ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP KINH TẾ LƯỢNG TRONG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA KH &CN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ

ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP KINH TẾ LƯỢNG TRONG

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA KH &CN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ

(Nguồn: tchdkh.org.vn)

Khi chỉ số năng lực công nghệ chung tăng 1% thì chỉ số phát triển kinh tế sẽ tăng thêm được 1,2298%; sự phát triển kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2001-2005 có liên quan đến yếu tố năng lực công nghệ là 73,52%. Đây là những con số được tính toán bằng phương pháp kinh tế lượng. Bài viết giới thiệu về phương pháp này trong đánh giá tác động của khoa học và công nghệ (KH&CN) đối với phát triển kinh tế.

Giữa KH &CN và phát triển kinh tế luôn có mối quan hệ chặt chẽ. KH &CN được coi là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế. Trong hơn 200 năm qua, sự phát triển kinh tế đều không tách khỏi sự đóng góp của KH &CN. ở Việt Nam, nhận thức về vai trò của KH &CN đối với phát triển kinh tế luôn được nâng lên và ngày càng được khẳng định. Tuy nhiên, làm thế nào để đánh giá được tác động, hay nói cách khác là định lượng được quan hệ giữa KH &CN và phát triển kinh tế của một quốc gia, một ngành hay một tỉnh /thành phố… luôn là vấn đề thời sự và đang được nhiều người quan tâm, nhưng đây cũng là vấn đề rất khó khăn.

Trên thế giới, nhiều học giả đã tiếp cận cách đánh giá tác động của KH &CN đến kinh tế thông qua tính tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) theo công thức:

 

tương ứng là tốc độ tăng TFPt; tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP); tăng vốn hoặc giá trị tài sản cố định; tăng lao động làm việc.

– a và b là các hệ số đóng góp của vốn và lao động. Các hệ số này có thể tính được theo phương pháp hạch toán hoặc ước lượng theo hàm sản xuất Cobb -Douglass.

Như chúng ta đều biết, tốc độ tăng GDP là một trong những  chỉ tiêu quan trọng, đặc trưng cho phát triển kinh tế. Bởi vậy kết quả tính toán ảnh hưởng của TFP đến tốc độ tăng GDP cũng chính là biểu hiện xu thế ảnh hưởng của nó đến phát triển kinh tế. Sự tăng lên của TFP ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế do nhiều yếu tố chi phối trong đó có và quan trọng hàng đầu là yếu tố KH &CN. ở một số nước (chẳng hạn như Trung Quốc), người ta đã gọi tốc độ tăng TFP là chỉ tiêu phản ánh tiến bộ KH &CN. Như vậy, có thể thấy rằng, tốc độ tăng TFP giữa các thời kỳ là một chỉ tiêu dùng để biểu hiện xu thế tác động của KH &CN đối với phát triển kinh tế.

Tuy nhiên, khi áp dụng chỉ tiêu này cần lưu ý đến đặc điểm của nó:

– Tốc độ tăng trưởng GDP chỉ là một trong những chỉ tiêu đặc trưng cho phát triển kinh tế, và chỉ phản ánh được một mặt của phát triển kinh tế, nên nhiều trường hợp năng lực và trình độ KH &CN cao chưa hẳn đã có tốc độ tăng GDP cao.

– Sự tăng lên của GDP do tăng TFP không chỉ đo sự tác động của riêng KH &CN mà còn đo sự tác động của các yếu tố khác, như yếu tố quản lý, điều kiện tự nhiên… Hơn nữa, tác động của KH &CN ở đây chủ yếu là khía cạnh tiến bộ KH &CN chứ chưa phải bao hàm sự tăng lên nói chung của KH &CN.

Với những đặc điểm trên, ta thấy chỉ tiêu tốc độ tăng TFP có thể đặc trưng cho xu thế tác động của tiến bộ KH &CN đối với phát triển kinh tế, nhưng chỉ dừng ở một khía cạnh nhất định chứ chưa thật đầy đủ và toàn diện. Thêm vào đó, việc xác định số liệu về vốn để tính tốc độ tăng TFP cũng còn nhiều khó khăn, riêng số liệu về thu nhập để tính các hệ số đóng góp của vốn (a) và của lao động (b) trong điều kiện hạch toán của ta hiện nay chưa phù hợp.

Xuất phát từ lý do trên, việc nghiên cứu, tìm kiếm các phương pháp thể hiện rõ ràng hay trực diện hơn về mối quan hệ giữa hoạt động KH &CN và phát triển kinh tế là việc làm cần thiết. Cách tiếp cận ứng dụng phương pháp của kinh tế lượng với các kỹ thuật phân tích tương quan và hồi quy tương ứng là một trong các hướng để giải quyết vấn đề đặt ra.

áp dụng phương pháp tương quan và hồi quy để phân tích tác động của KH &CN đối với phát triển kinh tế

Để phục vụ việc đánh giá, phân tích tác động của KH &CN đối với phát triển kinh tế trong phạm vi nền kinh tế quốc dân, cần có số liệu về các chỉ tiêu thống kê cần thiết. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi đã sử dụng một số kết quả của cuộc điều tra thống kê thu thập số liệu và khai thác thông tin ở 34 tỉnh /thành phố trong cả nước thuộc phạm vi đề tài khoa học “Nghiên cứu đánh giá tác động của KH &CN đối với phát triển kinh tế ở Việt Nam” của Tổng cục Thống kê1.

Số liệu điều tra được thu thập liên tục 5 năm (từ 2001 đến 2005) và sau đó tính bình quân cho 5 năm. Trừ một vài chỉ tiêu, số liệu điều tra có tính chất thời điểm được xác định thống nhất cho 34 tỉnh /thành phố ở cùng thời điểm thích hợp. Kết quả điều tra được tổng hợp và tính toán thành nhiều chỉ tiêu nghiên cứu khác nhau, các chỉ tiêu này có cả dưới dạng số tuyệt đối lẫn số tương đối và số bình quân. Để đảm bảo nguyên tắc công bố số liệu, với mục đích minh hoạ cho việc áp dụng phương pháp đánh giá kinh tế lượng, trong bài báo không ghi rõ tên các địa phương mà ghi thứ tự theo mã hoá từ 01 đến 34. Khi áp dụng phương pháp tương quan hồi quy để đánh giá tác động của KH &CN đối với phát triển kinh tế thì các chỉ tiêu về phát triển kinh tế được xác định là các chỉ tiêu kết quả vì chúng chịu sự tác động của KH &CN, còn các chỉ tiêu về công nghệ được xác định là các chỉ tiêu nguyên nhân vì chúng là các yếu tố tác động đến phát triển kinh tế. Qua quá trình nghiên cứu, trao đổi cộng với thăm dò ý kiến của các chuyên gia, chúng tôi đã chọn ra 4 chỉ tiêu về phát triển kinh tế và 3 nhóm chỉ tiêu về năng lực công nghệ đặc trưng nhất cho phép nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển KH &CN.

Các chỉ tiêu đặc trưng cho phát triển kinh tế gồm: Tốc độ phát triển hoặc tốc độ tăng GDP; GDP theo giá thực tế bình quân đầu người; tỷ lệ giá trị xuất khẩu so với giá trị sản xuất; tỷ lệ thu ngân sách so với GDP. Khi phân tích, cần phải tính chuyển các chỉ tiêu đặc trưng riêng biệt thành chỉ số chung về phát triển kinh tế (chỉ tiêu kết quả) theo phương pháp chuyên môn (nội dung phương pháp tính các chỉ tiêu đặc trưng và chỉ số chung về phát triển kinh tế được giới thiệu đầy đủ ở Chuyên san Thông tin khoa học thống kê tháng 11.2007 “Thống kê KH &CN và phát triển kinh tế”.

Các chỉ tiêu đặc trưng về năng lực công nghệ gồm: Các chỉ tiêu đổi mới công nghệ; các chỉ tiêu về chuyển giao công nghệ và các chỉ tiêu công nghệ thông tin và truyền thông. Đây là các chỉ tiêu đặc trưng cho chu trình công nghệ từ sáng tạo, sử dụng, cho đến phổ biến và lan truyền công nghệ. Cũng như các chỉ tiêu kinh tế, để áp dụng công cụ phân tích một cách thuận tiện, từng chỉ tiêu riêng biệt về công nghệ cần được chuyển thành các chỉ số tương ứng, sau đó tổng  hợp lại thành 3 chỉ số thành phần tương ứng với 3 nhóm chỉ tiêu: Chỉ số đổi mới công nghệ, chỉ số chuyển giao công nghệ và chỉ số công nghệ thông tin và truyền thông.

Từ số liệu điều tra và khai thác của 34 tỉnh /thành phố, chúng tôi đã xử lý, tổng hợp và cuối cùng tính được các chỉ số chung về phát triển kinh tế IK – cột 2; các chỉ số đổi mới công nghệ IĐM – cột 3; chỉ số chuyển giao công nghệ ICG – cột 4 và chỉ số công nghệ thông tin và truyền thông ITT – cột 5 (bảng 1). Quá trình phân tích tác động của KH &CN đối với phát triển kinh tế được tiến hành theo 2 bước dưới đây.

Bước 1: Phân tích tác động của các yếu tố công nghệ đối vói phát triển kinh tế

Căn cứ vào kết quả phân tích, có thể biểu diễn kết quả điều tra và mối tương quan giữa phát triển kinh tế và năng lực công nghệ của 34 tỉnh /thành phố ở bảng 1 và sơ đồ 1 (theo thứ tự mã tỉnh /thành phố từ 01 đến 34). Qua bảng 1 và kết quả biểu diễn theo sơ đồ 1, chúng ta thấy giữa các chỉ số thành phần về năng lực công nghệ (các chỉ tiêu nguyên nhân) có quan hệ với nhau và cùng quan hệ thuận chiều với chỉ số phát triển kinh tế (chỉ tiêu kết quả). Để lựa chọn phương trình tương quan hồi quy phân tích tác động của năng lực công nghệ đối với phát triển kinh tế một cách thích hợp và có hiệu quả, trước hết phải kiểm tra xem giữa các yếu tố (chỉ số) thành phần về công nghệ có quan hệ với nhau đến mức nào. Kết quả tính toán cho thấy hệ số tương quan giữa chỉ số đổi mới công nghệ và chuyển giao công nghệ có R =0,6684; giữa chỉ số đổi mới công nghệ và chỉ số công nghệ thông tin và truyền thông có R =0,7391; giữa chỉ số chuyển giao công nghệ và chỉ số công nghệ thông tin và truyền thông có R =0,6474.

Như vậy, 3 chỉ tiêu thành phần này từng cặp đều có quan hệ với nhau khá chặt chẽ, tức là tồn tại đặc điểm đa cộng tuyến rất mạnh. Do đó, để nghiên cứu quan hệ giữa phát triển kinh tế (chỉ tiêu kết quả) với các yếu tố thành phần công nghệ (chỉ tiêu nguyên nhân) không thể dùng phương trình tương quan hồi quy bội, mà chỉ có thể dùng phương trình tương quan hồi quy đơn rồi so sánh hệ số tương quan và hệ số xác định của từng cặp để thấy được nhân tố nào tác động mạnh hơn, nhân tố nào tác động yếu hơn.

Gọi y là chỉ số phát triển kinh tế, x1 là chỉ số đổi mới công nghệ, x2 là chỉ số chuyển giao công nghệ và x3 là chỉ số công nghệ thông tin và truyển thông. Ta có các mô hình hồi quy đơn tuyến tính như sau:

-Theo số liệu ở bảng 1 và áp dụng phương trình hồi quy tuyến tính 2a, 2b, 2c tính toán được các tham số ước lượng các phương trình và các hệ số tương quan, hệ số xác định đặc trưng quan hệ giữa phát triển kinh tế với các yếu tố công  nghệ2 như bảng 2.

Kết quả tính toán hệ số tương quan và hệ số đánh giá mức độ chặt chẽ giữa các chỉ tiêu nguyên nhân và chỉ tiêu kết quả cho thấy, trong 3 phương trình trên, các phương trình đặc trưng quan hệ giữa chỉ số phát triển kinh tế với chỉ số chuyển giao công nghệ và chỉ số công nghệ thông tin và truyền thông có quan hệ chặt chẽ hơn (có hệ số tương quan R = 0,7976; 0, 7693 và hệ số xác định R2 = 0, 6362 và 0,5919) so với quan hệ giữa chỉ số phát triển kinh tế với chỉ số đổi mới công nghệ (có hệ số tương quan R = 0, 6699 và hệ số xác định R2 = 0,4488).

Bước 2: Phân tích tác động của năng lực công nghệ đối với phát triển kinh tế

Để đánh giá được mức độ tác động chung của cả 3 yếu tố công nghệ thành phần đến phát triển kinh tế trong điều kiện 3 nhân tố này từng cặp đều có quan hệ với nhau khá chặt chẽ, trước khi áp dụng phương pháp phân tích tương quan hồi quy đơn giữa một chỉ tiêu kết quả là tốc độ phát triển kinh tế với một chỉ tiêu nguyên nhân là năng lực công nghệ, chúng ta cần sử dụng bổ sung phương pháp tính chỉ số chung về năng lực công nghệ cho các nước đang phát triển theo phương pháp tính của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF). WEF đã sử dụng cách tính này trong nhiều năm qua để xếp hạng năng lực công nghệ khi tính toán xếp hạng năng lực cạnh tranh của các quốc gia trên thế giới. Theo phương pháp này, chỉ số năng lực công nghệ chung được xác định bằng tổng của 3 chỉ số thành phần với các hệ số quan trọng như sau: Chỉ số đổi mới công nghệ (IĐM) có hệ số 1, chỉ số chuyển giao công nghệ (ICG) có hệ số 3 và chỉ số công nghệ thông tin và truyền thông (ITT) có hệ số 4. Theo đó, công thức tính chỉ số năng lực công nghệ chung (ICN) là:

ICN  = 1/8 x IĐM  + 3/8 x ICG + 4/8 x ITT (3)

Từ số liệu ở bảng 1, áp dụng công thức 3 ta tính được chỉ số năng lực công nghệ của 34 tỉnh /thành phố như bảng 3.

Có thể biểu diễn chỉ số về phát triển kinh tế và năng lực công nghệ của các tỉnh /thành phố (theo thứ tự mã tỉnh /thành phố từ 01 đến 34) qua sơ đồ 2.

Nếu sắp xếp các tỉnh /thành phố theo thứ tự tăng dần về mức độ đạt được của chỉ số năng lực công nghệ, ta có sơ đồ 3.

Quan sát 2 dãy số liệu ở bảng 3 cũng như các đường biểu diễn qua sơ đồ 2 và 3 ta thấy, các tỉnh /thành phố có chỉ số về năng lực công nghệ đạt mức độ cao thì thường cũng có tỷ lệ phần trăm về phát triển kinh tế đạt cao và ngược lại, các tỉnh /thành phố có chỉ số về năng lực công nghệ đạt thấp, thì thường cũng có chỉ số về phát triển kinh tế đạt thấp.

Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp cứ có chỉ số năng lực công nghệ đạt cao hơn là sẽ có chỉ số về phát triển kinh tế đạt cao hơn. Có những trường hợp sẽ không cao hơn, và thậm chí có khi còn thấp hơn. Theo lý thuyết khoa học kinh tế lượng, quan hệ trên đây được gọi là quan hệ tương quan thuận chiều. Để thấy rõ mức độ cụ thể của mối quan hệ này ta phải xác định các hệ số theo phương trình hồi quy và tính toán hệ số tương quan.

Trong quá trình tính toán để lựa chọn quan hệ tương quan, chúng tôi đã áp dụng 3 dạng phương trình: Phương trình tuyến tính bậc nhất, phương trình parabol bậc 2, phương trình mũ. Kết quả tính toán, kiểm định và phân tích cho thấy phương trình tuyến tính (bậc nhất): , đặc trưng cho quan hệ giữa phát triển kinh tế và năng lực công nghệ là phù hợp hơn cả. Theo hàm này có hệ số tương quan R = 0, 8574 và hệ số xác định chung là R2 = 0, 7352 phản ánh quan hệ của 2 chỉ số này khá chặt chẽ.

Kết quả trên có thể giải thích làK: Khi chỉ số năng lực công nghệ chung tăng lên 1% thì chỉ số phát triển kinh tế chung sẽ tăng thêm được 1,2298% với hệ số xác định  R2 = 0, 7352. Nghĩa lứ, trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, sự tăng lên của phát triển kinh tế trong giai đoạn 2001-2005 được giải thích liên quan đến yếu tố năng lực công nghệ là 73,52%.

Kết luận

Kết quả tính toán quan hệ giữa các chỉ tiêu đặc trưng cho năng lực công nghệ đối với phát triển kinh tế của 34 tỉnh /thành phố trong cả nước (số liệu tính bình quân 5 năm: 2001-2005) cho thấy: Cả 3 nhân tố đổi mới công nghệ, chuyển giao công nghệ, công nghệ thông tin và truyển thông đều quan hệ thuận chiều với phát triển kinh tế. Trong số các chỉ tiêu thành phần đặc trưng cho năng lực công nghệ, chỉ tiêu về chuyển giao công nghệ (nhập công nghệ) và trình độ công nghệ thông tin và truyền thông (phổ biến công nghệ) có quan hệ chặt chẽ hơn và ảnh hưởng mạnh hơn đối với phát triển kinh tế so với chỉ tiêu đổi mới sáng tạo công nghệ. Điều này hoàn toàn phù hợp với công thức tính bình quân các chỉ số công nghệ thành phần của WEF khi coi yếu tố chuyển giao công nghệ (nhập công nghệ) và trình độ công nghệ thông tin và truyền thông (phổ biến công nghệ) quan trọng hơn chỉ tiêu đổi mới, sáng tạo công nghệ đối với các nước đang phát triển (tương ứng là 3 lần và 4 lần).

Trên góc độ phân tích thống kê, có thể kết luận rằng: Năng lực công nghệ có ảnh hưởng khá rõ nét đến phát triển kinh tế, tức là khi năng lực công nghệ càng được nâng cao thì kết quả phát triển kinh tế cũng sẽ đạt kết quả càng tốt và các mối quan hệ này tương đối chặt chẽ. Cụ thể là: Cứ tăng lên 1% về chỉ số năng lực công nghệ thì sẽ tăng thêm được 1,2298% về chỉ số phát triển kinh tế và sự phát triển kinh tế có thể giải thích liên quan đến yếu tố năng lực công nghệ là 73,52%.

Việc nghiên cứu quan hệ của KH &CN đối với phát triển kinh tế là vấn đề khó và ở Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu. Trong điều kiện việc thu thập số liệu gặp nhiều khó khăn, nhóm tác giả đã phải kết hợp nhiều nguồn số liệu thống kê với nhiều cách xử lý, phân tích khác nhau để đưa ra nhận định nêu trên. Do vậy, kết quả tính toán đang dừng ở phạm vi nghiên cứu số lớn và phản ánh xu thế của mối quan hệ tương quan. Điều quan trọng là kết quả nghiên cứu đã mở ra một hướng đi mới trong nghiên cứu định lượng để đánh giá mối quan hệ giữa hoạt động KH &CN với phát triển kinh tế và giúp chúng ta có thể mạnh dạn áp dụng phương pháp kinh tế lượng trong việc xếp hạng các tỉnh /thành phố về năng lực công nghệ… Việc lượng hoá được quan hệ này không chỉ giúp xác định hiệu quả đầu tư vào hoạt động KH &CN mà còn cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế dài hạn của đất nước.

Nếu chúng ta đầu tư sức lực hơn nữa cho hướng nghiên cứu này thì chắc chắn sẽ có được những số liệu tốt hơn và phục vụ tốt hơn cho nhu cầu của công tác quản lý kinh tế. Do vậy, nhóm nghiên cứu xin kiến nghị việc áp dụng phương pháp nghiên cứu này trong đánh giá hiệu quả đầu tư vào hoạt động KH &CN phục vụ phát triển kinh tế trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

1 “Nghiên cứu đánh giá tác động của KH &CN đối với phát triển kinh tế ở Việt Nam” – Đề tài cấp bộ của Tổng cục Thống kê năm 2006 (Chủ nhiệm: TS Tăng Văn Khiên, Phó Chủ nhiệm: TS Tạ Doãn Trịnh).

2 Quá trình tính toán và phân tích cho thấy, ước lượng quan hệ giữa phát triển kinh tế với cả 3 yếu tố về công nghệ đều theo phương trình hồi quy tuyến tính (bậc nhất) là phù hợp hơn và có các hệ số bảo đảm mức ý nghĩa cho phép.

—————&&—————

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: