Giải Nobel kinh tế 1982: Cấu trúc ngành, chức năng của thị trường, nguyên nhân và ảnh hưởng của chính sách công – George Stigler

Những ý tưởng kinh tế tráng lệ của thế kỷ 20 (Phần 11)

(Nguồn: 60s.com.vn)

Ngày 20 tháng 10 năm 1982 viện khoa học hoàng gia thụy điển quyết định trao giải thưởng khoa học kinh tế tưởng nhớ Alfred Nobel năm 1982 cho Giáo sư George Stigler, đại học Chicago, Hoa Kì vì những nghiên cứu đột phá của ông về cấu trúc ngành, chức năng của thị trường và những nguyên nhân và hậu quả của điều tiết công.

Đóng góp chủ yếu của giáo sư George Stigler

Thông qua những nỗ lực trong nghiên cứu với định hướng thực nghiệm chặt chẽ, giáo sư George Stigler đã dựng nên cơ sở để nghiên cứu các quy trình thị trường và phân tích cấu trúc ngành. Một phần trong công trình nghiên cứu này ông tìm hiểu cách thức các thị trường bị ảnh hưởng bởi các định chế kinh tế. Những nghiên cứu của ông về những tác động làm phát sinh pháp lý đã mở ra một lĩnh vực nghiên cứu kinh tế mới.

Những thành tựu của giáo sư Stigler đã làm cho ông trở thành người đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng về thị trường và cấu trúc ngành- một lĩnh vực thường được gọi là tổ chức ngành. Nhờ những đặc điểm đặc biệt trong nghiên cứu của mình, giáo sư Stigler còn được công nhận là người sáng lập nên lĩnh vực thông tin kinh tế và điều tiết kinh tế và là một trong những người tiên phong nghiên cứu liên ngành kinh tế và luật học.

Các quy trình thị trường và cấu trúc công nghiệp 

Dù được đơn giản hóa một cách rõ rệt, lý thuyết kinh tế cơ sở đã chứng minh tính hiệu quả của nó trong việc giải thích và dự đoán các đặc điểm cơ bản của các sự kiện thị trường. Đồng thời, do tính trừu tượng cao nhiều hiện tượng thị trường đơn lẻ đã không được làm rõ. Đây là cơ sở cho các công trình nghiên cứu của giáo sư Stigler. Ước muốn chủ yếu của ông là nhằm giải thích những đặc điểm riêng biệt và tính khác biệt của các thị trường và sự phát triển về cơ cấu trong khuôn khổ các giả thuyết cơ sở về hành vi lạc quan của các hãng và hộ gia đình và tác động qua lại giữa cung, cầu.

Điều này đã được minh họa trong nghiên cứu của giáo sư Stigler về vai trò của thông tin trong quy trình thị trường. Theo lý thuyết truyền thống, các quy trình thị trường có thể là kết quả của sự tối ưu mà mỗi hàng hóa, trừ chi phí vận chuyển, được bán cho một đối tượng và với mức giá ngang bằng ở mọi nơi. Tuy nhiên trên thực tế, ở hầu hết các thị trường giá cả đều biến đổi. Stigler chỉ rõ hiện tượng này có thể hiểu được nếu chi phí tìm kiếm và chi phí thông tin cho hàng hóa và giá cả được tính gộp với chi phí sản xuất và chi phí vận chuyển. Những điểm cơ bản của lý thuyết truyền thống không bị phản đối chính thức. Nó chỉ đơn thuần trình bày dưới dạng biểu đồ bằng cách giả định thông tin hoàn hảo, cũng giống như những lý thuyết cơ sở trong vật lý học giả định rằng có sự tồn tại của chân không.

Sự thiếu hiểu biết của một chủ thể thị trường về hàng hóa và giá cả tất nhiên có thể được giảm bớt bằng cách thu thập và trang bị thông tin. Lượng thông tin mà một hãng và một hộ gia đình cần có được tính nhờ so sánh giữa chi phí và lợi nhuận khi sản xuất một loại hàng hóa nào đó. Nghĩa là, thông tin được thu thập cho đến khi tính hiệu quả kì vọng ở việc tìm kiếm sau đó không còn có giá trị cao hơn chi phí tìm kiếm phụ thêm. Thông tin mà một chủ thể yêu cầu được lựa chọn một cách có chủ đích. Ngược lại, cả khi thiếu vắng thị trường thông tin vẫn được lựa chọn một cách duy lý và thận trọng.

Những thành tựu này và những thành tựu tương tự khác đã chứng tỏ là một phần bổ sung không thể thiếu cho lý thuyết cơ sở. Công trình nghiên cứu sau đó đã chỉ ra cách thức các hiện tượng như tính cứng nhắc và những biến đổi của giá cả trong các giai đoạn chuyển giao, những nguồn lực chờ phân bổ và chưa sử dụng đến vốn là những đặc điểm chính của các quy trình sản xuất có thể được làm rõ trong khuôn khổ những giả thuyết kinh tế cơ bản. Chúng không còn là những điểm không hoàn chỉnh thái quá của thị trường mà cần phải có sự can thiệp của chính phủ. Những kết quả nghiên cứu này cũng giúp cho việc giải thích về lạm phát và tình trạng thất nghiệp. Một số lượng đáng kể nghiên cứu về những hiện tượng này trong những thập niên qua cũng tiếp theo dòng lập luận đó. Do đó Stigler không những là người khởi đầu cho lĩnh vực thông tin kinh tế mà ông còn là một trong những người đặt ra những định đề cơ sở cho các nghiên cứu về lý luận cơ sơ của kinh tế vĩ mô ngày nay.

Trong một nghiên cứu quan trọng khác, Stigler kiểm tra dự đoán lý luận truyền thống rằng những khác biệt trong tỷ suất lợi tức mất đi nhanh chóng cho dù có sự chuyển dịch vốn từ những hãng có lợi nhuận thấp đến những hãng có lợi nhuận cao- một trong những quan điểm chung của khái niệm tân cổ điển về cơ cấu thị trường. Dựa trên những tài liệu về dữ liệu vốn và tiền lương của Mỹ- chính ông là người tiên phong trong lĩnh vực thống kê kinh tế- giáo sư Stigler còn thấy rằng những khác biệt về tỷ suất lợi tức trên thực tế được làm cho cân bằng, cho dù chu trình đó có thể mất đến một thập kỉ. Nếu ngành công nghiệp sinh lợi hay không sinh lời trong một năm thì nó có thể vẫn như vậy trong 2 hay 3 năm. Nhưng khó có thể có kết luận được điều gì về các ngành này sau khoảng thời gian 7 đến 8 năm. Sự chậm chạp có thể trì hoãn việc hoà vốn, nhưng cuối cùng nó vẫn sẽ xảy ra. Khác biệt trong tỷ suất lợi tức giữa các hãng và các ngành có thể chỉ xuất hiện khi kéo dài một thời gian dài, nhưng điều này chủ yếu xảy ra nếu những ngành và các hãng sản xuất mới có năng suất cao xuất hiện, trong khi các ngành và các hãng đã sinh lợi lại đi xuống. Có rất nhiều dấu hiệu cho thấy những chiều hướng này gần đây càng trở nên mạnh mẽ do tăng cường quốc tế hóa nền kinh tế. Nói chung, những chu trình này có vẻ phổ biến như nhau ở nhiều nước cũng như ở Mỹ. 

Trong một công trình nghiên cứu khác, Stigler chỉ rõ trên thực tế, những kết luận rõ ràng về tiết kiệm theo quy mô và những hiện tượng tương tự không thể rút ra được dựa trên những dữ liệu chi phí truyền thống để xác định quy mô tối ưu của hãng trong mỗi ngành sản xuất.. Khả năng tồn tại và phát triển của một hãng chỉ liên quan rất ít tới chi phí điều kiện sản xuất, thay vào đó lại phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố mà rất khó quan sát.

Những đóng góp của Stigler cho nghiên cứu thực nghiệm về thị trường và cấu trúc ngành dựa trên lý thuyết kinh tế còn bao gồm rất nhiều cuộc điều tra thăm dò sau đó. Một trong số chúng là cuộc khảo sát về hành vi định giá trong ngành công nghiệp Mỹ. Những nghiên cứu khác đề cập đến ý nghĩa của độc quyền thị trường và độc quyền nhóm bán.

Nguyên nhân và ảnh hưởng của điều tiết công

Đầu những năm 1940, Stigler đã tiến hành một nghiên cứu về tác động của một số điểm trong pháp chế điều tiết ở Mỹ, đặc biệt là pháp chế điều chỉnh giá cho thuê và mức tiền lương tối thiểu. Ông trình bày những tác động phụ không dự kiến được và có ảnh hưởng sâu rộng có thể xuất hiện đồng thời với những ảnh hưởng được kì vọng. Một nghiên cứu sau đó chỉ rõ rằng sự điều chỉnh về giá điện hoàn toàn không có những ảnh hưởng dễ nhận thấy. Giáo sư Stigler cho rằng sự điều chỉnh đó có thể được dựa trên những nhầm lẫn về tình trạng thực và do đó trong thực tiễn chúng khó được bổ sung và dựa trên hiện tượng là những ảnh hưởng không dự kiến được có thể bị vô hiệu bởi sức ép từ bên ngoài. Tác phẩm về hậu quả của điều tiết pháp chế đã truyền cảm hứng cho vô số những nghiên cứu tương tự về sau được thực hiện bởi rất nhiều nhà nghiên cứu ở các nước.

Trong những nghiên cứu sau này về điều tiết pháp chế, giáo sư Stigler đã chú trọng vào nguyên nhân của nó hơn là hiệu quả của nó. Những quan sát đầu tiên đã đưa ông đến với giả định thực tế một số pháp chế bảo hộ các hãng, các tổ chức sản xuất và các nhóm nghề nghiệp nghĩa là lợi ích của nhà sản xuất- thay cho lợi ích chung mà chúng có ý định bảo hộ theo những động cơ được chỉ rõ. Chính Stigler đã tìm thấy những trợ giúp thực nghiệm vững chắc cho giả định của mình trong rất nhiều nghiên cứu sau đó; nhưng vẫn còn quá sớm để ấn định phạm vi cuối cùng của nó. Nhưng kết quả của Stigler cho thấy rằng quá trình lập pháp cũng có thể làm xuất hiện hành vi lạc quan của các chủ thể tham gia thị trường. Tới mức độ như vậy, thì pháp chế không còn là một lực ngoại sinh tác động đến nền kinh tế từ bên ngoài mà là một bộ phận nội sinh của chính hệ thống kinh tế. Tính toán này cấu thành những bước tiến trong tương lai để mở rộng tầm ứng dụng cho các giả định cơ sở về lý luận kinh tế.

Những nghiên cứu của giáo sư Stigler đã mở ra một phạm vi nghiên cứu mới được gọi là quá trình lập pháp kinh tế. Theo nhiều hướng, nó dẫn đến việc thử nghiệm cơ bản cho các mục đích, tác động, nguyên nhân và hậu quả của những điểm pháp chế khác nhau. Những thành tựu này đã làm cho giáo sư Stigler trở thành một trong những nhà khoa học tiên phong trong một lĩnh vực nghiên cứu khác là liên ngành kinh tế và luật học.

Ngọc Hân (dịch)

—————-&&—————–

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: