Giải Nobel kinh tế 1974: Lý thuyết tiền tệ và dao động kinh tế – Gunnar Myrdal & Friedrick Von Hayek

Những ý tưởng kinh tế tráng lệ của thế kỷ 20 (Phần IV)

(Nguồn: 60s.com.vn)

Ngày 9/10/1974 viện khoa học hoàng gia quyết định trao giải thưởng khoa học kinh tế tưởng nhớ Alfred Nobel năm 1974 cho hai giáo sư Gunnar Myrdal (1898 – 1987) và Friedrick Von Hayek (1899 – 1992) vì những nghiên cứu tiên phong của họ cho lý thuyết tiền tệ và dao động kinh tế cùng những phân tính sâu sắc về sự phụ thuộc lẫn nhau của các hiện tượng kinh tế, xã hội và thể chế.

Viện Khoa học Hoàng gia cho rằng Myrdal và Hayek bên cạnh những đóng góp cho lý thuyết kinh tế tập trung, đã tiến hành nghiên cứu liên ngành quá rất thành công và những đóng góp chung đó xứng đáng được trao giải thưởng Khoa học kinh tế.

 

 

    

Gunnar Myrdal

Kể từ khi giải thưởng nobel về kinh tế học ra đời, tên của hai nhà kinh tế với những nghiên cứu vượt tầm khoa học kinh tế đơn thuần đã luôn ở trong danh sách những nhà nghiên cứu được để cử giải thưởng, đó là giáo sư Gunnar Myrdal và giáo sư Friedrick von Hayek. Cả hai giáo sư đã khởi đầu sự nghiệp nghiên cứu với các công trình đầy ý nghĩa về lĩnh vực lý thuyết kinh tế thuần túy. Nói chung, đối với những công trình khởi đầu vào những năm 1920 và 1930, hai nhà nghiên cứu cùng nghiên cứu trên các lĩnh vực: lý thuyết về tiền tệ và biến động kinh tế. Sau đó hai nhà kinh tế học đã mở rộng phạm vi nghiên cứu đến những phạm vi gồm những khía cạnh rộng lớn về các hiện tượng thể chế và kinh tế. 

Các ý tưởng gây tranh cãi

Hướng chủ yếu vào nghiên cứu các vấn đề kinh tế ở những phạm vi rộng nhất, đặc biệt là vấn đề người da đen ở Mỹ và vấn đề nghèo đói tại các nước đang phát triển, giáo sư Myrdal đã cố gắng liên hệ các phân tích kinh tế tới các điều kiện về xã hội, nhân khẩu học và thể chế. Giáo sư von Hayek mở rộng lĩnh vực nghiên cứu để bao quát các yếu tố như khung khổ pháp luật của các hệ thống kinh tế và các vấn đề liên quan tới cách thức mà cá nhân, tổ chức và các hệ thống xã hội vận hành. Cả hai học nhà nghiên cứu đều quan tâm sâu sắc tới các vấn đề của chính sách kinh tế và vì thế cũng tập trung nghiên cứu những thay đổi hợp lý đối với các thiết chế, thể chế và điều kiện pháp luật hiện hành trong xã hội. Điểm chung của hai nhà nghiên cứu là đều có là khả năng dẫn chứng để tìm ra các phương thức mới và độc đáo để đưa ra các câu hỏi, đề xuất các ý tưởng mới về chính sách và nguyên nhân, đặc tính mà làm cho nó trở thành những đề tài tranh cãi. Điều này chỉ tự nhiên khi lĩnh vực nghiên cứu mở rộng tới phạm vi gồm các yếu tố và liên kết mà các nhà kinh tế học thông thường coi là đương nhiên hoặc không để ý.

 

Myrdal – Kinh tế học và khoa học xã hội

 

Khi bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu khoa học, ông bộc lộ niềm đam mê rộng lớn với kinh tế học. Cuốn sách “Các nhân tố chính trị đối với sự phát triển lý thuyết kinh tế” năm 1930 của ông là một tác phẩm phê bình tiên phong trong sự lồng ghép các giá trị chính trị vào rất nhiều các lĩnh vực nghiên cứu được chú trọng trong phân tích kinh tế.

 

Khi đưa ra quyết định, Học viện khoa học hoàng gia cũng đánh giá tầm quan trọng của công trình đồ sộ: Tình thế tiến thoái lưỡng nan của Mỹ: Vấn đề về người da đen và nền dân chủ hiện đại (1944). Trong tác phẩm vĩ đại này, chủ yếu giáo sư Myrdal đã thể hiện khả năng kết hợp các phân tích kinh tế với phối cảnh xã hội học rộng lớn.

 

Những nghiên cứu phạm vi rộng của giáo sư Myrdal đối với các vấn đề của các nước đang phát triển cũng được đề cập rất giống với cuốn sách Một tình thế tiến thoái lưỡng nan của người Mỹ. công trình nghiên cứu này cũng là nghiên cứu kinh tế xã hội trong phạm vi rộng nhất bàn đến các nhân tố về chính trị, thể chế, nhân khẩu học, giáo dục và sức khoẻ.

Tính hiệu quả của các hệ thống kinh tế

Những đóng góp của giáo sư Von Hayek trong lĩnh vực lý thuyết kinh tế thực sự là những đóng góp sâu sắc và độc đáo. Các công trình nghiên cứu và bài viết của ông vào những năm 20 và 30 của thể kỷ 20 đã khuấy động các cuộc tranh luận rộng lớn và sống động. Đặc biệt, lý thuyết của ông về chu kỳ kinh doanh và khái niệm về ảnh hưởng của chính sách tín dụng và chính sách tiền tệ đã thu hút nhiều sự chú ý và gợi lên sức sống cho các cuộc thảo luận. Ông muốn đi sâu hơn và hiểu thấu đáo hơn thường lệ ở thời đại đó cơ chế của chu kỳ kinh doanh. Có lẽ, một phần do có những phân tích sâu sắc, ông là một trong ít những nhà kinh tế đã đưa ra cảnh bảo về những nguy cơ khủng hoảng kinh tế trầm trọng trước khi sự sụp đổ kinh tế lớn diễn ra vào mùa thu năm 1929.

 

 

Friedrick Von Hayek

Ông chỉ ra vì sao khi mở rộng tiền tệ, kết hợp với việc cho vay vượt quá tỉ lệ dự trữ tự nguyện có thế dẫn tới việc phân bổ sai các nguồn lực, đặc biệt là có thể ảnh hưởng tới cấu trúc của tư bản. Loại lý thuyết về chu kỳ kinh doanh này với các liên kết tới sự mở rộng tiền tệ có những đặc trưng tương đồng với các bàn luận về tiền tệ sau chiến tranh. Viện khoa học cho rằng những phân tích của Hayek về sự hiệu quả của các hệ thống kinh tế khác nhau là một trong những đóng góp đặc biệt của ông tới linh vực nghiên cứu kinh tế theo nghĩa rộng. Kể từ giữa những năm 30, ông bắt tay vào nghiên cứu các vấn đề của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Đối với bất cứ một lĩnh vực nào mà Hayek đã từng nghiên cứu, ông đã khám phá ra những cơ sở lịch sử sâu sắc về các học thuyết và quan điểm trong lĩnh vực đó. Ông đã đưa ra những ý tưởng mới đối với các khó khăn cơ bản về “tính hơn thiệt của chủ nghĩa xã hội” và nghiên cứu tỉ mỉ các khả năng để đạt được một kết quả hiệu quả bằng phi tập trung hoá “kinh tế xã hội chủ nghĩa” ở các mẫu hình khác nhau. Nguyên tắc áp dụng cơ bản khi so sánh các hệ thống khác nhau là làm sao để sử dụng có hiệu quả nhất các kiến thức và tất cả các thông tin phân tán giữa các cá nhân và doanh nghiệp. Ông đã đi đến kết luận là chỉ khi phi tập trung hoá trong một hệ thống kinh tế thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì mới có thể sử dụng hiệu quả của tất cả các thông tin và kiến thức. 

 

Các phân tích và ý tưởng của ông về tiềm năng của các hệ thống kinh tế được xuất bản ở nhiều các công trình nghiên cứu khác nhau vào những năm 40 và 50, chắc chắn tạo ra những động lực to lớn thúc đẩy các nghiên cứu sâu sắc “so sánh các hệ thống kinh tế so sánh”. trong lĩnh vực đang phát triển này. Đối với ông, không đơn giản để bảo vệ hệ thống xã hội tư do như một số lý lẽ xuất hiện trong các bản thảo phổ biến về tư tưởng của ông.

 

 

Bài phát biểu của giáo sư Erik Lundberg, Viện khoa học hoàng gia

 

Cho đến nay giải thưởng khoa học kinh tế nhằm tưởng nhớ Alfred Nobel đã được trao cho các nhà kinh tế có những đóng góp tiên phong đối với lĩnh vực được gọi là kinh tế học thuần túy. Nó được trao cho các công trình nghiên cứu học thuyết kinh tế trình độ trừu tượng cao với học thuyết điểm cân bằng tổng quát là điểm xuất phát, cho những nghiên cứu về các kĩ thuật phân tích trên cơ sở những mô hình lý thuyết nhằm có được những dự báo nổi bật về các mối quan hệ khác nhau và cuối cùng là cho những nghiên cứu về kĩ thuật phân tích thống kê lịch sử sự phát triển kinh tế trong những thời kì dài hay ngắn. tuy nhiên, có những nhà nghiên cứu xuất chúng trong lĩnh vực khoa học xã hội mà những quan tâm của họ bao gồm những lĩnh vực khác và lớn rộng hơn những nghiên cứu kinh tế học thuần túy. Trong số những nhà nghiên cứu lỗi lạc đó là hai người đạt giải Nobel ngày hôm nay, giáo sư Myrdal và Hayek. Cả hai giáo sư đều bắt đầu sự nghiệp của mình với những đóng góp quan trọng cho lý thuyết khoa học kinh tế thuần túy: tác phẩm đầu tay của họ đều đề cập đến phạm vi rất lớn trong cùng một lĩnh vực: lý thuyết chu kì kinh doanh là lý thuyết tiền tệ.

 

Nhưng sau đó cả hai giáo sư Myrda và Hayek đều mở rộng phạm vi nghiên cứu của mình nhằm giải quyết những vấn đề không thể nghiên cứu chỉ trong khuôn khổ kinh tế học chật hẹp. Cả hai giáo sư đều cảm thấy sự cần thiết đó để mở rộng phạm vi những vấn đề được nghiên cứu và phương pháp luận mà họ ứng dụng được thể hiện vô cùng ấn tượng trong câu trích dẫn sau đây của Hayek: “nhưng không ai có thể là một nhà kinh tế học xuất sắc nếu chỉ là một nhà kinh tế đơn thuần- và thậm chí tôi còn muốn nói thêm rằng nhà kinh tế chỉ là một nhà kinh tế thuần túy gần như trở thành một mối hại nếu không phải là một hiểm họa tích cực”.

 

Mặc dù hai nhà kinh tế này đã mở rộng phạm vi của họ để nhằm vào những vấn đề lớn hơn vấn đề kinh tế đơn thuần, nhưng không có nghĩa là họ cùng theo đuổi cùng một dòng phát triển.Ttrên hết, bằng cách hướng chú ý đến những vấn đề xã hội quan trọng, đặc biệt là vấn đề người da đen ở Mỹ và cảnh bần cùng ở các nước kém phát triển, ông đã cố gắng kết hợp các phân tích kinh tế với những chú ý đến điều kiện xã hội, nhân khẩu học và thể chế. Giáo sư Hayek đã mở rộng tầm chú ý của mình để đảm nhận chính thức những vấn đề tâm sinh lý và hệ thống kinh tế liên quan đến cách thức các cá nhân, tổ chức và các hệ thống xã hội khác nhau hoạt động. nhưng các học giả đã có một mối quan tâm chiếm ưu thế đối với những vấn đề kinh tế chính trị, bao gồm những thay đổi tiềm tàng trong khuôn khổ pháp luật, thể chế của xã hội. Trong điểm này, giáo sư Myrdal luôn tán thành những cải cách độc đáo và triệt để, trong khi giáo sư Hayek chú ý đến con đường làm tăng khả năng phát triển hệ thống xã hội tự do, định hướng cá nhân chủ nghĩa. Tuy nhiên những khác biệt mang màu sắc chính trị này nói chung đều phụ thuộc vào một quan điểm chung đối với nghiên cứu khoa học xã hội: sức thuyết phục mà nhiều vấn đề kinh tế xã hôi thuộc thời đại chúng ta không thể được thấu hiểu đầy đủ nếu không có sự mở rộng liên ngành phạm vi những vấn đề nghiên cứu cũng như phương pháp áp dụng.

 

 

Quan trọng nhất trong tác phẩm Một tình thế tiến thoái lưỡng nan của người Mỹ, vấn đề người da đen và nền dân chủ hiện đại mà giáo sư Myrdal đã chứng minh tài năng xuất chúng của ông khi kết hợp những phân tích kinh tế với một phương pháp tiếp cận khoa học xã hội tuyệt vời trong việc nghiên cứu hệ nhân tố và những mối quan hệ có thể quyết định tình hình dân cư gia đen và khả năng phát triển của nó. Để củng cố phân tích của mình về tình hình dân cư da đen, giáo sư Myrdal đã sử dụng thành công các mô hình kinh tế cân bằng và các phân tích động về các quy trình lũy tích do sự nhiễu loạn gây nên. Ông gây chú ý tới mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa rất nhiều nhân tố kinh tế và xã hội và chỉ ra cách thức các quy trình lũy tích làm giảm giá trị có thể xuất hiện (“các chu kỳ luẩn quẩn”), để có thể chỉ rõ những nhân tố cụ thể là nguyên nhân quyết định. Thực tế trong nghiên cứu của mình giáo sư Myrda đã thiết lập phân tích nhiều mặt những vấn đề chiến lược chi phối tới mọi sự kém phát triển (gồm có giáo dục, sức khỏe, điều kiện sống, toại nguyện đối với công việc, thái độ đối xử trên phương diện người chủ và công đoàn), những nhân tố không được kể đến trong các mô hình phân tích của các nhà kinh tế trước những năm 1960. Cuốn sách đã trở thành một tác phẩm kinh điển, và ngoài ra có một tác động đặc biệt trong nhiều năm đối với quan điểm của con người và chính trị nước Mỹ đến mức mà vấn đề người da đen được quan tâm.

 

Có thể nói rằng những đóng góp to lớn của giáo sư Myrda trong việc nghiên cứu các vấn đề của những nước kém phát triển đã có đặc điểm được mở rộng đáng kể như trong tác phẩm An American Dilemma(một vấn đề tiến thoái lưỡng nan của người Mỹ). Mặt khác đó cũng là một vấn đề nghiên cứu của khoa học xã hội theo nghĩa rộng nhất, nghiên cứu này đề cập đến nhiều điều quan trọng như nhân tố chính trị, thể chế, dân chủ giáo dụng và sức khỏe. trong rất nhiều điểm, những tư tưởng và kết quả nghiên cứu của giáo sư Myrdal đã có ảnh hưởng quan trọng đến cuộc bàn luận của công chúng về các nước kém phát triển, bản chất kém phát triển của ngành nông nghiệp, đặc biệt là ở Ấn Độ, về cách thức mà sự phổ biến những ảnh hưởng từ sự phát triển công nghiệp ở một nước nhất định là chức năng của trình độ văn hóa xã hội và kinh tế của nước đó, và cuối cùng là tầm quan trọng của trật tự xã hội. Những đóng góp của giáo sư Hayek đối với lý thuyết kinh tế trong phạm vi này vừa sâu sắc vừa độc đáo.

Những tác phẩm nghiên cứu của ông gồm sách và báo trong những năm 1920 đến 1930 khởi xướng một thảo luận vô cùng sống động. Cụ thể là giả thuyết của ông về chu kì kinh doanh và ảnh hưởng của chính sách tín dụng và tiền tệ đang được khuấy lên. Ông đã cố gắng nhìn thấu sâu hơn vào các mối tương quan phụ thuộc có chu kì so với thường lệ trong thời gian đó bằng cách xem xét các giả thuyết tư bản và cơ cấu trong phân tích. Một phần có lẽ vì phân tích chu kì kinh doanh sâu sắc này, giáo sư Hayek là một trong số ít các nhà kinh tế có thể đoán biết trước nguy cơ của một cuộc khủng hoảng kinh tế lớn trong những năm 1920, sự cảnh báo của giáo sư thực tế đã được đưa ra kịp thời trước khi vụ sụp đổ lớn đó xuất hiện giữa mùa thu năm 1929.

 

 

Đặc biệt phân tích biến số của những hệ thống kinh tế khác nhau là một trong những đóng góp ý nghĩa nhất của giáo sư Hayek đối với nghiên cứu khoa học xã hội. từ giữa những năm 1930 trở về trước, ông quan tâm đặc biệt đến những vấn đề kế hoạch chủ yếu theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong lĩnh vực này cũng như những lĩnh vực khác mà ông đã tận tụy nghiên cứu, giáo sư đã trình bày một bản giải thích chi tiết những quan điểm và giả thuyết. Giáo sư còn phát triển những cách tiếp cận mới trong thử nghiệm của mình về các trở ngại cơ bản trong định hướng chủ nghĩa xã hội và điều tra khả năng có được những kết quả hiệu quả thông qua chủ nghĩa xã hội thị trường phi tập trung. Tiêu chuẩn theo dõi của ông trong việc đánh giá biến số của của hệ thống kinh tế liên quan đến năng suất mà các hệ thống kinh tế vận hành cùng với hiểu biết và thông tin phân tán trong giới doanh nghiệp và cá thể. Giáo sư đưa ra kết luận là chỉ thông qua phi tập trung có ảnh hưởng sâu rộng trong hệ thống thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì mới có thể sử dụng hiệu quả tất cả những thông tin và hiểu biết này. Giáo sư Hayek chỉ ra cách những giá cả được hình thành như thế là mốc để cung cấp thông tin cần thiết về điều kiện chi phí và nhu cầu, và hệ thống giá cả là cơ chế kết hợp thông tin và hiểu biết.

 

Những phân tích và quan điểm của giáo sư Hayek về biến số của hệ thống kinh tế, được trình bày trong nhiều bài viết, đã tạo ra một động lực lớn và có tính chất thúc đẩy những phạm vi nghiên cứu đang phát triển và lớn mạnh có tên hệ thống kinh tế so sánh.

Vì vậy, sau khi nghiên cứu về học thuyết kinh tế tập trung, giáo sư Myrdal và Hayek đã tiến hành nghiên một nghiên cứu khoa học quan trọng. Viện khoa học hoàng gia Thụy Điển do đó đã quyết định trao giả thưởng kinh tế tưởng nhớ Alfred Nobel năm 1974 cho cho cả hai giáo sư Gunnar Myrdal và Friedrich August von Hayek vì những đóng góp tiên phong của họ về thuyết tiền tệ và dao động kinh tế cùng với những phân tích sắc xảo mối tương quan phụ thuộc lẫn nhau của các hiện tượng kinh tế, xã hội và cơ chế.

 

Ngọc Hân dịch

————&&———–

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: