HFT (High frequency trading) : Giao dịch tần suất cao là gì?

High-frequency trading (HFT), là những phần mềm giao dịch sử dụng trên siêu máy tính cho phép nhà đầu tư có thể thực hiện một khối lượng lớn các lệnh trong một thời gian cực ngắn dựa trên các thuật toán. Yếu tố chủ chốt của HFT là tốc độ, tốc độ càng nhanh, khả năng sinh lợi càng tốt.

HFT (High frequency trading) : giao dịch tần suất cao là gì?

(Nguồn: https://vi.wikipedia.org/)

Giao dịch tần suất cao (viết tắt trong các tài liệu về tài chính bằng tiếng Anh: HFT, từ High-frequency trading) là một loại giao dịch thuật toán với tốc độ cao, tốc độ quay vòng nhanh, và các tỷ số lệnh trên giao dích (OTR) cao tận dụng các dữ liệu tài chính tần suất cao [2] [1] và các công cụ giao dịch điện tử[2]. Trong khi không có một định nghĩa duy nhất được chấp nhận rộng khắp về HFT thì trong số các thuộc tính cơ bản của nó là các thuật toán có độ phức tạp cao, chuyên biệt hóa về các kiểu lệnh, cùng vị trí, các khoảng thời gian đầu tư rất ngắn hạn, và tốc độ hủy lệnh cao[3]. HFT có thể được nhìn nhận như là dạng cơ bản của giao dịch thuật toán trong tài chính[2][4][5][6][7]. Cụ thể, nó là việc sử dụng các công cụ công nghệ phức tạp và các thuật toán máy tính để giao dịch nhanh chóng các loại chứng khoán[8][9][10]. HFT sử dụng các chiến lược giao dịch độc quyền được máy tính thực hiện để vào và ra khỏi các vị thế trong khoảng thời gian chỉ tính bằng giây hoặc thậm chí là chỉ một phần của một giây[11]. Người ta ước tính rằng vào năm 2009 thì HFT chiếm tới 60-73% khối lượng giao dịch chứng khoán ở Hoa Kỳ, với con số này giảm xuống còn khoảng 50% trong năm 2012[12][13].

Các thương nhân giao dịch tần suất cao vào và ra khỏi các vị thế ngắn hạn với khối lượng cao và tốc độ cao đôi khi nhằm mục đích thu được lợi nhuận chỉ ở mức một phần của một xent Mỹ trên mỗi giao dịch[9]. Các công ty HFT không cần nhiều vốn và cũng không bao giờ tích lũy vị thế hoặc nắm giữ các danh mục đầu tư của họ qua đêm[14]. Kết quả là HFT có hệ số Sharpe (một cách đo phần thưởng cho rủi ro) tiềm năng cao gấp hàng chục lần so với của các chiến lược mua và nắm giữtruyền thống[15]. Các thương nhân tần suất cao nói chung là cạnh tranh với chính các đối thủ từ các công ty HFT khác, chứ không cạnh tranh với các nhà đầu tư dài hạn[14][16][17]. Các hãng HFT chỉ cần thu được suất lợi nhuận biên thấp với các khối lượng giao dịch cao khủng khiếp, thường xuyên tính bằng đơn vị triệu giao dịch.


Vụ sụp đổ ’87 đã sinh ra giao dịch tần số cao HFT như nào?

(Nguồn: vfpress.vn)

[http://www.cnbc.com/id/39038914]

Những điểm then chốt:
– Giao dịch tự động phát sinh sau vụ sụp đổ thị trường 1987.
– Hệ thống máy tính liên kết cho phép giao dịch đa địa điểm.
– Hệ thống máy tính liên kết trở thành các platform, ECN.

Nguồn gốc hiện tại của thị trường đầy hứa hẹn trong tương lai, dựa trên sự hoạt động máy vi tính thật ngạc nhiên lại bắt đầu từ một ngày thảm họa: Ngày thứ Hai đen tối.

Vào ngày 19 tháng Mười 1987, chỉ số DJIA bay mất 23%, mức tụt giảm lớn nhất trong một ngày từ trước tới giờ. Hôm đấy giá cổ phiếu tụt dốc quá nhanh đến mức đám market makers (MMs) sàn Nasdaq – lũ những đứa có vai trò trung gian, bôi trơn các bánh xe của thị trường – không thèm nhấc máy trả lời điện thoại. Bọn nhà đầu tư nhỏ lẻ đang cố cong đít lên để chạy nạn thoát khỏi danh mục đầu tư của mình bị bọn khốn MMs kia bỏ rơi lại bơ vơ trong giá lạnh.

Để tránh tình trạng này tiếp diễn, sàn Nasdaq dựng lên hệ thống giao dich hiện tại cho phép bọn đầu tư nhỏ lẻ được ưu tiên trong việc xếp hàng đặt lệnh. Nó yêu cầu đám MMs phải ngay lập tức thực hiện những lệnh từ 1000 cổ phiếu đổ xuống của bọn đầu tư nhỏ lẻ thông qua hê thống khớp lệnh quy mô nhỏ (Small Order Execution System, or SOES). Đám MMs và các tổ chức, những thằng thường giao dịch với khối lượng lớn, phải xếp hàng sau đuôi bọn SOES trader (Cái này ngược lại với ở VN, khi mà lệnh quy mô lớn được ưu tiên vào trước, đám MMs được ưu tiên giao dịch T+0 trong khi bọn nhỏ lẻ phải T+4).

Một nhóm nhỏ những thằng thông minh, nhạy bén (như em) ngửi thấy cơ hội làm ăn ở đây. Bởi vì các giao dịch qua hệ SOES tự động, nghĩa là được thực thi ngay lập tức, và được quyền ưu tiên giao dịch trước bọn khác trên thị trường, một thằng trader nhanh tay, nhanh mắt (fast-moving trader) có thể sử dụng SOES để vào, ra thị trường với tốc độ nhanh hơn đám tay to và kiếm những khoản lời lớn.

Có lẽ tên đạo tặc SOES nổi tiếng nhất, được nhiều thằng trader khác biết đến, là Harvey Houtkin, người điều hành một đơn vị đầu tư nhỏ gọn gọi là All-Tech Direct. Vào những năm 90, Houtkin bắt đầu phát tán giao dịch qua SOES trên khắp nước Mỹ, xây dựng nền tảng cho những thằng có tiềm năng đạo tặc khác.

Một thằng khác hứng thú với giao dịch SOES là Gerald Putnam, thằng này sở hữu một công ty môi giới nhỏ tên là Terra Nova Trading. Năm 1996, Putnam với vài thằng đối tác khác thành lập một phòng giao dịch SOES ở khu kinh doanh Chicaga. Giống như Houtkin, thằng này cũng mở thêm các phòng giao dịch SOES trên khắp nước Mỹ. Để tiết kiệm tiền phí giao dịch đắt đỏ mà Nasdaq yêu cầu đối với việc giao dịch SOES của các đầu cuối, lệnh của các chi nhánh vệ tinh sẽ được gom lại qua Internet dẫn về tổng đài trung tâm của nó ở Chicago.

Điều này làm cho thằng Putnam nảy ra một ý tưởng: Nếu như có thể tự khớp các lệnh trong mạng nội bộ của mình, bọn nó có thể tự tạo ra một mạng lưới liên lạc điện tử (electronic communication network, hay là ECN), một hình thức thị trường tương đối mới và đã phát triển bùng nổ trong những năm 1990 khi giao dịch càng ngày càng được vi tính hóa.

Có một ECN cụ thể mà thằng Putnam ngưỡng mộ về mặt công nghệ: Nó chính là Hòn đảo (The Island).

Hòn đảo cũng chính là một cứ điểm của bọn SOES trader. Một chi nhánh ở New York của công ty chứng khoán Datek, một công ty tăng trưởng thần tốc chuyên phục vụ bọn day trader, đã đưa việc giao dịch qua SOES lên một tầm cao mới, thực hiện các giao dịch với tốc độ siêu âm. Đứng sau sự cải tiến này chỉ là hai thằng khá trẻ, những đứa có khả năng sẽ tiếp tục cải cách thị trường sau này: Jeff Citron và Josh Levine.

Một thằng trader của Datek tên là Sheldon Mascheler thuê Citron và Levine vào cuối những năm 80, khi cả hai đứa đều là những thằng trẻ ranh vắt mũi chưa sạch dưới hai mươi tuổi. Maschler đã từng là trợ thủ của Houtkin và nhanh chóng nhận thấy cơ hội giao dịch qua SOES.

Citron được biết đến với vai trò là một trader át chủ bài, trong khi đó Levine là một thiên tài lập trình, người phụ trách nâng tốc độ cho hệ thống của Datek. Năm 1990, Maschler chuyển bộ phận của hắn tới một văn phòng nhỏ ở đảo Staten. Chính ở đây, Citron và Levine đã tạo nên một hệ thống giao dịch được đặt tên là Watcher.

Watcher cực mạnh trong giao dịch qua SOES, nó cho phép người sử dụng của nó có thể nhảy vào, nhảy ra thị trường nhanh hơn hầu hết các đối thủ cạnh tranh. Suốt quãng đường, những hoạt động hung hăng của Watcher gây ra sự bực tức cho các nhà làm luật. Citron và các nhân viên khác của Datek bị phạt vô số lần với tội danh vi phạm luật chứng khoán.

Giống như hầu hết các trader sử dụng Watcher, Citron và Levine nhận ra bọn nó có thể thường xuyên đối ứng/ khớp các lệnh giao dịch nội bộ thông qua một hệ thống máy tính tự động, hay còn gọi là ECN. Chính từ quan điểm này, hệ thống The Island ECN được sinh ra.

The Island nhanh chóng nổi tiếng là một trong những động cơ khớp lệnh– một hệ thống máy tính liên kết các lệnh mua và bán với nhau – nhanh nhất trên Wall Street. Cùng với việc gia tăng số người sử dụng, nó bắt đầu chiếm lĩnh thị phần của chính Nasdaq.

Putnam đã từng sử dụng The Island và nhìn thấy tiềm năng phát triển của loại hình này. Tuy nhiên hắn còn xa mới đạt được số lượng trader mà Datek có. Vì thế hẳn nảy ra ý tưởng: trader có thể giao dịch trong mạng ECN của hắn trước, và nếu như không tìm thấy một lệnh nào khớp ở trong đấy thì nó sẽ quét sang phần còn lại của thị trường để tìm lệnh khớp tương ứng.

Từ đó sinh ra ý tưởng cách mạng của “đường dẫn truyền lệnh thông minh”, một hệ thống máy tính không ngừng kiểm soát phần còn lại của thị trường để tìm những giao dịch tương ứng.

Ý tưởng của Putnam, qua đó, đã đi xa hơn hình tượng một “hòn đảo” máy tính độc lập dùng để thực thi các lệnh giao dịch, vươn tới thành một loạt các hòn đảo liên kết điện tử với nhau. Nói theo cách khác, đây là một quần đảo các thị trường. Vào năm 1997, hắn lập ra Archipelago ECN (Quần đảo ECN).

Thời điểm đấy, Archipelago chỉ là một trong vài ECN cố gắng giành giật thị phần. Rồi nó phát triển chóng mặt và nhanh chóng nhận được những khoản đầu tư lớn từ các công ty như Goldman Sachs. The Island cũng phát triển như vũ bão, ngoạm chiếm thị phần của Nasdaq với một tốc độ cao bởi vì càng ngày càng có nhiều thằng day-trader nhảy theo phong trào này trong thời kỳ bùng nổ bong bóng Internet.

Do hậu quả của một scandal cho thấy bọn MMs ở Nasdaq đã thao túng giao dịch, một loạt quy định mới được ban hành đã thúc đấy sự phát triển của các thị trường ECN. Năm 1997, Nasdaq thi hành “Các luật lệ quản lý lệnh – the Order Handling Rules” được SEC (Securities and Exchange Commission) thông qua.

Các luật lệ trên cho phép các lệnh mua và bán cổ phiếu trên các ECN được hiển thị trên các thiết bị đầu cuối ngay phía sau lệnh của các Nasdaq MMs. Tức là lệnh của bọn traders sử dụng Archipelago hay The Island được đối xử bình bằng như lệnh của những thằng tai to mặt lớn ở Nasdaq, những thằng kiểm soát phần lớn việc giao dịch.

Đột nhiên, bọn ECN trở thành những tay chơi trong ván bài này. Do càng ngày càng có nhiều trader sử dụng hệ thống máy tính để giao dịch, sàn chứng khoán New York (NYSE) và Nasdaq phải vật lộn để theo kịp. Vào đầu những năm 2000, ngày càng nhiều các công ty bắt đầu giao dịch cổ phiếu và các loại chứng khoán khác bằng hệ thống điện tử, thường là sử dụng các ECN. Một loạt các công ty nhỏ, đang phát triển giao dịch với tần số cao là những người sử dụng chính của các ECN. TD Ameritrade mua Datek năm 2002.

Một loại thuốc tăng lực khác dành cho giao dịch điện tử là tiến tới thập phân hóa trong năm 2000, việc giao dịch các cổ phiếu được tính theo từng xu lẻ chứ không phải là một phần của dollar (Chú thích: trước đó tụi nó phải làm tròn niêm yết giá theo đơn vị ½, ¼ hoặc 1/8 của một dollar, nhưng sau này tụi nó có thể niêm yết giá lẻ 0.28 dollar chẳng hạn).Điều này cho phép cổ phiếu được giao dịch ở nhiều mức giá hơn xưa, với một mức độ phức tạp kiểm soát bằng các máy vi tính dễ hơn là bộ óc của con người.

Việc thập phân hóa cũng gây ra sự sụt giảm lợi nhuận của bọn MMs, bởi vì sự chênh lệch giá mua-bán (bid-ask spread) bị thu hẹp ghê gớm, làm cho nhiều thằng MMs phải đóng cửa đi ăn mày – cũng như mở ra cơ hôi cho những công ty sử dụng công nghệ cao, hiệu quả.

Những sở giao dịch không đến mức mù lòa không nhìn thấy những gì đang viết trên bức tường. Năm 2005, Nasdaq mua lại Inet, một thằng trước đó được lập ra thông qua việc sát nhập giữa The Island với một thằng ECN lớn khác, Instinet. Cũng khoảng thời gian đó, NYSE mua Archipelago, và sau này đổi tên nó thành sàn giao dịch Arca.

Ngày nay, hệ thống khớp lệnh ở Nasdaq về cơ bản vẫn là hệ thống được tạo ra đầu những năm 1990 của Josh Levine (tất nhiên, ngày càng nhận được nhiều hồi chuông cảnh báo và những tiếng huýt sáo phản đối). Hệ thống giao dịch điện tử ở NYSE, giờ đây là một phần của NYSE Euronext, chính là Arca.

Thực tế, những chiếc máy tính đã trở thành những tay chơi thống trị ở Wall Street. Đầu năm nay, Getco, một trong số những công ty giao dịch tần số cao lớn nhất, đã trở thành một MM ở sàn NYSE, vai trò mà trước đây chỉ được nắm giữ bởi con người. Hè năm nay, NYSE mở một trung tâm dữ liệu máy tính lớn ở Mahwah, N.J., để hỗ trợ các công ty giao dịch tốc độ cao.

Đây chính là một thị trường mà Harvey Houtkin, tay tổ sư đạo tặc SOES đã mất năm 2008, chắc mẩm sẽ yêu thích.

————&&————

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: