Nhìn lại sự khai sinh của các công cụ tài chính

Nhìn lại sự khai sinh của các công cụ tài chính

(Nguồn: thesaigontimes.vn)

Để nắm được ý nghĩa đằng sau những biến động tài chính quan trọng đang diễn ra hàng ngày trên thị trường thế giới – mà nhiều người đánh giá là các chuyển động báo hiệu sự sụp đổ một mô hình và sự khai sinh một mô hình mới, có lẽ nên nhìn lại quá trình phát triển thị trường tài chính hiện nay. Tờ Economist vừa có một bài súc tích về vấn đề này.

Thị trường ngoại tệ ra đời

Mọi chuyện bắt đầu với việc thả nổi các đồng tiền. Năm 1971, Tổng thống Mỹ Richard Nixon tìm cách giải quyết khoản thâm hụt mậu dịch khổng lồ, kèm theo là chi phí lớn cho cuộc chiến Mỹ đang theo đuổi tại Việt Nam bằng cách chấm dứt khả năng chuyển đổi đồng đô la sang vàng – tức là không còn dùng kim bản vị nữa. Như vậy hệ thống Bretton Woods tồn tại từ sau Đệ nhị thế chiến với tỷ giá hối đoái cố định xem như sụp đổ. Trước đó, dòng vốn không thể dễ dàng chảy từ nước này sang nước khác do ngoại tệ được kiểm soát chặt chẽ, ví dụ dân Anh đến cuối thập niên 1960 khi đi du lịch nước ngoài chỉ được mang theo 50 bảng Anh.

Một khi tỷ giá được thả nổi, thế giới nhanh chóng thay đổi. Đầu tư nước ngoài bắt đầu tăng nhanh và một khi doanh nghiệp tính chi phí bằng một ngoại tệ rồi doanh thu tính bằng ngoại tệ khác, họ phải tìm cách bảo hiểm tỷ giá. Thị trường ngoại tệ với những sản phẩm như tỷ giá kỳ hạn, quyền chọn tỷ giá ra đời.

Các ngân hàng đầu tư lớn ra đời

Khi Ronald Reagan và Margaret Thatcher lên làm tổng thống Mỹ và thủ tướng Anh, cả hai đều chủ trương đẩy mạnh kinh tế thị trường. Đồng thời đó cũng là thời điểm lên ngôi quan điểm kinh tế để cho thị trường tự điều tiết – do Milton Friedman chủ xướng. Ông này cho rằng kinh tế học theo trường phái Keynes, nhấn mạnh đến sự can thiệp của chính phủ, đã thất bại và thị trường luôn luôn phân bổ dòng vốn hiệu quả hơn bất kỳ sự điều hành nào của chính phủ. Cả Reagan và Thatcher lần lượt tháo gỡ các chính sách kiểm soát dòng vốn nóng được lập ra trước đó để ngăn ngừa sự bất ổn của dòng tiền loại này.

Trên các thị trường chứng khoán, nhà đầu tư tổ chức như các công ty bảo hiểm hay các quỹ hưu trí, nhờ sự dịch chuyển dễ dàng của dòng vốn đã liên tục chuyển tiền vào nơi nào có mức sinh lợi cao nhất cho họ. Một hệ quả trước mắt là các nhà đầu tư loại này không chấp nhận mức hoa hồng cố định họ cho là quá cao của các công ty môi giới chứng khoán; họ lại chê các công ty môi giới nào nhỏ không thể quản lý nổi dòng vốn lớn như thế.

Hệ quả là các công ty môi giới chứng khoán dần dà sáp nhập, hình thành nên những hãng ngày càng lớn và do cạnh tranh nên phí hoa hồng ngày càng giảm. Để tăng doanh thu và lợi nhuận, các hãng này lại chú trọng đến mảng tự doanh, lại huy động thêm vốn để mảng này ngày càng quan trọng trong cơ cấu công ty.

Tất cả những yếu tố này thúc đẩy sự ra đời các ngân hàng đầu tư lớn và năm 1999, khi Mỹ bãi bỏ một số điều khoản của luật Glass-Steagall, sự tách biệt giữa ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư xem như không còn nữa. Luật này trước đó cấm ngân hàng sở hữu công ty tài chính nhằm kiểm soát ngăn ngừa đầu cơ. Với giới ngân hàng thương mại, tổ chức mạng lưới bán lẻ thì tốn kém nhưng vốn huy động nhiều giúp họ đủ lực để bảo lãnh phát hành chứng khoán của các hãng lớn; đáp lại các ngân hàng đầu tư liên tục tăng vốn để bành trướng hoạt động.

Công cụ hoán đổi rủi ro phá sản (credit-default swap – CDS)

Những diễn biến này lại được thị trường hỗ trợ khi giá chứng khoán, địa ốc tăng đều trong liên tục 20 năm từ thập niên 1980. Buôn bán chứng khoán, hoạt động cho vay… tất cả đều có lãi và khu vực tài chính phát triển nhanh đến nỗi năm 1980 nó chỉ chiếm 5,2% tổng giá trị thị trường chứng khoán Mỹ thì đến năm ngoái, tỷ trọng này đã là 23,5%.

Ngân hàng càng lớn, hoạt động càng phức tạp. Với sự hỗ trợ của giới học thuật, các nhà tài chính đã nghĩ ra vô số “công cụ” mới, ngày càng tinh vi, như quyền chọn. Hai vị giáo sư của Đại học Chicago, Fischer Black và Myron Scholes, xây dựng nên mô hình định giá quyền chọn được đặt tên hai ông và phổ biến đến nỗi bất kỳ ai học tài chính đều phải biết mô hình này.

Công thức Black-Scholes cho thấy giá trị quyền chọn phụ thuộc vào sự biến động của tài sản đi kèm quyền chọn. Giá thay đổi càng nhiều thì quyền chọn càng có giá. Máy vi tính cũng giúp việc tính toán các công thức phức tạp trở nên dễ dàng như bấm nút. Công cụ tiếp theo là hoán đổi, từ hoán đổi tỷ giá đến hoán đổi lãi suất – tất cả thoạt tiên là công cụ nhằm giúp phòng ngừa rủi ro nhưng dần dần biến thành công cụ cá cược hòng tối đa hóa lợi nhuận.

Và đến đây xuất hiện công cụ hoán đổi rủi ro phá sản (credit-default swap – CDS), được xem là thủ phạm chính của cuộc khủng hoảng hiện nay. CDS là một dạng bảo hiểm phòng ngừa chuyện người vay tiền không trả được nợ. Chỉ mới ra đời cách đây mấy năm, CDS trở thành một thị trường khổng lồ, lôi kéo các tên tuổi lớn trong ngành ngân hàng và bảo hiểm.

Tất cả các công cụ này có một điểm chung: chúng có thể khuếch đại lời lỗ lên nhiều lần so với số vốn bỏ ra. (Một ví dụ dễ thấy là cách giao dịch trên sàn vàng ở nước ta hiện nay – chỉ cần bỏ ra khoản tiền tương đương 10 lượng vàng là có thể mua bán cả trăm lượng).

Alan Greenspan, Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ năm 1987-2006, là người cổ vũ cho các công cụ tài chính như CDS. Trong cuốn “Thời đại hỗn loạn” ông ta viết: “Có khả năng làm ra lãi khi giao dịch cho vay nhưng lại chuyển được rủi ro tín dụng là một lợi thế cho các ngân hàng và các tổ chức tài chính trung gian khác… Một công cụ thị trường chuyển giao rủi ro ra khỏi nơi cho vay ban đầu… là thiết yếu cho sự ổn định kinh tế, đặc biệt trong môi trường toàn cầu” (!).

Thị trường chứng khoán

Chứng khoán hóa cũng là một đứa con của thập niên 1970, liên quan đến việc trộn lẫn các khoản vay vào với nhau thành một gói rồi bán lại cho nhà đầu tư bên ngoài. Thị trường lớn đầu tiên của hoạt động này là địa ốc – các hợp đồng thế chấp vay tiền mua nhà được ngân hàng cho vay bán đi, việc thu tiền hàng tháng có công ty dịch vụ lo, nhà đầu tư mua gói chứng khoán chẳng biết mình đang sở hữu cái gì nữa nhưng do có dòng tiền thu về đều đặn hàng tháng nên cứ mua. Một lần nữa giới quản lý lại khuyến khích quy trình chứng khoán hóa này vì cho rằng nó giúp trải đều rủi ro ra cho mọi người. Đến đây mọi việc trở nên phức tạp với nhiều công cụ có tên nghe rất kêu và là đầu dây mối nhợ cho cuộc khủng hoảng hiện nay.

———-&&———–

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: