Rủi ro hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam

Rủi ro hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam

(Tác giả: Mai Trang – Nguồn: vfpress.vn)

7adf13c220a048c98cfe8b0193292a65
Rủi ro hoạt động (RRHĐ) không phải là một khái niệm mới đối với các ngân hàng. Những tổn thất do RRHĐ đã được phản ánh lên bảng cân đối kế toán của ngân hàng từ nhiều thập kỷ trước. Chúng xảy ra hàng ngày trong ngành ngân hàng. Tuy nhiên, hầu hết các tổn thất đều rất nhỏ và hoàn toàn có thể dự đoán trước và phòng ngừa được. Ví dụ như lỗi trong khi ghi sổ sách kế toán, lỗi thẻ tín dụng, hay một số thiết bị trong hoạt động ngân hàng bị hỏng…. Một số sự kiện có thể gây ra tổn thất rất lớn như các hoạt động kinh doanh chứng khoán trái phép, tham nhũng, làm giả sổ sách hay các yếu tố bên ngoài như thiên tai, hỏa hoạn….
Trong quá trình nghiên cứu và phỏng vấn rất nhiều nhà quản trị ngân hàng trên khắp thế giới, từ năm 1998 đến nay, BIS (Bank for international settlement) đã đưa ra khá nhiều định nghĩa về RRHĐ. Qua nhiều lần sửa đổi, hiện nay định nghĩa về RRHĐ được chấp nhận rộng rãi là:“rủi ro hoạt động là rủi ro gây ra tổn thất do các nguyên nhân như con người, sự không đầy đủ hoặc vận hành không tốt các quy trình, hệ thống; các sự kiện khách quan bên ngoài. RRHĐ bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng loại trừ về rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín”.
Từ định nghĩa của BIS ta có thể chia RRHĐ thành 4 phần bao gồm:
Rủi ro con người
Là rủi ro liên quan đến nhân viên của ngân hàng; chẳng hạn như cán bộ ngân hàng thông đồng với khách hàng để lập hồ sơ khống để vay vốn, cán bộ ngân hàng nâng giá trị tài sản đảm bảo để cho vay mục đích nhận thù lao, cán bộ ngân hàng quản lý khách hàng vay vốn trực tiếp thu nợ gốc và lãi vay ngân hàng nhưng chỉ nộp lãi vào ngân hàng, nợ gốc giữ lại chi tiêu cá nhân, hay như nhân viên thiếu kinh nghiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ dẫn tới hạch toán sai, nhầm lẫn …
Ví dụ: Nhân viên giao dịch L phụ trách điểm giao dịch của Ngân Hàng Z giả mạo chữ ký của khách hàng để rút số tiên lên tới 24 tỷ đồng. Nhân viên của NH Y chi nhánh Vinh đã sơ suất khi thao tác trên máy tính nên chọn nhầm mã nộp là AUD (đô la Úc) thay vì VND (Việt Nam đồng) nên số tiền được chương trình máy tính tự động quy đổi thành 48,5tỷ VND thay vì 4 triệu VND khách hàng nộp vào và được ghi vào tài khoản có của khách hàng. Tại ngân hàng U, thủ quỹ đã rút 1,28 tỷ đồng và 8 ngàn USD tiền trái phiếu chính phủ trong kho quỹ do nhân viên đó quản lý để mang đi thế chấp lấy tiền chơi cổ phiếu, kinh doanh chứng khoán.
Rủi ro hệ thống
Là rủi ro có thể xảy ra như nhập dữ liệu sai, kiểm soát thay đổi kém, kiểm soát dự án kém, lỗi lập trình, lỗi dịch vụ, an ninh hệ thống, sự không phù hợp của hệ thống….
Ví dụ: Trường hợp của 1 chủ thẻ do rút tiền tại ATM của 3 ngân hàng khách với ngân hàng phát hành, số tiền thực tế rút là 2 triệu VND nhưng do lỗi hệ thống tài khoản đã bị trừ mất 9 triệu VND, hay như trường hợp của 1 chủ thẻ khác rút 2 triệu nhưng tiền không ra trong khi đó tài khoản vẫn bị trừ mất 2 triệu.
Rủi ro bên ngoài
Là các rủi ro xảy ra bên ngoài nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng và thường do các sự kiện của ngân hàng khác nhưng ảnh hưởng tác động đến ngành như gian lận và trộm cắp bên ngoài, hỏa hoạn, thiên tai, bố trí thuê ngoài không thành công, biểu tình, bạo loạn ….
Ví dụ: Ba ngân hàng lớn là Vietcombank chi nhánh KCN Bình Dương, Ngân hàng đầu tư phát triển BIDV Phú Yên và ngân hàng Việt Nga đã bị công ty Minh chí và các công ty con của công ty này lừa vay 400 tỷ đồng với tài sản đảm bảo được khai khống. Sự việc này đã cho thấy được sự lỏng lẻo, kém cỏi trong hoạt động ngân hàng của các cán bộ tín dụng ngân hàng. Luật ngân hàng , tín dụng đều quy định chặt chẽ về việc thanh kiểm tra trước, trong và sau khi vay vốn. Đối với các doanh nghiệp vay vốn như trên thì phải có tài sản đảm bảo, phải xem xét toàn bộ hợp đồng mua bán chứng từ… có hợp pháp hay không, phải trực tiếp đến nơi kho bãi chứa hàng để kiểm tra. Nhưng ở đây cán bộ tín dụng đã cố tình bảo qua các nguyên tắc đó để dẫn tới việc ngân hàng bị kẻ lừa đảo dễ dàng móc túi.
Một ví dụ khách về tác động của thiên tai, cách đây vài năm, một ngân hàng TMCP đã lâm vào tính huống “dở khóc dở cười” khi tài sản đảm bảo là nhà đất của 1 khoản vay trôi tuột theo một vụ sạt lở đất. Ngân hàng chỉ còn cách chấp nhân mất khoản vay đó, bởi “ con nợ” không có khả năng trả nợ mà tài sản đảm bảo nay đã biến mất. Tương tự, vụ sạt lở đất tại Thanh Đa ( quận Bình Thạnh , TP.HCM) đã chon vùi vào lòng sôngh hàng chục căn hộ và cũng cuốn theo khối tài sản không nhỏ của ngân hàng được dung để thế chấp.
Rủi ro pháp lý
Là rủi ro từ sự không rõ ràng của các hoạt động pháp lý hoặc không rõ ràng trong việc áp dụng và hiểu các hợp đồng, luật hay quy chế. Ở một số nước, rủi ro pháp lý bắt nguồn từ sự không rõ ràng của quan điểm pháp lý.
Ví dụ: Trong việc sử dụng tài sản đảm bảo: chẳng hạn như hiện tại nhà và đất được quản lý riêng, nhà do bộ xây dựng quản lý theo luật nhà ở, đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý theo Luật Đất đai. Từ năm 2003, Luật Đất đai có hiệu lực, song Luật Nhà ở đến ngày 1/7/2006 mới có hiệu lực. Điều này dẫn đến trường hợp có ngân hàng cho vay, tài sản thế chấp là 450 m2 đất ở khu vực khá đắt đỏ của Hà Nội của một bên thứ ba. Sau một thời gian, bên thế chấp xây một biệt thự trên đất đó.
Khi khách hàng không có khả năng trả nợ, ngân hàng muốn xử lý tài sản thế chấp nhưng không được, bởi hợp đồng thế chấp chỉ có tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở vẫn thuộc quyền sở hữu của bên thứ ba và bên này không thế chấp nhà hay tài sản gắn liền với đất.
Không có cách nào để “bê” biệt thự đi nơi khác, ngân hàng đành làm “ngơ’ đối với khoản vay nói trên. Đáng nói là, đến nay vẫn còn ngân hàng chưa nhận thức được rủi ro này để đưa những điều khoản về nhận cả tài sản hình thành trên đất trong tương lai vào hợp đồng.
Ngược lại, cũng có khách hàng chỉ thế chấp nhà mà không thế chấp đất và hậu quả là ngân hàng lâm tình huống tiến thoái lưỡng nan, khi mà tài sản bảo đảm tuy có và ngân hàng có toàn quyền xử lý, nhưng chỉ có điều ngân hàng không cách nào xử lý được. Bởi lẽ, tài sản bảo đảm là khung nhà xưởng của một doanh nghiệp và ngân hàng không cách nào bán được, do không có ai mua. Thậm chí, ngân hàng còn bị khu công nghiệp giục đến lấy nhà xưởng về để trả đất thuê cho khu công nghiệp. Chẳng biết mang nhà xưởng về để đâu, ngân hàng đành coi như mất.
Các công cụ tài chính mới giúp ngân hàng phòng ngừa rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng hiệu quả hơn thì RRHĐ lại tăng lên. Trong những năm gần đây, RRHĐ luôn luôn là đề tài nóng trong các cuộc hội đàm của các nhà quản trị rủi ro trên toàn thế giới. Roger W.Ferguson, phó chủ tịch FED đã nhấn mạnh rằng “Trong hệ thống ngân hàng đang được hiện đại hóa, RRHĐ đã trở thành một trong những rủi ro chính của ngân hàng”.
Tại Việt Nam, hầu như chưa có một vụ việc nào liên quan đến RRHĐ gây ra tổn thất lớn cho ngân hàng mà đa số là các vụ việc đều nhỏ, ngân hàng hoàn toàn có thể bù đắp bằng lợi nhuận. Nguyên nhân khá rõ ràng, đó là do hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam còn hạn chế, chủ yếu là cho vay, hoạt động trong nước là chính. Tuy nhiên không vì thế mà các ngân hàng không quan tâm đến công tác quản trị RRHĐ. Bởi vì, RRHĐ có thể ảnh hưởng tới uy tín và kết quả kinh doanh của ngân hàng.
————&&———

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: