Giải Nobel kinh tế 1971: Xây dựng nền tảng thực nghiệm về lý luận tăng trưởng kinh tế – Simon Kuznets

Smith Kuznets

(Nguồn: hn-ams.org)

Simon Kuznets nổi tiếng vì việc phát triển hệ thống các tài khon thu nhập quốc gia mà tất c các quốc gia áp dụng để đo lường hoạt động kinh tế. Ông cũng đo lường phân phối thu nhập và xem xét phân phối thu nhập ở Mỹ thay đổi như thế nào trong thế kỷ 20. Nhưng tác phẩm của Kuznets không chỉ là việc đo lường hiện tượng kinh tế. Ông cũng đi tìm các nguyên nhân của tăng trưởng kinh tế và thay đổi bất bình đẳng thu nhập, nghiên cứu các chu kỳ tăng trưởng mà nền kinh tế tri qua, và cố gắng tìm hiểu những tác động của tăng trưởng kinh tế lên phân phối thu nhập.
Kuznets sinh năm 1901 ở Pinsk ( khi đó là một vùng thuộc Liên xô và hiện nay thuộc Belarus). Cha ông là một người bán áo lông thú, và đầu thế chiến I ông đã chuyển gia đình đến Kharkov, một thành phố nổi tiếng về tri thức.Sau khi tốt nghiệp một trường trung học phổ thông công lập, ông vào họctại trường Đại học Kharkov. Tại đó ông bắt đầu nghiên cứu kinh tế học và tiếp xúc với lý thuyết đổi mới của Joseph Schumpeter và chu kỳ kinh doanh. Khi cuộc cách mạng Nga dẫn tới đóng cửa trường đại học và gây ra nội chiến ở Nga,gia đình Kuznets rời khỏi Nga, lúc đầu đến Thổ Nhĩ Kỳ và cuối cùng là di cư sang Mỹ.
Kuznets tự học tiếng Anh trong một mùa hè và sau đó vào học trường đại học Columbia. Tại Columbia, Kuznets học Wesley Clair Mitchell, người đã dạy ông các phưng pháp kinh tế học thực nghiệm và khuyến khích ông quan tâm tới nghiên cứu chu kỳ kinh doanh. Ông nhận bằng cử nhân vào năm 1923 và tiến sĩ vào năm 1926. Luận văn tiến sĩ của ông ( về các dao động thưng mại bán buôn và bán lẻ) liên quan đến c các vấn đề đo lường kinh tế và biến động chu kỳ trong hoạt động kinh tế.
Sau khi nhận bằng tiến sĩ, Kuznets làm việc 3 năm tại Viện nghiên cứu kinh tế quốc gia. Sau đó vào năm 1931 ông tham gia ging dạy tại trường Đại học Pennsylvania. Năm 1960 ông sang dạy tại trường Johns Hopkins, và ging dạy tại đây cho tới khi về hưu vào năm 1971. Trong khi tham gia ging dạy như vậy, ông thường xuyên cộng tác cùng Viện nghiên cứu kinh tế quốc gia.
Trong cuộc đời học thuật của mình, Kuznets đã được nhận rất nhiều vinh dự cao quí. Vào năm 1949 ông làm Chủ tịch Hiệp hội thống kê Mỹ; vào năm 1953 ông trở thành Chủ tịch Hiệp hội Kinh tế Mỹ; và vào năm 1971 ông được nhận gii thưởng Nobel Kinh tế.
Trong khi ủy ban gi thưởng Nobel lựa chọn công trình nghiên cứu của ông thuộc lĩnh vực tăng trưởng kinh tế và thay đổi cấu trúc xã hội, nhưng đóng góp quan trọng nhất của ông rất có thể là việc phát triển hệ thống hạch toán thu nhập quốc gia.
Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu hoạt động tổng thể của nền kinh tế quốc gia. Để kiểm định các gi thuyết về các quan hệ kinh tế vĩ mô, hay để tìm ra những nguyên nhân của hoạt động kinh tế vĩ mô lành mạnh thì cần phi có một thước đo hoạt động kinh tế tổng thể nào đó. Vào thế kỷ 17, William Petty đã có những cố gắng ban đầu trong việc tính toán hoạt động kinh tế ở Anh, và những ước lượng thu nhập quốc gia được thực hiện một vài lần trong công trình khởi đầu cua Petty. Tuy nhiên, không ai cố gắng thực hiện các công việc đo lường như vậy trên cở sở hàng năm, và chỉ có rất ít các ước lượng được tiến hành một cách tỷ mỉ và có hệ thống. Cho đến những năm 1920 cũng vậy, nước Anh đã đi trước nước Mỹ rất nhiều trong việc lập ra dữ liệu thu nhập quốc gia. Kuznets đã gánh vác để thực hiện công việc này. Ông đã đưa Mỹ từ vị trí bị tụt hậu trở thành quốc gia đi đầu trong thống kê thu nhập quốc gia. Tại Viện nghiên cứu kinh tế quốc gia, Kuznets đã phụ trách việc phát triển mô hình ước lượng đầu tiên về thu nhập quốc gia của Mỹ từ năm 1929 đến 1932. Sau đó ông tiếp tục phát triển việc ước lượng thu nhập quốc gia trong các năm từ 1919 đến 1938, và đưa ra ước lượng cho hoạt động kinh tế Mỹ giai đoạn từ năm 1869.
Kuznets đã miêu t một cách cẩn thận c phưng pháp luận mà ông sử dụng trong thiết lập các đo lường hoạt động kinh tế cũng như một số vấn đề ông gặp phi trong khi tiến hành ước lượng. Như vậy, Kuznets đã đặt ra các tiêu chuẩn cho việc đo lường hoạt động kinh tế và phát triển cách thức mà vẫn được áp dụng cho đến ngày nay.
Ví dụ, Kuznets nhận thức được rằng việc ước lượng thu nhập quốc gia đã loại trừ các hàng hoá và dịch vụ không được mua bán trên thị trường. Khi các hộ gia đình nấu các bữa ăn của họ, tự cắt cỏ ở vườn, và lau nhà, thì họ đã sn xuất ra hàng hoá và dịch vụ; nhưng những hàng hoá này không được tính trong số liệu hoạt động kinh tế do chính phủ thu thập. Tưng tự như vậy, các hoạt động bất hợp pháp như mại dâm hay buôn bán thuốc phiện là rất khó, nếu không nói là không thể đo lường và cũng không thể được tính vào ước lượng hoạt động kinh tế tổng thể.
Kuznets cũng thận trọng khi phân biệt hàng hoá cuối cùng với hàng hoá trung gian, và dùng cách phân biệt này để tránh vấn đề tính trùng. Một chiêc ôtô, hàng hoá cuối cùng được bán cho người tiêu dùng, được lắp ráp từ các hàng hoá trung gian như lốp, kính, máy móc, và phanh. Tính toán giá trị của lốp xe bán cho người sn xuất ôtô và c giá trị của chiếc xe sẽ dẫn tới tính hai lần giá trị của lốp xe. Để có được một thước đo chính xác hn về hoạt động kinh tế thì cần phi trừ đi giá trị của tất c các thành phần khỏi giá trị cuối cùng của chiếc xe bán cho người tiêu dùng. Lấy phần chênh lệch này, hay tính toán giá trị gia tăng của người sn xuất xe ôtô, sẽ cung cấp một nền tng cho việc đo lường thu nhập quốc gia. Thu nhập quốc gia chỉ đn thuần là tổng của giá trị gia tăng của các hãng kinh doanh trong nền kinh tế trong một khong thời gian nhất định. Nó có thể được rút ra từ giá trị báo cáo hàng kỳ của các hãng kinh doanh về doanh thu bán hàng, chi phí cho các bộ phận, và lợi nhuận hàng quý.
Kuznets hiểu rằng đo lường thu nhập quốc gia có những hạn chế nhất định khi dùng làm chỉ số cho giầu có hay phúc lợi quốc gia. Chỉ đn thuần là vì thu nhập quốc gia tăng không nhất thiết có nghĩa rằng nước đó trở nên tốt hn. Thu nhập có thể được phân phối ngày càng không công bằng, bởi vậy mặc dù tổng thu nhập tăng lên nhưng nhiều hộ gia đình lại trở nên khốn khó hn. Kuznets cũng lưu ý rằng chính quá trình tăng trưởng có thể dẫn tới những kết qu không đáng mong muốn như tình trạng đô thị hoá, tắc ngẽn giao thông, và ô nhiễm môi trường. Cuối cùng, hạch toán thu nhập quốc gia không tính đến có bao nhiêu sn lượng đầu ra đi vào ngân sách chính phủ và bị buộc phi tr thuế.
Công trình của Kuznets về đo lường thu nhập quốc gia đưng nhiên đã đưa đến việc nghiên cứu chu kỳ kinh doanh, hay sự bành trướng và thu hẹp theo chu kỳ của hoạt động kinh tế. Trước khi xuất hiện tác phẩm của Kuznets, Nikolai Kondratieff, một nhà kinh tế học người Nga, đã quan tâm đến sự tồn tại của các chu kỳ kinh tế dài hạn kéo dài trong khong 45 và 60 năm. Xem xét dữ liệu giá c hàng trăm năm của Mỹ, Pháp, và Đức ( cùng với dữ liệu về sn xuất sắt, than, và các sn phẩm khác, khắp thế giới ). Kondratieff nhận thấy rằng có các giai đoạn đều đặn khong 20-30 năm mà trong thời kỳ đó giá c gim xuống. Những thay đổi kinh tế dài hạn này kể từ đó được gọi là “ những làn sóng Kondratieff”. Những chu kỳ ngắn hạn hn, khong 10 năm, đã có liên quan tới những thay đổi đầu tư kinh doanh.
Trong nghiên cứu về các dao động kinh tế của mình, Kuznets phát hiện ra các chu kỳ tăng trưởng và suy thoái kéo dài trong khong thời gian 20 năm. Những chu kỳ này đã được gọi là “ chu kỳ Kuznets”. Kuznets nghĩ rằng những thay đổi dân số có thể gii thích cho những chu kỳ 20 năm này. Dân số tăng có thể xuất phát từ làn sóng nhập cư hoặc tỷ lệ sinh tăng do điều kiện kinh tế thuận lợi. Cho dù bất cứ nguyên nhân nào, tăng trưởng dân số đều dẫn tới cầu về hàng hoá tiêu dùng lớn hn, đặc biệt là đối với nhà ở. Cầu tăng thêm sẽ khuyến khích thêm đầu tư kinh doanh. Điều này, cùng với lợi thế của kinh tế học nhờ qui mô, đã góp phần vào tăng trưởng năng suất nhanh hn. Kết qu là mức sống tăng lên khi dân số tăng. Nhưng ngay sau đó những công dân mới trở thành một bộ phận của lực lượng lao động nhiều hn, và điều này dẫn tới áp lực xuống phía dưới đối với tiền lưng. Khi tiền lưng gim xuống, chi tiêu và đầu tư cũng sẽ gim, và giai đoạn suy gim của chu kỳ kinh tế bắt đầu.
Kuznets mở rộng tác phẩm của ông về chu kỳ kinh tế để nghiên cứu những thay đổi cấu trúc kinh tế do tăng trưởng và suy thoái kinh tế gây ra. Trong đó ông nghiên cứu chu kỳ kinh doanh đã nh hưởng như thế nào tới tỷ lệ tiết kiệm và tiêu dùng, năng suất, phân phối thu nhập và các yếu tố khác ( như luồng vốn, hàng hoá, nhân lực quốc tế).
Kuznets cũng xem xét tác động của tăng trưởng kinh tế lên phân phối thu nhập, và đã đi dầu trong việc đo lường phân phối thu nhập. Sử dụng c số liệu thuế thu nhập và số liệu điều tra của Uỷ ban điều tra dân số Mỹ, ông xem xét tỷ lệ của tổng thu nhập mà mỗi nhóm trong 10 nhóm thu nhập nhận được ( 10% những người có thu nhập cao nhất, 10% tiếp theo, 10% nhóm thứ 3….) hàng năm trong khong thời gian từ 1913 và 1948. Kuznets nhận thấy rằng trong những năm chiến tranh, 1% dân số hàng đầu nhận 15% tổng thu nhập quốc gia và 5% nhóm đầu nhận 25% đến 30% tổng thu nhập. Ông cũng phát hiện thấy bất bình đẳng thu nhập ở Mỹ gim xuống trong và sau thế chiến II, với 1% nhóm đầu chỉ nhận 8,5% tổng thu nhập và 5% nhóm đầu nhận được 18% tổng thu nhập. Kuznets lập luận rằng chu kỳ kinh doanh có thể gii thích cho những thay đổi này. Thất nghiệp thấp trong và sau Thế chiến II làm tăng tỷ phần tổng thu nhập của nhóm có thu nhập thấp hn. Cùng lúc đó, lãi suất thấp hn và thuế thu nhập cao hn đã làm gim tỷ phần thu nhập của nhóm giầu có nhất. Nhìn vào dư liệu trong những khong thời gian dài và ở nhiều quốc gia khác nhau, Kuznets phát hiện ra rằng bình đẳng thu nhập đi theo hình chữ U – nó gim trong những thời kỳ đầu phát triển kinh tế và làm cho người nghèo bị tồi khốn khó hn, nhưng tăng trong những thời kỳ phát triển sau, do đó sẽ mang lại lợi ích cho những người có thu nhập thấp.
Một phát hiện thực tiễn quan trong khác của Kuznets liên quan đến tỷ lệ tiết kiệm ở Mỹ, hay ngược lại là tỷ lệ tiêu dùng trên thu nhập quốc gia. Kuznets nhận thấy tỷ lệ tiết kiệm ở Mỹ khá ổn định và không thay đổi khi nền kinh tế Mỹ tăng trưởng. Điều này ngược với dự đoán trong phưng trình tiêu dùng đn gin của Keynes, C = a + bY, trong đó C là tiêu dùng và Y là thu nhập hiện tại. Nếu gi thuyết này là đúng thì tỷ lệ tiêu dùng sẽ gim khi thu nhập tăng lên. Tỷ lệ tiêu dùng gim có nghĩa là tỷ lệ tiết kiệm tăng lên. Thực chất thì quan điểm đn gin của Keynes chỉ là con người ta sẽ tiết kiệm nhiều hn khi thu nhập tăng lên. Điều mà Kuznets phát hiện ra rằng tỷ lệ tiết kiệm không đổi đã giúp cho Milton Friedman phát triển gi thuyết thu nhập vĩnh cửu và Franco Modigliani phát triển gi thuyết chu kỳ sống nhằm gii thích tỷ lệ tiết kiệm không đổi.
Cuối cùng, Kuznets đã dành nhiều thời gian trong đời để nghiên cứu các yếu tố nh hưởng đến tăng trưởng năng suất. Đây chỉ là việc mở rộng phạm vi tập trung nghiên cứu của ông về tăng trưởng kinh tế, vì tăng trưởng do các nh hưởng kết hợp của tăng năng suất và dân số. Trong hai yếu tố này, tăng trưởng năng suất chắc chắn quan trọng hn, vì như Adam Smith đã chỉ ra rằng tăng năng suất sẽ dẫn tới ci thiện mức sống. Nghiên cứu về tăng trưởng năng suất đã cho phép Kuznets đưa các mối quan tâm nghiên cứu của ông vào trong thay đổi dân số, trong ước lượng thực nghiệm một cách chuẩn xác, và trong việc nâng cao mức sống.
Kuznets nhấn mạnh nhiều vào thay đổi và đổi mới công nghệ để làm phưng tiện cho việc tăng năng suất. Ông đánh giá rằng trong thời kỳ 50 năm thì 3/5 của phần tăng năng suất tại Mỹ là do tiến bộ công nghệ và 2/5 là do phân bố lại lao động từ những khu vực năng suấ thấp hn ( ví dụ như nông nghiệp) sang khu vực năng suất cao hn ( như chế tạo). Vì về mặt lịch sử thì công nghệ là yếu tố quan trọng hn, và vì phân bố lại lao động trở nên ít quan trọng hn qua thời gian khi ít người Mỹ làm trong khu vực nông nghiệp hn nên ông nghĩ rằng nỗ lực nhằm nâng cao năng suất phi tập trung vào những đột phá và tiến bộ công nghệ. Vào cuối thế kỷ 20, hầu hết các tác phẩm kinh tế học mang tính lý thuyết và khá trừu tượng. Các nhà kinh tế học thậm chí coi thường các nghiên cứu thực nghiệm khi tìm cách đo lường các biến số kinh tế và xem các biến số đó thay đổi như thế nào qua thời gian. Kuznets đã đứng vững trong truyền thống thực nghiệm của kinh tế học mà khởi đầu là số học chính trị của Petty. Tác phẩm của Kuznets đã cho phép phát triển một khối lượng kiến thức đồ sộ về tăng trưởng và phát triển kinh tế. Nó cũng tạo ra một lượng lớn dữ liệu cho phép kiểm định các lý thuyết kinh tế. Và nó đã cho phép chính phủ có thể thường xuyên tạo lập và báo cáo dữ liệu kinh tế học vĩ mô. Nếu kinh tế học được coi là nghiên cứu về sự vận hành của các nền kinh tế thực thì Kuznets phi được xem là một trong số ít các hình tượng quan trọng nhất.

—————&&————–

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: