Giải Nobel kinh tế 1980: Mô hình kinh tế lượng trong phân tích chu kỳ kinh tế và chính sách kinh tế – Lawrence R. Klein

Những ý tưởng kinh tế tráng lệ của thế kỷ 20 (Phần 8)

(Nguồn: 60s.com.vn)

Ngày 15 tháng 10 năm 1980 viện khoa học hoàng gia Thụy Điển quyết định trao giải thưởng kinh tế học tưởng nhớ Alfred Nobel cho Giáo sư Lawrence R. Klein, đại học Pennsylvania, Hoa Kì vì đã sáng tạo ra các mô hình kinh tế và ứng dụng của chúng đối với phân tích các dao động kinh tế và chính sách kinh tế.

Mô hình về các dao động kinh doanh ở Mỹ

Trong 3 thập kỉ qua, giáo sư Lawrence Klein đã chứng tỏ là nhà nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực khoa học kinh tế chuyên đề cập đến cấu trúc và phân tích các mô hình thực nghiệm về dao động kinh doanh. Ông bắt đầu sự nghiệp của mình trong lĩnh vực này bằng một bài nghiên cứu năm 1950 trong đó ông đã cố gắng xác định về mặt lượng những mô hình khác nhau của nền kinh tế Mỹ trong thời kì nội chiến. Trong những năm sau đó, ông tiếp tục nghiên cứu theo chiều hướng này và tạo ra những mô hình mới, trong số đó, có một mô hình mà ông cộng tác với nhà khoa học Arthur Goldberger là mô hình nổi tiếng nhất.

Thông qua việc tạo dựng các mô hình, giáo sư Klein đã đổi mới những kết quả phân tích vĩ mô mà giáo sư Jan Tinbergen khởi dựng những năm 1930. Tuy nhiên, ông đã sử dụng một lý thuyết kinh tế khác, cũng như một kĩ thuật thống kê khác. Mục tiêu của ông cũng là một mục tiêu khác. Trong khi giáo sư Jan Tinbergen chủ yếu nhằm vào các phân tích về điều kiện kinh tế và sự giao động của giá cả thì giáo sư Klein lại muốn trước hết là tạo ra một công cụ để dự báo sự phát triển của các dao động trong kinh doanh và công cụ để nghiên cứu các tác động của các biện pháp kinh tế chính trị.

Những công bố trước đây của giáo sư Klein chủ yếu có đặc điểm lý luận. Tuy nhiên, dần dần, các tác phẩm của ông bắt đầu được đặc trưng hóa với mục tiêu xây dựng và ứng dụng các mô hình cho mục đích thực nghiệm. Trong những năm 1950 các mô hình kinh tế Mỹ của ông bắt đầu được thiết lập vững chắc như là một công cụ tuyệt hảo để tiến hành các dự báo ngắn hạn và ngoài ra giáo sư còn cộng tác với các nhà kinh tế khác xây dựng các mô hình toán kinh tế ở một số nước, trong số đó có Anh và Canada. Là một mắt xích trong đích nhắm này, trong những năm đầu 1960, ông trở thành người chỉ đạo một dự án nghiên cứu quy mô lớn “dự án The Brookings-SSRC”. Mục tiêu của dự án này là xây dựng một mô hình toán kinh tế chi tiết và sử dụng nó để dự báo sự phát triển trong ngắn hạn của nền kinh tế Mỹ. Một thời gian sau, giáo sư Klein đã khởi hành xây dựng một mô hình khác “mô hình dự báo kinh tế Wharton”. Mô hình này khá nhỏ so với mô hình Brookings đã rất nổi tiếng với những phân tích của nó về điều kiện kinh doanh, và ngày nay thường được dùng để dự báo các dao động trong sản phẩm quốc nội, nhập khẩu, đầu tư tiêu dùng.. và để nghiên cứu những ảnh hưởng tác động lên các biến này khi có sự thay đổi về thuế, tiêu dùng công cộng và tăng giá dầu…thực tế, trong khả năng lãnh đạo tài tình của Klein nó đã trở thành một dự án nghiên cứu liên tục….

Sự kết hợp các mô hình kinh doanh quốc tế

Cuối những năm 1960, một kế hoạch nghiên cứu quy mô lớn mới “LINK” đã được bắt đầu trong đó giáo sư Klein đóng vai trò trung tâm, vừa là người khởi xướng vừa là người chỉ đạo hoạt động nghiên cứu. Mục tiêu của kế hoạch này là kết hợp các mô hình toán kinh tế ở các nước khác nhau. Ý tưởng của kế hoạch này là nó có thể cải thiện khả năng phân tích sự lan truyền của các dao động trong kinh doanh giữa các nước khác nhau và dự báo về thương mại quốc tế và chuyển dịch vốn quốc tế. Những khả năng này cũng có thể được tạo ra để nghiên cứu cách thức những tác động kinh tế của các biện pháp chính trị trong một nước lan truyền đến các nước khác, và có thể sau đó có tác động ngược trở lại nền kinh tế của nước ban đầu. Ở đây ta có thể nêu ví dụ về một ứng dụng khác đó là ứng dụng để nghiên cứu cách thức một sự tăng lên về giá dầu có ảnh hưởng đến lạm phát, việc làm và cán cân thương mại ở các nước khác nhau.

Trong nghiên cứu kinh tế vĩ mô thực nghiệm, dự án LINK đã mở ra một dòng phát triển hoàn toàn mới có giá trị lý luận và thực tiễn. Nó cũng có ảnh hưởng rất lớn đến việc thúc đẩy xây dựng các mô hình toán kinh tế trong những nước tham gia vào kế hoạch nghiên cứu này. Kế hoạch này bao gồm không chỉ những quốc gia nằm trong tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD mà còn có các nước xã hội chủ nghĩa và các nước kém phát triển.

Tác động từ công trình nghiên cứu của Klein

Thông qua những ấn phẩm cũng như hướng dẫn nhiều nhóm nghiên cứu khoa học ở các nước khác nhau, giáo sư Klein đã khuấy động mạnh mẽ các nghiên cứu về mô hình dự báo dựa trên toán kinh tế và khả năng sử dụng các mô hình đó trong phân tích thực nghiệm các chính sách kinh tế. Nhờ có đóng góp của giáo sư Klein, việc xây dựng các mô hình toán kinh tế đã được ứng dụng phổ biến. Ngày nay nó có thể được thấy khắp nơi trên thế giới, không chỉ trong các viện khoa học, mà còn ở các tổ chức chính trị, chính phủ và các tổ chức kinh doanh lớn. ít khi có nhà khoa học nghiên cứu thực nghiệm kinh tế học có được nhiều lớp kế vị và ảnh hưởng lớn như Lawrence Klein.

Bài phát biểu của giáo sư Herman Wold, viện khoa học hoàng gia

Cuộc đại suy thoái kinh tế đầu những năm 1930 đặt ra một thời đại mới đối với các chính sách kinh tế và khoa học kinh tế. Nạn thất nghiệp khốc liệt và kéo dài, cho đến khi nó được dập tắt bởi quân đội thành lập trước chiến tranh thế giới thứ hai. Tiêu chuẩn vàng, chế độ bảo hộ vững chắc về mức giá nội bộ một nước và thương mại quốc tế đã lần lượt bịt hủ tiêu nối tiếp từ nước này sang nước khác. Tất cả các nước đều bắt đầu cung cấp nhiều thông tin kinh tế, nhiều dữ liệu về sản lượng, giá cả, tiền lương, thất nghiệp, điều kiện tín dụng, vân vân. Kinh tế thế giới sau chiến tranh được phản ánh trong các bảng thống kê, một mạng lưới gồm những khác biệt và tương đồng giữa các quốc gia nhỏ và các cường quốc, phương đông và phương tây, các nước công nghiệp hóa ở phía bắc và thế giới thứ ba ở phía nam.

Thời đại kinh tế mới sau cơn đại suy thoái những năm 1930 được thấy rõ trong lĩnh vực khoa học kinh tế và John Maynard Keynes là cha đẻ của nó. Trong chuyên luận năm 1936 của ông học thuyết tổng quát về lao động việc làm, John Maynard Keynes đã đặt ra các nguyên lý chính sách kinh tế làm giảm thất nghiệp bằng tăng chi tiêu chính phủ hay giảm thuế. Giáo sư Jan Tinbergen, và giáo sư Ragnar Frisch, những người đạt giải kinh tế tưởng nhớ Alfred Nobel đầu tiên đã khỏi xướng xây dựng và nghiên cứu các mô hình toán kinh tế từ những năm 1930. Theo mô hình của Tinbergen, dao động kinh tế được phân tích trong các mối quan hệ về lượng giữa sản lượng, tiền lương, giá cả, đầu tư và các biến khác; đặc điểm mới trong mô hình đó là nhờ các dữ liệu hàng quý hàng năm ông có thể trình bày sự phát triển kinh tế của một quốc gia theo một hệ thống quan hệ chặt chẽ, một mô hình kinh tế vĩ mô. Giữa chiến tranh thế giới thứ nhất và chiến tranh Napoleon, có 14 chu kì kinh doanh, mỗi chu kì khoảng 6 đến 8 năm. Giáo sư Tinbergen đã đặt ra câu hỏi liệu các chu kì kinh doanh có thể được làm giảm chấn động bằng các thay đổi trực tiếp đối với những biến kinh tế được chọn lựa thích hợp.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, cấu trúc các mô hình kinh tế vĩ mô được tái sịnh ở Mỹ. sự phát triển nghiên cứu tiếp đó trong lĩnh vực này hết sức nhanh chóng và mạnh mẽ. vì thời kì phát đạt của nền kinh tế Mỹ sau chiến tranh thế giới mạnh mẽ và kéo dài nên các phân tích không tập trung nhiều vào các khuyh hướng chu kì trong hệ thống kinh tế mà là việc giữ cho tăng trưởng kinh tế ổn định. Do đó nhiệm vụ chủ yếu của các mô hình kinh tế học vĩ mô là đưa ra dự báo về các quý, các năm về sản lượng, mức giá, tình trạng thất nghiệp, vân vân. Cuối những năm 1950, có một số mô hình kinh tế Mỹ thực hiện việc dự báo và ở Washington D.C, tính chính xác của các dự báo này là chủ đề cho các so sánh hệ thống. Nguồn tài liệu thống kê kinh tế tăng lên sau chiến tranh có lợi cho các mô hình kinh tế vĩ mô. Ngoài ra, các mô hình này sớm đóng vai trò quan trọng như công cụ để đưa ra các chính sách kinh tế. Những dự báo có được từ mô hình kinh tế vĩ mô nhờ sử dụng các mối quan hệ của nó khi cập nhật các biến từ quý này đến quý khác. Cũng bằng cách đó, có thể đo được tác dụng của các biện pháp kinh tế chính trị dự tính. Chẳng hạn, nếu muốn tiết kiệm bằng cách tăng lãi suất, sự tăng lên dự tính được đưa vào mô hình, và sau đó mô hình tính toán ảnh hưởng của sự tăng lãi suất đối với tiết kiệm và lượng cung tư bản cho đầu tư của các doanh nghiệp.

Từ lâu giáo sư Lawrence Klein đã là người đi đầu trong việc xây dựng và ứng dụng các mô hình kinh tế vĩ mô. Công trình nghiên cứu toán kinh tế của giáo sư là cơ sở vững chắc và rộng lớn cũng như thành quả đạt được của ông trong các lĩnh vực, nghiên cứu về lý thuyết kinh tế dựa trên các mô hình. Trong luận án tiến sĩ của ông năm 1944 và cuốn sách cuộc cách mạng học thuyết kinh tế Keynes, năm 1947 giáo sư Klein đã trình bày chi tiết phát minh và phát triển các quan điểm của Keynes vốn cung cấp cơ sở lý luận chủ yếu cho các mô hình kinh tế vĩ mô của ông. Khi gia nhập trung tâm khảo cứu ở Chicago, Klein đã cộng tác nghiên cứu về sự phát triển của khoa học thống kê với lượng tiêu dùng và thái độ người tiêu dùng. Đối với các kỹ thuật thống kê, mô hình của Klein được xác định là hệ thống các biểu thức phụ thuộc lẫn nhau, một kiểu mô hình mới và linh hoạt hơn là phát minh của Trygve Haavelmo năm 1943. Klein đã bị thu hút và có cảm hứng từ tính linh hoạt của các hệ thống tương thuộc và những bài toán mới tiếp theo của phương pháp thống kê.

Tóm lại: giáo sư Klein đã sáng tạo và xây thiết lập một mô hình kinh tế vĩ mô mới, một kiểu mẫu chung cho ứng lý luận và thực nghiệm. mô hình của Klein gồm có các tổ chức thể chế có thủ tục quy củ đối với việc đưa ra dự báo, có chức năng phục vụ cho các chính sách kinh tế, khi dữ liệu thống kê trở nên càng phong phú hơn, mô hình của Klein càng rộng lớn và chi tiết. tính giàu chi tiết là rất cần thiết để đáp ứng được nhu cầu dự báo kinh tế tăng cao và cho việc ước tính ảnh hưởng kinh tế xã hội của các biện pháp kinh tế chính trị, nhu cầu tăng cao từ các phương tiện truyền thông, từ những người cố vấn và đưa ra các quyết định trong các tập đoàn và tổ chức, trong chính phủ và cơ quan chính trị.

Từ năm 1958, giáo sư Lawrence Klein đã giảng dạy tại trường kinh tế Wharton đại học Pennsylvania. Mô hình Wharton của ông đã đặt nền tảng cho một trong những tổ chức lớn nhất thuộc kiểu đó, với số nhân viên và ngân quỹ nhiều hơn. Một điểm quan trọng trong tác phẩm nghiên cứu của Klein ông vốn là một người lưu động cộng tác với các nước khác, châu lục khác để xây dựng các mô hình kinh tế vĩ mô. Thành quả lớn nhất gần đây của giáo sư là kế hoạch LINK, nó thắt chặt các mô hình kinh tế vĩ mô của nhiều nước khác nhau, trong đó có các quốc gia thuộc thế giới thứ ba, kết hợp các mô hình lại với một hệ thống toàn diện với mục đích làm tăng thêm sự hiểu nhau trong các quan hệ kinh tế quốc tế, và hoàn thiện các dự báo về thương mại quốc tế, chuyển dịch tư bản và các mối quan hệ song phương khác trên toàn cầu đối với các dao động kinh tế.

Ngọc Hân dịch

————&———–

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: