Kỳ vọng không hợp lý

Kỳ vọng không hợp lý

(Nguồn: cafef.vn)

Dù đã tính tới yếu tố “con người”, nhưng mô hình kinh tế của trường phái Chicago vẫn bỏ qua vai trò của ngân hàng, có thể là vì … cho vào quá phức tạp.

Kỳ trước: 70 năm nay, chẳng mô hình kinh tế nào đếm xỉa tới ngân hàng

Vấn đề của mô hình của Samuelson chính là nó bỏ qua yếu tố “con người”. Thay đổi bất ngờ của giá và lương danh nghĩa thay đổi lãi suất thực, nợ thực và chi phí lao động thực. Điều đó có nghĩa đột ngột tăng lạm phát có thể kích thích kinh tế và giảm thất nghiệp trong ngắn hạn. Tương tự, bất ngờ thiểu phát có thể gây thiệt hại lớn.

Cả Fisher và Phillips đều nghiên cứu dữ liệu của thời bản vị vàng, khi nhìn chung mọi người kỳ vọng giá cả ổn định. Bất kỳ thay đổi nào cũng bị coi là “chệch” với kỳ vọng, thế nên mối quan hệ mà họ phát hiện có tương quan rất mạnh.

Nhưng nếu mọi người mà kỳ vọng và những điều bất ngờ và thích nghi với tỷ lệ lạm phát nhanh, mối liên hệ kể trên sẽ không còn ý nghĩa. Khi ấy, mọi người đều hiểu kinh tế suy giảm là các nhà hoạch định chính sách sẽ “kích” lạm phát lên cao, cao nữa.

Kết quả cuối cùng là thất nghiệp vẫn cao.

Không còn tin giá cả tăng nhanh là một hiện tượng “tạm thời”, họ rút tiền khỏi hệ thống ngân hàng truyền thống và đổ tiền các quỹ hỗ tương trên thị trường tiền tệ. Thế là chi phí vốn rồi lãi suất tăng mạnh. Kết quả cuối cùng là thất nghiệp vẫn cao.

Mô hình “Cân bằng động lượng tổng quát”

Cuối thập niên 70, đầu thập niên 80, tới lượt một thế hệ mới của kinh tế vĩ mô với các tên tuổi nhưEd Phelps, Robert Lucas, Thomas Sargent, Christopher Sims và Robert Barro, lên tiếng.

Họ thay thế mô hình “thực chứng” với một thứ đơn giản và tao nhã hơn (chỉ có vài phương trình là xong).

Thay vì dùng đến các biến tổng cầu như số giờ làm việc hay doanh số bán lẻ, mô hình “cân bằng động học ngẫu nhiên tổng quát” (“dynamic stochastic general equilibrium” hay DSGE) dựa trên giả định doanh nghiệp và hộ gia đình đều tìm kiếm lựa chọn tốt nhất trong một thế giới đầy thách thức.

Tư duy mà những bộ óc cách mạng này áp dụng rất dễ bị mỉa mai. Chẳng có ai lúc nào cũng vừa ra quyết định, vừa nghĩ làm thế nào tối đa hóa giá trị hiện tại ròng của dòng thu nhập tương lai được (đây chính là bản chất của khái niệm “kỳ vọng hợp lý”).

Kể cả có thế, không ai có hiểu biết hoàn hảo về thế giới mình sống, lại càng không có hiểu biết hoàn hảo về tương lai. Hơn nữa, thời ấy mới là thập niên 1970, khả năng của máy tính thời đó không đủ để đại diện cho dù chỉ một doanh nghiệp hoặc hộ gia đình duy nhất.

Cũng với lý do đó những người nghĩ ra DSGE chọn cách bỏ qua hệ thống ngân hàng giống như các nhà kinh tế “theo Keynes” tiền bối.

Dù cho có nhiều hạn chế, mô hình DSGE vẫn giá trị ở chỗ nó giải thích được tình trạng “đình lạm” là do kỳ vọng của con người thay đổi.

Đầu tiên, lạm phát đột ngột bùng lên có thể dẫn đến kinh tế tăng trưởng nhanh. Tuy vậy, qua thời gian, mọi người sẽ tin rằng tỷ lệ lạm phát cao này mới là “bình thường”. Lãi suất, lương và nợ thực tế cuối cùng sẽ điều chỉnh về mức cũ.

“…tình trạng “đình lạm” là do kỳ vọng của con người thay đổi…”

Việc làm có thể tăng tạm thời, nhưng rút cục sẽ quay về với “tỷ lệ tự nhiên”. Hơn nữa, người tiết kiệm và nhà đầu tư sẽ ngày càng thận trọng với “trò” kích lạm phát của chính phủ và đòi hỏi thêm phần bù rủi ro đối với các tài sản dài hạn.

Chính phủ có thể cố tăng giá nhanh hơn nữa, với hy vọng chính sách này có thể đi trước kỳ vọng của dân chúng, nhưng kết quả sẽ vô cùng tồi tệ.

“Phái Keynes mới”

Về mặt toán học mà nói, mô hình DSGE coi nền kinh tế như một trái bóng nằm ở đáy bát. Trạng thái ấy tương tự như cân bằng tĩnh.

Khi kỳ vọng của doanh nghiệp và hộ gia đình gặp một “cú sốc”, và trái bóng di chuyển lên xuống hai phía thành bát cho đến khi nó quay trở lại vị trí cân bằng cũ. Quan điểm này giải thích xu hướng hồi phục cực nhanh của nền kinh tế sau suy thoái, cũng như bùng nổ kinh tế hiếm khi bền vững.

Giới kinh tế tăng tính thực tế của mô hình DSGE bằng cách thêm “yếu tố giảm tốc” (“friction”) và “yếu tố tăng tốc” (“accelerator”) tác động tới chuyện động của trái bóng sau khi gặp “sốc”.

Loại “yếu tố giảm tốc” thường thấy nhất là dễ tăng lương và giá hơn hạ xuống, điều này khiến nền kinh tế khó phản ứng với “cú sốc” mà không tăng lạm phát hay thất nghiệp.

Mô hình DSGE với sự điều chỉnh ấy được biết đến với cái tên “phái Keynes mới” hoặc “mô hình NK”. Phiên bản gốc không có hai yếu tố nêu trên được gọi là “Chu kỳ kinh doanh thực” hoặc “mô hình RBC”.

Các yếu tố “tăng tốc” và “giảm tốc” của ngành tài chính cho mô hình DSGE tới rất gần đây mới được mô hình hóa.

Kỳ vọng không hợp lý (1)
Chủ tịch FED Ben Bernanke thời trẻ

Rút cục, nó vẫn giả định ngân hàng và các trung gian tài chính khác chỉ là “mạch máu” kết nối người tiết kiệm và người cho vay, thay vì các công ty vị lợi nhuận cho vay một cách cơ hội.

Nói như vậy không có nghĩa giới kinh tế vĩ mô hoàn toàn bỏ quên hệ thống tài chính. Một số người, như đương kim Chủ tịch FED Ben Bernanke, đã nghiên cứu khủng hoảng tài chính sử dụng dữ liệu từ thời Đại suy thoái kể từ đầu những năm 1980.

Nhưng những gì ông thu được không được sử dụng trong các mô hình kinh tế vĩ mô phổ biến. Ví dụ như Bernanke từng viết chung một mô hình nổi tiếng hồi năm 1999, theo đó vay nợ khiến suy thoái sâu hơn và dài hơn.

Dù có là bước tiến so với các mô hình trước đó, nhưng mô hình này không giải thích được vì sao phần lớn suy thoái không đi kèm với khủng hoảng trầm trọng. Với các nhà kinh tế như Gary Gorton, mô hình ấy hoàn toàn không tính tới việc khủng hoảng tài chính là một loại sự kiện riêng với những hậu quả riêng.

Điểm yếu này phần nào là do Bernanke và hai đồng tác giả Mark Gertler và Simon Gilchrist không tính tới ngân hàng trong mô hình của họ.

Tuy vậy, một thế hệ các nhà kinh tế mới đang tìm cách đưa hệ thống tài chính vào mô hình kinh tế, trong đó có kinh tế gia tại Đh Princeton, ông Hyun Song Shin.

Kỳ sau: Vì sao ngân hàng lỗ to?

Minh Tuấn

Theo The Economist

Nguồn: http://www.economist.com/blogs/freeexchange/2013/01/brief-history-macro

————&&———–

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: