Biên niên sử TTCK VN 13 năm qua

Biên niên sử TTCK VN 13 năm qua

(Tác giả: Tran Hoang Duy – Nguồn: vfpress.vn)

Chúng ta đang giao dịch những phiên đầu tiên của năm Quý Tỵ. Nhân đây xin gửi đến các bạn bài viết những giai đoạn lịch sử đã qua của TTCK Việt Nam.

Giai đoạn 1 từ 28/7/2000 đến 25/6/2001:

Chỉ số VN-Index trong giai đoạn này tăng liên tục, cho đến đỉnh điểm là 571,04 điểm vào phiên ngày 25/6/2001, tức là tăng hơn 500%. Bình quân mỗi phiên tăng khoảng 1,08%. Ở giai đoạn này, giá tất cả các loại cổ phiếu đều tăng. Tăng cao nhất là CP HAP, gấp hơn 10 lần, tăng ít nhất cũng là 7 lần đối với CP TMS.
Giá cổ phiếu sẽ tăng khi cung < cầu về CP đó, và ngược lại. Song, điểm cần nhấn mạnh ở đây là, sự tăng giá CP do cung < cầu trên TTCK giai đoạn này hoàn toàn không nói lên rằng nhu cầu đầu tư cổ phiếu ở Việt Nam đã rất cao; cũng không phản ánh rằng, 4 công ty có cổ phiếu niêm yết trên TTCK lúc này đã làm được điều gì kì tích trong khoảng thời gian 1 năm đó.

So_TK_luu_ky_2000-2010

Nền kinh tế nước ta trong thời gian này cũng không có sự tăng trưởng cao đặc biệt, so với cùng kỳ năm ngoái, đúng hơn là đang trong tình trạng giảm phát. Cung – cầu căng thẳng trong giai đoạn này chỉ là do nguồn cung cổ phiếu còn quá hạn hẹp. Thị trường với 5 CP được tham gia giao dịch, với tổng giá trị giao dịch thấp. Hơn nữa, lượng CP được đem giao dịch cũng rất nhỏ. Chỉ có khoảng 30%-40% cổ phiếu phát hành, có đến 60-70% lượng cổ phiếu không được phép giao dịch. Những người nắm giữ CP phần lớn cũng không muốn bán do giá cứ liên tục tăng. Cầu về CP giai đoạn này quá lớn so với cung cũng còn bởi vì mệnh giá định ra ban đầu quá thấp.

So_ma_CK_niem_yet_2000-2010

Chúng ta biết, các công ty niêm yết thời điểm này đều là những CTCP, được hình thành từ quá trình CPH DNNN từ năm 1998. Khi đó, giá trị DN được xác định thấp hơn nhiều so với giá thị trường khi khai trương. Chẳng hạn, tính riêng giá trị quyền sử dụng đất của CTCP Cơ điện lạnh quận Tân Bình khi TTGDCK khai trương đã tăng gấp tới 5-6 lần so với giá trị tại thời điểm CPH. Trong điều kiện như vậy, giá cổ phiếu phát hành ra của công ty cũng không phản ánh được giá trị thực của công ty. Chính vì thế, sự tăng giá của cổ phiếu REE trong giai đoạn đầu là điều tất yếu. Giá tham chiếu quy định ban đầu cho cổ phiếu quá thấp đã tạo nên tính hấp dẫn của cổ phiếu đó trên thị trường. Và chính tính hấp dẫn nảy sinh trong điều kiện cung còn quá ít đã làm cho cầu đã vượt xa cung, đẩy giá lên cao liên tục. Hậu quả không chỉ dừng lại ở đấy. Một sự sốt giá các CP, nhưng không xuất phát từ sự tăng trưởng thực tế của các công ty phát hành ra chúng, lại là nguyên nhân tiềm ẩn một sự sụt giá không tránh khỏi của tất cả các CP giai đoạn sau.

Liên quan đến tình hình cung cầu căng thẳng, dẫn đến sự tăng giá bất bình thường trong giai đoạn này, như đã nêu trên còn phải kể đến những quyết định có tính điều tiết của các cơ quan quản lý thị trường, được thực thi trong giai đoạn này. Như đã nêu ở phần trên, với mục đích giữ được sự bình ổn của giá CP, quy định ban đầu về biên độ dao động giá được áp dụng cho mỗi phiên là ± 2%. Chính quy định biên độ hẹp ± 2% lại trở thành dây bảo hiểm, mà các cơ quan quản lý thị trường đã vô tình tạo ra. Quy định đó đã khuyến khích các nhà đầu tư mạnh dạn, đúng hơn là liều lĩnh bước vào thị trường này. Với một biên độ hẹp như vậy, giá cổ phiếu sẽ không thể giảm quá 2%. Ngược lại, nếu giá có tăng, thì mức lợi đem lại cho nhà đầu tư có thể lên đến 2%/ ngày. Như vậy có nghĩa là sự sụt giảm quá mức của giá cổ phiếu sẽ không thể xảy ra. Đây quả là điều kiện lý tưởng đối với nhà đầu tư chứng khoán. Tất cả những điều này đã kích thích mạnh mẽ đến cầu cổ phiếu, khiến giá của hầu hết các cổ phiếu cứ tăng liên tục. Thị trường đã diễn biến khác xa với tính toán của những nhà quản lý TT.

Giai đoạn 2 từ 25/6/2001 đến hết tháng 12/2001:

Như là kết quả tất yếu của những gì đã xảy ra trong giai đoạn trước, đây là giai đoạn tụt dốc nhanh chóng của chỉ số VN -Index. Đến phiên giao dịch ngày 31/12/2001, tức là chỉ sau khoảng 6 tháng, chỉ số VN – Index chỉ còn 235,4 điểm, tức là giảm hơn 300 điểm so với đỉnh điểm. Thực tế cho thấy, nếu ở giai đoạn trước, sự hạn hẹp của nguồn cung so với cầu bất hợp lý về cổ phiếu trên TTCK đã làm cho chỉ số VN-Index tăng vọt như vậy, thì sự suy giảm cầu đầu tư chứng khoán ở giai đoạn này đã kéo giá các CP nhất loạt giảm nhanh chóng, tưởng như không có điểm dừng, trong suốt nhiều phiên. Sự suy giảm cầu đầu tư chứng khoán xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Nhưng theo tôi, những thay đổi tâm lý của các nhà đầu tư trên TTCK giữ vai trò quan trọng.

Có một đặc điểm quan trọng trong giai đoạn này là biến động giá các CP, trong thời gian dài, luôn diễn ra cùng chiều: hoặc cùng tăng hoặc cùng giảm. Diễn biến như vậy là không hoàn toàn bình thường. Nhưng nó lại là kết quả tất yếu trước những phản ứng theo nhau của các nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam giai đoạn này.

VN-Index giai đoạn 2001 – 2003

Thời kỳ 2001-2003 khi VNI giảm từ 571 còn 203 điểm: Giai đoạn đầu là do tăng quá thì rớt. Giai đoạn sau thì do các bác UBCK sáng chế ra nhiều quy định ko giống ai: chỉ được mua tối đa một loại là 3k CP, phải nắm giữ ít nhất 6 tháng. Hồi lên được tý, nhưng dân tình sợ quá lại chạy tiếp vì đầu tư tài chính mà lại thấy mùi vị giống kiểu phân phối thời bao cấp quá.

Mua xong mà giá rớt thì phải cắn răng chịu đau 6 tháng mới được cắt, liệu có dám mua? Do cùng một nguyên nhân nên 400 hay 500 cũng chẳng có nghĩa lý gì hết khi niềm tin o còn. Đừng nhìn số điểm 571 xuống 200 (rớt 370 điểm) lớn hơn số điểm 200 xuống 130 (rớt 70 điểm) mà nghĩ rằng GĐ đầu kinh khủng hơn giai đoạn 2.
Giai đoạn 2 mới là khiếp đảm khi nhiều tuần lễ liền nhiều mã ko hề có giao dịch. Nhưng may mắn là chưa áp dụng T+180 vì mới chuẩn bị thông qua thì mọi người đã chạy văng dép. Nhưng cũng ko ai dám mua vào vì nhỡ mua rồi mà ban hành quyết định như thế thì toi. Đừng phân biệt rạch ròi UBCK ra đứng riêng, nên gọi chung là cơ quan quản lý nhà nước thì sẽ thấy vấn đề rõ hơn.

Hồi đó TT bé lắm, sàn HN chưa có, sàn HCM thì có hơn chục Cty niêm yết thôi = 1/10 hiện nay và vốn hóa chắc = 1/100 hiện nay. Nên khi đó chỉ cần cung cách quản lý của UBCK tác động một cái là TT liêu xiêu ngay. Bây giờ VNI lớn hơn thì có cơ quan quản lý lớn hơn tác động (NHNN, Bộ Tài Chính) cũng chỉ huých qua huých lại mấy cái mà TT liêu xiêu.

Những người đến sau luôn hưởng quả ngọt. Hồi đó chả có gì cả. Năm 2001-2003 Lê Đăng Doanh là chủ tịch UBCK, còn ông Hà là đàn em. Chỉ có giai đoạn đầu 2007 là hoành tráng nhất. Bác Bằng, bác Sinh quả thật là gặp thời. Hồi đó ai mà tưởng tượng nổi sẽ có ngày, công ty cổ phần mới thành lập, góp vốn 10k/cp sau đó có thể mang ra bán ngay thành 50k/cp trong khi Cty chưa hề hoạt động. Bây giờ tỉnh cơn mê rồi, nhìn lại mới thấy là điên dại, chứ đầu 2007 ai cũng cho là bình thường (mua tờ giấy lộn 10k giá 50k), thế mới lạ. Ngày đó ngồi MBS ĐBP, cả ngày chỉ có 3-5 khách giao dịch, hướng dẫn cho từng người cách viết lệnh. Mỗi lần HSBC ra báo cáo VNI lại một lần chao đảo.

VNI 2007 – trăng mật ngọt ngào

Năm 2006 thực ra TTCK VN rất nhỏ, đến 10/2006 chỉ có khoảng 40 mã được niêm yết, nhỏ đến mức mà VNI gắn chặt với 1CP nào đó. Trước khi VNM lên sàn thì gọi là REE index chứ o phải VNI. VNM lên thì biến thành VNM index tháng 7/2006 STB lên sàn thì khá hơn, 2 mã này là lực kéo đẩy ngang ngửa cho VNI. Cuối năm 2006 thì một loạt 50 Cty lên sàn. Đấy là quy mô vốn của năm 2006.

0012ckcty

Cơn sốt thứ nhất của năm 2006 (1-4/2006): Nguồn cơn của cơn sốt này là dòng tiền đổ vào TTCK từ BDS. Đỉnh điểm của cơn sốt BDS là năm 2003 – 2004, sang tới đầu năm 2005 thì hạ nhiệt, trong suốt năm 2005 thì dòng vốn này loay hoay tìm lối ra, khi nhận thấy TTCK là kênh dẫn vốn tiềm năng thì tiền bắt đầu đổ vào làm cho CK trong năm 2005 ấm dần lên.

Tới đầu năm 2006 do kết quả kinh doanh cực tốt của các Cty niêm yết, lúc đó người mới tập chơi CK đang tập làm quen với các chỉ số cơ bản, mà công nhận chỉ số tốt thật, các Cty báo cáo lãi lớn mà P/E thấp tè. REE lúc đó bắt đầu hái quả từ REE Tower1. VNM lên sàn với giá 5x, cực đậm đặc. Chính việc những NĐT khôn ngoan thu gom VNM mạnh tay đã làm cho VNM tăng mạnh (mà VNM cũng đồng nghĩa với Index) nên làm VNI cuốn theo “cơn lên đồng” tập thể.

TT mới nổi thì diễn biến lên hay xuống liên quan chặt với tiền đổ vào nhiều hay ít. Vốn đổ vào CK lúc đó chủ yếu là local fresh blood. Khi dòng vốn này bắt đầu cạn thì TT tuột dốc. TT bắt đầu rơi xuống từ 25/4/2006. Cứ rơi mãi, rơi mãi. Đến 7/2006 thì tâm lý chán nản lắm rồi. VNM & REE từ 104 rớt xuống còn 6x (bay mất 40%). Mọi con mắt đều trông vào vị cứu tinh STB. Nhưng cash is King (lưu ý điều đó – lờ đờ có phát biểu kiểu gì đừng có tin, trừ khi tiền được bơm vào TT). Vì cạn tiền nên STB cũng chịu chung số phận.

Tới 1/8/2006 thì VNI rớt xuống 399 điểm (rơi từ 632 điểm xuống 399). Tối 1/8/2006 có cuộc họp kín của 3 quỹ lớn nhất VN lúc đó (Ở Mỹ là đi tù đó, nhưng VN thì vô tư đi, o nói đến thời kỳ hoang sơ 2006, mà kể cả 2008 này khi pháp luật đã chặt hơn thì họp kín kiểu đó vẫn vô tư). Sang 2/8/2006 ba quỹ này đồng loạt tung ra thông báo mua CP. TT quay đầu, ai đã cutloss lại nhảy vào, VNI tăng dần lên 5xx. Nhưng cũng chỉ được đến thế vì tiền bơm vào có hạn. VNI chạy sideway loăng quăng 5xx tới 10/2006. Khi đó VNM & REE ở thị giá 8x. Thậm chí chỉ nghĩ đến một ngày nào đó sẽ có CP có thị giá là 3 con số là chuyện viễn tưởng. TT chán ngắc ngư, buồn tẻ đến mức mà cứ mua VNM 80 bán 84, xuống đến 80 lại mua, lên 84 lại bán. Đến phát chán tận cổ.

Rồi đột nhiên TT bừng tỉnh (10/2006). Tiền đổ vào như thác lũ (tiền của DB). Tiền nhiều đến mức nhiều người đa nghi cho rằng bigboys kick TT lên để xả. Cơn sốt thứ 2 của năm (10/2006 ~ 3/2007). Nói tiền đổ vào như thác lũ, đấy là cảm giác thật của người trong cuộc lúc đó, còn bây giờ đứng ngoài nhìn vào ko có được cảm giác đó đâu. Bởi vì hồi đó giá trị giao dịch so với bây giờ thấp lắm. Vào thời kỳ đỉnh cao của cơn sốt thứ nhất năm 2006, giá trị giao dịch trung bình 300 ~ 400 tỷ / phiên, tới khi TT èo uột thì còn > 100 tỷ phiên. Vậy mà khi DB bắt đầu đổ tiền vào thì họ mua VNM và một loạt BCs khác với giá trị giao dịch ~ 100 triệu $ / phiên, chỉ mình họ đã mua với giá trị lớn hơn toàn TT thời kỳ trầm lắng. Tiền của DB đổ vào nhanh và mạnh như nước chảy xiết vậy đã tạo nên tốc độ giá tăng dựng đứng cho VNM.

Giá của VNM tăng dựng đứng từ 84 chạy thẳng lên 112 kéo theo toàn TT phi mạnh lên. VNM tăng tạo ra cơn hưng phấn cho TT lúc đó ghê gớm lắm, ghê gớm ko chỉ vì VNM tăng kéo theo TT tăng, mà ghê gớm ở chỗ cái cảm giác thị giá CP của VN sẽ o bao giờ vượt nổi 3 con số đã bị loại bỏ (những ai vào TT sau này, nếu nhảy vào SJS chắc cũng có cảm giác đó khi thị giá SJS vượt lên 4 con số). Bỗng nhiên VNM quay đầu ở 112, giảm 3 phiên liên tiếp xuống còn 101, dân tình chạy toán loạn, lúc đó là cuối 11/2006, VNM giảm kéo theo VNIndex giảm tương ứng từ 665 điểm xuống 616 điểm. Thực ra việc VNM và TT quay đầu ở 66x đã tiên liệu từ trước, bởi vì sau khi o thể leo lên tàu trong khoảng giá 84 ~ 112 thì chấp nhận ngồi canh me, vì thể nào sau khi VNI vượt qua đỉnh cũ 632 hồi 4/2006 chắc chắn phải có điều chỉnh.

Ai trót bán rẻ hả hê lắm, cho chúng mày chết, lao theo bigboys để nó xả hàng vào đầu, nhảy vào ở VNI 66x, bây giờ chỉ còn 61x, chết chưa con. Ai đã trót nhảy vào khi VNI > 600 thì đổ lỗi cho rằng số Cty mới niêm yết quá nhiều làm cho VNI giảm. Mà cũng công nhận nhiều thật, chỉ trong 2 tháng cuối năm 2006, hơn 50 Cty mới niêm yết, ngày nào cũng có Cty niêm yết mới, nhiều đến mức o thể thuộc được mã nữa .

VNI rớt 3 ngày liên tiếp, bay mất 10% bắt đầu tăng trở lại từ 616 lên 633. Mọi người phấn khởi. Rồi giảm nhẹ xuống 631, mọi người lại lo âu. Rồi lại tăng lên 640, rồi 644, mọi người lại hoài nghi. VNI hồi trở lại vượt qua đỉnh cũ 632 (tăng từ 616 lên 633) ngồi đánh giá lại tình hình một cách rất cẩn thận:

+ Thứ nhất là no money – no market (o có tiền bơm vào thì o thể có TT trưởng được). VNM giảm, kéo theo TT giảm bởi vì đang từ trạng thái đói ăn suốt mùa hè 2006, bây giờ tài sản bỗng nhiên tăng 50%, thế là nhào ra chốt lãi hết, trong khi đó DB vẫn mua vào đều đặn, vậy là yên tâm luồng tiền vẫn được bơm vào.
+ KT tăng trưởng cực tốt, lạm phát thấp, giá cả rất ổn định.
+Vĩ mô thì chưa bao giờ có thể tốt hơn thế: tổ chức thành công rực rỡ APEC, chuẩn bị gia nhập WTO (hồi đó mọi người háo hức lắm, cứ nghĩ đến đoạn được mua hàng hóa rẻ như ở nước ngoài là sướng tê người, thậm chí còn suốt ngày lướt net để khảo giá oto, chuẩn bị tinh thần để thay con oto ghẻ bằng một chiếc Camry hoành tráng, đúng là ngây thơ thật).

Sau khi đã quyết tâm như thế là leo lên tàu VNM ở mốc giá 108, 110 và mua thêm một số mã khác. Diễn biến sau này của TT thì chắc biết cả rồi. TT sốt cao, tăng mạnh tới 3/2007. VNM thì leo từ 110 lên 212. Các mã khác cũng đều tăng > 100%. Riêng SJS mua ở 250 thì tăng 300% lên 728, chia tách xong giá còn 190, rồi lại tăng vù vù lên 422, bán ở 400 – lãi 1000%. Đến 3/2007 thì fresh money đổ vào TT cạn kiệt, TT lại tuột dốc. Nói chung là cứ phải có tiền tươi đổ vào TT mới tăng trưởng được, không có tiền là suy thoái. Cộng thêm nền KT xấu thì TTCK cầm chắc hôn mê sâu .

TTCK từ 2009 đến nay:

TTCK Việt Nam trong năm 2009 đã trải qua 5 giai đoạn tăng giảm, trong đó có 3 đợt giảm điểm và 2 đợt tăng điểm.

dothi1

Giai đoạn đầu năm từ ngày 2/1 đến ngày 24/2 là giai đoạn tiếp nối chuỗi giảm điểm từ năm 2008 và mức đáy 234,66 điểm của VN-Index đã thiết lập vào ngày 24/2. Trong giai đoạn này, các biện pháp hỗ trợ kinh tế của Việt Nam mới thực hiện từ cuối tháng 1 chưa đủ thời gian để phát huy tác dụng. TTCK thế giới vẫn bị bao trùm trong sự hoài nghi về con số thiệt hại mà các ngân hàng Mỹ phải gánh chịu và nguy cơ phá sản của các ngân hàng vẫn còn rất lớn.

cong-ty-chung-khoan-nhan-dinh-thi-truong-ngay-2712

Giai đoạn phục hồi nhanh từ ngày 25/2 đến ngày 10/6, VN-Index đã tăng 118% trong 72 ngày với 3 đợt sóng lên, các sóng càng về sau càng có tốc độ tăng nhanh. NĐT trong nước, trong đó có phần quan trọng của các NĐT cá nhân, đã mạnh dạn mua vào ở vùng đáy và giúp TTCK lấy lại động lực. Tiếp theo đó, các gói kích thích kinh tế quy mô lớn được chính phủ nhiều nước áp dụng đã làm tăng niềm tin của giới đầu tư. TTCK thế giới bắt đầu phục hồi đã tiếp thêm đà cho TTCK Việt Nam.

Tăng trưởng tín dụng và giải ngân vốn hỗ trợ lãi suất của Việt Nam tăng nhanh từ tháng 3 (tăng trưởng tín dụng tháng 4 và 5 là 4,8% và 4,2%). Thời gian này chưa có sự kiểm tra chặt chẽ đối với việc sử dụng tín dụng, nên nhiều khả năng một phần tín dụng mới đã làm tăng luồng tiền cho TTCK. Ban đầu, nhiều NĐT tổ chức còn nghi ngại về xu hướng tăng nhưng sau đó khối này cũng bắt đầu vào cuộc. Trong thời gian đó cũng xuất hiện sự tham gia tích cực trở lại của NĐT nước ngoài với 2 đợt mua thấp bán cao rất nhịp nhàng (xem chart mua-bán của NĐT).

dothi2

Giai đoạn điều chỉnh từ ngày 12/6 đến ngày 20/7. Sau một thời gian tăng nóng, sự điều chỉnh đến như một tất yếu. Tuy nhiên, trong giai đoạn này không có nhiều thông tin tiêu cực mà ngược lại, những biện pháp kích thích kinh tế đã bắt đầu phát huy tác dụng. Sản xuất công nghiệp ước tính tăng 8,2% trong tháng 6 (cao hơn 7,2% của tháng 5 và hơn hẳn mức 2,5% của quý I), chỉ số bán lẻ tăng 8,8% (cuối năm 2008 là 6,5%), ước tính GDP cuối năm 2009 được điều chỉnh tăng lên so với trước (trong kịch bản lạc quan, GDP năm 2009 được ước tính là 4,9%).

Sự điều chỉnh mang tính kỹ thuật của thị trường Việt Nam, trong khi TTCK thế giới lại tăng điểm khá mạnh đã tạo ra một sự kìm nén đối với sức cầu. Và khi được giải tỏa, sức cầu đã làm VN-Index bật mạnh trong những ngày cuối tháng 7 và sau đó là đợt sóng lên kéo dài 3 tháng.

Giai đoạn tăng điểm từ ngày 22/7 đến ngày 22/10. Nếu như đợt tăng điểm trong giai đoạn đầu năm phần nào đến từ niềm tin và luồng tiền, thì đợt tăng điểm lần này có thêm sự hỗ trợ mạnh bởi các dấu hiệu hồi phục kinh tế trong nước và quốc tế. Đầu tháng 8 cũng đã có đề xuất cho gói kích thích kinh tế thứ 2 và nâng hạn mức tăng trưởng tín dụng trong năm 2009 từ 27% lên 30%, điều này thêm củng cố cho luồng tiền đổ vào TTCK. Các thông tin về kết quả kinh doanh và chia thưởng cổ phiếu được tận dụng để nâng giá cổ phiếu. Nhóm cổ phiếu BĐS được chú ý từ cuối tháng 8 đã trở thành động lực kéo thị trường vào tháng 9 trong bối cảnh thị trường BĐS khá khởi sắc so với đầu năm. Cuối tháng 9, đầu tháng 10, mặc dù thị trường điều chỉnh do đã tăng điểm khá mạnh trước đó, nhưng luồng tiền từ đòn bẩy tài chính trong tháng 10 đã một lần nữa làm tăng sức cầu và đẩy thị trường lên đỉnh cao mới. Chính bởi lượng đòn bẩy lớn, TTCK trở nên rất nhạy cảm với các chính sách vĩ mô và tiền tệ, đây chính là tiền đề để cho đợt điều chỉnh kéo dài cho đến hết năm 2009.

Đợt điều chỉnh từ ngày 23/10 đến cuối năm: bắt đầu bằng phiên thứ Sáu (23/10) với khối lượng giao dịch kỷ lục, thị trường bắt đầu chu kỳ điều chỉnh bởi nhiều thông tin không tích cực từ chính sách vĩ môtiền tệ. Bên cạnh các tin đồn về thắt chặt chính sách tiền tệ khiến thị trường nhiều lúc chao đảo, sự căng thẳng thanh khoản của hệ thống ngân hàng và diễn biến bất thường của giá vàng, ngoại tệ cũng có những tác động lớn đến TTCK.

Nhưng tác động mạnh nhất đến thị trường phải kể đến việc NHNN bất ngờ quyết định nâng lãi suất cơ bản vào cuối tháng 11. Sự điều chỉnh này thể hiện sự thay đổi trong chính sách vĩ mô từ hỗ trợ tăng trưởng sang hướng ổn định vĩ mô (kèm theo là hạn chế nới lỏng tín dụng) sau khi kỳ họp Quốc hội kết thúc.
( còn tiếp)

———-&&———-

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: