Bond issue

Bond issue

(Tác giả: NghiaTQ – Nguồn: nghiatq.wordpress.com)

Xếp hạng tín nhiệm của các công ty trong một quốc gia cao nhất chỉ ngang bằng với mức của quốc gia đó, họ càng bị đánh tụt hạng lớn hơn khi nhận thấy sự hỗ trợ của Chính phủ là không lớn. Không ngạc nhiên khi PVN quyết định ngưng đợt phát hành này, có lẽ chưa nhất thiết phải “theo” khi chi phí bị đội lên quá cao.

Tuy nhiên, điều này là đáng tiếc khi thị trường quốc tế (USD) đang trong giai đoạn lãi suất thấp, chi phí huy động sẽ ở mức thấp nhất và cũng là thời điểm các công ty tích cực huy động nợ nhất.

Để huy động vốn qua phát hành trái phiếu, cần tăng thêm tính hấp dẫn và linh hoạt hơn với việc cho ra đời các công cụ phòng vệ, tăng tiện ích và tăng tính đầu tư (capital gain) cho các bond. Một số loại có thể xem xét trong giai đoạn khó khăn hiện nay (lạm phát, lãi suất cao, khan vốn, TTCK hồi phục trở lại, hạ mức tín nhiệm,..):

Trái phiếu chuyển đổi: Với tình hình khó khăn này, cùng với triển vọng TTCK trong nước đang rất triển vọng, giải pháp thay thế có lẽ là trái phiếu chuyển đổi. Doanh nghiệp cần tính toán hợp lý mức lợi suất và khung thời giản chuyển đổi, tính đến khả năng chuyển đổi từng phần. Như vậy, tránh tình trạng loãng vốn, đồng thời đem đến nhiều lựa chọn hơn.

Hiện tượng Beta trading xuất hiện, nên, phát hành một GTCG lai giữa Stock và Debt là hợp lý. Thời gian này đã có nhiều công ty phát hành TPCĐ với khối lượng lớn cho các đối tác, đặc biệt là nước ngoài.

Coupon rate linh hoạt: Một mặt khác, lãi suất đang trong giai đoạn cao, có khả năng giảm mạnh trước nỗ lực của Chính phủ, NHNN, một TP với cấu trúc lãi suất Fixed/Floating là cần thiết. Thông thường, các doanh nghiệp phát hành bond với lãi suất floating với biên độ cố định (từ 200 – 400bps) cộng vào Lãi suất tiết kiệm 12 tháng của các NHTM lớn.

Tăng tính bảo đảm giá trị: Nên nghiên cứu thêm Coupon rate link với lạm phát của Việt Nam (YoY) để tăng thêm lựa chọn.

Dòng tiền linh hoạt: Một trường hợp khác trong giai đoạn lãi suất thị trường đang ở mức cao, lạm phát đang là áp lực và thị trường thay thế (TTCK) đang trở nên hấp dẫn, có thể nghiên cứu đến loại bond có cấu trúc kỳ đáo hạn đặc thù. Tính đặc thù thể hiện vào dòng tiền vào (cash flow in) tương ứng với kỳ phát hành và dòng tiền ra (cash flow out) tương ứng với kỳ đáo hạn.

Đối với một bond, cấu trúc kỳ đáo hạn có thể là: cấu trúc định kỳ, cấu trúc chuổi và chu kỳ. Cấu trúc kỳ phát hành cũng tương tự.

Loại thứ nhất, đáo hạn định kỳ, tức là trả toàn bộ phần gốc (principal/par value) là loại thường được ưa chuộng nhất do tính đơn giản và dễ hoạch định dòng tiền nhất, phù hợp với các công ty có doanh thu lớn vào một thời điểm/giai đoạn trong tương lai. Tuy nhiên, loại này gặp bất lợi lớn trong thời kỳ lạm phát và lãi suất cao do phải “trải qua” một quá trình bào mòn giá trị ban đầu lớn và trả lãi trong một thời gian dài (lãi suất cao) trước khi đáo hạn. Loại này cũng cần đến khả năng trích lập sinking fund (quỹ chìm), nói nôm na là “dành dụm” tiền để trả nợ và ngày đáo hạn, do đó, gây lãng phí (do lãi suất cao, lạm phát cao, công ty phải mở rộng vốn).

Loại thứ hai là Kỳ đáo hạn chuổi: loại này tiện lợi cho cả nhà phát hành và nhà đầu tư. Đối với nhà phát hành sẽ phù hợp với dòng tiền (doanh thu của dự án) rãi đều trong thời gian hoạt động và giảm nhẹ áp lực trả nợ một lần. Đồng thời, điểm quan trọng không kém đó là lãi suất, sẽ được lợi trong kỳ lãi suất cao (high interest bearing periods)

Loại trái phiếu này phù hợp với nhà đầu tư có kế hoạch giải ngân cụ thể vào các assets khác, như TTCK và chưa sử dụng hiện tại, hoặc có chiến lược phân bổ, tái cấu trúc dần từ bond sang stock phù hợp. Đối với các nhà đầu tư bình thường, loại này mang lại sự an tâm hơn (duration ngắn) và phù hợp với nhiều mục đích khác nhau.

Điểm dễ thấy là vì trả vốn gốc theo chuổi nên càng về sau (vốn gốc giảm dần), nếu coupon rate cố định (hoặc tăng) thì lợi suất trái phiếu (bond yield) sẽ tăng lên, điều này phù hợp với các kỳ vọng về lạm phát trong tương lai, các reinvetsment,…

Loại thứ ba, cũng tương tự loại thứ hai, tuy nhiên, tỷ trọng trả vốn lớn phân bổ bắt đầu từ ngày đáo hạn hoặc cận ngày đáo hạn chứ không rãi đều hoặc phân bổ trong suốt thời hạn trái phiếu.

Phát hành từng phần. Tôi nghĩ, trong giai đoạn này, để phát hành một lần với số lượng lớn là rất khó (càng thiệt hại khi lãi suất quá cao, tín nhiệm thấp), các nhà phát hành nên chọn phương án phát hành chuổi (phát hành thu vốn gốc từng nđợt theo định kỳ). Tức hoạch định dòng tiền (budget planning) để phát hành và thu vốn gốc theo từng đợt cách nhau một khoảng thời gian nhất định (theo tiến độ dự án, dòng tiền thay thế, xoay vòng,…) kết hợp với cấu trúc đáo hạn định kỳ hoặc đáo hạn chuổi. Nếu đáo hạn định kỳ tức là phát hành với kỳ hạn dài đầu tiên với khối lượng nhỏ, các lần tiếp theo tăng dần khối lượng và giảm dần kỳ đáo hạn.

Những loại dưới có thể phù hợp với trái phiếu trong nước và quốc tế.

Những phương án trên, cần tính toán cụ thể để đảm bảo rằng Duration của toàn bộ khối lượng trái phiếu phát hành là cố định hoặc phù hợp với Duration của dòng tiền thu được từ dự án (đầu tư)

————&&————

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: