Di sản của một trường phái

Di sản của một trường phái

(Tác giả: Kenneth M. Davidson – Nguồn: tuanvietnam.net)

Khi chúng ta xem xét đống đổ nát của nền kinh tế chính trị Mỹ để tìm manh mối cho thấy nguyên nhân của sự sụp đổ, nảy sinh nhiều giả định hợp lý.

Một số người bác bỏ mọi khả năng khủng hoảng hệ thống, cho rằng một số quyết định bất ngờ là nguyên nhân gây ra toàn bộ gánh nặng của chúng ta hiện nay. Những người khác lại thấy những căn bệnh văn hóa sâu sắc đang hoành hành – sự mất dần thói quen tiết kiệm, các tương phản văn hóa của chủ nghĩa tư bản, sự xơ cứng của chính phủ ở những nơi mà trục trặc tài chính là một phần của một cái tổng thể lớn hơn… – đều là nguyên nhân.

Giữa hai thái cực này là vố số các học thuyết tự cho là đã nắm được một quân bài trong trò chơi xếp hình: các nước xuất khẩu nhấn chìm hệ thống tài chính của chúng ta vào biển tiền với số lượng lớn hơn nhiều số tiền chúng ta có thể đầu tư một cách khôn ngoan; sự lừa dối của các trường phái kinh doanh và các nhà kinh tế học hàn lâm Mỹ cùng các mô hình toán học của họ; nền kinh tế vô hình bên ngoài tạo điều kiện thổi phồng khả năng tín dụng rẻ; tình trạng siêu vi tính hóa các quá trình thương mại; các nhà kinh tế học chuyên nghiệp bị hối lộ bởi giới lobby Phố Wall. Cuối cùng, sự thỏa mãn, có thể chỉ là giả tạo, là cách giải thích kiểu dân túy: tính tham lam thuần túy của các chủ ngân hàng và các nhà tài phiệt, được xúi giục bởi những khoản tiền hối lộ vô tận của Quốc hội.

Rất nhiều trong những cách giải thích trên có ý nghĩa gì đó, nhưng không một lý do nào trong số này thực sự động chạm trực tiếp vào quyền lực của một tư tưởng sai lầm nhưng phổ biến. Thường được gọi là “trào lưu chính thống thị trường”, ý tưởng này thừa nhận rằng các quy luật về kinh tế học là vô tận và không thể thay đổi như các định luật vật lý, và các cách chính phủ hoạt động, nhất là những chính phủ có tham vọng xã hội, luôn chống lại các quy luật này. Có một cách đặc biệt để mô tả quan điểm này: đó là suy nghĩ của Trường phái kinh tế học Chicago.

Sự xuất hiện Trường phái Chicago

Ảnh minh họa: vinacorp.vn

Học thuyết cơ bản của Trường phái Chicago trong suốt 40 năm tồn tại là các thị trường tự điều tiết hiệu quả. Học thuyết này dựa trên một giả thiết chìa khóa là các tác nhân kinh tế luôn tìm cách tối ưu hóa giá trị và họ có mọi thông tin cần thiết về giá cả để đưa ra các đánh giá dựa trên lý trí.

Học thuyết này khẳng định rằng mọi thị trường thương mại – thị trường hàng hóa, dịch vụ và tài chính… – hoạt động hầu như hiệu quả nhờ các hợp đồng tự nguyện giữa người bán và người mua theo các điều kiện cạnh tranh, và không xác định các quyền sở hữu cũng như không ép buộc các điều khoản hợp đồng; sự điều tiết của chính phủ sẽ khiến các thị trường của Mỹ kém hiệu quả, và kết quả là hầu hết chúng ta sẽ nghèo đi.

Đối với nhiều người Mỹ, quan điểm của Trường phái Chicago là quá rõ ràng nên không cần bất cứ một phân tích nào về nguồn gốc cũng như độ tin cậy của nó. Nhưng không phải lúc nào cũng vậy.

Trước khi thị trường chứng khoán sụp đổ tháng 10/1929, các chuyên gia kinh tế Mỹ đã nhất trí với nhiều biến thể của tư tưởng tân cổ điển – cụm từ do Thorsten Veblen đặt ra để miêu tả tư tưởng toán học hóa các tiêu chuẩn kinh tế cuối thế kỷ 19 của William Stanley Jevons, Leon Walras và những người khác. Tư tưởng đó tất nhiên tạo điều kiện cho cung cầu, cạnh tranh và giá, và nó chủ yếu hòa hợp với khái niệm về cánh tay vô hình của Adam Smith: trạng thái cân bằng năng động.

Tuy nhiên, kinh tế học mà người ta nghĩ thời đó không phải là một bộ phận cơ giới và có công thức của trí tuệ. Nó bơi trong biển thương mại, nhưng chỉ đề cập tới thủy triều và dòng nước, chứ không đề cập tới chính biển thương mại này. Nó thừa nhận vai trò của chính phủ trong việc thiết lập các thông số khế ước và sở hữu cho đời sống kinh tế; nó có thể bao gồm những quan tâm tiến bộ và dân tuý về sự độc quyền (nhưng không bao giờ trở thành giải pháp cho các tình trạng thị trường trong đó một vài hàng hóa có ảnh hưởng nhưng đều không chiếm lĩnh được); và nó sống chung với ngày càng nhiều bằng chứng cho thấy các biến đổi của cung và cầu có thể bị ảnh hưởng bởi vô số yếu tố bên ngoài – nhất là các hệ thống tài chính không hoàn hảo.

Điều khiến Trường phái Chicago có ảnh hưởng khác biệt là bản chất hậu-tân-cổ điển của nó, theo đó thị trường tự vận hành, không có sự giám sát của chính phủ, cũng như bản chất của nó là học thuyết phủ nhận kinh nghiệm trong quá trình tự chứng minh.

Vậy các ý tưởng của Trường phái Chicago này sinh ra từ đâu? Bằng cách nào chúng có thể chế ngự tư tưởng chính sách kinh tế Mỹ như vậy? Và tư tưởng này góp phần thế nào trong sự hỗn loạn hiện nay?

Để hiểu nguồn gốc của Trường phái Chicago, chúng ta nên đặt nó trong bối cảnh lịch sử xã hội và tri thức. Tại Khoa Kinh tế học của Trường đại học Chicago, nơi có các chuyên gia đầu ngành về tân cổ điển trước và trong thời Đại Suy thoái, khi một bài phân tích tổng hợp mới được đưa ra giữa thời điểm suy thoái – thường được mô tả là sự pha trộn của học thuyết John Maynard Keynes với mô hình tân cổ điển – một số cán bộ giảng dạy cấp cao của trường này đã nghi ngờ về độ tin cậy của nó. Frank Knight, Jacob Viner, Henry Simons và nhiều người khác đã chỉ trích Keynes trên cả phương diện lý thuyết lẫn thực tế, và hai trong số học sinh ưu tú nhất của họ, là George Stigler và Milton Friedman, đã đến tuổi trưởng thành vào đúng thời điểm quan trọng này.

Stigler và Friedman, là những người bạn lưu niên khi tốt nghiệp đại học trong những năm 1930, sau này cùng ở lại dạy tại trường, mỗi người đều nổi tiếng trong nước và từng đoạt giải Nobel Kinh tế. Stigler đã được thừa nhận nhờ công trình của ông trong những năm 1950-1960, thiết lập nền tảng cho các phân tích kinh tế Chicago được mô tả trong cuốn sách cổ điển của ông mang tên Học thuyết về giá. Còn Friedman giành giải Nobel nhờ công trình nghiên cứu về chính sách tiền tệ. Chính hai người này cùng với các thành công của họ đã lập nên tư tưởng của Trường phái kinh tế Chicago, theo hướng là môn học hơn là một học thuyết đặc biệt, chứa đựng tất cả.

Nhưng tư tưởng Trường phái Chicago trong những năm 1940 đầu 1950 không giống với tư tưởng Trường phái Chicago đầu những năm 1970. Những khác biệt là rất lớn và cuộc hành trình có thể còn dài hơn thế.

Công bằng mà nói thì học thuyết về giá của Stigler là “cơn lốc” tri thức mà toàn bộ các tư tưởng còn lại kết hợp với Trường phái Chicago đều xoay quanh nó. Nhưng ngay trong các hậu duệ đầu tiên của nó, một tư tưởng khác đã đóng một vai trò lớn trong việc định hình chính sách của trường phái này.

Trường phái Chicago cho là các thị trường hiệu quả khi người mua tậu được các hàng hóa và dịch vụ với giá rẻ nhất. Nhưng hiệu quả kích thích đối với nhà sản xuất ở đây là phải cạnh tranh, như vậy mọi hành động độc quyền đều bị bóp méo. Dưới sự ảnh hưởng rộng rãi của Henry Simons, Trường phái Chicago phát triển một quan điểm khó lay chuyển về công ty lớn và một quan điểm tích cực về vai trò của chính phủ trong việc duy trì các điều kiện tiên quyết cho cạnh tranh hiệu quả.

Simons nhấn mạnh đến điều tiết hà khắc của chính phủ nhằm hạn chế sự phình ra của các tập đoàn và việc áp dụng luật chống độc quyền nhằm đảm bảo rằng các công ty nhỏ không bị thâu tóm với mục đích loại bỏ cạnh tranh giữa họ. Ông tin rằng tự do cạnh tranh trong một nền kinh tế gồm vô số các công ty nhỏ có thể kiểm soát được từng công ty. Các công ty như vậy có thể cung cấp các bảo vệ cả về kinh tế và xã hội cho cộng đồng. Tuy nhiên, ông cũng tin rằng kinh tế và chính trị trong thế kỷ 20 đã chứng tỏ một xu thế nguy hiểm hướng tới độc quyền và chế độ tài phiệt chính trị. Năm 1952, Stigler đã viết một tiểu luận rất có ảnh hưởng về Tài sản mang tên “Trường hợp chống lại công ty lớn”, và đã lập luận trước Quốc hội rằng các tập đoàn lớn cũng có thể sụp đổ.

Là hậu duệ của Simons, cả Stigler và Friedman đều bảo vệ nguồn thu nhập đều đặn cho người nghèo thay vì các chế độ an sinh xã hội. Họ ủng hộ các chính sách chống đánh thuế nhiều nhằm cho phép các công ty chia toàn bộ lợi nhuận cho cổ đông, từ đó ngăn cản đầu cơ trên lợi nhuận giữ lại để mua các tập đoàn khác.

Như vậy, trong khi Trường phái Chicago mới nổi bác bỏ các cách sắp xếp bừa bãi của trường phái kinh tế mới (New Deal), vốn đòi hỏi những khoản thu nhập kinh tế đặc biệt, trường phái này lại kịch liệt phản đối sự can thiệp tích cực của chính phủ vào nền kinh tế. Theo họ, mục đích của sự can thiệp là phục hồi và duy trì cạnh tranh hiệu quả, chứ không phải để thay thế nó bằng một chính phủ kế hoạch hóa tập trung.

Dù tư tưởng của Trường phái Chicago đã kết hợp với các chính sách bảo thủ trong 4 thập kỷ qua, nhưng nguồn gốc của nó hoàn toàn gắn với quan điểm tự do – hoặc ít nhất với chủ nghĩa tự do chống tài phiệt của William Allen White và Theodore Roosevelt, nếu không muốn nói tới Woodrow Wilson – suốt những năm cuối 30, 40 và đầu 50 của thế kỷ trước.

Trở lại giữa hành trình, Trường phái Chicago cũng đã phản ánh quan niệm truyền thống về vấn đề chủ thể của nó: không phải kinh tế học mà kinh tế chính trị. Nó thừa nhận mối quan hệ giữa cạnh tranh trên thương trường với tính ưu việt của tự do chính trị, cả hai phụ thuộc và nuôi dưỡng lẫn nhau.

Trong những năm 1960, cái mác Trường phái Chicago chủ yếu thuộc về Milton Friedman. Cuốn sách có ảnh hưởng của ông năm 1962 mang tên Chủ nghĩa tư bản và tự do đã nêu ra một loạt khuyến cáo chính sách về vai trò thích hợp của chính phủ và các thị trường thương mại. Điểm mấu chốt của nó là các thị trường thương mại không chỉ hiệu quả hơn các thị trường chịu sự điều tiết của chính phủ, mà trong hầu hết các trường hợp, chúng còn bảo vệ tự do cá nhân nhiều hơn so với các đạo luật và chương trình của chính phủ.

Thông điệp này như một lời kêu gọi giữa lúc diễn ra cuộc Chiến tranh Lạnh, mà người Mỹ hiểu là một cuộc chiến chống lại các học thuyết của các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, và chính trị độc tài chống lại sự an toàn và tự do của phương Tây. Vậy điều gì đã thay đổi?

Cái thay đổi là văn hóa bên trong của khoa học xã hội Mỹ và cấu trúc nền kinh tế Mỹ. Các thay đổi trong tư tưởng Trường phái Chicago rốt cuộc là một phản ứng kép với cả hai bên.

Các phân tích tân cổ điển dựa trên kinh tế học vi mô cơ bản. Nó nói về hành vi của các công ty và các cá nhân. Nó không định hướng về hệ thống, và thiếu một học thuyết lớn của các nhà khoa học xã hội yêu thích kinh tế thời đó. Tuy nhiên, Keynes đã có một học thuyết nổi tiếng. Và những người theo chủ nghĩa Marx cũng vậy.

Biết rằng không thể tay không đánh bại một cái gì đó, những người phản đối sự can thiệp của nhà nước (hay đơn thuần chỉ nghi ngờ mong muốn của chính phủ hướng tới trực tiếp thay đổi xã hội) thấy cần một học thuyết của riêng mình. Và Stigler và Friedman đã tách khỏi các nghiên cứu thực nghiệm và kinh tế vi mô để đi theo còi lệnh của một học thuyết lớn. Họ muốn trưng cất tinh chất của các tư tưởng tân cổ điển cũng như cách mà các nhà vật lý học nỗ lực tạo ra các lý thuyết về vũ trụ.

Đó là cách mà Stigler lập luận, ông biết hành vi kinh tế thật phức tạp hơn lý thuyết giá giả định, những nó vẫn hiệu quả hơn bất cứ học thuyết so sánh nào trong việc giải thích những thực tế quan sát được trong sự sụp đổ chung. Nếu thực tế diễn ra đúng như lý thuyết, thì khi đó thực tế đã trở nên kỳ cục. Đó cũng là cách Friedman và Giám đốc Aaron đã bẻ gãy lập luận của Simons khi quyết định rằng điều tiết của chính phủ là không cần thiết (và nói chung là vô ích) đối với cạnh tranh hiệu quả. Giả thiết về “thị trường hiệu quả” của Eugene Fama – chứng tỏ rằng các thị trường chứng khoán trong tổng thể của nó là những câu trả lời chính xác hơn bất cứ chuyên gia tài chính nào – đã giúp san phẳng con đường tới kết luận rằng các chuyên gia của chính phủ không thể cải thiện kết quả dựa trên thị trường.

Tương tự, quan điểm của Trường phái Chicago cho rằng các thị trường tự vận hành, và không bao giờ mắc sai lầm. Điều này đã không đúng trong một thời gian dài. Bởi vậy, nếu các doanh nghiệp phình to ra, thì là bởi vì các thị trường đã quyết định rằng họ nên làm thế; nếu công ty lớn thất bại, là vì các thị trường muốn vậy. Thông tin có thể hướng các thị trường đến sự hoạt động hiệu quả, nhưng đó chính là điều còn thiếu trong cách quản lý kinh tế của chính phủ.

Định hướng tới chủ thể như vậy cũng giúp giải thích làm thế nào mà quan điểm của Friedman về thị trường tự điều tiết, dựa trên một khái niệm đơn giản về cạnh tranh giữa nhiều doanh nghiệp nhỏ và các công ty đối thủ, có thể xuất hiện vào đúng lúc kinh tế Mỹ đang thực sự bị tách khỏi một môi trường như thế và chuyển đến Thiết Tam giác của Galbraith, tức là một nền kinh tế dựa trên các công ty lớn bị ràng buộc trong quan hệ đối tác với nguồn lao động lớn và bị chính phủ điều tiết tích cực nếu không phải là công ty thực sự lớn. Friedman thiên về các học thuyết đổ lỗi cho sự can thiệp quá nhiều của chính phủ vào các quyết định của các nhân và doanh nghiệp, và một chính sách tiền tệ quá mức mềm dẻo, đã gây hại cho nền kinh tế.

Cũng giống như Simons trước đây, Friedman muốn khởi động lại một Thiên đường kinh tế, nơi có thông tin hoàn hảo, không có chi phí giao dịch, và một khái niệm về các hợp đồng tự nguyện. Ông coi sự rối loạn trong những năm 1960 chính là do chủ nghĩa tự do New Deal, đã bóp nghẹt nền độc lập và tự do của Mỹ, chứ không phải là Thiết Tam giác. Thay vì thấy đằng sau hình thù mới của nền kinh tế Mỹ là những công trình công nghệ và cách tân, ông lại thấy đó là con quỷ FDR.

Trong cuốn Chủ nghĩa tư bản và tự do, Friedman kết tội chính phủ âm mưu giải quyết các vấn đề xã hội theo cách làm rối loạn các thị trường. Nói một cách khách quan, nhiều điều đã thay đổi trong thời gian từ năm 1952 – khi Stigler ủng hộ sức ép chống độc quyền mạnh mẽ, đến năm 1962 – khi Friedman ủng hộ các doanh nghiệp lớn chống lại sự can thiệp của chính phủ. Trong thập kỷ tiếp theo, nhiều thay đổi cũng đã xảy ra. Mối quan tâm của Trường phái Chicago về quy mô của doanh nghiệp Mỹ và khẳng định của họ về tính ưu việt của chính trị đều biến mất từ cuối những năm 1960. Khi đó, tác nhân gây ra thay đổi lại là Stigler chứ không phải Friedman.

Sự đối đầu nói trên đã thực sự biến mất khi đặt cạnh nhau hai báo cáo quốc gia từ lâu bị lãng quên. Báo cáo đầu tiên, được công bố dưới thời Tổng thống Lyndon Johnson năm 1968, do ông Phil Neal, Chủ nghiệm Khoa Luật trường đại học tổng hợp Chicago, đứng đầu. Bản thứ hai là một báo cáo dịch được làm chưa đầy một năm sau đó để trình Tổng thống Richard Nixon, do chính Stigler đứng đầu.

Neal khuyến cáo hai đạo luật chống độc quyền mới: một đạo luật nhằm phá vỡ các công ty lớn trong các ngành công nghiệp tập trung phi chính trị và một đạo luật nhằm cấm các công ty lớn mua công ty hàng đầu trong các ngành công nghiệp không có liên quan nhằm tránh chiếm lĩnh thị trường thông qua việc sáp nhập các nguồn lực kinh tế. Báo cáo của Neal lập luận bằng cách viện dẫn Luật chống độc quyền Sherman năm 1890, Luật Ủy ban thương mại chung và Luật Clayton năm 1914, Luật Robinson-Patman năm 1936 và Luật Cellar-Kefauver năm 1950. Neal cũng khẳng định rằng các khuyến cáo của ông xuất phát từ điều mà nhiều chuyên gia kinh tế cũng đồng thuận, theo đó tập trung công nghiệp đang cao hơn mức các nền kinh tế đòi hỏi. Ông thậm chí còn trích dẫn cuốn sách của Stigler mang tên “Trường hợp chống lại các doanh nghiệp lớn” và trích dẫn Thuyết về giá của Stigler để lập luận.

Báo cáo của Stigler năm 1969 coi chống độc quyền không giúp đem lại triển vọng kinh tế. Không gợi ý nào cho rằng điều tiết của chính phủ đối với doanh nghiệp phải góp phần duy trì dân chủ hay tự do. Khác với báo cáo của Neal, báo cáo của Stigler từ bỏ ý định ngừng các vụ sáp nhập lớn “dựa trên cơ sở những mối lo ngại còn tồn tại về giá và nền kinh tế”.

Báo cáo của Stigler đã nhắc lại tình thế tiến thoái lưỡng nan của trường phái Chicago: “Thị trường luôn đúng”. Trường phái Chicago thừa hưởng gì từ quan điểm về sự sụp đổ các công ty lớn của Simon và khẳng định của Stigler năm 1952 về điều đó, cũng như Báo cáo của Stigler năm 1969? Câu trả lời không rõ lắm, nhưng có một điều rõ ràng, đó là người Mỹ nhìn chung đã ngày càng quen với các công ty lớn trong thời kỳ hậu Chiến tranh thế giới II.

Một phần thứ hai của câu trả lời dường như đã rõ. Trong thời gian nền kinh tế Mỹ tăng trưởng và phát triển dưới cái bóng của Thiết Tam giác, không ai có thể đụng vào trào lưu chính thống của chủ nghĩa Keynes mới, hình thành từ những năm 1950 và được soạn thảo và thực thi trong chính sách bởi các nhà kinh tế giỏi nhất của Mỹ những năm đầu của chính quyền Kennedy. Nhưng khi các vấn đề kinh tế của toàn cầu gặp trục trặc -lạm phát thấp, cộng với tỷ lệ người có việc làm gần bằng 0 – các mối nghi ngờ về trào lưu chính thống hậu chiến đã xuất hiện.

Một số người tự hỏi bản thân học thuyết hay cách áp dụng chủ nghĩa Keynes đã sai. Vấn đề là sự mất lòng tin đối với chủ nghĩa này đã mở đầu cho một thời kỳ đáng mỉa mai nhất trong lịch sử kinh tế Mỹ thế kỷ 20: một Tổng thống phe Cộng hòa năm 1971 đã châm biếm rằng “Chúng ta giờ đều là những Keynes”, vào đúng thời điểm mà khả năng sai lầm của mô hình Keynes có thể rõ ràng đối với tất cả.

Vì vậy, công bằng mà nói, các triển vọng của Trường phái Chicago đã xuất hiện một cách hiên ngang trên đống tro tàn của lạm phát và thời điểm tệ nhất của sự đồng thuận về chính sách kinh tế sau chiến tranh Việt Nam. Khi Ronald Reagan và Paul Volcker quyết định kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế Mỹ năm 1981-1982, họ đã làm như vậy dưới ánh sáng của những chỉ trích mà Milton Friedman đưa ra đối với chính sách tiền tệ Mỹ. Reagan đã vượt lên tất cả những người khác để trở thành ông vua của thông điệp chống điều tiết của Trường phái Chicago khi ông nói “Chính phủ không phải là giải pháp cho mọi vấn đề của chúng ta, chính phủ chính là vấn đề”.

Quốc Tháidịch theo American Interest

—————–&&—————–

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: