Giải Nobel kinh tế 1987: Lý luận về tăng trưởng kinh tế – Robert M. Solow

Những ý tưởng kinh tế tráng lệ của thế kỷ 20 (Phần 16)

(Nguồn: 60s.com.vn)

Ngày 21 tháng 10 năm 1987 viện khoa học hoàng gia Thụy Điển quyết định trao giải khoa học kinh tế tưởng nhớ Alfred Nobel cho giáo sư Robert M. Solow, học viện công nghệ Massachusetts, Cambridge, Hoa Kì vì những đóng góp cho lý thuyết tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu về những nhân tố cho phép sản xuất tăng trưởng và làm tăng phúc lợi là một phần quan trọng trong các nghiên cứu kinh tế nhiều năm qua.

Giải thưởng của giáo sư Robert M. Solow năm nay ghi nhận những đóng góp đặc biệt của ông cho lĩnh vực này. Hoàn toàn là hợp lý khi cho rằng sản lượng trên mỗi đơn vị tư bản tăng ở một nước có thể là do có nhiều máy móc hay xí nghiệp hơn (tư bản thực). Nhưng sản lượng này cũng có thể do máy móc được cải tiến hay có các phương pháp sản xuất hiệu quả hơn (sự phát triển công nghệ). Ngoài ra giáo dục và đào tạo tốt hơn, các phương pháp sản xuất được cải tiến có thể làm tăng năng suất sản xuất. Việc phát hiện ra các nguồn tài nguyên mới, hoặc cải thiện vị thế củamột nước trên thị trường thế giới cũng có thể làm cho mức sống nâng cao. Giáo sư Solow đã phát hiện ra một cơ sở lý luận có thể dùng để luận bàn các nhân tố đứng đằng sau tăng trưởng kinh tế về cả định tính và lý thuyết. Hệ thống cơ sở này còn có thể được khai thác để đánh giá thực nghiệm các những đóng góp của các nhân tố sản xuất khác nhau đối với tăng trưởng kinh tế.

 

Minh hoạ: chrysalis.com.au

 

Mô hình tăng trưởng của Solow

Mô hình tăng trưởng của giáo sư Solow được trình bày trong một bài nghiên cứu có tên là “một đóng góp cho lý thuyết tăng trưởng kinh tế” (1956). Bài viết gồm một mô hình toán học (dưới dạng một phương trình khác biệt) mô tả cách thức vốn tăng thêm thường làm tăng sản lượng trên mỗi đơn vị sản xuất. Xuất phát điểm của giáo sư Solow là xu hướng tiết kiệm một phần thu nhập nhất định. Dân số và cung lao động, tăng trưởng với một tỉ lệ không đổi và việc tăng vốn có thể có liên quan. Sự tăng vốn được xác định bằng mức giá của các nhân tố sản xuất. Tuy nhiên, do giảm thiểu sản lượng, sự tăng thêm vốn có thể góp phần tăng sản lượng ít hơn. Có nghĩa là, trong dài hạn, nền kinh tế sẽ đạt đến trạng thái mà tốc độ tăng trưởng là như nhau cho mọi đơn vị tư bản, lao động và tổng sản lượng (với điều kiện là không có tiến bộ công nghệ). Khi đó có một tình trạng là mỗi sản lượng trên mỗi đơn vị tư bản và lương thực tế không còn tăng. Một sự tăng lên trong tỷ lệ thu nhập được tiết kiệm do đó không thể đạt đến một sự tăng lên cố định đối với tỷ lệ tăng trưởng. Ngược lại, một nền kinh tế với tỉ lệ tiết kiệm cao hơn, có thể có sản lượng trên mỗi đơn vị tư bản cao hơn, và do vậy làm tăng thu nhập thực tế. Nhưng nếu không có tiến bộ công nghệ, tốc độ tăng trưởng sẽ là như nhau, không kể đến thương số tiết kiệm, và sẽ chỉ phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn cung lao động được tăng thêm.

Do đó, phát triển công nghệ sẽ là động cơ cho tăng trưởng dài hạn. Trong mô hình của giáo sư Solow, nếu tiến bộ công nghệ có thể được tiếp tục, tăng thu nhập thực tế chỉ được quyết định bởi tiến bộ công nghệ.

Các thảo luận trước đã cho rằng một tỉ lệ nhất định trong thu nhập được tiết kiệm và khoản tiết kiệm đó bằng lượng đầu tư dự kiến, tuy nhiên giáo sư Solow đã chứng tỏ rằng nếu các doanh nghiệp lạc quan và nếu thị trường lao động và vốn đáp ứng được các doanh nghiệp sẽ muốn tăng đầu tư tới mức độ mà tổng kế hoạch đầu tư của họ bằng giá trị tiết kiệm đã định. Nghĩa là Solow bỏ qua các điều kiện ẩn, chẳng hạn như phân tích Keynes về thất nghiệp. Trong khi thuyết kinh tế Keynes tập trung vào sự mất cân bằng trong ngắn hạn, thì Solow lại quan tâm đến phân tích sự phát triển kinh tế trong dài hạn.

Mô hình kinh tế của Solow đã có tác động to lớn đối với các phân tích kinh tế. từ chỗ chỉ là một công cụ cho các phân tích về quá trình phát triển, nó đã được tổng quát hóa theo nhiều hướng. Nó được mở rộng bằng cách đưa vào các loại nhân tố sản xuất khác và được hệ thống lại gồm các phương diện ngẫu nhiên. Việc thiết lập các liên kết động lực trong các mô hình số đó được dùng cho các phân tích điểm cân bằng chung cũng dựa trên mô hình của Solow. Nhưng trên hết, mô hình tăng trưởng của Solow cấu thành một hệ thống cơ sở trong đó có cấu trúc lý thuyết kinh tế vĩ mô hiện đại.

Phân tích phát triển thực nghiệm

Việc dự toán thực nghiệm những góp phần của các nhân tố sản xuất khác nhau cho GNP gắn liền với công trình nghiên cứu với một số nhà khoa học khác. đóng góp của giáo sư Solow trong hai bài nghiên cứu : Thay đổi công nghệ và hàm tổng sản lượng, năm 1957 và bài nghiên cứu Đầu tư và tiến bộ công nghệ năm 1960 đặt nền móng cho lý thuyết mà sau này được phát triển trở thành Tăng trưởng kế toán.

Trong bài nghiên cứu đầu tiên Solow mô tả mô hình của mình dựa trên một loạt các con số cho tổng sản lượng, tổng sử dụng lao động và chi phí cho những nhân tố này trong tổng sản lượng. Do đó Solow đã có được một phương pháp đánh giá sự thay đổi liên tục trong công nghệ sản xuất qua thời gian bằng cách tính toán sự khác biệt giữa sự tăng lên về sản lượng và sự tăng lên của nguồn cung lao động cũng như vốn. Do đó dựa trên một loạt chuỗi số ước tính, Solow có thể có được hàm sản xuất (nghĩa là mối quan hệ về toán học giữa sản lượng và số lượng các nhân tố sản xuất được sử dụng)

Minh hoạ: infiniteunknown.net

Thay đổi về công nghệ sản xuất (thay đổi trong sản xuất không thể được hiểu là thay đổi trong sử dụng lượng công và vốn) có nghĩa là kết quả của thay đổi trong kĩ thuật sản xuất hay cụ thể là tiến bộ công nghệ.

Phân tích của giáo sư Solow cho thấy những cải tiến về công nghê không rõ rệt qua thời gian (sự phân bố GNP giữa lãi và số lượng vốn không bị các thay đổi kinh tế quyết định). Ông cũng chỉ rõ chỉ một tỉ trọng nhỏ trong tăng trưởng hàng năm là do tăng lượng lao động và vốn.

Công trình nghiên cứu của giáo sư Solow có tác động bất ngờ, những phân tích tương tự cũng được tiến hành ở các nước khác trên thế giới. Tiếp cận với những dữ liệu thống kê dưới dạng một chuỗi con số về vốn và tư bản qua thời gian đã cho phép ông có được nhiều kết quả đáng tin cậy hơn.

Những nỗ lực đầu tiên nhằm đánh giá góp phần của các nhân tố sản xuất vào tổng sản lượng dựa trên một loạt lượng cung lao động và vốn. tuy nhiên cả hai tổng cung này phần nào còn gây tranh cãi. Robert Solow đã tích cực tham gia vào các thảo luận dài về phép xác định tổng vốn cổ phần (bàn luận vốn những năm 1960 cho đến những năm 1970). Trong một bài nghiên cứu năm 1960, đầu tư và tiến bộ công nghệ, Solow đã trình bày một phương pháp mới nghiên cứu vai trò của việc tạo vốn trong tăng trưởng kinh tế. Giả định cơ sở của ông là tiến bộ công nghệ tạo ra máy móc và hàng hóa tư bản và có thể xét đến giả định này khi đánh giá thực nghiệm vai trò của tư bản. Ý tưởng này sau đó đã tạo điều kiện cho ra đời phương pháp tiếp cận cổ điển (Ý tưởng này tiếp tục được giáo sư Leif Johansen ở Nauy nghiên cứu). Phương pháp cổ điển cho rằng những đầu tư mới được mô tả là công nghệ hiện đại nhất và tư bản được hình thành không thay đổi về bản chất trong suốt vòng đời của nó. Vì vậy quyết định đầu tư thắt chặt phần nào công nghệ tương lai, vì tiến bộ công nghệ có được trong mục tiêu tư bản vật chất. Hệ thống mô hình toán học của giáo sư Solow dựa trên những ý tưởng này cho phép ông phát triển một lý thuyết có thể thực hiện được các tính toán thực nghiệm. Nói chung, mô hình đã thiết lập một phương pháp hợp nhất tư bản từ các giai đoạn khác nhau. Các kết quả thực nghiệm của Solow dĩ nhiên đã làm cho việc hệ thống vốn có vai trò cao rõ rệt trong việc giải thích sự tăng lên của sản lượng đầu người.

Phần quan trọng nhất trong bài nghiên cứu của giáo sư Solow không có quá nhiều kết quả thực nghiệm mà là phương pháp phân tích tư bản cổ điển (vintage approach). Ngày nay giả thuyết tư bản cổ điển (vintage capital) có nhiều ứng dụng và không chỉ được dùng để phân tích về các nhân tố làm tăng trưởng kinh tế. Chẳng hạn, nhiều mô hình điểm cân bằng chung số học sử dụng phương pháp của giáo sư Solow trong nghiên cứu về tính nhạy của nền kinh tế có kiểu tác động phá vỡ. Phương pháp tiếp cận cổ điển đã cho thấy tính vô giá, kể cả về quan điểm lý luận và ứng dụng như phân tích sự phát triển của cấu trúc công nghiệp.

Các tác phẩm khác: giáo sư Robert Solow đã hoạt động tích cực trong nhiều lĩnh vực quan trọng của lý thuyết kinh tế. Chẳng hạn, ông đã công bố nhiều nghiên cứu trong các lĩnh vực như tài nguyên kinh tế. Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế cho rằng chỉ những nhân tố có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế là lao động, tư bản và công nghệ trong những năm gần đây, vai trò của tài nguyên thiên nhiên cũng thu hút nhiều quan tâm. Liệu có thể tượng tượng được kinh tế tiếp tục tăng cho đến lúc ta ý thức được tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn không? Solow đã nghiên cứu vấn đề này từ bối cảnh lý thuyết kinh tế trong một bài nghiên cứu năm 1974 và thấy rằng mấu chốt cho vấn đề nằm trong giả thuyết về tính đàn hồi thay thế cho tư bản và lượng tài nguyên sử dụng. Solow còn nhấn mạnh những hậu quả môi trường của tăng trưởng trong các khảo cứu khác.

Trong thập kỉ qua, giáo sư Solow đã nỗ lực nghiên cứu các vấn đề kinh tế vĩ mô như chính sách thất nghiệp và kinh tế và ông là một thành viên của hội đồng cố vấn kinh tế cho tổng thống Mỹ.

Ngọc Hân dịch

————-&&————–

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: