách xác định những hậu qu của việc thay đổi chính sách. Ví dụ, việc chính phủ gim chi đối với quốc phòng sẽ nh hưởng xấu tới ngành công nghiệp sn xuất quân trang, những nhà cung cấp nguyên liệu cho ngành sn xuất quân trang và c những người cung cấp cho các nhà cung cấp này. Ngược lại, việc chi nhiều cho c sở hạ tầng (như đường sá, cầu, tàu) sẽ hậu thuẫn cho ngành công nghiệp xây dựng phát triển, và c các nhà cung cấp. So sánh hai tập hợp những thay đổi này cùng lúc giúp cho chính phủ thâu tóm toàn bộ nh hưởng của những thay đổi quân sự trên từng vùng địa lý và trên những lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế.
Leontief tập trung vào cách sử dụng phép phân tích “đầu vào – đầu ra” để kiểm nghiệm các học thuyết kinh tế khi ông nghiên cứu những mối quan hệ thưng mại giữa Mỹ với các quốc gia khác. Thật bất ngờ, ông phát hiện ra rằng xuất khẩu củaMỹ sử dụng ít vốn và nhiều lao động hn so với nhập khẩu. Điều này trái với học thuyết thưng mại truyền thống, khi cho rằng một đất nước có tiềm lực vốn dồi dào như Mỹ cần xuất khẩu hàng hoá đòi hỏi vốn lớn và nhập hàng hoá đòi hỏi lao động lớn. Những khám phá trên đã làm thành cuốn “Nghịch biện Leontief”, góp thêm nỗ lực sửa đổi thuyết thưng mại nhằm gii thích cho những khám phá mới về thế giới thực.
Một ứng dụng nữa của phép phân tích đầu vào – đầu ra bắt nguồn từ công việc mà Leontief làm cho Mỹ từ năm 1973. Công việc này nhằm phát triển mô hình đầu vào – đầu ra của thế giới mà khi sáp nhập với môi trường, hoàn cnh tạo thành “ khu vực kinh tế”. Có thể hình dung rằng các khu vực kinh tế không chỉ sn xuất ra những “đầu vào” thông thường, như ô tô, mà còn một loạt các chất gây ô nhiễm. Tưng tự, với một khu vực ít ô nhiễm hn thì đầu ra lại gây ô nhiễm đối với khu vực khác. Khu vực này cần thủ tiêu những chất gây ô nhiễm và trở về môi trường có trạng thái ban đầu. Leontief sử dụng mô hình này để nghiên cứu nh hưởng đối với môi trường khi mở rộng sn xuất cũng như cái giá của tăng trưởng kinh tế so với việc hạn chế ô nhiễm môi trường.
Từ những năm 1940 đến 1960, phép phân tích đầu vào – đầu ra thu hút sự quan tâm lớn trên toàn thế giới. Sự phát triển như vũ bão của máy tính cho thấy tính thực tế và phức tạp của mô hình đầu vào – đầu ra cũng tăng theo ở mỗi quốc gia. Trong Đại chiến II, các chính phủ đã sử dụng phép phân tích này để quyết định khu vực nào của nền kinh tế bị cắt gim theo kinh nghiệm, qua đó có chính sách mở rộng sn xuất ở những khu vực trên. V lại, sau Đại chiến II, các quốc gia quan tâm đến trách nhiệm đối với tưng lai nền kinh tế hn là phó mặc nó cho những nh hưởng bất thường của thị trường. Vấn đề quy hoạch các c quan và bộ máy công chức nổi lên ở c quốc gia phát triển lẫn đang phát triển, và mô hình đầu vào – đầu ra đã cung cấp một công cụ đn gin hữu ích để hỗ trợ cho nỗ lực này.
Tuy vậy, trong những năm 70, mối quan tâm đối với phép phân tích đầu vào – đầu ra gim sút. Nguyên nhân thứ nhất là khi có sự thay đổi từ việc hoạch định sang việc cho phép thị trường quyết định tốc độ và định hướng phát triển. Nguyên nhân thứ hai là do nhiều hạn chế của phép phân tích đã bộc lộ. Bởi vì sẽ rất khó khăn và tốn kém để ước tính tất c các mối quan hệ đầu vào – đầu ra thực tế cho toàn bộ nền kinh tế phức tạp, khiến chính quyền nhà nước phi thường xuyên sửa đổi mô hình đầu vào – đầu ra. Vì vậy, phưng pháp phân tích sử dụng công cụ đầu vào – đầu ra tất sẽ dựa nhiều vào những dữ liệu không cập nhật.
Nguyên nhân thứ ba quan trọng nhất, trong thế giới thực, tăng trưởng và phát triển gắn liền với khoa học kỹ thuật và công cụ sn xuất. Những ci tiến về khoa học kỹ thuật cho phép quá trình sn xuất thay thế được một vài đầu vào (đặc biệt là yêu cầu về lao động). Điều này có nghĩa là mối quan hệ đầu vào – đầu ra thường xuyên thay đổi. Tuy thế, phép phân tích này vẫn ấn định mối quan hệ đầu vào – đầu ra.
Bên cạnh phép phân tích trên, Leontief còn quan tâm đến phưng pháp luận của khoa học kinh tế và những thực nghiệm hàng ngày của các kinh tế gia đưng thời. Thật vậy, Leontief đã thay đổi từ một người xây dựng mô hình các quan hệ kinh tế trên c sở thiết lập các mối quan hệ theo kinh nghiệm trở thành một nhà phê bình sắc bén trên nền tng thực tế. Bài phê bình đầu tiên về phưng pháp luận kinh tế công kích phái Keynes về việc xây dựng những mô hình trừu tượng, giáo điều, khi mà những kết luận của họ hoàn toàn dựa trên c sở tiền đề của mô hình. Leontief cho rằng nếu thiếu những ước tính kinh nghiệm khá chính xác về hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, như việc xây dựng mô hình quan hệ kinh tế, sẽ không thể thắp lên ánh sáng soi rọi những vấn đề nền kinh tế phi đối mặt.
Trên cưng vị Chủ tịch Hiệp hội kinh tế Mỹ, năm 1971, Leontief tiếp tục phê phán về cách mà những đồng nghiệp nghiên cứu kinh tế học. Thời gian này, Leontief tập trung phê phán sự thống trị của chủ nghĩa hình thức toán học đối với khoa học kinh tế. Ông chứng minh rằng các nhà kinh tế đang ngấm ngầm xây dựng những mô hình máy móc, sau đó suy diễn ra đặc điểm hoặc thuộc tính của những mô hình này, lờ đi việc cân nhắc, tự hỏi sự suy diễn trên có thực tế hay không. Những kết luận của phép lấy đạo hàm toán học là không thích hợp, Leontief qu quyết, bởi vì họ đã bắt đầu với những gi thuyết sai sự thật.
Leontief cũng chỉ trích những ông bạn kinh tế gia của mình khi biểu diễn phép phân tích thống kê phức tạp trên c sở những dữ liệu có ý nghĩa và giá trị đáng ngờ. Tích cực hn, Leontief khuyên họ nên cống hiến thời gian và sự quan tâm đến việc thu thập dữ liệu và dành ít thời gian hn vào việc xây dựng những kỹ thuật kiểm tra tinh vi. Cuối cùng, Leontief cnh báo rằng những mối quan hệ kinh tế không giống các mối quan hệ của khoa học tự nhiên mà sẽ thay đổi theo thời gian, bởi vì những hành vi cá nhân khiến quan hệ kinh tế phụ thuộc cũng luôn thay đổi. Việc nghiên cứu Toán kinh tế thừa nhận các mối quan hệ kinh tế là bất biến, do vậy mà không chính xác, thậm chí giúp che đậy những yếu kém của các tập hợp dữ kiện và một thực tế rằng quan hệ kinh tế luôn biến đổi. Lý lẽ này của Leontief đã lường trước sự ra đời của cái gọi là “ Nghệ thuật phê bình của Lucas” về mô hình nghiên cứu kinh tế vĩ mô.
Tiếp theo nguồn cm hứng phê phán, Leontief cố thuyết phục các kinh tế gia cam kết một loạt điều như “khám phá thực tế một cách hệ thống, bắt gánh chịu một cách truyền thống và chấp nhận bởi các đồng nghiệp trong khoa học tự nhiên và khoa học lịch sử”. Ông cũng kêu gọi các nhà kinh tế về tính nghiên cứu liên ngành bằng cách làm việc với nhiều nhà xã hội học, kỹ sư, và nhà khoa học qun lý. Những lĩnh vực trên cung cấp thêm giá trị về kinh nghiệm và thực hành, và những người đang hành nghề của họ có nhiều hiểu biết cùng kỹ năng trong thu thập dữ liệu, phân tích. Những “môn học” khác, vì thế, có thể dạy cho các kinh tế gia nhiều điều về công dụng và tầm quan trọng của thu thập dữ liệu cũng như kiểm nghiệm học thuyết.
Trong khi sự chỉ trích tưng tự vẫn không ngừng nhằm vào các kinh tế gia đưng thời, không ai trong số các phê bình gia này có uy tín bằng Leontief, người có bề dày kinh nghiệm từ nhiều năm nghiên cứu kinh tế thực nghiệm. Nhưng thật không may, những chỉ trích này đã ri vào quên lãng. Tệ hn nữa, rất nhiều chuyên gia kinh tế không hề ý thức về những cnh báo của một người đáng kính nể như Leontief.
Chủ đề thống nhất trong các công trình của Leontief là: khoa học kinh tế cần được nghiên cứu trên c sở kiểm nghiệm thực tế và khoa học thực hành. Các nhà kinh tế cần dành thời gian công sức cho việc thu thập dữ liệu và gii quyết những vấn đề gặp phi khi sử dụng các công cụ phân tích xử lý dữ liệu thực. Phép phân tích đầu vào – đầu ra cho biết diễn biến vận hành của c thể kinh tế và vận dụng kết qu đạt được vào ci thiện nền kinh tế. Những phê phán có hệ thống của Leontief không được các nhà kinh tế sau này áp dụng.

————-&&————-

Một phản hồi

  1. “Những phê phán có hệ thống của Leontief không được các nhà kinh tế sau này áp dụng.”???? Những con số không có giá trị không thể phân tích được,

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: