Liquidity Mmgt. cont.

Liquidity Mmgt. cont.

(Tác giả: nghiatq – Nguồn: nghiatq.wordpress.com)

Chuyện “lách” kỳ hạn là không mới, cả kỳ hạn huy động và cho vay (trung dài hạn). Mục đích chỉ duy nhất là “chạy” chỉ số, đánh lừa cơ quan giám sát. Tất nhiên là xảy ra ở những NH yếu kém. Điều này rất nguy hiểm, đối với khách hàng, cổ đông và nhà quản trị NH (nếu không biết).

Một nhầm lẫn lớn trong việc quản lý rủi ro (thanh khoản) và các indicators như những signal level để ra quyết định đó là không phân biệt được chỉ số và dòng tiền (cashflow). Nói đến thanh khoản là nói đến dòng tiền chứ không phải số dư/chỉ số. Mà dòng tiền thì “đồng tiền mua mắm, khác đồng tiền mua muối”, cái khác lớn nhất đó chính là run off rate và illiquidity level của dòng tiền vào hoặc tài sản đến hạn/liquidate.

Ví dụ, với chỉ tiêu thanh khoản ngày hôm sau là 15% (cuối ngày hôm nay phải duy trì được mức này – theo quy định của NHNN), có nghĩa là, NHNN giả định xác suất huy động được nguồn cũ là 85% – đó chính là “trường hợp bình thường” (base scanerio).

Một cách đơn giản, ví dụ, nếu ngày mai có 100 đồng tiền gửi của KH đáo hạn, trong khi tín dụng đến hạn chỉ có 15 đồng, vẫn đáp ứng được yêu cầu về khả năng chi trả của NHNN như quy định. Ngày mai, trong 100 đồng tiền gửi phải trả (outflow), có ít nhất là 85 đồng gửi lại , hoặc 80 đồng gửi lại và 5 đồng gửi thêm vào của khách hàng mới (ví dụ là vậy), thì NH hoàn toàn bình yên, nhưng giả sử rằng, chỉ có 70 đồng gửi lại và không có thêm dòng tiền mới vào, thì NH rơi vào khó khăn ngay. Điều này cũng tương đương với 15 đồng tín dụng inflow, nếu có KH vay nào đó không trả kịp (mặc dù chưa phải là nợ xấu), thì NH cũng bị hụt chi trả. Và phải bổ sung bằng các nguồn khác nhau.

Vấn đề này sẽ xảy ra thường xuyên với áp lực lớn hơn khi tiền gửi dồn về kỳ hạn ngắn và rất ngắn, trong khi cho vay chủ yếu là kỳ hạn dài hơn gấp đôi và các khoản cho vay trung dài hạn/hoặc bản chất tương đương, cùng với quá hạn cao (nợ quá hạn chưa hẵn đã là nợ xấu). Một ví dụ, vài tháng trước có một NH công bố rằng doanh số huy động bình quân hàng tháng khoảng 30 nghìn tỷ, trong khi kiểm tra thấy số dư huy động tiền gửi KH của NH này chỉ hơn 30 nghìn tỷ. Điều đó có nghĩa là, dòng tiền ra (do KH hàng gửi tiền đáo hạn) và dòng tiền vào của các khoản tiền gửi (do KH gửi tiếp hoặc KH mới gửi vào) trong tháng chiếm tỷ lệ rất lớn (phát sinh Nợ và phát sinh Có so với số dư là rất lớn), trong khi, tăng ròng (net) của khoản tiền gửi không bao nhiêu, có nghĩa là, áp lực phải giữ cho bằng được KH đó không mang tiền ra khỏi NH này là vô cùng lớn và có thể bằng mọi giá.

Trong môi trường lạm phát cao, bất ổn vĩ mô lớn, dòng tiền gửi chuyển về kỳ hạn rất ngắn và rất biến động, lãi suất (huy động) là công cụ duy nhất để giữ lại khoản ít nhất là 85 đồng kia, tức là làm tăng xác suất cao ổn định của dòng tiền ròng ra khỏi ngân hàng môt cách nhỏ nhất. Như một vòng xoáy toàn hệ thống, sức mạnh thỏa thuận của khách hàng được tăng lên nhanh nhất và cao nhất.

————–&&—————

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: