Giải Nobel kinh tế 1977: Lý thuyết thương mại quốc tế và chuyển dịch vốn quốc tế – Bertil Ohlin & James Meade

Những ý tưởng kinh tế tráng lệ của thế kỷ 20 (Phần VI)

(Nguồn: 60s.com.vn)

Ngày 14 tháng 10 năm 1977 viện khoa học hoàng gia quyết định trao giải Nobel kinh tế cho hai giáo sư Bertil Ohlin (1899-1979), Đại học Stockholm, Thụy Điển, và James Meade (1907-1955), Đại học Cambridge, Anh Quốc vì những đóng góp mở đường cho lý thuyết thương mại quốc tế và chuyển dịch vốn quốc tế.

Tác phẩm kinh điển của giáo sư Bertil Ohlin: thương mại liên khu vực và quốc tế, đã làm cho ông được công nhận là người sáng lập ra lý thuyết ngoại thương hiện đại. Giáo sư đã phát triển một giả thuyết giải thích những nhân tố nào một mặt quyết định kiểu mẫu ngoại thương và sự phân chia lao động quốc tế, và còn chỉ ra những ảnh hưởng của ngoại thương đối với sự phân bổ các nguồn tài nguyên, các mối quan hệ về giá cả và sự phân bố thu nhập. Giáo sư Bertil Ohlin đồng thời cũng cho thấy những điểm tương đồng và khác biệt giữa thương mại trong khu vực và quốc tế, và mối liên hệ giữa thương mại quốc tế và địa công nghiệp. 

Giáo sư James Meade, chủ yếu trong tác phẩm lớn của mình, lý thuyết chính sách kinh tế quốc tế, đã chứng minh tác động của chính sách kinh tế đối với ngoại thương và nhìn thấu những vấn đề của các chính sách bình ổn trong các nền kinh tế mở. Các nền kinh tế mở sau đó được định nghĩa là những nền kinh tế lệ thuộc nhiều vào ngoại thương. Phân tích của giáo sư tập hướng cụ thể vào những điều kiện cần thiết cho cân bằng nội thương và ngoại thương, có nghĩa là các cân cân bằng của cả kinh tế trong nước và các giao dịch quốc tế. Đồng thời ông cũng chỉ ra nguyên nhân và cách thức một chính sách bình ổn thành công không những tính đến cả mức cầu hàng hóa và dịch vụ mà còn mối quan hệ giữa mức giá và chi phí. Những thành quả này đã làm cho giáo sư James Meade trở thành người tiên phong trong học thuyết kinh tế vĩ mô quốc tế và chính sách kinh tế quốc tế.

Các công trình nghiên cứu của cả hai giáo sư Bertil Ohlin và giáo sư James Meade đều thu hút rất nhiều sự chú ý ngay sau khi chúng được công bố- lần lượt vào năm 1933 và năm 1951/1955. Và chúng cũng là những điểm đột phá cho nghiên cứu thực nghiệm trên diện rộng về thương mại quốc tế, chuyển giao vốn quốc tế và những vấn đề bình ổn trong các nền kinh tế mở.

Tuy nhiên những đóng góp to lớn và quan trọng của giáo sư Ohlin và giáo sư Meade không được công nhận rõ ràng cho tới những năm 60 và 70, cùng với công cuộc quốc tế hóa hệ thống kinh tế đang phát triển. Ngày càng trở nên rõ ràng là những vấn đề liên quan đến việc phân bổ các nguồn lực, chu kì kinh doanh, và việc phân bố thu nhập là những vấn đề mang tính chất quốc tế. Có nghĩa là ngoại thương, những dao động giá quốc tế, việc phân bổ các hoạt động kinh tế quốc tế và chuyển giao các nguồn lực cũng như hệ thống thanh toán quốc tế đã trở thành những nhân tố chi phối trong các phân tích và chính sách kinh tế.

Bài phát biểu của giáo sư Assar Lindbeck, viện khoa học hoàng gia.

Câu hỏi tại sao cá nhân, doanh nghiệp và quốc gia lại trao đổi, buôn bán hàng hoá, dịch vụ với nhau và tiến trình đó đã ảnh hưởng tới các chính sách của chính phủ như thế nào có thể được coi là vấn đề cơ bản của kinh tế học. Trong trường hợp trao đổi buôn bán giữa các quốc gia, lý thuyết thống trị thời gian đó- từ đầu thế kỉ 19-là lý thuyết về lợi thế so sánh do David Ricardo. Ricardo lý giải rằng cấu trúc ngoại thương khác nhau giữa các quốc gia khác nhau về công nghệ sản xuất. Qua nhiều năm, lý thuyết này được phát triển và dần hoàn thiện, tuy nhiên sự thay đổi cơ bản lý thuyết này chỉ hình thành khi giáo sư Bertil Ohlin xuất bản cuốn sách kinh điển vào đầu những năm 1930 “Thương mại liên khu vực và thương mại quốc tế” và James Meade xuất hiện vào những năm 1950 với ấn phẩm quan trọng “Lý thuyết về Chính sách kinh tế quốc tế” .

Một phần được kế thừa từ bài viết nổi tiếng của Heckcher, Bertil Ohlin đã chỉ ra trong tác phẩm của mình rằng thương mại quốc tế vẫn có thể nảy sinh giữa các quốc gia cho dù công nghệ sản xuất giống nhau. Chỉ cần cung của các yếu tố sản xuất khác nhau như các loại nguồn lực lao động, vốn và đất đai giữa các nước khác nhau. Xuất phát điểm lý thuyết của Ohlin là quốc gia có xu hướng trở thành nhà xuất khẩu các mặt hàng sử dụng nhiều nhân tố sản xuất có lượng cung nội địa lớn hơn cầu nội địa với giả thuyết là không có ngoại thương. Ví dụ, nếu đất đai của Úc rộng lớn trong khi lao động lại dư dôi ở Anh, chúng ta sẽ kỳ vọng rằng Úc sẽ trở thành nhà xuất khẩu các mặt hàng khi sản xuất cần nhiều tới yếu tố đất đai như len sợi, trong khi đó Anh có thể là nhà xuất khẩu của các mặt hàng khi sản xuất cần nhiều lao động như dệt may.

 

Từ mô hình lý thuyết đơn giản này, mô hình được gọi là Hechscher – Ohlin đã phát triển theo và rất nhiều định lý thú vị sau đó. Một trong những lý thuyết đó, lý thuyết cân bằng giá của các nhân tố, cho chúng ta biết rằng ngoại thương có xu hướng cân bằng hoá giá của các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia. Ví dụ, nếu Úc bắt đầu xuất khẩu các mặt hàng cần nhiều đất đai, cầu về đất đai sẽ tăng lên một cách tương đối so với lao động và kết quả là giá đất sẽ tăng, trong khi đó Anh xuất khẩu hàng hóa cần nhiều lao động kéo mức lương tăng lên một cách tương đối so với giá của đất đai. Do đó, thương mại hàng hoá có cùng xu hướng tác động về giá của các nhân tố sản xuất khi chúng có thể di chuyển tự do giữa các nước. Theo hướng đó, thương mại hàng hoá là nhân tố thay thế cho việc dịch chuyển quốc tế các nhân tố sản xuất. Một kết luận nữa của lý thuyết của Ohlin là thuế quan đánh vào hàng hoá cần nhiều nhân tố lao động, ví dụ như hàng dệt may, sẽ ảnh hưởng tới việc phân bổ thu nhập theo hướng có lợi cho lao động của nước nhập khẩu, trong khi đó thuế xuất đánh vào hàng hoá yêu cầu nhiều vốn như len hoặc thép sẽ mang lại kết quả tái phân bổ thu nhập có lợi cho chủ nguồn vốn.

Nghiên cứu do giáo sư James Meade tiến hành trong lĩnh vực thương mại quốc tế chủ yếu tập trung vào hiệu quả của các chính sách kinh tế, không những chính sách về thuế quan mà cả những thay đổi về các thể chế trung tâm, ví dụ như việc hình thành các liên minh thuế quan hoặc khu vực mậu dịch tự do. Ông cũng đưa ra cách thức để đo lường mức độ bảo hộ và phân tích các khả năng so sách các tình huống không phải là tối ưu với nhau, sau này được gọi là “Second best problem” (vấn đề tốt thứ hai).

Tuy nhiên, những đóng góp độc đáo nhất của James cho khoa học kinh tế quốc tế là những phân tích về cán cân thanh toán, ở đó ông đã chỉ ra cách thức và những trường hợp một quốc gia có thể đồng thời đạt được sự cân bằng trong cả nền kinh tế trong nước và khả năng thanh toán quốc tế. Trong khung cảnh này, Meade chỉ ra rằng thường có xu hướng mâu thuẫn nảy sinh giữa các mục tiêu đảm bảo công ăn việc làm và cân bằng thanh toán, tuy nhiên mâu thuẫn này có thể được giải quyết bằng kết hợp hợp lý của các công cụ chính sách cùng một lúc để đạt được cả hai mục tiêu. Đặc biệt, ông là người đi đầu trong việc phân tích tác động của chính sách về tỉ lệ lãi xuất và tiền tệ đối với cân bằng thanh toán cũng như vai trò của hệ thống tỉ giá hối đoái để thực hiện chính sách bình ổn. Bằng việc phân tích những phức tạp xuất hiện khi nhiều quốc gia cùng lúc cố gắng gây ảnh hưởng tới nền kinh tế nội địa và các nền kinh tế bên ngoài, Meade cũng làm rõ những vấn đề nảy sinh khi nhiều quốc gia đồng thời làm nhiễu loạn lẫn nhau bằng các chính sách kinh tế quốc gia, phân tích này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phối hợp chính sách ổn định giữa các quốc gia.

Thưa giáo sư Ohlin, ngài đã có những đóng góp khoa học to lớn làm nền tảng cho lý thuyết ngoại thương hiện đại. Kết quả nghiên cứu của giáo sư đã trở thành cơ sở để phát triển các nghiên cứu lý luận và thực nghiệm sau này. Giáo sư còn là truyền cảm hứng cho nhiều nghiên cứu về thương mại quốc tế vượt ra khỏi các mô hình cứng nhắc, ví như mô hình về hoạt động trao đổi các nguồn lực giữa các quốc gia và ảnh hưởng của các chính sách kinh tế, xã hội đối với thương mại.

Đối với giáo sư Meade, giáo sư đã thành công khi phân tích hệ quả của thương mại quốc tế và tác động chính sách trong việc phân chia lao động quốc tế và sự điều chỉnh thể chế. Giáo sư cũng thiết lập lên cơ sở của lý thuyết lao động việc làm hiện đại đối với các nền kinh tế mở và làm rõ được khả năng đồng thời đạt được cả hai mục tiêu, tổng tương ứng của cung và cầu đối với hàng hoá dịch vụ trong nước và mức chi phí và giá nội địa tương ứng với công ăn việc làm và đạt được điểm cân bằng của với cán cân thanh toán.

Ngọc Hân dịch

————–&&————-

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: