Câu chuyện chính sách và thực trạng kinh tế

Câu chuyện chính sách và thực trạng kinh tế

(Tác giả: finandlife – Nguồn: vfpress.vn)

[IMG]
Rất nhiều đại biểu quốc hội phân tích tính cấp bách của chương trình giải cứu doanh nghiệp, kích cầu kinh tế. Điều này hợp lý thôi, nhưng làm bằng cách nào? Hiện, chính sách tiền tệ không còn nhiều dư địa, khi lãi suất đã được giảm về mức rất thấp nhưng tín dụng vẫn bí lối ra, kinh tế vẫn chưa thể đi lên. Do vậy, để vực dậy kinh tế, Chính phủ buộc phải trông đợi vào chính sách tài khóa. Theo đó, hoạt động đầu tư công sẽ được đẩy mạnh, đồng thời, các biện pháp cắt giảm thuế sẽ được xem xét.
Hiện, Chính phủ cũng đã có những hành động cụ thể cho chương trình mở rộng tài khóa như thành lập công ty xử lý nợ xấu VAMC, tung ra gói tín dụng 30 ngàn tỷ đồng hỗ trợ mua nhà cho người thu nhập thấp. Ngoài ra, một số dự án hạ tầng trọng điểm cũng khởi động trở lại. Bên cạnh đó, động thái giảm thuế cũng đã được bàn luận và theo Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh, thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2013 nhiều khả năng sẽ được giảm thấp hơn mức 25% hiện tại.
Với các biện pháp nới lỏng tài khóa này, kinh tế Việt Nam sẽ diễn biến thế nào?
Theo lý thiết, việc tăng cường chi tiêu chính phủ và hỗ trợ doanh nghiệp sẽ làm tổng cầu nền kinh tế xã hội tăng lên (đường tổng cầu dịch chuyển sang phải). Và do vậy, nhiều khả năng tăng trưởng kinh tế sẽ được cải thiện.
Nhưng tiền ở đâu ra để Chính phủ có thể thực hiện các giải pháp nởi rộng tài khóa của mình? Với Việt Nam hiện nay, 2 khả năng cao nhất là in thêm tiền và phát hành trái phiếu chính phủ. Việc in tiền rất cần phải cân nhắc kỹ lưỡng, bài học năm 2009 vẫn còn đó, do vậy nếu có sử dụng biện pháp này thì mức độ sẽ không quá lớn. Phát hành trái phiếu chính phủ thực chất là việc vay nợ trong dân, ưu điểm của giải pháp này là không tạo áp lực lớn lên lạm phát, do vậy khả năng này là cao nhất.
Hiện mặt bằng lãi suất đang khá thấp, việc phát hành trái phiếu tương đối thuận lợi, nhưng nếu lạm dụng phương pháp này có thể sẽ đẩy mặt bằng lãi suất tăng lên.
Mặt bằng lãi suất hiện nay thấp là vì đâu? Lãi suất thấp là nhờ chính sách tiền tệ nới lỏng thời gian qua cùng với sức cầu yếu dẫn đến khả năng hấp thụ vốn trong nền kinh tế không tốt. Trong năm 2012, tăng trưởng huy động và tổng phương tiện thanh toán đạt đến 20%, trong khi đó tăng trưởng tín dụng chỉ đạt 6.5%; bốn tháng đầu năm 2013, tăng trưởng huy động đạt 5.34%, trong khi đó tăng trưởng tín dụng cũng chỉ đạt 1.4%. Dường như có một nghịch lý ở đây. Lãi suất cao dẫn đến cầu đầu tư suy giảm là hợp lý, nhưng tại sao lãi suất đang thấp mà cầu đầu tư vẫn không tăng? Đây là hệ quả của thời kỳ lãi suất cao trước đó, và khi lãi suất quay lại mức thấp thì doanh nghiệp chưa chuẩn bị kịp phương án sản xuất, tư liệu sản xuất, thêm vào đó, tổng cầu kinh tế đang yếu (đơn hàng xuất khẩu theo báo cáo PMI của HSBC có xu hướng giảm thời gian qua, mà theo tổ chức này, đến năm 2014, xuất khẩu đóng góp 90% GDP của Việt Nam) nên dẫn đến cầu đầu tư không theo kịp. Ngoài ra, một hướng giải thích khác cũng cần lưu ý. Đóng góp của lĩnh vực bất động sản, xây dựng và vật liệu xây dựng vào nền kinh tế quá lớn, theo thống kê trên 2 sàn niêm yết, các công ty trong lĩnh vực này chiếm đến 40% tổng tài sản của toàn bộ doanh nghiệp niêm yết, một tỷ trọng khá lớn. Tình trạng đóng băng bất động sản thời gian qua rất có thể dẫn đến sự đình trệ của cả nền kinh tế, do vậy, lãi suất hiện nay tuy có giảm xuống so với trước kia nhưng quá trình “devalue” giá bất động sản chưa diễn ra xong dẫn đến cầu đầu tư vẫn chưa thể tăng lên ngay được.
Nếu đã xác định ảnh hưởng của lĩnh vực bất động sản, xây dựng và vật liệu xây dựng là lớn trong nền kinh tế thì con đường “ưu tiên giải cứu bất động sản” của Chính phủ dường như rất có lý. Việc tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng của Chính phủ và gói hỗ trợ thị trường bất động sản kỳ vọng sẽ phần nào giúp các doanh nghiệp giải phóng hàng tồn, kích thích sản xuất trở lại. Theo số liệu của tổng cục thống kê, tăng trưởng hàng tồn kho tháng 5/2013 chỉ ở mức 13% so với cùng kỳ năm trước (thời điểm này năm trước, con số này lớn hơn 30%). Do vậy, bài toán tồn kho sẽ không quá nan giải nếu Chính phủ “bung vốn” đúng lúc và đúng chỗ.
Nhưng làm như vậy liệu có xảy ra hiệu ứng lấn át (crowding out effect)?
Theo ADB, đến cuối tháng 03/2013, Việt Nam là quốc gia trong khu vực có tốc độ tăng trưởng của thị trường trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp nhà nước cao nhất (64.6%) trong khi đó, thị trường trái phiếu doanh nghiệp lại giảm 47.2%. Điều này cho thấy, hoạt động mở rộng vay nợ của Chính phủ nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu có xu hướng ngày càng lớn, trong khi đó, nhu cầu vốn cho hoạt động đầu tư của khu vực tư nhân lại suy giảm nghiêm trọng. Đây là biểu hiện của hiệu ứng lấn át đầu tư khu vực công đối với khu vực tư nhân.
Hiệu ứng lấn át thường là hệ quả của chính sách mà chính phủ áp dụng để vượt qua thời kỳ suy thoái. Để vực dậy tăng trưởng, chính phủ tăng cường sử dụng tài khóa bằng cách tăng chi tiêu công, giảm thuế cho doanh nghiệp. Chi tiêu công tăng trong khi đó nguồn thu ngân sách lại giảm đi do tiền thu thuế giảm, dẫn đến việc phát hành trái phiếu để tài trợ. Nhu cầu chi tiêu quá lớn của chính phủ dẫn đến nhu cầu vay cao đẩy lãi suất tăng lên. Lãi suất tăng lên, quay trở lại tác động đến nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp tư nhân, buộc họ giảm đầu tư, dẫn đến động lực tăng trưởng từ khối tư nhân trong tương lai sẽ giảm. Hệ quả là gì? Lãi suất tăng cao, doanh nghiệp tư nhân gặp khó khăn, tổng cầu suy giảm làm cho tăng trưởng GDP không ổn định về mặt dài hạn.
Nếu xác định có sự tồn tại của hiệu ứng lấn át, và hiệu ứng này có thể làm tốc độ tăng trưởng trong tương lai không ổn định, Chính phủ nên có hành động gì để làm giảm tác động tiêu cực không mong muốn?
Theo lý thiết, cần thiết phải gia tăng đầu tư công có kiểm soát và chọn lọc, trong khi đó vẫn phải ưu đãi và kích thích đầu tư với khối tư. Nói đến đầu tư công có hiệu quả, thì lại phải nói đến tiến trình tái cơ cấu thành phần kinh tế nhà nước, tăng cường ICOR, đây là bài toán tương đối lớn, và cần nhiều thời gian. Ngoài ra, Chính phủ có thể vừa gia tăng chi tiêu công, vừa kết hợp với in tiền. Đây là cách giúp tăng cung tiền để trung hòa nhu cầu vốn vay lớn thông qua trái phiếu chính phủ, nhằm giảm áp lực gia tăng lãi suất giúp doanh nghiệp tư nhân có điều kiện tiếp cận nguồn vốn giá rẻ để tăng cầu đầu tư, cải thiện tăng trưởng kinh tế trong trung và dài hạn. Tuy vậy, việc làm này, rất dễ tạo điều kiện cho lạm phát quay trở lại. Và nếu không khéo, chúng ta sẽ tiếp tục rơi vào vòng lẩn quẩn “lạm phát, suy thoái”.

Chính sách Chính phủ hiện nay dường như kết hợp cả 2 hướng được trình bày ở trên. Nếu xác định công cuộc phục hồi là gian nan, cần thời gian và xem thời điểm này là cơ hội để “đổi mới” thì chính sách đầu tư công hiệu quả, chọn lọc kết hợp với kích thích đầu tư tư nhân được ưu tiên. Còn nếu xác định kinh tế phải phục hồi nhanh, phải cứu lấy tăng trưởng ngay thì chi tiêu công kết hợp với in tiền sẽ được ưu tiên. Về dài hạn, dù chính sách có đi theo hướng nào đi nữa, nền kinh tế Việt Nam cũng sẽ phải trải qua một quá trình khá dài nữa để vượt qua chính mình, và lấy lại đà tăng trưởng nhanh bền vững. Và động thái tài khóa sẽ là liều thuốc tốt trong trung hạn giúp giữ lửa thị trường, giữ lửa kinh tế, tạo không gian và thời gian để các thành phần kinh tế nhận ra giá trị thật trong đóng góp vào nền kinh tế, từ đó có sự chuyển đổi thích hợp nhằm tạo ra sự cân đối (giảm tỷ trọng ngành có liên quan đến bất động sản đến nền kinh tế), hướng đến sản xuất, nâng tính cạnh tranh hàng Việt trên trường thế giới.

————&&———–

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: