Giải Nobel kinh tế 1979: Lý luận phát triển kinh tế – Theodore W. Schultz & Arthur Lewis

Những ý tưởng kinh tế tráng lệ của thế kỷ 20 (Phần 10)

(Nguồn: 60s.com.vn)

Ngày 16 tháng 10 năm 1979, viện khoa học hoàng gia quyết định trao giải thưởng kinh tế học tưởng nhớ Alfred Nobel cho hai nhà khoa học: Giáo sư Theodore W. Schultz, Đại học Chicago, Mỹ (1902 – 1998) và Giáo sư. Huân tước Arthur Lewis, Đại học Princeton, Mỹ (1915 – 1991) vì đã đi đầu nghiên cứu trong lĩnh vực nghiên cứu phát triển kinh tế trong đó hướng đặc biệt vào các vấn đề của các nước đang phát triển.


Schultz là nhà kinh tế học nông nghiệp

Giáo sư W. Schultz khởi đầu sự nghiệp là nhà kinh tế nông nghiệp và trong những năm 30 và 40, đã trình bày một loạt nghiên cứu về sự khủng hoảng của nền nông nghiệp Mỹ, sau đó bàn đến những vấn đề nông nghiệp ở các nước đang phát triển trên thế giới. Các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông từ thời kì này bao gồm: Nông nghiệp ở nền kinh tế không ổn định (1945) và sức sản xuất và sự thịnh vượng của nền nông nghiệp (1949). Tác phẩm nổi tiếng nhất mang tính mở đường của ông là Nền nông nghiệp cổ điển chuyển đổi (1964). Điểm đặc biệt trong các nghiên cứu của ông là không tiếp cận kinh tế nông nghiệp một cách riêng biệt mà coi nó như một bộ phận trong tổng thể nền kinh tế. Ông tập trung phân tích về sự bất cân đối giữa nghèo khổ và kém phát triển trong nông nghiệp trong mối tương quan với các ngành công nghiệp có năng suất và thu nhập cao hơn và các hoạt động kinh tế đô thị khác. Những nghiên cứu này được áp dụng cho cả các nước có nền công nghiệp phát triển như Mỹ và rất nhiều các nước đang phát triển mà ông tìm hiểu.

Ông nhận được rất nhiều ủng hộ từ các phân tích xuất sắc về vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển của kinh tế xã hội từ các phân tích về vấn đề năng suất trong nông nghiệp của nước Mỹ cũng như các nước đang phát triển.

Minh họa: Corbis

 

Các phân tích của ông về tiềm lực phát triển nông nghiệp được dựa trên phương pháp bất cân xứng. Một mặt, nó là khoảng cách giữa phương pháp sản xuất truyền thống và các phương thức hữu hiệu hơn có thể tạo ra các điều kiện cần thiết hiện hành tạo động lực phát triển. Khi áp dụng phương thức tiếp cận này, trong nhiều mục ông đã trình bày các phân tích cụ thể phê phán chính sách công nghiệp hoá của các nước đang phát triển khi không xao lãng nền nông nghiệp. Schultz là người đầu tiên hệ thống hoá phân tích về ảnh hưởng của đầu tư cho giáo dục tới năng suất của nền nông nghiệp cũng như tổng thể nền kinh tế. Nhận biết được sự hạn chế của phương pháp này, với tư cách là người định lượng tương đối đầu tiên, xác định và định lượng vốn đầu tư giáo giục bằng tổng các nguồn đầu tư cho giáo dục. Phần lớn chi phí của đầu tư trong giáo dục bao gồm những mất mát đối với thu nhập nếu như người đi học đi làm thay vì đi học. Vì vậy đây là chi phí cơ hội có thể thấy đối với cá nhân và quốc gia.

Schultz với nhân tố con người

Giáo sư Schultz và học trò của ông đã chỉ ra rằng, trong một thời gian dài, đầu tư cho nguồn nhân lực đã mang lại hiệu quả vốn nhân lực rõ ràng hơn các nguồn vốn khác trong nền kinh tế Mỹ và điều này đã đưa đến kết quả là càng ngày người ta càng đầu tư nhiều hơn cho giáo dục so với các loại hình đầu tư khác.

Trong tác phẩm của mình, ông luôn chú ý tới tính thực tiễn của kinh tế học, cả với tư cách là nhà nghiên cứu kinh tế và nhà cố vấn trong nhiều lĩnh vực. Ông cho thấy sự uyên thâm của một nhà kinh tế với khả năng ấn tượng trong việc xác định các nhân tố phát triển mà các nhà kinh tế xây dựng mô hình thường bỏ qua.
Bên cạnh đó, cách tiếp cận của ông được mở rộng và được thể hiện ở nhiều nhân tố và khung cảnh khác nhau liên quan tới nguồn lực con người (nhân tố con người). Schultz đã nghiên cứu các chủ đề gắn liền với sức khoẻ và bệnh tật cũng như các vấn đề về dân số nói chung và coi chúng như những nhân tố cốt yếu trong phát triển kinh tế ở các nước thuộc thế giới thứ III. Trong suốt sự nghiệp nghiên cứu lâu dài của mình, ông đã thể hiện được khả năng nghiên cứu ấn tượng, đặt ra những câu hỏi liên quan và mở ra những con đường nghiên cứu hữu ích cho các nghiên cứu sau này. Hiếm có nhà kinh tế học nào đã đạt được những thành quả to lớn như ông trong việc truyền cảm hứng cho các đồng nghiệp và sinh viên tiếp tục tiến hành các nghiên cứu quan trọng.

Giáo sư Lewis đối với sự nghèo nàn của các nước đang phát triển

Giáo sư Lewis là người đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu về các nước đang phát triển. Các tác phẩm chủ yếu của ông được viết từ giữa những năm 50 như: Phát triển kinh tế với nguồn lao động không hạn chế (1954)  Lý thuyết về phát triển kinh tế (1955), và được kế tiếp bởi các tác phẩm quan trọng. Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Bài giảng Wichsell năm 1969 (Các khía cạnh của Thương mại nhiệt đới, 1988 – 1965) và quyển sách nổi tiếng mới nhất, Phát triển và các chu kỳ suy thoái, 1870 – 1913 (1978).

Ông đã giải quyết các vấn đề được coi là nguyên nhân cơ bản của nghèo đói các nước đang phát triển và sự không đáp ứng tốc độ phát triển kinh tế. Hai mô hình lý thuyết phân tích nổi tiếng nhất của ông, được thiết kế để mô tả và giải thích vấn đề bản chất của kém phát triển, đã nhận được sự cổ vũ lớn và tạo tiền đề cho các cuộc tranh luận với quy mô lớn.

Các mô hình này cũng trở thành chủ đề cho nghiên cứu thực nghiệm đánh giá về tình thực tiễn và hiệu quả của chúng.

Mô hình đầu tiên được dựa trên bản chất kép của nền kinh tế đang phát triển. Nền nông nghiệp truyền thống chủ yếu dựa vào tự canh tự tác, chiếm phần lớn lao động trong quốc gia và ngành công nghiệp hiện đại chủ yếu tập trung vào sản xuất công nghiệp. Động lực của nền kinh tế bắt nguồn từ nhân tố thứ hai, nó phát triển mở rộng với sự cung cấp không hạn chế của nguồn nhân lực từ ngành nông nghiệp, và công nhân chấp nhận mức lương thấp nhưng tương ứng với các điều kiện sống và làm việc trong nền nông nghiệp lạc hậu. Những lợi nhuận đạt được từ ngành công nghiệp hiện đại “ngành tư bản” tạo ra nguồn tích trữ để cấp vốn cho tư bản hình thành và phát triển.

Mô hình cơ sở khác của ông liên quan tới sự xác định các điều kiện thương mại giữa các nước phát triển và đang phát triển, một mặt là các nguồn tài nguyên thô và sản phẩm nhiệt đới, mặt khác là các sản phẩm công nghiệp. Và đây lại là câu hỏi về một mô hình cổ điển đơn giản. Hai nhóm quốc gia nam và bắc, giàu và nghèo, mỗi nhóm sản xuất hai nhóm sản phẩm, một trong số đó có đặc điêm chung, cụ thể là thức ăn. Hai nhóm sản phẩm khác nhau, theo mô hình được gọi là “cà phê” và “thép” được đem ra mua bán. Lewis đã chỉ ra rằng, trong các điều kiện nhất định, tỉ giá thương mại được quyết định bởi mối liên hệ giữa năng suất nông nghiệp giữa nước phát triển và nước đang phát triển. Theo mô hình phân tích này, năng suất nông nghiệp thấp của các quốc gia đang phát triển là nhân tố quyết định đối với tỷ giá thương mại hiện hành giữa hai nhóm quốc gia, có nghĩa là tỉ giá thương mại trong dài hạn.
Một điểm thú vị trong mô hình phân tích đơn giản của Lewis là nó đưa ra các nhân tố cơ bản của lý do về các vấn nạn về nghèo đói và phát triển tại các nước đang phát triển và khía cạnh khác là nó có thể được nhập vào bức tranh tổng thể về lịch sử và phát triển thống kê học tại các nước thuộc thế giới thứ ba.

Minh họa: Corbis

 

Kinh nghiệm ông đúc rút từ vô số công việc của nhà cố vấn kinh tế và nhà quản lý của một ngân hàng phát triển lớn đã giúp ông hiểu biết sâu sắc về cách thức mà các nhà chính trị và độc tài vận hành. Vì thế ông có cơ sở vững chắc để có thể đưa ra các phân tích thực tiễn về triển vọng của chính sách kinh tế. Trong một trong những tác phẩm đầu tiên của ông (Nguyên tắc của lập kinh tế kế hoạch năm 1949) và sau đó là tác phẩm Chính trị tại Tây phi năm 1965, Lewis đã bàn luận chi tiết các khó khăn trong việc quy hoạch- trên lập trường kinh tế duy lý, xuất hiện khi mà nền kinh tế tập trung bỏ qua nhân tố giá cả trong nền kinh tế thị trường. Trong tình huống này, ông nhấn mạnh sự khác biệt giữa “kế hoạch theo định hướng” và “kế hoạch thông qua thị trường”. Cách tiếp cận này luôn là điểm đặc trưng trong nghiên cứu của ông và được cụ thể hoá trong tác phẩm mới nhất “Phát triển và biến động”. Ông minh hoạ sự tương tác giữa các nước đang phát triển và sau đó được công nghiệp hoá trong thời kỳ dài từ năm 1870 – 1913. lúc này, dường như ông đã trở thành nhà sử gia kinh tế với những phân tích tỉ mỉ dựa trên các dữ liệu thống kê và việc tái sử dụng khéo léo các dữ liệu. Trong rất nhiều các khía cạnh, ông đã đặt ra nhiều cách nhìn nhận mới mẻ về tiến trình phát triển và chu kỳ kinh tế ngắn và dài hạn trong hạt nhân của các nước công nghiệp phát triển làm ảnh hưởng từ ngoại biên tới các nước đang phát triển. .

Những đặc điểm chung

Những phân tích của cả Schultz và Lewis về vấn đề phát triển có rất nhiều điểm tương đồng. Chúng ta thấy được các đóng góp bổ sung giữa họ. Thứ nhất, họ đều có chung điểm xuất phát. Phát triển kinh tế- không những bao gồm tăng trưởng kinh tế, là điểm trung tâm trong nghiên cứu của hai tác giả.

Các tác phẩm của Schultz chủ yếu tập trung vào các câu hỏi chiến lược liên quan tới điều kiện để sử dụng các nguồn lực sản xuất một các hiệu quả. Ở đây, Schultz gắn kết nhân tố quan trọng đó là kỹ năng nghề, đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng. Schultz là tác giả tiên phong trong nghiên cứu về “nguồn vốn con người”, lĩnh vực mà đã được nhanh chóng mở rộng nghiên cứu từ cuối những năm 50.
Tính hiệu quả và sự phát triển của nền nông nghiệp cũng là quan điểm của Lewis có ý nghĩa sống còn đối với môi trường và tăng trưởng ở các nước đang phát triển. Tuy nhiên, Lewis đã tập trung sự chú ý vào bản chất kép của các nền kinh tế đang phát triển, sức ép giữa ngành nông nghiệp to lớn, thống trị và cứng nhắc, và ngành công nghiệp năng động. Theo phân tích của ông, cho dù ở khía cạnh khác, sản lượng nông nghiệp thấp là nhân tố gây ra nghèo đói cho các nước đang phát triển và ngăn cản tăng trưởng, cụ thể là, thông qua những ảnh hưởng của tỉ giá thương mại với các nước công nghiệp phát triển.

Một điểm chung khác giữa hai học giả là tầm quan trọng của các dữ liệu thực tiễn và các nghiên cứu thực nghiệm. Họ đều có những kinh nghiệm thực tế sâu sắc đối với các vấn đề phát triển và áp dụng vào trong nghiên cứu. Hai học giả đều rất quan tâm tới lịch sử của tiến trình và hình thức phát triển trong nhiều giai đoạn khác nhau ở các nước. Đặc trưng của hai học giả là sự quan tâm tới các vấn đề về chính sách kinh tế. Cả hai học giả đều quan tâm sâu sắc về sự nghèo đói và nhu cầu của các nước và đều tập trung vào tìm ra con đường để thoát khỏi kém phát triển. Trong bối cảnh này, cả hai học giả đã đưa ra những kết luận táo bạo nhằm tán thành việc thay đổi các chính sách kinh tế. Họ cũng phê phán chính sách nông nghiệp hoặc các chính sách kinh tế khác vốn đã và đang được thực hiện trong các thời kỳ khác nhau. Những kinh nghiệm sâu rộng của hai tác giả về chính sách của các nước đang phát triển và các hệ thống chính trị đằng sau đó đã làm cho tác phẩm nghiên cứu của hai học giả về vấn đề của các nước phát triển trở lên sống động và chân thực.

Ngọc Hân dịch

—————-&&—————-

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: