Giải Nobel kinh tế 1969: Mô hình động trong phân tích các tiến trình kinh tế – Ragnar Frisch & Jan Tinbergen

Những ý tưởng kinh tế tráng lệ của thế kỷ 20 (Phần I)

(Nguồn: 60s.com.vn)

Dưới đây là Bài diễn văn của Giáo sư Erik Lundberg nhân giải Nobel Kinh tế năm 1969 được trao cho Ragnar Frisch và Jan Tinbergen.

Tâu hoàng đế, tâu hoàng tử, thưa toàn thể quý bà, quý ông!

Trong vòng 40 năm qua, khoa học kinh tế học càng ngày phát triển theo hướng ứng dụng những phát minh toán học mới và thống kê lượng vào kinh tế. Các phân tích khoa học trong các lĩnh vực này được sử dụng để giải thích các quá trình kinh tế như tăng trưởng kinh tế, dao động của các chu kỳ kinh tế và sự tái phân bổ các nguồn lực kinh tế với các mục đích khác nhau. Trong đời sống kinh tế, có một tổng hòa khó nắm bắt của các quan hệ kinh tế khá hệ thống, ở đó người ta có thể thấy được ít nhiều sự lặp lại của các mô hình, các sự kiện độc đáo mang tính lịch sử và sự đổ vỡ. Đối với người thế tục, nếu không có sự hỗ trợ từ thí nghiệm về quy luật phát triển của các tiến trình kinh tế vô cùng phức tạp và việc áp dụng các phân tích về toán học và thống kê học, thì sẽ không thể biết được điều gì đang diễn ra đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, các cố gắng của các kinh tế gia để xây dựng các mô hình toán học liên quan tới mối quan hệ kinh tế chiến lược và tiếp đó với sự hỗ trợ của thống kê học về chuỗi thời gian để có thể lượng hoá thực tế,đã thúc đẩy thành công. Thậy đúng vậy, theo dòng phát triển của các nghiên cứu kinh tế, vào các thập kỷ gần đây toán kinh tế và kinh tế lượng đã trở thành phương pháp cơ bản trong nghiên cứu kinh tế. Vì vậy, nó là một điều tự nhiên khi Ngân hàng Thuỵ Điển trao giải về khoa học kinh tế lần đầu cho hai học giả có lẽ là tiên phong trong lĩnh vực này, đó là: Ragnar Frisch của Na-uy và Jan Tinbergen của Hà Lan.

Từ những năm cuối thập kỷ 20, giáo sư Frish và Tinbergen đã cùng nghiên cứu chung một lĩnh vực. Mục đích của họ là tạo lập tính toán học cụ thể cho lý thuyết kinh tế và diễn tả nó dưới hình thức cho phép có thể kiểm nghiệm và lượng hoá được các giả thuyết kinh tế. Mục đích chính là thoát khỏi tính không rõ ràng và mang tính văn chương nhiều hơn của kinh tế học. chẳng hạn như một trong những nguyên do đối với các chu kỳ kinh tế và sự tập trung các chuỗi liên kết nhân quả đơn giản đã được đơn giản hoá trong nghiên cứu của Frish và Tinbergen theo các hệ thống toán học chỉ ra trạng thái liên quan giữa các biến kinh tế.

Cho phép tôi đưa ra ví dụ, các nghiên cứu tiên phong của giáo sư Frish vào những năm đầu của thập kỷ 30 là nền tảng hình thành lý thuyết về các chu trình kinh tế. Ông giải thích về cách thức một hệ thống năng động với sự khác biệt và các biểu thức khác nhau trong đầu tư và chi phí tiêu dùng, với sự hạn chế về tiền tệ, đã tạo ra chu kỳ suy thoái với dao động từ 4 đến 8 năm. Bằng cách so sánh hệ thống với những sụp đổ kinh tế ngẫu nhiên, ông có thể cho thấy rằng sự di chuyển của làn sóng kinh tế trở nên thường xuyên và không cố định trên thực tế. Ông là người tiên phong, đi trước thời đại trong việc xây dựng các mô hình toán học trong kinh tế, có rất nhiều người đã kế tiếp sự nghiệp của ông. Ngoài ra, ông cũng đóng góp các phương pháp cho việc nghiên cứu thống kê cho các giả thuyết.


Frisch   


Timbergen

Giáo sư Tinbergen chủ yếu nghiên cứu đến lý thuyết về động lực kinh tế bằng ứng dụng khoa học thống kê. Các tác phẩm tiên phong xuất sắc của ông trong lĩnh vực này là nghiên cứu kinh tế lượng của các chu kỳ phát triển kinh tế Mỹ. Mục tiêu quan trọng trong tác phẩm nghiên cứu ấn tượng là việc thử nghiệm giá trị chứng minh của tính riêng biệt hiện hành của lý thuyết chu kỳ kinh tế bằng việc định rõ, định lượng, tầm quan trọng của các nhân tố khác nhau. Tinbergen xây dựng một hệ thống kinh tế lược bao gồm khoảng 50 biểu thức, quyết định hệ số tương tác và nhân tố “đầu cuối” với sự giúp đỡ của phân tích thống kê. Một số trong các kết luận của ông đã mang lại sự chú ý lớn và vẫn còn là đề tài gây tranh cãi. Những tác phẩm về kinh tế lượng của ông đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển toán lô gic sau này.

Với sự trợ giúp của phân tích kinh tế vĩ mô để xây dựng các lý thuyết cho việc xây dựng chính sách kinh tế dài hạn và bền vững. Hai học giả đã đưa ra những phân tích nền tảng cho cơ sở lý thuyết trong việc đưa ra các quyết định duy lý trong lĩnh vực chính sách kinh tế. Vào cuối những năm 30, Frisch đã trình bày ý tưởng mới về một hệ thống kế toán quốc gia cụ thể cho toàn bộ nền kinh tế và coi nó như là sự hỗ trợ cho việc xây dựng chính sách kinh tế đúng đắn cho Na Uy. Cấu trúc hệ thống kế toán quốc gia Thuỵ Điển và ngân khố quốc gia vào giữa những năm 40 cũng phần lớn dựa trên các nghiên cứu của giáo sư Frisch tại Viện Nghiên cứu kinh tế xã hội Oslo. Giáo sư Tinbergen, với sự trợ giúp của các lý thuyết do Frisch xây dựng, đã phát triển một hệ thống chính sách kinh tế đơn giản hoá và đưa vào áp dụng tại Hà Lan. Ông đã để cho các chinh sách kinh tế quốc gia hoạt động trong mô hình của hệ hống kinh tế với một số biến số và các hàm giống nhau. Trong khuôn khổ của một hệ thống nhất định, theo nguyên tắc, ứng với bao nhiêu mục tiêu khác nhau thì nhà nước phải có bấy nhiêu công cụ chính sách kinh tế. Với tư cách là người đứng đầu Cục Kế hoạch trung ương tại Hague, giáo sư Tinbergen và các cộng sự của ông đã xây dựng một mô hình kinh tế lượng để dự đoán và xây dựng kế hoạch cho chính sách kinh tế tại Hà Lan.

Trong suốt 10 năm qua, cả hai giáo sư đã cống hiến toàn bộ sự nghiệp của mình để nghiên cứu phát triển và xây dựng các chính sách kinh tế dài hạn và đề cập cụ thể tới vấn đề của các nước đang phát triển. Giáo sự Tinbergen được nhắc đến như người đi đầu trong việc đưa ra các chọn lựa ưu tiên trong đầu tư và việc sử dụng “giá bóng”. Giáo sư Frisch đã phát triển các mô hình quyết định trong việc lập kế họach kinh tế, phát minh ra phương pháp lập trình toán học để khai thác các kỹ thuật máy tính hiện tại.

Giáo sư Frisch (không có mặt do ốm) và giáo sư Tinbergen,cả hai giáo sư là người tiên phong phát triển khoa học kinh tế thành khoa học lý thuyết toán và định lượng. sự đóng góp của hai ngài trong việc tạo ra một nền tảng đúng đắn cho chính sách và kế hoạch kinh tế với sự trợ giúp của lý luận phát triển và phân tích thống kê đòi hỏi sự đột phá có tính kỹ thuật cao. Hiện nay cả hai ngài tiếp tục công trình nghiên cứu được thiết kế như trên nhằm giúp đỡ các nước nghèo trên thế giới. tôi rất vinh dự được truyền lại lời chúc mừng của viện khoa học hoàng gia tới hai ngài, và xin mời ngài, giáo sư Tinbenger nhận từ tay hoàng đế , giải nobel khoa học kinh tế năm 1969, thể hiện lòng tưởng nhớ đến Alfred Nobel

Từ giả thuyết tới ứng dụng thực tế: chứng minh toán kinh tế của RACNAR FRISCH

 ————–&&————–

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: