Giải Nobel kinh tế 1972: Thuyết cân bằng tổng thể và thuyết phúc lợi – John R. Hicks & Kenneth J. Arrow

Những ý tưởng kinh tế tráng lệ của thế kỷ 20 (Phần III)

(Nguồn: 60s.com.vn)

Ngày 25/10/1972 viện khoa học hoàng gia Thụy Điển đã quyết định trao giải thưởng kinh tế của ngân hàng quốc gia Thụy Điển tưởng nhớ Alfred Nobel cho Giáo sư ohn R Hicks, đại học Oxford, Anh và Giáo sư Kenneth Arrow, đại học Harvard, Hoa Kì vì đã có những đóng góp tiên phong trong học thuyết điểm cân bằng kinh tế tổng quát và thuyết phúc lợi:

Sự tiến bộ của khoa học kinh tế đã dẫn tới sự chuyển đối sâu rộng trong lý thuyết điểm cân bằng kinh tế tổng quát. Tới mức độ cao nhất, sự phát triển này được ghi dấu rõ ràng nhất thông qua các tác phẩm của hai giáo sư John Hicks và Kenneth Arrow. Cả hai giáo sư đã mở ra một con đường nghiên cứu hiệu quả và do đó đã đóng góp chủ yếu vào sự cải tiến của lý thuyết này. Giáo sư Hicks đã khởi sướng tiến trình tái tạo này vào những năm 30 và Giáo sư Arrow đã bổ sung thêm những nội dung mới mẻ vào những năm 50 và 60 của thế kỷ XX. Sự khác biệt về thời gian trong đóng góp của hai thế hệ nhà khoa học giữa Hicks và Arrow đã được thể hiện trong sự lựa chọn những vấn đề và phương pháp phân tích của hai nhà nghiên cứu.

Trước đó, lý thuyết cân bằng tổng quát chủ yếu mang tính chất của một nghiên cứu chính quy. Trong tác phẩm chuyên khảo nổi tiếng nhất của ông – Giá trị và tư bản, được xuất bản năm 1939, Hicks đã từ bỏ quan niệm truyền thống này và đưa nó đến gần kinh tế học hơn. Ông đã trình bày một mô hình cân bằng kinh tế trong đó bao gồm cả thị trường về hàng hoá, các nhân tố sản xuất, tín dụng và tiền tệ. Sự tạo lập ra mô hình này bao gồm một số nhân tố đổi mới, ví như sự phát triển kế tiếp của lý thuyết cũ về tiêu dùng và sản xuất, sự hình thành các điều kiện để ổn định đa thị trường, sự mở rộng trong việc ứng dụng phương pháp phân tích tĩnh để tính đến các nghiên cứu đa giai đoạn và việc giới thiệu về lý thuyết tư bản dựa trên giả thuyết tối đa hoá lợi nhuận. Bằng việc gắn chặt vào các lý thuyết về hành vi của người tiêu dùng và của nhà kinh doanh, mô hình của Hicks đã mang lại thêm nhiều khả năng nghiên cứu toàn vẹn hơn về hậu quả của những thay đổi bên ngoài đối với các biến số cụ thể so với mô hình trước kia trong lĩnh vực này và ông đã thành công trong việc hệ thống và biểu thức hoá các định lý thú vị về kinh tế học. Mô hình của ông đã trở thành một mô hình vô cùng quan trọng đồng thời là mối liên kết giữa mô hình cân bằng tổng quát và các lý thuyết hiện hành về chu kỳ kinh doanh.

Hicks sử dụng các công cụ toán học truyền thống là các công cụ toán học để phân tích. Sau đó, khi các phương pháp toán học hiện đại được đưa vào khoa học kinh tế, Arrow đã áp dụng các phương pháp đó trong những nghiên cứu về các hệ thống điểm cân bằng tổng quát. Trong một loạt các nghiên cứu ưu tiên vào việc đánh giá đặc tính tan và ổn định của các hệ thống đó, ông đã xây dựng nền tảng để thay đổi hoàn toàn lý thuyết truyền thống về điểm cân bằng. Thông qua sự tái lập công thức này, dựa trên lý thuyết toán học về tập hợp lồi, lý thuyết cân bằng đã đạt được đặc tính tổng quát và đơn giản. Nội dung này được thể hiện trong bài nghiên cứu năm 1954 được viết với nhà kinh tế học Gerhard Debreu. Mô hình được trình bày trong bài viết này đã trở thành xuất phát cho phần lớn các công trình nghiên cứu sâu hơn sau này. Trong nhiều những đóng góp quan trọng của Arrow, chúng ta cũng cần đề cập tới sự phát triển của ông đối với lý thuyết về tính không chắc chắn và sự hợp nhất của nó với hệ thống lý thuyết cân bằng tổng quát và ngoài ra là các phân tích của ông về các khả năng về các quyết định phi tập trung hóa trong một xã hội mà hệ thống giá cả được áp đặt từ chính quyền trung ương. Những phân tích này được ông hoàn thành với sự cộng tác của Leonid Hurwicz.

Từ lý thuyết cân bằng tổng quát cho tới lý thuyết phúc lợi là một nấc thang ngắn và cả hai nhà kinh tế học đều có nhiều thành tựu đóng góp để phát triển kinh tế học phúc lợi. Đóng góp nổi bật nhất của Hicks đối với lý thuyết phúc lợi là việc phân tích các tiêu chuẩn để so sánh các tình huống kinh tế khác nhau và việc điều chỉnh lại khái niệm về thặng dư tiêu dùng. Với hình mẫu mới, khái niệm này đã có sự tác động to lớn như trong phân tích về chi phí – lợi ích. Arrow đã tổng quát hóa định lý nổi tiếng về điểm tối ưu Pareto của một điểm cân bằng cạnh tranh và ông đã chứng minh tồn tại xu hướng không đạt tới sự tối ưu trong việc phân phối các nguồn lực giữa nghiên cứu và đầu tư về tư bản thực. Và có lẽ đóng góp lớn nhất của Arrow đối với lý thuyết phúc lợi là “định lý triển vọng”, theo đó chúng ta không thể xây dựng hàm phúc lợi xã hội mà không tính đến hàm ưa thích của mỗi cá nhân.

Cả hai nhà kinh tế học đã có những đóng góp to lớn vào các lĩnh vực khác ngoài những lĩnh vực được đề cập ở trên. Giáo sư Hicks đóng góp vào lý thuyết tiền tệ và lý thuyết chu kỳ kinh doanh và Arrow đóng góp vào lý thuyết tăng trưởng phát triển và lý thuyết chọn lựa.

Bài phát biểu của giáo sư Ragnar Bentzel, viện khoa học hoàng gia Thụy Điển

Trong hai năm nữa, chúng ta sẽ có thể cử hành lễ kỉ niệm một trăm năm sự kiện đáng nhớ trong lịch sử kinh tế học. Năm 1817, nhà kinh tế học người Pháp Leon Walras đã có đóng góp vô cùng ý nghĩa cho kinh tế học với việc xây dựng một học thuyết giải thích những điểm đặc trưng căn bản trong cơ cấu kinh tế quyết định sản lượng của những loại hàng hóa khác nhau ở một nước, và mức giá nào sẽ chiếm ưu thế, và cách phân phối thu nhập giữa các nhóm dân cư trong cộng đồng. Học thuyết này được trình bày với rất nhiều biểu thức, được dùng để minh họa cho hệ thống mạng lưới dày đặc gồm các mối liên hệ kết nối những bộ phận khác nhau của nền kinh tế và việc hình thành sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các mức giá, lượng hàng hóa và thu nhập. Học thuyết này đặt nền tảng cho một trong những bộ phận quan trọng nhất của khoa học kinh tế- lý thuyết cân bằng tổng quát. Mục đích của nó là giải thích chính xác mối liên hệ qua lại giữa các hiện tượng kinh tế khác biệt trong một nền kinh tế, để từ đó tạo ra một kết luận cơ sở về giá cả, cơ cấu sản xuất, và phân phối thu nhập vân vân.

Học thuyết của giáo sư Walras sau này đã được nhiều nhà kinh tế khác phát triển, trong đó có nhà kinh tế Swede Gustav Cassel. Tuy nhiên đến những năm 1930, hệ thống các biểu thức này được trình bày trong phạm vi quá khái quát đến nỗi các phương pháp phân tích đều bị hạn chế. Bản phân tích tập trung vào những điều kiện để đạt đến cân bằng.

Năm 1939 khi tiến sĩ John Hicks công bố cuốn sách của ông giá trị và tư bản, ông đã thổi luồng sinh khí mới cho học thuyết điểm cân bằng tổng quát. Ông dựng nên một mô hình cân bằng hoàn chỉnh, được xây dựng một cách có hệ thống lớn rộng hơn từ trước đến nay với giả định về hành vi tiêu dùng của người tiêu dùng và nhà sản xuất. Mô hình này đã làm cho các phương trình trong hệ thống trở nên cụ thể hơn và giúp cho chúng ta có thể nghiên cứu được những tác động phát sinh trong hệ thống bởi những xung lực ngoại vi. Chẳng hạn, mô hình này có thể cho biết cách thức thay đổi của các hiện tượng như hoa lợi, thị hiếu người tiêu dùng và mức giá kì vọng của hãng kinh doanh mà hậu quả của chúng lan truyền tới toàn bộ hệ thống kinh tế và tác động lên giá cả, sản xuất, việc làm, lãi suất vân vân.

Tuy nhiên, Hicks đã không thể có đạt đến mức độ này nếu như, giáo sư không xây dựng được nền tảng cần thiết cho mô hình của mình, bên cạnh những nội dung khác, bằng cách phát triển những lý thuyết trước đó về tiêu dùng và sản xuất, và trình bày đưa ra một lý thuyết về tư bản dựa trên giả định tối đa hóa lợi nhuận. giáo sư Hicks đã sử dụng phép phân tích vi phân truyền thống là một công cụ toán học. Sau này khi mà nhiều ứng dụng toán học hiện đại hơn được đưa vào kinh tế học, Arrow đã sử dụng chúng để nghiên cứu đặc tính của các hệ thống cân bằng tổng quát. Nhờ đó ông đã dựng nền tảng để điều chỉnh hoàn toàn học thuyết trước. Cùng với tác giả Gerhard Debru, năm 1954 ông đã tạo ra một mô hình rất chính quy, dựa trên thuyết tập hợp toán, đã mở ra nhiều khả năng mới để có được các phép phân tích thú vị. Chẳng hạn, ông và Debreu là những người đầu tiên có thể chứng minh một cách chính xác theo phương pháp toán học các điều kiện cần phải thỏa mãn để một hệ thống cân bằng tổng quát tân cổ điển có một giải pháp độc đáo và ý nghĩa về phương diện kinh tế. bằng cách giới thiệu kĩ thuật mới cho việc đưa ra quyết định trong những điều kiện không chắc chắn và rủi ro, và bằng cách kết hợp chặt chẽ lý thuyết này với lý thuyết cân bằng tổng quát, Arrow cũng thu được kết quả lợi nhuận lớn theo lý thuyết và thực tiễn.

Trong khi lý thuyết kinh tế nói chung có thể được định nghĩa là học thuyết về cách thức một điều kiện kinh tế hay một sự phát triển kinh tế được xác định như thế nào trong một cơ cấu tổ chức, hàm phúc lợi đề cập đến cách đánh giá liệu một điều kiện có được cho là tốt hơn trong một vài phương diện so với những phương diện khác và liệu nhờ thay đổi cơ cấu tổ chức thì có thể có được một điều kiện tốt hơn điều kiện hiện tại không. Trong số những đóng góp của giáo sư Arrow trong lĩnh vực này, đáng chú ý là sự giải thích các luận đề chỉ số so sánh và điều chỉnh lại các giả thuyết thặng dư tiêu dùng. Giả thuyết này có thể được định nghĩa là chênh lệch giữa mức giá cao nhất mà người ta sẵn sàng trả cho một hàng hóa, nếu họ bị thúc ép và mức giá mà họ cần phải trả cho hàng hóa đó trên thị trường.

Định nghĩa của giáo sư Hicks về giả thuyết này có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt là trong việc đánh giá tỉ lệ lãi suất hoàn vốn xã hội trong các khoản đầu tư công cộng. Trong luận án tiến sĩ của ông, được công bố năm 1951, giáo sư Arrow đã đặt ra câu hỏi sau đây. Giả sử rằng trong một xã hội con người có rất nhiều điều kiện thay thế khác nhau để chọn lựa và mỗi cá nhân trong xã hội có thể xếp loại tất cả những lựa chọn đó theo thứ tự ưa thích. Nếu như vậy có thể tìm thấy những quy luật dân chủ, hợp lý để có một sự phân loại những chọn lưa khác nhau của xã hội theo mức độ ưa thích không? Giáo sư Arrow đã chỉ ra là không. Nói chung không thể tìm ra những quy luật như vậy. Kết luận này không được tán thành cho lắm được coi là ước mơ của nền dân chủ lý tưởng, đối lập với thuyết phúc lợi được xây dựng trước đó từ lâu vỗn đã sử dụng khái niệm hàm phúc lợi xã hội. Tuy nhiên khái niệm này không có gì quan trọng ngoài trình bày một phân loại theo hàm ưa thích của xã hội mà tiến sĩ Arrow đã cho thấy rằng về cơ bản không thể làm được điều đó.

Ngọc Hân lược dịch

—————-&&————–

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: