Vài nét về Luật Đảm bảo Khả năng Thanh toán II (Solvency II)

Vài nét về Luật Đảm bảo Khả năng Thanh toán II (Solvency II)

(Nguồn: vinacorp.vn)

Solvency II là Dự thảo luật mới của Liên minh châu Âu (EU) quy định mức vốn yêu cầu đối với các công ty bảo hiểm. Các quy định hiện hành về đảm bảo khả năng thanh toán, Solvency I, đối với các doanh nghiệp bảo hiểm đã được giới thiệu vào đầu những năm 1970, xác định mức vốn yêu cầu với việc quy định các mức dự trữ đảm bảo khả năng thanh toán chung, đơn giản. Những quy định này được xem là tấm đệm nhằm giảm bớt các rủi ro tiềm tàng và là biện pháp bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên, những quy định này còn khá đơn giản và không phải lúc nào cũng phản ánh được những rủi ro thực sự tồn tại trong danh mục hoạt động kinh doanh của công ty bảo hiểm.

Ông Bùi Anh Tuấn.

Ngày 10/7/2007, Ủy ban Cộng đồng châu Âu đã đệ trình Dự thảo Luật Solvency II và sau đó là bản dự thảo sửa đổi Luật vào ngày 26/2/2008. Theo dự hiến, Dự luật sẽ được Nghị viện châu Âu và Hội đồng Bộ trưởng EU phê chuẩn thông qua vào năm 2009 với thời hạn áp dụng thực hiện hoàn toàn vào năm 2012. Một số mục tiêu chính mà Solvency II hướng đến là:

  • Xác định mức vốn yêu cầu phù hợp với những rủi ro kinh doanh của một công ty bảo hiểm.
  • Duy trì biện pháp bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm vững chắc, hiệu quả song song với việc bố trí sử dụng tối ưu nguồn vốn của doanh nghiệp.
  • Phát triển phương pháp giám sát cân xứng, dựa trên rủi ro với những biện pháp xử lý thích hợp đối với các công ty có quy mô nhỏ và cả những tập đoàn lớn, xuyên quốc gia.
  • Khuyến khích các công ty bảo hiểm áp dụng các công cụ giám sát và quản lý rủi ro tinh vi, phức tạp hơn. Điều này bao gồm phát triển các mô hình vốn nội bộ toàn phần hoặc một phần và tăng cường sử dụng các công cụ giảm thiểu rủi ro và hoán chuyển rủi ro.
  • Xây dựng phương thức giám sát hài hòa, phù hợp, áp dụng trên toàn thị trường châu Âu – điều này nhằm đảm bảo tạo ra sân chơi công bằng cho tất cả công ty bảo hiểm và đưa ra tiêu chuẩn bảo vệ chung cho tất cả khách hàng, bất kể hình thức sở hữu, quy mô hay vị trí của công ty bảo hiểm.

Trong khuôn khổ bài viết này, người viết chỉ giới thiệu đôi nét về Dự thảo luật Solvency II do Ủy ban Cộng đồng châu Âu đệ trình, nhằm tìm hiểu cách thức các cơ quan chức năng quản lý lĩnh vực bảo hiểm của châu Âu đang chuyển biến, đổi mới để giám sát tốt hơn các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm và tái bảo hiểm.

Solvency II được xây dựng dựa trên ba trọng tâm tương tự như đối với lĩnh vực ngân hàng (được quy định trong các nguyên tắc Basel II), nhưng được áp dụng trong lĩnh vực bảo hiểm. Dưới đây, chúng tôi xin trình bày những đặc điểm nổi bật của ba trọng tâm này như sau:

Trọng tâm thứ nhất – Các yêu cầu định lượng

Trọng tâm thứ nhất tập trung vào việc xác định giá trị của tài sản và công nợ; các khoản dự phòng kỹ thuật; đưa ra các công thức tính toán Mức vốn đảm bảo khả năng thanh toán (SCR); Mức vốn tối thiểu (MCR) và các quy tắc đầu tư:

  • Điều 74, Dự luật sửa đổi đệ trình tháng 2/2008 có quy định: tài sản và công nợ được định giá trên cơ sở giá trị thị thường nhất quán, trong đó tài sản “sẽ được định giá bằng với số tiền có thể thu được khi tài sản được trao đổi giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong một trao đổi ngang giá”; các khoản công nợ “sẽ được định giá bằng với số tiền có thể thu được khi khoản công nợ đó được chuyển nhượng hay thanh toán giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong một trao đổi ngang giá”.
  • Điều 75 quy định cách tính các khoản dự phòng kỹ thuật dựa trên phương pháp “giá trị chuyển nhượng hiện hành” (current exit value).
  • Các điều từ 100 đến 125 quy định cách tính SCR, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm có thể xác định SCR theo công thức chuẩn (Điều 103 – 109) hay sử dụng mô hình do doanh nghiệp tự phát triển. Các doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm được yêu cầu nắm giữ đầy đủ “nguồn vốn nội bộ” hợp lệ, nhằm đáp ứng các quy định về SCR.
  • Điều 126 cũng quy định, các doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm phải nắm giữ đầy đủ “nguồn vốn nội bộ cơ bản” nhằm đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu về MCR. Các cơ quan chức năng sẽ nhanh chóng can thiệp nếu doanh nghiệp bảo hiểm vi phạm các yêu cầu về MCR nhằm ngăn chặn tình trạng chủ hợp đồng bảo hiểm và các đổi tượng thụ hưởng khác phải gánh chịu mức độ rủi ro quá lớn.
  • Bản dự thảo cũng quy định sử dụng nguyên tắc “nhà đầu tư thận trọng” khi tiến hành các hoạt động đầu tư, chẳng hạn như:

+ Tài sản sẽ được đầu tư nhằm đảm bảo sự an toàn, chất lượng, tính thanh khoản và khả năng sinh lời của danh mục đầu tư;

+ Khoản đầu tư sẽ được quản lý vì quyền lợi cao nhất của chủ hợp đồng bảo hiểm và các đối tượng thụ hưởng khác;

+ Tài sản đầu tư sẽ được đa dạng hóa một cách đúng đắn và thích đáng (Ernst & Young, 2008). 

Trọng tâm thứ hai – Những quy định giám sát chung

Các quy định về giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm sẽ dựa trên phương pháp tiên tiến, hiện đại, có định hướng dựa trên rủi ro, bao gồm việc giám sát hoạt động của doanh nghiệp một cách thường xuyên, liên tục và tuân thủ các quy tắc thận trọng. 

Điều 41 của Dự thảo luật cũng quy định, tất cả các công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm phải xây dựng một hệ thống quản trị doanh nghiệp có hiệu quả nhằm quản lý hoạt động kinh doanh một cách chắc chắn và thận trọng. Hệ thống quản trị doanh nghiệp này sẽ bao gồm các yếu tố chính như:

  • Các biện pháp kiểm soát nội bộ thích hợp được ban lãnh đạo thấu hiểu và ứng dụng.
  • Các cá nhân điều hành doanh nghiệp hay giữ vai trò quan trọng trong doanh nghiệp phải luôn luôn là người có trách nhiệm và hành động chuyên nghiệp. Bất kỳ thay đổi nào trong đội ngũ điều hành cũng phải thông báo cho cơ quan chức năng.
  • Hệ thống quản lý rủi ro hữu hiệu hiện diện trong doanh nghiệp, bao gồm các chiến lược, các quy trình, thủ tục thông báo và kế hoạch đối phó với các tình huống bất ngờ nhằm giám sát, quản lý và báo cáo các rủi ro một cách thường xuyên, liên tục.
  • Quy trình đánh giá rủi ro và khả năng thanh toán nội bộ (ORSA) – với nhiệm vụ xem xét các hồ sơ rủi ro cụ thể, thông qua các mức rủi ro có thể chấp nhận và các chiến lược kinh doanh.
  • Bộ phận kiểm toán nội bộ, được vận hành độc lập với các hoạt động của doanh nghiệp.
  • Bộ phận tính toán bảo hiểm – để phối hợp tính toán các khoản dự phòng kỹ thuật, đánh giá chất lượng của dữ liệu được sử dụng trong quá trình tính toán, đưa ra ý kiến về chính sách cấp đơn bảo hiểm chung và mức độ đảm bảo của các thỏa thuận tái bảo hiểm, đồng thời đóng góp vào việc vận hành có hiệu quả hệ thống quản lý rủi ro (Ernst & Young, 2008).

Trọng tâm thứ ba – công bố thông tin tài chính và khả năng thanh toán

Điều 50 của Dự luật quy định, các công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm hàng năm phải công bố công khai khả năng thanh toán và tình hình tài chính của doanh nghiệp. Các thông tin chính cần công bố bao gồm:

  • Tổng quan về doanh nghiệp và tình hình hoạt động kinh doanh;
  • Mô tả cơ cấu hệ thống quản trị doanh nghiệp và đưa ra đánh giá về sự phù hợp của hệ thống này trong việc giám sát, quản lý hồ sơ rủi ro của công ty;
  • Phương pháp đánh giá các khoản dự phòng kỹ thuật, các tài sản được nắm giữ để đảm bảo cho các khoản dự phòng kỹ thuật và cho các yêu cầu về mức vốn, cũng như các tài sản và công nợ khác;
  • Bản tóm tắt các chính sách và biện pháp sử dụng để nhận diện, đo lường, cô lập và kiểm soát từng loại rủi ro riêng biệt (Ernst & Young, 2008).

Mặc dù Luật Solvency II dự kiến sẽ được thực thi trong năm 2012 và hiện tại, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm tại châu Âu vẫn đang tranh luận về một số nguyên tắc và quy định trong Dự thảo, nhưng cũng rất đáng quan tâm nếu các cơ quan chức năng giám sát hoạt động bảo hiểm tại Việt Nam và những doanh nghiệp trong ngành bắt đầu xem xét, liệu Solvency II có phải là giải pháp phù hợp để xây dựng một cơ chế vững mạnh nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ hợp đồng bảo hiểm và các đối tượng thụ hưởng khác hay không.

Ông Bùi Anh Tuấn hiện là Chủ nhiệm cấp cao thuộc bộ phận Dịch vụ Kiểm toán, Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam – Văn phòng Hà Nội. Ông có hơn 7 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán trong bộ phận nghiệp vụ tại Hà Nội. Ông tham gia nhiều dự án đòi hỏi phải thực hiện kiểm toán tài chính cho khách hàng hoạt động trong nhiều ngành nghề khác nhau như bảo hiểm, quản lý tài sản, chứng khoán, bất động sản, giải trí và du lịch – khách sạn. Ông cũng tham gia tích cực trong các dự án do Quỹ Miyazawa tài trợ và thực hiện kiểm toán phân tích hoạt động của các doanh nghiệp có quy mô lớn trong ngành thép, giấy, xi măng và khai thác than.

Đầu tư Chứng khoán điện tử

—————&&————–

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: