Lửa bùng lên, ai chạy trước?

Lửa bùng lên, ai chạy trước?

(Nguồn: cafef.vn)

Nghiên cứu của IMF cho thấy nếu trái phiếu chính phủ chủ yếu do nhà đầu tư nội và NHTW ngoại nắm, tình hình nợ công sẽ ổn định hơn.

Download nghiên cứu của IMF

Download dữ liệu nợ công các nước trong nghiên cứu, phân theo 6 nhóm nhà đầu tư

Tổ chức tiền tệ quốc tế IMF thường cảnh báo các nước đừng vay nợ nhiều. Nay họ cảnh báo luôn không nên vay nợ từ đâu.

Theo IMF, “nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rủi ro tái phát hành trái phiếu và thay đổi chi phí lãi vay đối với các nước phát triển phụ thuộc chủ yếu vào việc ai đang nắm giữ trái phiếu.”Trông vậy mà có khi không phải vậy.

Các nhà nghiên cứu chia trái chủ thành ba nhóm chính: phi ngân hàng (quỹ lương hưu, công ty bảo hiểm, cá nhân, v.v…), ngân hàng, và NHTW. Mỗi nhóm lại được chia thành trái chủ nước ngoài và nội địa rồi ấn định một số “điểm rủi ro”. Phương pháp nghiên cứu chi tiết như sau:

Thứ nhất, chúng tôi tính tỷ lệ tương quan giữa thay đổi khối lượng nắm giữ và thay đổi lợi suất trái phiếu chính phủ (log scale) làm ước lượng mức độ “nhạy cảm về giá” của các nhà đầu tư khác nhau… 

Nhà đầu tư nội địa và NHTW nước ngoài thường tăng cường nắm giữ khi lợi suất trái phiếu tăng, trong khi nhà đầu tư tư nhân nước ngoài giảm nắm giữ. 

Dù mối tương quan này không khẳng định quan hệ nhân quả, nhưng nó gợi ý rằng trung bình nhà đầu tư trong nước và NHTW nước ngoài có thể đóng vai trò bình ổn khi lợi suất trái phiếu tăng (vì họ thường mua vào trong những giai đoạn như thế), trong khi ngân hàng và tổ chức phi ngân hàng nước ngoài lại gây mất ổn định (vì thường bán ra).

Thứ hai, chúng tôi tính toán một số điểm rủi ro từ 0 đến 100 cho mỗi nhà đầu tư dựa trên mối tương quan tính toán ở bước trên. 

Tương quan dương cao nhất ứng với điểm 0 và tương quan âm cao nhất ứng với điểm điểm 100. Theo đó, NHTW nội địa có điểm rủi ro bằng 0 và tổ chức phi ngân hàng nước ngoài có điểm rủi ro bằng 100 (xem bảng dưới).

Lửa bùng lên, ai chạy trước? (1)

Do đó mỗi nước sẽ có điểm rủi ro bình quân gia quyền dựa trên tỷ lệ mỗi loại trái chủ, minh 
họa bởi đồ thị sau:

Lửa bùng lên, ai chạy trước? (2)

Tuy vậy phương pháp này có một số vấn đề. Rõ ràng nhất là chỉ số rủi ro không dự báo được chính xác nước nào sẽ bị khủng hoảng, nước nào không.

Đúng là Hy Lạp có chỉ số rủi ro cao nhất vào đầu năm 2008. Nhưng Áo chỉ thấp hơn vài điểm và còn cao hơn cả Bồ Đào Nha. Phần Lan có vẻ như lúc nào cũng nằm trong tay những trái chủ “lắm chiêu” nhất.

Trong khi đó, dường như Ireland lại có các trái chủ “bình tĩnh” nhất vào đầu năm 2008 và đến mùa hè 2009 trông còn an toàn hơn cả Hà Lan. Quý IV năm 2011, chỉ số IMF cho thấy Tây Ban Nha còn an toàn hơn cả Đức.

Liệu khả năng dự báo của chỉ số rủi ro có được cải thiện nếu kết hợp nó với tỷ lệ nợ công trên GDP?

IMF đã kiểm chứng và cho rằng “phân loại theo cách này gần đúng với cách thị trường phân loại các nước theo rủi ro khi vấn đề nợ công nổi lên sau năm 2009.” Đồ thị dưới đây minh họa nhận định trên:

Lửa bùng lên, ai chạy trước? (3)

Một lần nữa, phương pháp này cõ lẽ không mấy hữu dụng. Áo trông còn “mong manh” hơn Bồ Đào Nha, Ireland và Tây Ban Nha. Tây Ban Nha và Pháp dường như chẳng khác gì nhau.

Vì sao chỉ số rủi ro trái chủ của IMF lại thất bại? Có thể là do bị đồng euro bóp méo. Chẳng có lý do gì để tin rằng nhà đầu tư trong khu vực eurozone lại ít “dao động” hơn so với các nhà đầu tư khác.

Trong các cuộc khủng hoảng tiền tệ trước đây, ví dụ như ở Đông Nam Á năm 1997 và Arghentina đầu những năm 2000, chính “người nhà” mới rút tiền đầu tiên chứ không phải “người ngoài”. Chuyện tương tự có thể cũng đang diễn ra ở eurozone.

Người Tây Ban Nha chẳng có lý do gì để mua trái phiếu nước mình thay cho trái phiếu Hà Lan vì cả hai công cụ nợ trên đều định giá bằng euro và cũng gần như phi rủi ro.

Tuy vậy, nếu dân Tây Ban Nha bắt đầu nghĩ trái phiếu nước mình có thể bị chuyển về đồng peso, hoặc có thể bị “ghi giảm” dưới một “sáng kiến tự nguyện của khu vực tư nhân”, thì họ sẽ tìm mọi cách hoán đổi trái phiếu Tây Ban Nha lấy trái phiếu Đức hoặc Hà Lan, dù cho rủi ro này là rất rất nhỏ.

(Ngược lại, người tiết kiệm ở những nước có đồng tiền riêng phải mua trái phiếu định giá bằng đồng nội tệ nếu muốn dùng lãi trái phiếu để tra lãi bản thân mình đi vay trong dài hạn.)

Khi ấy, có một câu hỏi thú vị và chưa có lời giải là vì sao vốn ở khu vực eurozone lại luân chuyển mạnh trong nội khối đến thế. Rõ ràng có nhiều lý do hơn là chỉ có cơ cấu trái chủ hay mức độ nợ công. Đây có lẽ là một hướng nghiên cứu nhiều hứa hẹn trong tương lai.

Minh Tuấn

Theo The Economist

————&&————–

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: