Sản phẩm phái sinh : Còn chờ gì nữa?

Sản phẩm phái sinh : Còn chờ gì nữa? 

(Tác giả: Tran Hoang Duy – Nguồn: vfpress.vn)

stock market

Tại Việt Nam các sản phẩm phái sinh đã xuất hiện trên thị trường cách đây hơn 10 năm, nhưng nghiệp vụ này hiện tại vẫn chưa phát triển mạnh. Giao dịch kỳ hạn xuất hiện với tư cách là công cụ tài chính phái sinh đầu tiên ở Việt Nam theo quyết định số 65/1999/QĐ-NHNN7 ngày 25/2/1999. Giao dịch hoán đổi cũng xuất hiện khá sớm theo quyết định số 430/QĐ-NHNN13 ngày 24/12/1997 và sau này là quyết định số 893/2001/QĐ-NHNN ngày 17/7/2001 của thống đốc NHNN.

Các giao dịch quyền chọn ngoại tệ, lãi suất và vàng dường như là những công cụ phái sinh được thị trường hoan nghênh và đón nhận nhiều nhất do những ưu điểm vốn có của nó trong bối cảnh lãi suất và tỷ giá và giá vàng luôn ở trạng thái biến động liên tục. Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) là ngân hàng đầu tiên được phép thực hiện giao dịch quyền chọn lãi suất.. Sau này có thêm VCB, rồi ACB… Bên cạnh quyền chọn lãi suất, quyền chọn ngoại tệ cũng được nhiều ngân hàng cung cấp, điển hình là BIDV, Eximbank, ACB, Techcombank, Agribank, Citibank, Vietcombank, HSBC…Nhìn chung các sản phẩm phái sinh tiền tệ chỉ là sân chơi của nhóm ngân hàng ngoại, Big 4 và vài ngân hàng cổ phần hàng đầu.

Mức độ phát triển của các công cụ tài chính phái sinh ở nước ta vẫn còn rất hạn chế. Hiện nay việc thực hiện các hợp đồng phái sinh của khách hàng Việt Nam các ngân hàng chủ yếu là trung gian ăn hoa hồng do đó đẫy phí phái sinh tăng lên trong bối cảnh tỉ giá không biến động nhiều, đây chính là những tác nhân làm cho sản phẩm này không được các nhà đầu tư và doanh nghiệp quan tâm.

Một cuộc khảo sát gần 250 doanh nghiệp và các định chế tài chính xem họ nhận thức vấn đề vĩ mô nào quan tâm nhất của doanh nghiệp ? Kết quả khảo sát cho thấy lãi suất và tỷ giá là hai loại rủi ro mà doanh nghiệp lo ngại nhất. Đáng ngạc nhiên là họ hầu như chưa thực sự làm gì để đối phó với các rủi ro này. Một số rất ít doanh nghiệp có dử dụngsản phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi ro tỷ giá, nhưng cũng chỉ biết sử dụng đến hợp đồng kỳ hạn. Đây cũng là sản phẩm mà doanh nghiệp am hiểu sâu sắc nhất. Các hợp đồng phái sinh phức tạp hơn, chẳng hạn như quyền chọn(option) tiền tệ hầu như ít có doanh nghiệp nào sử dụng.

Vì sao doanh nghiệp không quan tâm sử dụng sản phẩm phái sinh tiền tệ?

View attachment 19422 

Điều đáng ngạc nhiên là mức độ am hiểu về các sản phẩm phái sinh chính là rào cản lớn nhất cho việc sử dụng các sản phẩm này. Kế tiếp là khung pháp lý.
(1) Nhà nước chưa có biện pháp khuyến khích doanh nghiệp sử dụng sản phẩm phái sinh;
(2) Chưa có quy định về hạch toán kế toán đối với các giao dịch và phí phải trả cho việc sử dụng sản phẩm phái sinh và;
(3) Tâm lý lời thì không ai khen nhưng lỗ thì HĐQT hoặc chủ doanh nghiệp kỷ luật. Ngoài ra, cũng còn một số lý do khác đáng quan tâm, có thể liệt kê ra sau đây:Thiếu đào tạo thực tế về sản phẩm phái sinh. Đây là thực trạng ở Việt Nam. Các chuyên gia đào tạo về sản phẩm phái sinh hiện nay còn quá ít, hơn nữa số đơn vị cung cấp và tham gia giao dịch không bao nhiêu. Chính vì vậy, số chuyên gia có cơ hội tiếp cận với thực tiễn ứng dụng sản phẩm phái sinh ở Việt Nam là rất hạn chế.
(4) Phí thực hiện sản phẩm phái sinh cao. Chính rào cản này đã hạn chế doanh nghiệp đến với sản phẩm phái sinh. Tuy các hợp đồng kỳ hạn và giao sau không phải trả phí trực tiếp, nhưng quyền chọn hiện tại có phí “ khá cao” (theo đánh giá của nhiều cá nhân và doanh nghiệp sử dụng sản phẩm phái sinh)
(5) Còn nhập nhằng giữa phòng ngừa rủi ro và đầu cơ. Doanh nghiệp không nghĩ rằng sử dụng sản phẩm phái sinh là trả một khoản tiền để mua một giấc ngủ ngon cho mình, đồng thời chủ động trong các kế hoạch kinh doanh và kiểm soát được chi phí của mình trong tương lai. Thay vào đó, họ chỉ mong muốn kiếm đuợc lợi nhuận và không muốn lỗ (?). Khi mục tiêu chỉ nhằm vào đánh cuộc với biến động giá, thì khi biến động giá này không đúng như kỳ vọng, các doanh nghiệp lập tức không sử dụng tiếp các sản phẩm phái sinh nữa (như trường hợp của hợp đồng giao sau cà phê và quyền chọn vàng, ngoại tệ). Có trường hợp doanh nghiệp ký hợp đồng mua kỳ hạn xong, thấy biến động bất lợi thì đòi hủy hợp đồng. Như vậy doanh nghiệp hiện mới chỉ nhìn vào lợi nhuận của sản phẩm phái sinh, chứ không thấy được lợi ích phòng ngừa rủi ro mang lại.
(6)Thiếu nhân sự có năng lực về sản phẩm phái sinh. Đây là một trở ngại khá lớn làm cho các doanh nghiệp tuy thấy những rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất sắp tới tác động rất lớn đến kết quả kinh doanh của mình, thậm chí nhiều doanh nghiệp nhập khẩu còn thấy rõ rằng nguy cơ phá sản do tỷ giá tăng nhưng họ không biết tìm đâu ra nhân sự ở cơ quan mình để thực hiện các chương trình quản trị rủi ro bài bản.
(7) Thông tin về sản phẩm phái sinh khó tiếp cận. Điều này liên quan đến mức độ “khó hiểu” và không đầy đủ của các hướng dẫn về sản phẩm phái sinh của tổ chức cung cấp sản phẩm phái sinh và của các tài liệu đào tạo. Sở dĩ như vậy là vì sản phẩm phái sinh là một chủ đề khó, đòi hỏi trình độ chuyên môn đáng kể. Điều này cho thấy Việt Nam vẫn còn thiếu chuyên gia am hiểu sâu về sản phẩm phái sinh có thể giải thích một cách đơn giản, dễ hiểu vấn đề này cho doanh nghiệp.

Đến các sản phẩm phái sinh cho TTCK Việt Nam:
TTCK Việt Nam đã có gần 13 năm thành lập. 13 năm một chặng đường không quá dài nhưng cũng không quá ngắn. Tính khốc liệt và đào thải của TTCK Việt Nam thì có lẻ không nhóm ngành ở VN có thể so sánh được. Nhu cầu của nhà đầu tư cần có sản phẩm mới bên cạnh các sản phẩm truyền thống để bảo vệ rủi ro cho mình trong bối cảnh vĩ mô biến động mạnh như 2-3 năm qua. Thị trường rất cần những sản phẩm để khắc chế những rủi ro nội tại của TTCK Việt Nam như tin đồn, tâm lý đám đông, trap T3…

Theo thông tin từ Hose và SSC thì khả năng sản phẩm chứng quyền sẽ được đưa vào sử dụng từ năm 2014. Đây là thông điệp khá rỏ ràng của những nhà điều hành thị trường.

best_20121214-082716-1-06e4achungquyen

Từ đây đến đầu năm 2014 một thời gian không quá dài để các nhà đâu tư VN từng bước tiếp cận và nắm rỏ các sản phẩm Phái sinh này.

Covered warrant ( chứng quyền) Cũng giống như option, warrant là một công cụ tài chính cho phép người nắm giữ nó được quyền mua (call warrant) hoặc bán (put warrant) một chứng khoán (cổ phiếu, tiền tệ, chỉ số thị trường) tại một mức giá (strike) trước hay vào một thời điểm (maturity date) đã được định trước. Nhưng warrant khác với option ở chỗ là anh/chị không có thể bán khống một chứng quyền mà anh/chị không sở hữu, vì vậy thiệt hại tối đa được hạn chế ở mức phí mà anh/chị đã trả để mua nó. Hơn nữa, warrant là một chứng khoán mà NĐT có thể mua hay bán đơn giản như bất cứ một cổ phiếu nào trên thị trường chứng khoán (Euronext, LSE, vv).

Khi cần phải phân tích xu hướng biến động giá của chứng khoán đó, nhưng nếu nhà đầu tư chứng quyền, thì trong trường hợp này,NDT phải quan tâm đến ba nhân tố sau đây :

• biến động giá chứng khoán cơ sở
• giá trị thời gian, có nghĩa khoảng thời gian từ thời điểm t đến ngày đáo hạn của chứng quyền
• chuyển động của mức độ biến động ẩn (implied volatility) của chứng khoán cơ sở. Khái niệm này sẽ được giải thích chi tiết ở phần sau.

Giống như quyền chọn, NDT có thể dùng chứng quyền để đầu cơ hay bảo hiểm danh mục đầu tư, phòng ngừa rủi ro biến động giá, vì anh/chị biết rằng mức lời là vô hạn và mức lỗ có giới hạn và chỉ là phí mua chứng quyền. Anh/chị mua call warrant nếu anh/chị dự đoán xu huớng tăng giá của chứng khoán cơ sở, và mua put warrant nếu anh/chị dự đoán xu huớng giảm giá của chứng khoán này.
1 – Warrant là gì ?
1.1 – Ðặc điểm chính:

mot
hai

– Dạng rủi ro (Risk profile) vào ngày đáo hạn
Ta giả định rằng chứng quyền mua/bán là kiểu châu Âu.
– Call warrant
Mức lời và mức lỗ vào ngày đáo hạn, mức hòa vốn (Break-even), được biểu diễn bằng những công thức sau đây :

ba

Ví dụ : NDT mua 1000 chứng quyền mua (call warrant) sau đây :

bon

• mức hòa vốn = (0.45×10)+90 = 94.5€
• nếu giá cổ phiếu ABC ≥ 94.5
giả sử giá ABC vào ngày đáo hạn là 96€, vậy anh/chị thực hiện quyền mua ABC và sẽ lời [(96-90)/10 – 0.45]×1000 = 150€
• nếu 90 ≤ giá ABC < 94.5
giả sử giá ABC vào ngày đáo hạn là 91€, vậy anh/chị lỗ [(91-90)/10 – 0.45]×1000 = -350€
• nếu giá ABC < 90
trong trường hợp này, tổn thất tối đa chính là phí mua 1000 chứng quyền, có nghĩa là 0.45×1000 = 450€
– Put warrant
Mức lời và mức lỗ vào ngày đáo hạn, mức hòa vốn (Break-even), được biểu diễn bằng những công thức sau đây :

nam

Ví dụ : NDT mua 1000 chứng quyền bán (put warrant) sau đây :
sau

• mức hòa vốn = 5000−(0.40×500) = 4800 điểm
• nếu chỉ số CAC40 ≤ 4800
giả sử CAC40 vào ngày đáo hạn là 4650 điểm, vậy khoản lợi nhuận là [(5000-4650)/500 – 0.40]×1000 = 300€
• nếu 4800 < CAC40 ≤ 5000
giả sử CAC40 vào ngày đáo hạn là 4850, vậy anh/chị lỗ [(5000-4850)/500 – 0.40]×1000 = -100€
• nếu CAC40 > 5000
Trong trường hợp này, tổn thất tối đa chính là phí mua 1000 chứng quyền, có nghĩa là 0.40×1000 = 400€
NDT vừa mới thiết lập dạng rủi ro (risk profile) của chứng quyền vào ngày đáo hạn, nhưng anh/chị sẽ thấy rằng, trong phần lớn các trường hợp, các nhà đầu tư cá nhân thường bán nó trước ngày đáo hạn để kiếm lợi nhuận cao.

(Nguồn Trần Hoàng Duy Vfpress, saga, aiquoc,)

———–&&———–

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: