Liquidity management

Liquidity management

(Tác giả: nghiatq – Nguồn: nghiatq.wordpress.com)

Liên quan đến vấn đề sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (công thức là tỷ lệ sử dụng  = (Cho vay trung dài hạn – vốn trung dài hạn có thể sử dụng)/Vốn ngắn hạn, mà VN đang sử dụng và các tỷ lệ quản lý về tỷ lệ khả năng chi trả của hệ thống NHTM VN được ban hanh bởi SBV (như thông tư 13, 15, QĐ 457,… vui long search trên blog, tôi có đề cập rất nhiều).

Tôi nói thêm về lộ trình của vấn đề của BIS (thông qua Basel III). Liquidity management yêu cầu trong Basel III có đề cập đến hai chỉ tiêu quản lý.

* Thứ nhất là LCR (Liquidity Coverage Ratio = Stock of high quality liquid assets/Net cash outflows over a 30-day time period >= 100%), tức tỷ lệ đảm bảo khả năng thanh khoản, tài sản Có thanh khoản cao phải lớn hơn hoặc bằng tài sản Nợ phải thanh toán trong vòng 30 ngày.

Điều đặc biệt là định nghĩa tài sản thanh khoản cao là một điều đáng được lưu tâm và học hỏi. Trong đó, tài sản thanh khoản cao sẽ được chia thành 2 “level” khác nhau. Level 1 cao nhất (như cash, reserves, Gov. bonds….) chiếm tỷ trọng lớn hơn hoặc bằng 60% tổng thanh khoản, TS thanh khoảnlevel 2 (kém thanh khoản hơn) không vượt quá 40% tỷ trọng sau khi đã áp tỷ lệ hair cut (ví dụ 15%). [Tức là, level 2 bị đặt cap không vượt quá 2/3 level 1, công thức: High-Quality Liquid Assets = Level 1 Assets + Level 2 Assets – Max ((Adjusted Level 2 Assets – 2/3*Adjusted Level 1 Assets), 0)].

Thanh khoản thì phải nói tới khả năng chuyển đổi thành tiền (liquidate hoặc monetizing debt), và do đó, các loại TS khác như bond cần có tỷ lệ hair cut hợp lý cũng như tỷ trọng hợp lý, tuy nhiên, nên nhìn nhận vấn đề này tùy vào từng xu hướng/chu kỳ của chính sách. Ở VN, sau khi thông tư 13 ra đời (có quy định về tỷ lệ thanh khoản), thì lượng Gov. bond được nắm giữ chiếm tỷ trọng cao hơn, được phân bổ nhiều hơn, trên quan điểm thanh khoản, đó là tốt, và nó thuộc level 1 assets. Tuy nhiên, như chúng ta đã thấy, khi môi trường thắt chặt, thì những hoạt động monetizing chiếm tỷ lệ rất nhỏ, tức là, illiquid, đẩy lợi suất loại này lên cực cao, NH cũng mất thanh khoản.

Vấn đề tiếp từ định nghĩa đó là cách hiểu về Net cash outflows over a 30-day time period, nó không dừng lại ở giá trị book value, mà là mang yếu tố xác suất! Nó tùy theo source of funding, bởi vì là flow nên phải có run-off rates tùy loại. Tức là, net outflow sẽ tăng thêm nếu run – off rate cao (như repo, các khoản nhận tiền gửi với mức độ ổn định khác nhau, tiền vay liên ngân hàng,…)

* Thứ hai là NSFR, Net Stable Funding Ratio = Available Stable Funding (ASF)/Required Stable Funding (RSF) >= 100%, tức là tỷ lệ nguồn vốn ổn định trung dài hạn (internal or external sources) sử dụng tối thiểu. Tức là nguồn vốn có thời gian đáo hạn từ 1 năm trở lên phải lớn hơn hoặc bằng 100% tài sản kém thanh khoản (như các khoản cho vay trung dài hạn). Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung dài hạn ở VN là một nhánh của tỷ lệ trên. Tất nhiên cả ASF và RSF đều được đánh giá ở những tình huống khác nhau.

Điều tôi muốn nói ở đây, không phải là công thức (quá dễ dàng áp dụng), mà đó là “chất lượng” – tức nhận thức về vấn đề và khả năng giám sát chúng.

* Đây là hai tỷ lệ được đánh giá là rất căng và có lộ trình thực hiện khá lâu. Xem thêm Basel III: 1, 2, 3

P/s: Thực tế việc chuyển từ level 2 sang level dễ dàng thực hiện (như thông qua repo), nên BIS mới tính toán rất kỹ vụ này, tức sẽ tính level 1 lại (adjusted level 1 asset) để loại khoản level 2 sau khi adjusted vượt quá mức Cap). Với khả năng giám sát như thời gian qua, cũng may là ở VN, nghiệp vụ repo/colatteral swap giữa các NHTM với nhau chưa phát triển!! (điều này làm liên tưởng đến Repo 105 hay 108 (tức 1,05  hoặc 1,08 đổi 1) kinh điển của Lehman Brothers)

——————&&—————-

4 phản hồi

  1. Cháu chào chú ạ ! Cháu là sinh viên năm cuối hiện đang làm đề tài đề tài phải sử dụng ppháp định lượng để tính toán. Trong đó các biến độc lập ở đây là E/P, ROE, P/BV… Cháu muốn lấy các chỉ số này theo tuần hoặc tháng, tuy nhiên các BCTC của các công ty thì chỉ công bố theo quý là gần nhất. Xin chú có thể tư vấn giúp cháu cách lấy số liệu từ đâu, hoặc cách quy đổi các con số đó từ quý/bán niên/năm sang tháng/ tuần được ko ạ. Cháu xin cám ơn chú.

    • Tôi ko tin có cách quy đổi các chỉ số tài chính (như E/P) từ quý/bán niên/năm sang tháng/ tuần. VD: doanh thu 2 ngày là 10K (chẳng hạn) thì quy đổi thế nào được sang từng ngày? ko lẽ lại chia đôi theo kiểu bình quân chủ nghĩa 😀
      —————
      Các BCTC chỉ công bố theo quý nên nếu bạn muốn có dữ liệu của 1 công ty X nào đó theo ngày or tuần thì bạn phải liên hệ với đội kế toàn bên đó để xin dữ liệu rồi, nếu công ty nhỏ và bạn có quen với Giám đốc chẳng hạn thì tôi nghĩ bạn sẽ xin được.
      ————–
      Nhưng tại sao bạn phải xin theo dữ liệu ngày? Bạn dũng dữ liệu theo quý là được rồi mà.

  2. Cháu làm luận văn chú ạ, chạy mô hình cho cả ngành Th.Sản, cháu ko đi thực tập mà chỉ lấy số liệu qua TTCK. Vì để lấy được hầu hết các công ty trong ngành thì cháu phải chọn khoảng thời gian mà hầu hết các công ty trong ngành niêm yết trên TTCK, đó là tháng 11/2009 chú ạ, để cháu có thể bổ sung thêm 4-5 mã CK có mức vốn hóa lớn trong ngành nhưng mới niêm yết vào tháng 9-10-11 (như vậy cũng đã bỏ đi tường đối nhiều các công ty trong ngành, vì mới niêm yết sau 11/2009), nếu cháu lấy trước đó nữa thì lại càng ít vì hầu hết các công ty mới bắt đầu lên sàn từ 2007 trở đi. Vì vậy nếu chọn theo quý thì chỉ được chưa đến 10 mẫu quan sát, và ko đủ ý nghĩa để chạy MHHQ, thậm chí nếu cháu lấy theo tháng cũng ko đủ vì chỉ được 25 mẫu quan sát. Cháu muốn hỏi ý chú nếu cháu tính thế này thì liệu có ổn ko: E/P tuần= (EPS quý/ Price trung bình tuần * 12)/ 12, chỉ số P/BV cháu cũng tính như thế ; không biết như thế có được không ạ. Cháu rất mong sớm nhận được sự góp ý từ chú !

    • (ah, P/E chứ nhỉ)
      Theo tôi thì không ổn vì dữ liệu bị sai (không làm trung bình cộng như vậy được).
      Mà bạn dùng mô hình hồi quy ah, tôi nghi ngờ chuyện chuối dữ liệu P/E thỏa mãn mô hình hồi quy lắm (cho dù là hồi quy phi tuyến).P/E liên quan đến giá cổ phiếu, mà giá cổ phiếu thì biến động ngẫu nhiên (muốn nghiên cứu nó thì người ta dùng những mô hình ngẫu nhiêu). Tôi bình luận vậy thôi, gv đã yêu cầu bạn làm thì bạn cứ làm.
      Nếu bạn vẫn muốn dùng mô hình hồi quy thì dùng cho doanh nghiệp của ngành khác, TCTK of VN cũng được >10 năm rồi, nếu lấy dữ liệu theo quý cho doanh nghiệp lên sàn sớm thì cũng đủ để chạy mô hình.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: