Yếu tố X trong kinh tế học: Con người

Yếu tố X trong kinh tế học: Con người

(Tác giả: David Segal – Người dịch: Hữu Thanh – Nguồn: Dvt.vn)

(DVT.vn) – Các nhà kinh tế học – họ là một nhóm người thường xuyên bất đồng với nhau.

Bằng chứng gần đây nhất xuất hiện cuối tuần thứ 41 năm 2010 trong biên bản cuộc họp mới đây nhất của Ủy ban Liên bang về Thị trường Mở, tổ chức đầu não chuyên đưa ra chính sách tiền tệ. Chúng ta đều biết trong Ủy ban xuất hiện những ý kiến khác nhau với câu hỏi dường như đơn giản: FED cần hành động để tiếp thêm nhiên liệu cho nền kinh tế ngay bây giờ, hay chờ đợi, theo dõi và có lẽ tiếp nhiên liệu sau?
Các cuộc thảo luận tương tự hầu như chú ý đến mọi yếu tố trong nỗ lực luân chuyển của cải và sự thịnh vượng của chính phủ – thậm chí cả những nỗ lực đã được công bố trong hơn 1 năm qua. Ví dụ, bạn có thể cho rằng có sự đồng thuận rộng rãi về việc liệu gói kích cầu 787 tỷ USD, thông qua hồi đầu năm 2009, hoạt động hiệu quả hay không.
Nhưng nói chung, các nhà kinh tế học những người từng nghĩ đó là ý tưởng tốt vào thời điểm đó thì nghĩ rằng gói kích cầu hoạt động hiệu quả, và các nhà kinh tế học những người đã từng nghĩ khác cũng đưa ra ý kiến khác. Và cả 2 bên đều đưa ra những con số rõ ràng để chứng minh cho luận điểm của mình.
Hãy tạm gác bản chất những cuộc tranh luận này sang 1 bên và đặt câu hỏi cơ bản đến mức nghe có vẻ như ngờ nghệch: Tại sao các nhà kinh tế học lại tranh cãi? Giả sử rằng các thành viên FED và các nhà kinh tế học đang xem xét dữ liệu tương tự nhau, và giả sử có sẵn rất nhiều bằng chứng được thu thập trong nhiều thập niên qua – chưa kể những bộ óc vĩ đại, những lý thuyết vĩ đại và những cuốn sách dày đã dự báo cuộc khủng hoảng này trong vài thế kỷ qua – tại sao đó vẫn chưa phải là câu trả lời thỏa đáng?
George Bernard Shaw đã từng nói: “Nếu tất cả các nhà kinh tế học bị ép buộc ngồi gần nhau, họ sẽ không thể đạt đến một kết luận nào”. Sao lại thế? Điều gì đã cản trở kinh tế học có được câu trả lời theo cách vật lý học, hóa học và sinh học làm?
Thực tế, nhiều nhà kinh tế chính trị học đã suy nghĩ về vấn đề này. Sau cuộc Đại Suy thoái, việc xác định xem quy tắc nào đã sai thực sự là công việc khó khăn, việc này đã thu hút được sự chú ý hồi năm ngoái sau khi được nêu ra trong bài báo của Paul Krugman đăng trên New York Times. Nhưng giới hạn của kinh tế học là chủ đề được nhiều nhà kinh tế học bàn luận trong nhiều năm, trên các tài liệu được in ra (sách, báo, tạp chí), trong các cuộc thảo luận với nhau, và, cả trong các cuộc thảo luận cũng như hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ của Robert Solow, giáo sư danh dự MIT và đoạt giải Nobel.
Giáo sư Robert Solow cho biết: “Tôi nói về những gì liên quan đến kinh tế học và đời sống kinh tế mà đưa đến những ý kiến khác nhau. Một điểm tôi luôn luôn nói với nghiên cứu sinh là tránh những lời nói châm biếm. Không bao giờ khoe khoang hơn những gì bạn có”.
Để giải thích cho sự nhún nhường và khiêm tốn trong kinh tế học, ông Solow cho biết, chỉ nhìn vào dự luật gói kích cầu: “Nó đã đi đúng hướng trong hơn 1 năm rưỡi qua, nhưng đây không phải là sự kiện biệt lập. Hàng nghìn việc khác đã và đang diễn ra có tác động đến tình trạng việc làm và GDP thực tế”, thước đo tổng sản lượng của một quốc gia được điều chỉnh theo sự thay đổi của giá cả. “Bạn muốn theo dõi tác động của một trong những tác động đáng kể, và đó là công việc rất khó”.
Theo Gary Becker từ Đại học Chicago, đoạt giải Nobel, về nguyên tắc chính cái thế giới mà không đưa ra những thử nghiệm kinh tế là trở ngại phổ biến. Có vô số nghiên cứu về mọi thay đổi về thuế trong lịch sử hiện đại của Đảng Cộng hòa, từ Tổng thống Kennedy đến George W.Bush, và những tranh luận về sự khôn ngoan và những hậu quả của từng lần thay đổi. Đó không hẳn vì có quá ít dấu hiệu rõ ràng giữa mớ âm thanh hỗn loạn như vậy. Đó chính là vì nhiều nhà kinh tế học có ý tưởng độc đáo về dấu hiệu này cần lắng nghe và ưu tiên nào đáng nên đầu tư.
Một điều nữa có mức biến đổi lớn: Những giá trị cá nhân. Trong cuốn sách của mình “Những nguyên tắc của Kinh tế học”, N. Gregory Mankiw, giáo sư Đại học Harvard, đề xuất điều này thông qua thử nghiệm: Một thành phố phải duy trì sự tốt lành. Peter, người kiếm được 100.000 USD, phải nộp thuế 10.000 USD hoặc 10% thu nhập của anh ta, trong khi Paula, người kiếm được 20.000 USD, phải nộp thuế 4.000 USD, hoặc 20% thu nhập của cô ta.
“Chính sách này có công bằng không?” ông Mankiw đặt câu hỏi trong quyển “Những nguyên tắc”. “Có vấn đề gì không nếu thu nhập của Paula thấp do sức khỏe kém hoặc do cô quyết định theo đuổi nghề diễn viên? Có vấn đề gì không nếu thu nhập của Peter cao do được thừa kế khoản tiền lớn hoặc do anh ta sẵn lòng làm thêm giờ với công việc buồn chán?
Kinh tế học, ông Mankiw kết luận, sẽ không nói cho chúng ta, liệu Peter hay Paula đang phải nộp quá nhiều, vì câu trả lời chắc chắn dẫn đến những vấn đề giá trị, vốn chắc chắn dẫn đến những câu trả lời khác nhau.
Điều này sẽ không đề xuất rằng kinh tế học hoàn toàn là sự cãi lộn, thiếu sự đồng thuận rộng rãi về bất kỳ điều gì. Trưng cầu ý kiến của các nhà kinh tế học đã nhận thấy sự gần như nhất trí về các chủ đề như thuế suất và hạn ngạch nhập khẩu (xấu), các nền kinh tế tập trung (rất xấu) và tỷ giá hối đoái linh hoạt và thả nổi (rất tốt). Cũng sẽ là không công bằng khi nói rằng các nhà kinh tế học làm rất ít để giúp đỡ trong cuộc khủng hoảng mới đây. Tình trạng suy thoái dường như có thể xảy ra 2 năm trước, và nhờ các ý tưởng của các nhà kinh tế học, điều đó đã không xảy ra.
Nhưng các nhà kinh tế học sẽ mãi mãi phải đấu tranh với yếu tố X lớn nhất trong tất cả: con người. Như ông Robert Solow đã lưu ý, bạn cho mọi người ăn thuốc độc và họ chết. Nhưng bạn cho họ một khoản trợ cấp và không nói với họ điều gì sẽ xảy ra. Một số người sẽ sử dụng khoản trợ cấp này một cách khôn ngoan, những người khác sử dụng một cách sai lầm và một số thì kết hợp cả 2.
Kết quả là một số phỏng đoán cảm tính là một phần trong công việc của một nhà kinh tế học, một công việc mà giúp làm tăng tính phổ biến của kinh tế học ứng xử, một nỗ lực nhằm giải thích tình trạng khó xử, mối quan hệ không rõ ràng giữa tiền bạc và con người. Dan Ariely, giáo sư tại Đại học Duke và tác giả cuốn “Lợi ích của Sự phi lý” cho biết “Câu hỏi về việc cảm xúc sẽ thay đổi hành vi của con người như thế nào gần như nằm ngoài mô hình kinh tế học tiêu chuẩn”.
“Niềm tự hào không nằm trong mô hình này. Sự trả thù cũng không nằm trong mô hình này. Sự sợ hãi cũng vậy. Thậm chí những điều đơn giản như sự tỉnh ngộ của những người bị sa thải – mô hình này không giải thích kinh nghiệm có thể có mức tàn phá như thế nào”, và khả năng phán đoán sự tàn phá có ý nghĩa như thế nào đối với nền kinh tế.
Giáo sư Ariely coi gói kích cầu là kinh nghiệm trị giá 700 tỷ USD vốn không có cơ hội cho việc tinh chỉnh. Ông đã thử nhiều loại kích cầu khác nhau ở nhiều bang khác nhau. Có thể người dân California sẽ có tiền mặt, trong khi người dân New York có thẻ debit trả trước. Ông dự đoán gói kích cầu hiệu quả nhất là thẻ debit, với hình của Tổng thống Obama trên đó cùng với dòng chữ “Tiêu tiền của Chính phủ”.
Giáo sư Ariely cho biết: “Chúng ta có thể nói đùa về kinh tế học, và tôi đã biến nó thành thói quen của tôi. Nhưng có lý do hợp lý rằng điều phi lý của con người không phải là một phần của các mô hình kinh tế tiêu chuẩn và điều này đưa đến tình trạng tiến thoái lưỡng nan của kinh tế học. Nếu bạn có vấn đề đơn giản, bạn có thể đưa ra giải pháp đơn giản. Nhưng nền kinh tế là một vấn đề cực kỳ phức tạp. Do vậy, chúng ta hoặc đơn giản hóa vấn đề và đưa ra giải pháp, hoặc chấp nhận tính phức tạp và không làm gì hết”.
————&&————

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: