Giải Nobel kinh tế 1983: Phương pháp phân tích mới cho lý luận kinh tế học, cải tiến cân bằng tổng thể – Gerard Debreu

Những ý tưởng kinh tế tráng lệ của thế kỷ 20 (Phần 12)

(Nguồn: 60s.com.vn)

Ngày 17 tháng 10 năm 1983 viện khoa học hoàng gia quyết định trao giải thưởng khoa học kinh tế tưởng nhớ Alfred Nobei năm 1983 cho giáo sư Gerard Debreu, đại học California, Berkeley, Hoa kì vì đã kết hợp chặt chẽ những phương pháp phân tích vào trong các học thuyết kinh tế và về lập lại công thức chính xác cho học thuyết về cân bằng chung.


Điểm cân bằng chung thị trường

Giải thuởng năm nay được trao cho công trình nghiên cứu cơ bản trong một lĩnh vực chủ đạo của khoa học kinh tế, đó là học thuyết điểm cân bằng chung.

Trong một hệ thống thị trường phi tập trung, mỗi người tiêu dùng riêng lẻ và mỗi hãng đơn lẻ đưa ra quyết định mua hay bán hàng hóa và dịch vụ chỉ vì lợi ích của mình. Adam Smith đã đặt ra câu hỏi làm thế nào những quyết định này, có vẻ là độc lập với những quyết định khác lại liên quan chặt chẽ và đưa đến một kết quả là người bán thường tìm kiếm được đầu ra cho sản xuất có kế hoạch của mình, trong khi đó người tiêu dùng cũng thực hiện việc tiêu dùng có kế hoạch của mình. Câu trả lời của Smith là tính linh họat của mức giá và lương nhất định, hệ thống giá tự động làm cho kế hoạch của các cá thể hòa hợp với nhau. Đến những năm cuối của thế kỉ 19, Léon Walras đã trình bày quan điểm này bằng thuật ngữ toán học gồm một hệ thống các biểu thức để mô tả nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ của người tiêu dùng, nguồn cung của các hãng sản xuất đúng các loại hàng hóa và dịch vụ đó cũng như nhu cầu của họ đối với các nhân tố sản xuất, và điểm cân bằng giữa cung và cầu, nghĩa là điểm cân bằng thị trường. Nhưng không bao lâu sau đó, hệ thống biểu thức này được nghiên cứu nhằm tìm hiểu chắc chắn liệu có một giải pháp ý nghĩa về mặt kinh tế không, liệu công trình lý luận này có ý nghĩa cho việc hiểu thấu hệ thống thị trường có còn hợp lý.

Thành tựu nổi bật của Gerard Debreu là tác phẩm của ông đã chứng tỏ sự tồn tại của điểm cân bằng chung- tạo ra giá cả. Đóng góp cơ bản đầu tiên của ông là từ những năm 1950 khi cộng tác với giáo sư Kenneth Arrow. Kenneth Arrow nhận giải thưởng kinh tế năm 1972 cho công trình nghiên cứu này của ông và những lĩnh vực tương tự khác. 

Arrow và Debreu đã thiết kế một mô hình toán học về một nền kinh tế thị trường nơi mà các nhà sản xuất có kế hoạch cho sản lượng hàng hóa và dịch vụ của họ và do đó là kế hoạch cho cầu của mình về các nhân tố sản xuất theo hướng tối đa hóa lợi nhuận. Nhờ bổ sung giả thuyết về hành vi tiêu dùng, Arrow và Debreu đã có thể tạo ra các hàm cầu nghĩa là mối quan hệ giữa giá cả và lượng cầu và lượng cung. Trong mô hình này, Arrow và Debreu đã cố gắng chứng minh sự tồn tại của mức giá cân bằng, nghĩa là họ xác nhận tính logic trong mô hình của Smith and Walras về nền kinh tế thị trường.

Tiếp theo những nỗ lực mở đầu đó, là sự phát triển và mở rộng đáng kể những chứng minh tương tự của Gerard Debreu. Cuốn sách của ông, lý thuyết giá trị, từ những năm 1950 đã trở thành một tác phẩm kinh điển vì tính phổ biến của nó cũng như phương pháp phân tích tài tình của nó. Học thuyết được phát triển trong nghiên cứu này có thể dùng cho việc giải thích và ứng dụng về sau. Khái niệm về hàng hóa, chẳng hạn được định nghĩa rộng đến nỗi nó có thể được sử dụng trong phân tích điểm cân bằng tĩnh, trong các phân tích về phân bổ các hoạt động sản xuất và tiêu dùng, phân tích về tính bất định và các phân tích liên giai đoạn. Theo cách đó, trong một mô hình tương tự, học thuyết điểm cân bằng chung của Gerard Debreu đã kết hợp lý thuyết về địa kinh tế, lý thuyết về tư bản, và hành vi kinh tế trong điều kiện bất định.

Sử dụng hiệu quả các nguồn lực

Một vấn đề chủ yếu liên quan đến nền kinh tế thị trường và có thể được truy nguyên đến Adam Smith khi đề cập đến những đặc điểm có tính chất quy phạm của thị trường phân phối các nguồn lực. Liệu tính tư lợi được thực hiện thông qua bàn tay vô hình của cơ chế thị trường có làm cho việc tận dụng các nguồn lực khan hiếm có hiệu quả. Các nguồn lực sẽ được sử dụng và sản xuất thích hợp để đưa đến kết quả là mọi cố gắng làm cho các cá nhân khấm khá hơn có nhất thiết là sẽ lấy đi của người khác, nghĩa là trong điều kiện không lãng phí bất kể thứ gì? Từ lâu ta đã biết rằng trong những hoàn cảnh cụ thể, sự hình thành mức giá cả thị trường có những đặc tính hiệu quả như thế, nhưng tính chính xác và quy mô đầy đủ của các điều kiện cần phải được thỏa mãn để đảm bảo cho chúng cân bằng lại không được định rõ. Nhờ tác phẩm của Debreu và những học giả kế vị ông, những điều kiện này đã được làm rõ và phân tích chi tiết.

Sự bình ổn

Khái niệm về nền kinh tế thị trường còn bàn đến sự ổn định của điểm cân bằng. Một đặc điểm thú vị của sự ổn định đặt ra một câu hỏi liệu có lợi cho một nhóm tác nhân thị trường nào không khi rút lui hoàn toàn khỏi nền kinh tế thị trường nhằm đảm bảo, độc lập, củng cố vị thế kinh tế của chính mình. Debreu đã tập trung đặc biệt vào vấn đề này, đặc biệt là trong những bài nghiên cứu từ những năm 1960 với Herbert Scarf, và thông qua những tác phẩm nổi bật sau đó. Ông đã chỉ ra rằng đối với các nền kinh tế lớn (có nghĩa là có vô số tác nhân thị trường) sẽ không có lợi cho bất cứ nhóm tác nhân nào khi ngừng công việc kinh doanh trên thị trường. Do vậy, theo khía cạnh này, điểm cân bằng thị trường sẽ ổn định.

Debreu còn có những đóng góp ý nghĩa đối với lý thuyết về hành vi tiêu dùng. Ông đã trình bày hợp lý sự ưa thích của người tiêu dùng bằng thuật ngữ được gọi là các hàm lợi ích và còn nghiên cứu tính khả thi khi gộp chung các hàm lợi ích cá nhân lại cho đến các nhóm cá nhân.

Ảnh hưởng của Debreu 

Tuy nhiên, cống hiến trước hết của giáo sư Debreu có lẽ là có tính chất gián tiếp nhiều hơn. Tính chính xác trong các phân tích của giáo sư cũng như những nét độc đáo giữa một học thuyết kinh tế và sự thể hiện nó mà ông vẽ nên đã làm cho tác phẩm của ông có ý nghĩa vô cùng quan trọng trên phương diện lựa chọn các phương pháp và kĩ thuật phân tích trong lý thuyết kinh tế và ngang tầm với các nhà kinh tế đương thời khác.

Bài phát biểu của giáo sư Karl-Göran Mäler, viện khoa học hoàng gia

Giải thưởng kinh tế năm nay đã được trao cho những đóng góp với một đề tài rất cốt lõi của khoa học kinh tế, đó là học thuyết điểm cân bằng chung. Được trình bày một cách ngắn gọn, học thuyết này đề cập đến cách thức trong đó sự mất cân đối về kinh tế làm xuất hiện một hệ thống phân loại rõ ràng và cách thức nó đưa ra quyết định một cách độc lập, tất cả do tính tư lợi, có thể được kết hợp và hướng đến cái gọi là một tình hình trật tự hơn. Xem xét cả một số hộ gia đình và các hãng tạo quyết định liên quan đến mua bán các hàng hóa và dịch vụ. Đã có nhiều lý do hợp lý để lý giải hiện tượng một người thông thường có thể mua một thứ mà người khác đã có ý định mua và một người bán một thứ mà người khác đã có ý định bán. Bằng một số cách thức, những người này độc lập đưa ra các quyết định kinh tế mà lại phối hợp với nhau. Hiện tượng này có rất nhiều trong đời sống hằng ngày.

Adam Smith đã giải thích sự phối hợp này trong quyết định của các hộ gia đình và các hãng sản xuất dưới dạng hệ thống giá cả. Giá cả truyền thông tin về cầu hàng hóa và dịch vụ cho các nhà sản xuất và thông tin về chi phí cho các nhân tố sản xuất cho người tiêu dùng. Chính sự lan truyền thông tin này cho phép chúng ta sắp xếp có trật tự khi mô tả hệ thống kinh tế.

Trong nửa cuối thế kỉ 19, một người Pháp tên là Léon Walras đã trình bày một cách hệ thống học thuyết này bằng phương pháp toán học. kinh tế học nhờ đó đã có được lý thuyết về điểm cân bằng chung. Người ta thường hiểu rằng nó bao gồm mọi thị trường hàng hóa, dịch vụ và các nhân tố sản xuất. Đó là học thuyết về điểm cân bằng vì nó giải thích cách thức các lượng cầu và cung cân bằng với nhau trong mỗi thị trường này. Giả thuyết của Walras đóng vai trò là nền tảng cho sự phát triển sau này của kinh tế học. Mặc dù có ý nghĩa rất lớn, mãi đến những năm 1920 người ta mới bắt đầu xác định tính vững chắc của mô hình giả định này. Liệu có tồn tại một hệ thống giá làm cân bằng mọi thị trường? Liệu những phương trình trong mô hình của Walras có giải pháp ý nghĩa nào không?

Những câu hỏi này đã được nhà nghiên cứu Abraham Wald trả lời một cách quả quyết trong những năm 1930. Đáng tiếc cho ông là đã đưa ra những giả định không chân thực để chứng minh sự tồn tại của điểm cân bằng. Do đó, những kết quả này không được nghiên cứu tiếp ngay sau đó.

Trước năm 1945 câu hỏi về tính bền vững trong nội tại học thuyết điểm cân bằng chung vẫn chưa có được câu trả lời chính thức. Chỉ sau khi giáo sư Kenneth Arrow, người được trao giải thưởng Nobel kinh tế năm 1972 và giáo sư Gerard Debreu, người nhận giải hôm nay trình bày một bài nghiên cứu kinh điển “sự tồn tại của điểm cân bằng trong một nền kinh tế cạnh tranh”. Ở đây cũng cần phải nhắc đến giáo sư Lionel McKenzie vì ông đã góp phần lớn vào những đóng góp quan trọng này.

Trong học thuyết được phát triển bởi giáo sư Arrow và Debreu, và ngày nay nó được người ta gọi là mô hình Arrow-Debreu, một loạt những điều kiện đảm bảo cho sự tồn tại của điểm cân bằng chung đã được vạch ra. Trong một chuỗi những tác phẩm đặc biệt quan trọng ở thập kỉ sau đó, giáo sư Debreu đã chứng minh thành công sự tồn tại của một điểm cân bằng chung dưới những giả định kém nghiêm ngặt hơn. Và bấy giờ, nghiên cứu này không chỉ giới hạn trong vấn đề về sự tồn tại của một điểm cân bằng chung. Giáo sư Debreu đã tiếp tụ phân tích tính đơn nhất của những điểm cân bằng đó cũng như đặc trưng có tính chất quy chuẩn liên quan đến điểm cân bằng cạnh tranh. 

Chúng ta hãy một lần nữa trở lại với Adam Smith và tuyên bố của ông rằng nhờ có sự nỗ lực của mỗi cá thể nhằm tối đa hóa lợi ích của mình làm xuất hiện một bàn tay vô hình mà nhờ đó hệ thống kinh tế được điều khiển để đạt được lợi ích lớn nhất cho xã hội. Arrow và Gerard Debreu đã độc lập với nhau thiết lập những điều kiện đảm bảo cho cơ cấu giá có thể giúp cho việc sử dụng các nguồn lực có hiệu quả phù hợp với nguyện vọng của người tiêu dùng. Tôi muốn nhấn mạnh rằng điều này không nhất thiết ngụ ý hướng đến một chính sách tự do kinh doanh. Học thuyết này mô tả những điều kiện có đủ hiệu quả kinh tế. Vẫn cần phải có nghiên cứu thực nghiệm khi ước định mức độ mà tới đó các điều kiện được thỏa mãn trong một nền kinh tế hiện hành.

Việc biểu thức hóa học thuyết điểm cân bằng chung mà giáo sư Debreu giữ cương vị chủ chốt có đặc trưng khái quát đặc biệt. Trước tiên, nó là học thuyết về điểm cân bằng cạnh tranh đối với một nền kinh tế không có khu vực công cộng và không biến đổi. Nhưng điểm tiến bộ trong học thuyết của giáo sư Debreu là nó có thể được ứng dụng để phân tích tính hay biến động của các hàng hóa và thuế liên quan đến khu vực công, các vấn đề môi trường… Ngoài ra học thuyết này còn là một hệ thống tham khảo chủ chốt cho các phân tích về quan hệ vốn lãi trong kinh tế. Thậm chí nó còn được xúc tiến ứng dụng rỗng rãi hơn nhờ sự ra đời của các mô hình gọi là mô hình điểm cân bằng chung dự tính được. Những mô hình thực nghiệm này được xây dựng trực tiếp dựa trên hệ thống biểu thức về điểm cân bằng chung của giáo sư Debreu và có thể được sử dụng cho những vấn đề đòi hỏi phân tích tổng thể nền kinh tế, chẳng hạn như những phân tích đang được quỹ tiền tệ thế giới thực hiện.

Đối với sự phát triển của học thuyết điểm cân bằng chung, giáo sư Debreu không những chỉ cung cấp cho ta thông tin về cơ cấu giá mà còn giới thiệu những kĩ thuật phân tích mới, những dụng cụ mới cho các nhà kinh tế học. Giáo sư Gerard Debreu đã biểu tượng hóa việc sử dụng công cụ toán học mới, một công cụ mà các nhà kinh tế học chỉ lĩnh hội một cách trừu tượng. Tính chính xác trong các phân tích của giáo sư cũng như những nét độc đáo giữa một học thuyết kinh tế và sự thể hiện nó mà ông vẽ nên đã làm cho tác phẩm của ông có ý nghĩa vô cùng quan trọng trên phương diện lựa chọn các phương pháp và kĩ thuật phân tích trong lý thuyết kinh tế và ngang tầm với các nhà kinh tế đương thời khác.

Hơn ai hết, ngài đã góp phần to lớn làm chúng ta hiểu về học thuyết điểm cân bằng chung và những điều kiện đảm bảo cho sự tồn tại của điểm cân bằng chung trong một nên kinh tế giả định. Phân tích sâu sắc của ngài về các mô hình kinh tế giả định đã cung cấp cho chúng ta một học thuyết chung có thể được ứng dụng để lý giải nhiều vấn đề với phạm vi sâu rộng hơn so với những mô hình thay thế không hoàn chỉnh khác.

Hơn ai hết, giáo sư tượng trưng là người có một phương pháp tiếp cận mới đối với phân tích kinh tế, một cách tiếp cận mà trong khi rất là trừu tượng lại mang lại một lý giải dễ hiểu hơn về kinh tế cơ sở. Ảnh hưởng của ngài tới phương pháp, tiêu chuẩn, và kĩ thuật phân tích mà các nhà kinh tế sử dụng là vô cùng đáng chú ý.

Ngọc Hân 

—————&&————–

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: