Đánh giá hệ thống tài chính Việt Nam thông qua các yếu tố vĩ mô và vi mô

Đánh giá hệ thống tài chính Việt Nam thông qua các yếu tố vĩ mô và vi mô

(Tác giả: Cẩm Lan – Nguồn: vfpress.vn)

20811314-images1649539_Taichinh.JPG

Đầu tiên, mình rất cảm ơn bài viết của bạn Tranngocbau giúp mình có ý tưởng để viết bài viết này.
Thực sự ra, khi đọc bài viết của bạn, tuy thông tin chỉ được cập nhật đến năm 2011 nhưng nó rất bổ ích. Nhưng tiếc một điều là bài viết chỉ mang tính chất là xếp hạng các Ngân hàng Việt Nam mà thôi. Sau khi đọc bài của bạn, mình có thắc mắc là liệu trong bảng xếp hạng mức độ an toàn GIỮA 7 NGÂN HÀNG VIỆT NAM đó, có được bao nhiêu Ngân hàng thực sự An toàn!?!?. Có nghĩa là nếu như mình xếp hạng 20 ngân hàng Việt Nam, đơn giản mình sẽ có top 5, top 10, top 15, top 20 Ngân hàng an toàn NHẤT chứ không thể nói được là top 5, top 10, top 15 hay top 20 Ngân hàng đều là ngân hàng AN TOÀN, có khi không có Ngân hàng nào an toàn cả J. Dễ thấy một điều, điều quan trọng không phải xếp hạng mà là nó hoạt động có an toàn, hiệu quả không? Và hệ thống tài chính được giám sát như thế nào khi dựa vào những bảng xếp hạng này!?!?!?
Khủng hoảng tài chính bao gồm khủng hoảng tiền tệ, khủng hoảng nợ, khủng hoảng ngân hàng. Một điều mà có thể có rất nhiều người suy nghĩ giống mình từng suy nghĩ là khi nhắc đến khủng hoảng tài chính, thường thì chúng ta sẽ nhắc đến hệ thống ngân hàng, BĐS, bảo hiểm,…các lĩnh vực liên quan đến tài chính chứ mấy ai nhắc đến các yếu tố vĩ mô cả. Mà ngay cả khi nhắc đến các yếu tố vi mô từng ngành như thế thì hầu hết đều lập luận một cách lý thuyết chứ không thể đo lường cụ thể được (Ví dụ, bạn có thể biết được CAR =3.4% chẳng hạn nhưng liệu con số đó nói lên điều gì??? Có một ngưỡng an toàn để đánh giá liệu Ngân hàng đó vượt ngưỡng an toàn hay vẫn còn nằm trong vùng an toàn….)Điều đó cho thấy hệ thống GIÁM SÁT TÀI CHÍNH VIỆT NAM chưa thực sự tốt.

Bài viết này mình muốn xem thử Hệ thống tài chính Việt Nam đang ở ngưỡng an toàn hay sắp rơi vào ngưỡng nguy hiểm bằng cách sử dụng cả yếu tố vĩ mô và vi mô. Tuy nhiên, những đánh giá của mình dựa trên những chỉ tiêu chung mà hầu hết các nước trên Thế giới sử dụng chứ không phải của Việt Nam. Hay nói đúng hơn là hiện nay Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện chỉ tiêu đánh giá Hệ thống tài chính. Và mình cũng giải thích lý do vì sao phải đánh giá cả yếu tố vĩ mô lẫn vi mô

  • Vĩ mô: Phân tích vĩ mô để hạn chế nguy cơ xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính vì từ trước đến nay, bất kỳ cuộc khủng hoảng tài chính nào cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng nền kinh tế.
  • Vi mô: Hạn chế sự đổ vỡ của từng định chế tài chính mà không tính đến tác động của sự đổ vỡ chung của hệ thống tài chính
  1. Vĩ mô: bao gồm tăng trưởng Kinh tế, Cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối, vay nợ nước ngoài, nợ công, lạm phát.
  • Tăng trưởng Kinh tế ảnh hưởng như thế nào đến TTTC? Tăng trưởng thấp -> suy yếu khả năng trả nợ của người đi vay -> tăng rủi ro tín dụng.
  • Cán cân vãng lai thì sao? Cán cân vãng lai bao gồm cả cán cân thương mai + thu nhập ròng từ các khoản cho vay và đầu tư. Nếu: Tỷ lệ thâm hụt của CCVL với GDP gia tăng là tín hiệu về khả năng dễ bị tổn thương có liên quan đến thiếu hụt thanh khoản của hệ thống. Thâm hụt trong khoảng thời gian dài thì buộc quốc gia đó phải vay nợ để bù lại khoản thâm hụt đó –> số dư nợ tăng thêm. Thặng dư tăng -> triệt tiêu hiện tượng phá giá –> làm giảm bớt khả năng khủng hoảng
  • Còn dự trữ ngoại hối? Cuối tháng 9 và đầu tháng 10, nhiều nhà chính sách vui mừng thông báo về tỷ lệ đáng khả quan của kinh tế nước nhà. Vậy, dự trữ ngoại hối có liên quan gì đến khủng hoảng tài chính? Một số lý do sau:
– Sự giảm sút của ngoại tệ là minh chứng đáng tin cậy về một đồng tiền đang chịu áp lực về phá giá -> lạm phát
– Dự trữ ngoại hối giúp duy trì lòng tin về khả năng đảm bảo thanh toán nghĩa vụ nợ nước ngoài của nền kinh tế, khả năng hỗ trợ giá trị của đồng nội tệ, thể hiện khả năng đảm bảo tài chính của quốc gia.
– Các chỉ tiêu đánh giá dự trữ ngoại tệ:
Dự trữ ngoại hối so với nợ nước ngoài ngắn hạn: cho thấy khả năng đối phó của quốc gia khi có sự tấn công tiền tệ và rút tiền/thoát vốn ra nước ngoài và Khả năng nhà nước chi trả cho các khoản nợ nước ngoài. Việt Nam yêu cầu tỷ lệ dự trữ ngoại hối/tổng dư nợ nước ngoài ngắn hạn trong 1 năm phải là 200%.
Số tuần Nhập khẩu của dự trữ ngoại hối: IMF khuyến nghị các quốc gia nên duy trì mức dự trữ ngoại tệ = 12 đến 14 tuần nhập khẩu
Tỷ lệ giữa Dự trữ Ngoại hối và mức cung tiền tệ M2: thể hiện Khả năng can thiệp của Nhà nước đến tỷ giá ngoại tệ. Tuy nhiên không có con số cụ thể cho trường hợp này phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế khác nhau
  • Vay nợ nước ngoài: đa số các nước vay nợ nước ngoài nhằm tài trợ cho thâm hụt cán cân thương mại ->nguồn vốn ngoại tệ đổ vào trong nước nhiều -> đồng nội tệ tăng giá -> xuất khẩu giảm -> cán cân thương mại thâm hụt -> vay ngoại tệ ->…
Đôi khi người ta dùng “Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài so với Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa” nhằm đánh giá Khả năng hoàn trả nợ nước ngoài bằng nguồn thu Xuất khẩu –> tính thanh khoản của nợ nước ngoài.
Vì sao nợ công ảnh hưởng đến TTTC? Mức nợ công cao hơn –> đảo chiều nguồn vốn vào –> tăng khả năng khủng hoảng nợ. Dễ dàng để nhận ra rằng, các quốc gia rơi vào cuộc khủng hoảng tài chính, khủng hoảng nợ là những nước có tỷ lệ Nợ nước ngoài/GDP rất cao tính đến hết năm 2011 như Hoa Kỳ (101.1%), Ý (146.6%), Tây Ban Nha (179%), Hy Lạp (182%), Đức (185%), Pháp (250%),…
  • Mức lạm phát -> ảnh hưởng đến GDP -> dễ gây khủng hoảng Ngân Hàng và khủng hoảng nợ

Đánh giá hệ thống tài chính Việt Nam thông qua các nhân tố vĩ mô

Vĩ mô.png

Tóm lại đôi nét về nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến hệ thống tài chính Việt Nam: Vẫn còn nằm trong ngưỡng an toàn

  • Mức tăng trưởng GDP tương đối ổn so với tình hình kinh tế hiện nay —-> TỐT
    • Real GDP Growth.png
  • Thặng dư cán cân vãng lai à TỐT
  • Dự trữ ngoại hối tăng nhằm đảm bảo khả năng thanh toán nợ nước ngoài, không ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống tài chính khi khủng hoảng nợ xảy ra. Đồng thời, ổn định tỷ giá hối đoái —-> VẪN CÒN NẰM TRONG NGƯỠNG AN TOÀN
    • Currency Exchange.png
  • Vay nợ nước ngoài tuy tăng do nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, vẫn được Chính phủ đảm bảo ở một mức độ an toàn —->TƯƠNG ĐỐI ỔN
  • Lạm phát tăng vọt trong tháng 9 không phải do tăng cầu mà do giá xăng, điện, y tế tăng gây lo ngại lạm phát sẽ quay lại. Tuy nhiên, dự báo lạm phát của Việt Nam vẫn là 1 con số —-> HÃY CHỜ XEM
  • CPI.png

Như vậy, hệ thống tài chính Việt Nam xét về phương diện vĩ mô vẫn không đáng lo nếu chính phủ thực hiện kiểm soát nợ công, vay nợ nước ngoài và biện phát để lạm phát dưới 1 con số.
2. Vi mô (xét từng định chế tài chính)
Các định chế tài chính ảnh hưởng không nhỏ đến hệ thống tài chính là Hệ thống Ngân hàng, các công ty bảo hiểm, các tập đoàn tài chính và Bất động sản. Trong giới hạn bài này cũng như giới hạn trình độ lẫn thông tin, Lan chỉ nêu một số thông tin về hệ thống Ngân hàng và BĐS thôi nhé. Mọi người có ý kiến gì về các công ty bảo hiểm và các tập đoàn Tài chính thì bổ sung cho Lan với nha.

Bắt đầu với Hệ thống Ngân hàng Việt Nam

Thực ra thì mình cũng đang chờ bài update của bạn Báu để có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo cho bài này nhưng xem ra chưa có.
Tuy nhiên, cách đánh giá của mình không giống của Báu là xếp hạng các ngân hàng theo hệ thống CAMELS mà mình dựa vào các yếu tố trong hệ thống CAMELS đó đê đánh giá yếu tố nào trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam là an toàn, yếu tố nào không an toàn. Nguyên nhân mình không xếp hạng các Ngân hàng là vì: Tỷ lệ các nhân tố trong hệ thống CAMELS vẫn chưa được phê duyệt của NHNN.
Một khó khăn không nhỏ trong quá trình đánh giá hệ thống Ngân hàng nữa là hầu hết các chỉ số trong hệ thống CAMELS đều liên quan đến vốn chủ sỡ hữu. Nhưng hệ thống Ngân hàng Việt Nam thì tồn tại sở hữu chéo. Sở hữu chéo không phải là không tốt vì các Ngân hàng lớn sẽ giúp các Ngân hàng bé trong những tình huống xấu có thể xảy ra nhưng sở hữu chéo làm sai lệch việc đánh giá rủi ro của toàn bộ hệ thống Ngân hàng. Vì thế, những con số tổng hợp từ các báo cáo Tài chính của một số Ngân hàng sau khi tính ra các chỉ số CAR, ROE, ROA hay nợ xấu./TTS,..thì rất đẹp, đẹp đến nỗi khiến người ta nghi ngờ….Cũng không thể trách được vì hệ thống thông tin liên quan đến Ngân hàng Việt Nam là Bất cân xứng thông tin

  • “An toàn vốn”: Đánh giá CAR và các thông tin như cơ cấu và chất lượng Nguồn vốn, khả năng tăng và quản lý vốn của Ngân hàng như thế nào? Đối với các quốc gia trên thế giới tỷ lệ quy định là 8% hoặc 9% nhưng đối với Việt Nam, tuy không chính thức nhưng rất hay sử dụng tỷ lệ 8% (Trung Quốc cũng sử dụng là 8%)
  • “Chất lượng tài sản”: Đánh giá tỷ lệ nợ xấu/Tổng TS và các chỉ tiêu định tính như chiều hướng thay đổi đối với tài sản có vấn đề và sự hoàn thiện của hệ thống phân loại các rủi ro tín dụng. Quy định về nợ xấu/Tổng TS là < 5%.
  • “Hiệu quả Kinh doanh”: Đánh giá ROA và ROE. Tỷ lệ quy định ROA và ROE là 1% và 10%.
  • “Tính thanh khoản”: Tỷ lệ thanh khoản quy định là 35%. Bên cạnh đó còn đánh giá năng lực của Ngân hàng trong việc nhận định và kiểm soát tính thanh khoản…..

Đánh giá

  • “An toàn vốn”: CAR của hầu hết các Ngân hàng đều lớn hơn 8%, trừ EIB. Trong bảng đánh giá của Báu thì 7 Ngân hàng đều có mức CAR trên 8%, kể cả AGRB. Theo thông tin mà Lan nhận được thì CAR của AGRB chỉ khoảng đâu 6.5% trong quý đầu năm 2012 nhưng Lan không đưa AGRB vào trong bảng đánh giá này vì không thể tìm đầy đủ hết các số liệu đánh giá ngân hàng này trong năm 2012. Ngay cả vào wb chính thức cũng chỉ mới cập nhật đến năm 2010 thôi J. Do đó cũng không thể trách vì sao đên tận bây giờ Việt Nam vẫn chưa có hệ thống đánh giá Ngân hàng J.
Khả năng tăng và quản lý vốn của các Ngân hàng: Sau vụ bầu Kiên, người dân dường như lo ngại về sức khỏe của hệ thống Ngân hàng cổ phần cũng như lo ngại về sự kém minh bạch của hệ thống Ngân hàng từ trước đến giờ, do đó họ đã chuyển một phần tiền tiết kiệm của mình sang các Ngân hàng Nhà nước mặc dù lãi suất không cao lắm nhưng độ rủi ro thấp và yên tâm hơn. Trong khi Ngân hàng nhà nước bơm tiền ra nền Kinh tế, các Ngân hàng thì cứ nói là sẵn sàng cho vay còn các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn lại không nhiều. Nhưng các Ngân hàng lại tăng lãi suất huy động đến gần mức trần. Điều này gây nghi ngờ về tính thanh khoản của hệ thống Ngân hàng cũng như quản lý vốn không tốt.
  • “Chất lượng nguồn vốn”: Nhìn vào bảng số liệu nửa năm 2012 thì không có Ngân hàng nào có tỷ lệ nợ xấu/Tổng TS vượt quá 5%. Bảng thống kê cuối năm 2011 của Tranngocbau cũng thế. Liệu điều này có tốt hay không? Tỷ lệ nợ xấu mặc dù không quá 5% nhưng vấn đề là so với đầu năm 2012, nợ xấu tăng rất nhiều (Hình). Nợ xấu toàn ngành cuối năm 2011 là 3.07% nhưng đến quý 1 ăm 2012 đã tăng đến 4.47% nhưng vẫn thấp hơn 5%. Tuy nhiên, con số này là do các Ngân hàng báo cáo thôi, con số NHNN tính là 8.7% (4.47% thì cũng còn khá cao so với mức mà các Ngân hàng công bố trong báo cáo tài chính). Như vậy mức nợ xấu của hệ thống Ngân hàng Việt Nam rõ ràng nằm trong mức kém an toàn rồi!!! L Nếu mức nợ xấu vẫn không được giải quyết thì tái cơ cấu hệ thống Ngân hàng sẽ rất khó khăn!!!
  • “Hiệu quả Kinh doanh”: tỷ lệ ROA và ROE quy định là 1% và 10% nhưng so ra dựa trên kết quả Kinh doanh thì không có Ngân hàng nào đáp ứng được yêu cầu này. So với kết quả ROE và ROA cuối năm 2011 của Báu thì con số 2012 giảm.
  • “Tính thanh khoản”: tỷ lệ quy định chung tham khảo của các quốc gia khác trên thế giới là 35%. So với các Ngân hàng trong bảng thống kê thì suy chỉ có 2 trong số đó là có mức thanh khoản trên 35% là EIB và SHB. Trong khi đó các Ngân hàng đều nói là sẵn sàng cho vay trong khi các doanh nghiệp tiếp cận vốn lại không nhiều. Vậy nguồn vốn hay dư nợ cho vay đi đâu về đâu? Theo thống kê của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, tiền gửi và cho vay các tổ chức tín dụng là 105.746 tỉ đồng; Ngân hàng TMCP Á Châu là 56.568 tỉ đồng; Ngân hàng Quân đội là 36.627 tỉ đồng; Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam là 21.308 tỉ đồng…Như vậy, sau đợt bơm tiền mạnh tay của NHNN nhằm cải thiện tính thanh khoản của hệ thống Ngân hàng thì hình như hiệu quả cũng không mấy cải thiện vì vốn ngân hàng vẫn đi vòng vòng chứ Ngân hàng không nỗ lực đẩy vốn ra thị trường.
  • Hệ thống Ngân hàng.png

Tóm lại, hệ thống Ngân hàng Việt Nam vẫn đạt được CAR theo quy định, nợ xấu vẫn nằm trong mức an toàn theo báo cáo tài chính của các Ngân hàng trong 2 quý vừa rồi. Nhưng có rất nhiều mâu thuẫn trong thông tin, chẳng hạn như các Ngân hàng công bố tỷ lệ nợ xấu đều thấp nhưng NHNN công bố lại hơn 8%. Lại thêm gói bơm tiền đầu tháng 6 của chính phủ không mấy hiệu quả vì vốn Ngân hàng cứ đi lòng vòng trong hệ thống bằng việc các Ngân hàng chủ yếu cho các tổ chức TD khác vay. Như vậy, rất khó để đánh giá hệ thống Ngân hàng có nằm trong ngưỡng an toàn hay không nếu không có nguồn thông tin chính thống.

Tiếp theo với ngành BĐS

Cách đây không lâu mình có viết bài Tổng hợp về tình hình BĐS quý 2 năm 2012 và cũng đưa ra một số nhận định cũng như phân tích mối liên hệ của nền kinh tê vĩ mô đến thị trường BĐS. Đúng như tớ dự đoán, thị trường BĐS trong quý 3/2012 cũng không khá khẩm hơn sau khi chính phủ tăng room tín dụng trong đầu tháng 6 nhằm hạ thấp lãi suất giúp cho doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn. Nhưng các quan trọng của thị trường BĐS không chỉ nằm ở chỗ các doanh nghiệp BĐS thiếu vốn hay người dân không có tiền để mua BĐS mà nằm ở chỗ lượng tồn kho quá nhiều trong khi tâm lý người mua BĐS vẫn không hề tích cực (có thể là họ chờ giảm giá nữa rồi mua, cũng có thể là họ không tin tưởng vào khả năng sinh lời của BĐS so với các kênh đầu tư khác,…). Vấn đề của thị trường BĐS vẫn nằm ở khâu “Làm sao để giải quyết hàng tồn kho?”.

Như vậy, tuy không có thêm một dấu hiệu tích cực nào nhưng bức tranh về BĐS tồi tệ nhất buộc Chính phủ phải có những biện pháp như chứng khoán hóa BĐS thì chưa xảy ra. Dự đoán của các nhà đầu tư cũng như các báo cáo phân tích về thị trường BĐS là giá BĐS sẽ tiếp tục giảm trong tương lai.
Nhân tiện bài này, mình cũng xin được tổng kết những số liệu tham khảo về tình hình BĐS trong quý 3/2012, nó sẽ không dùng để phân tích đường đi nước bước của thị trường BĐS trong tương lai nhưng mà sẽ là nguồn thông tin tổng hợp cho những ai cần đó

Văn phòng
C lan 2.png
Bán lẻ
C lan 3.png

Tóm lại, xét về vĩ mô, hệ thống tài chính Việt Nam vẫn nằm trong ngưỡng an toàn. Tuy nhiên, các yếu tố vi mô hay các định chế tài chính liên quan thì không thể có kết luận vì mặt dù hệ thống Ngân hàng Việt Nam vẫn cho thấy các chỉ tiêu nằm trong mức an toàn nhưng chưa thể khẳng định về các nhân tố vi mô (hệ thống Ngân hàng và BĐS, ngành bảo hiểm và các tổ chức tài chính vẫn chưa được đánh giá). Tuy nhiên, vẫn hi vọng trong tương lai sẽ có một các tiêu chí cụ thể đánh giá hệ thống tài chính Việt Nam.

————–

Giám sát hệ thống theo chuẩn CAMELS

Mô hình Camels trong quản trị rủi ro ngân hàng

Một số vấn đề khi ứng dụng mô hình CAMELS

———–&&———-

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: